Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng rất phổ biến hiện nay. Hợp đồng mua bán hàng hóa (giao nhận hàng hóa) là sự thỏa thuận giữa các bên quy định bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và chấp nhận thanh toán. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, giao hàng và đứng tên hàng hóa theo thỏa thuận. Sau đây, chúng tôi sẽ giới thiệu đến bạn đọc hợp đồng mua bán hàng hóa, bạn đọc có thể tham khảo và tải xuống trong bài viết dưới đây nhé!
Nội dung cần có trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Phạm vi hợp đồng: Hợp đồng yêu cầu thông tin chi tiết để xác định phạm vi hợp đồng và vai trò trong hợp đồng mua bán.
Đối với các bảo đảm hoặc hợp đồng có sự tham gia của bên thứ ba, cần xác định rõ thông tin của các bên này trong quá trình thực hiện hợp đồng hoặc giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Giá Mua Bán: Giá mua bán tự do thương lượng, nhưng căn cứ để định giá cao hay thấp không phải là yếu tố mang tính biểu thị, ngoại trừ trường hợp thỏa thuận giá cao gấp 10, 20 lần giá bán thông thường của món hàng, cưỡng chế kinh doanh là căn cứ hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu.
Phương thức và thời gian thanh toán: Các bên phải ghi rõ phương thức thanh toán (chuyển khoản hay tiền mặt) và thời gian thanh toán cụ thể kèm theo số tiền thanh toán cho từng đợt. Để bảo đảm, các bên có thể mở LC hoặc sử dụng bảo lãnh của ngân hàng để thanh toán.
Thời hạn giao hàng: Bên mua phải chỉ ra các điều kiện đi kèm và thời điểm cụ thể trong quá trình mua bán để bên bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo các điều khoản của hợp đồng.
Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên: Các bên phải đưa ra nghĩa vụ của mình trước, trong và sau khi thực hiện hợp đồng và đối với bất kỳ sự chấm dứt cụ thể nào.
Các điều kiện ràng buộc trách nhiệm pháp lý: Hai bên có thể thấy trước các tình huống mà bên kia có thể lợi dụng để không thực hiện hợp đồng của mình mà có thể đặt ra các điều khoản phù hợp. Ví dụ, trách nhiệm của người mua đối với việc không thanh toán theo hợp đồng hoặc trách nhiệm của người bán đối với việc không giao hàng.
Thời hạn thực hiện hợp đồng: Hợp đồng phải ghi rõ ngày có hiệu lực và ngày chấm dứt hoặc lý do chấm dứt.
Điều khoản giải quyết tranh chấp: Tranh chấp có thể được giải quyết bằng cách đưa ra tòa án có thẩm quyền hoặc trọng tài thương mại.
Điều kiện của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể, nhưng thường là thể nhân và/hoặc pháp nhân.
Trường hợp một hoặc cả hai bên là pháp nhân thì hợp đồng phải có các thông tin cơ bản sau:
Tên công ty
Thẻ đăng ký/Bằng lái xe
Nếu luật pháp nhân quy định phải có sự đồng ý thì mới giao kết hợp đồng (thường có giá trị lớn)
Nếu pháp luật của pháp nhân quy định về việc ký kết hợp đồng bởi cơ quan kiểm soát nội bộ (ví dụ: hội đồng thành viên, đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị của công ty cổ phần), hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có thể được kết luận theo cách tương tự, được chấp thuận.
Nếu một bên hoặc các bên là cá nhân thì hợp đồng phải có các thông tin cơ bản sau:
Họ và tên
Ngày sinh
Giới tính
Nhận biết
Địa chỉ
Số điện thoại
Nếu bên ký hợp đồng là cá nhân thì bạn phải đảm bảo rằng người đó đủ tuổi theo luật định và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Nếu không, hợp đồng có thể trở nên vô hiệu. Hãy xem xét trường hợp sau đây.
Lưu ý: Luật và quy định về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Cả hai bên phải đồng ý về các lĩnh vực không phù hợp dựa trên các điều khoản dưới đây.
Hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng loại.
Hàng hóa không phù hợp cho một mục đích cụ thể mà người mua đã cho người bán biết hoặc người bán lẽ ra phải biết vào thời điểm ký kết hợp đồng;
Hàng không đạt chất lượng so với mẫu do bên bán cung cấp cho bên mua.
Sản phẩm không được bảo quản, được đóng gói theo cách thông thường đối với loại sản phẩm này hoặc được đóng gói theo cách không phù hợp để bảo quản sản phẩm vì không có cách bảo quản thông thường.
Điều kiện đổi trả sản phẩm:
Hợp đồng mua bán sản phẩm phải ghi rõ đơn giá, số lượng, giá cả.
Trường hợp các bên tham gia hợp đồng là thể nhân, pháp nhân Việt Nam thì đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là VND theo quy định tại Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN. Mặt khác, hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật và bị tuyên bố vô hiệu
Câu hỏi thường gặp:
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa là gì?
Theo quy định tại mục 24 Bộ luật thương mại 2005: Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được giao kết bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng hành vi pháp lý đặc biệt. Các loại hợp đồng mua bán
Ngôn ngữ của hợp đồng mua bán hàng hoá như thế nào?
Hợp đồng phải được giao kết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Nếu bạn sử dụng tiếng Việt và tiếng nước ngoài, Hợp đồng phải ghi rõ ngôn ngữ nào sẽ được ưu tiên áp dụng nếu có sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng nước ngoài vì nhiều lý do. ở phía sau: Khi thực hiện các thủ tục hành chính yêu cầu phải nộp hợp đồng thì hợp đồng mua bán hàng hóa phải được cơ quan có thẩm quyền cấp bằng tiếng Việt. Các cơ quan chính phủ Việt Nam sử dụng tiếng Việt. Nếu có tranh chấp về hợp đồng và các bên yêu cầu tòa án giải quyết thì hợp đồng mua bán hàng hóa bằng tiếng Việt có lợi. Phần lớn công việc của tòa án được thực hiện bằng tiếng Việt.
Học viện đào tạo pháp chế ICA tổng hợp các bài tập tình huống luật hình sự về tội cố ý gây thương tích (có lời giải) thường gặp trong các bài thi kết thúc học phần, bạn đọc có thể tham khảo để có thêm các kiến thức bổ ích, phục vụ trong quá trình học tập của mình.
Tình huống 1
Ngày 20/9/2018, anh C là thợ xây đến ăn cơm, uống rượu tại nhà anh trai. Khoảng 21 giờ cùng ngày, trên đường về nhà, C gặp D bạn cùng xóm. Thấy C say rượu, D nói: “Say thế này cậu nên về nhà ngay đi, đừng lang thang ngoài đường nữa, bị gió thì nguy hiểm lắm!”. C nghe thấy vậy thì cho rằng D lên lớp dạy đời mình nên doạ đánh D. Lúc đó bà Y (71 tuổi) là người cùng xóm đi ngang qua, thấy vậy liền khuyên can: “D nó nói đúng đó, thôi về đi”. C liền buông lời chửi bới, đuổi bà Y đi và doạ: “Không việc gì đến bà, nếu bà không im mồm tôi sẽ đánh chết”. Bà Y vội bỏ đi thì bị C bám theo tát hai cái vào vùng mang tai, thái dương và đá một cái vào sườn làm bà ngã xuống đất, đầu đập vào tảng đá ở đường bất tỉnh. Thấy vậy, C và D chạy đến báo công an xã, sau đó C bỏ trốn. Bà Y được mọi người đưa đến bệnh viện cấp cứu, nhưng mấy ngày sau thì tử vong. Ngày 10/10/2018 thì C đến cơ quan công an đầu thú.
Hỏi:
a. Hành vi của C phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?
b. Xác định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể áp dụng đối với C trong tình huống nêu trên?
c. Giả sử bà Y sau khi được cấp cứu tại bệnh viện đã không chết mà chỉ bị thương tật 43% thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với C có thay đổi hay không? Vì sao?
Giải đáp:
a. Hành vi của C phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao?
Theo tình huống trên, hành vi của C phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người theo điểm a, khoản 4, Điều 134 BLHS 2015.
Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm
– Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Bộ Luật hình sự. Người phạm tội ở đây là anh C mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (bà Y).
– Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức khỏe: Trong tình huống trên anh C không sử dụng công cụ, phương tiện nào để phạm tội mà dùng tay tát hai cái vào vùng mang tai, thái dương và dùng chân đá một cái vào sườn bà Y làm bà ngã xuống đất, đầu đập vào tảng đá. Tuy tay và chân không phải là công cụ phạm tội nhưng vẫn có thể gây ra thương tích nguy hiểm. Ở đây, do cú đá của C tác động lên sườn của bà Y khiến bà ngã đập đầu xuống đất và chết.
– Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công: Trong tình huống, cường độ tấn công của anh C là tát 2 cái và đạp 1 cái, những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn nhân (bà Y), có thể nói đây là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.
– Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác dẫn đến chết người được quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 134 BLHS 2015.
Sau khi bà Y ngã xuống đất đập đầu vào tảng đá ở đường bất tỉnh. Lúc này chỉ là gây thương tật, do tuổi già sức yếu nên sau vài ngày ở viện thì bà tử vọng.
Thứ hai, chủ thể của tội phạm
Anh C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Thứ ba, khách thể của tội phạm
Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe.
Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm
Anh C mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Trong trường hợp này, C thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp.
b. Xác định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể áp dụng đối với C trong tình huống nêu trên?
– Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể áp dụng với C trong tình huống: Ngày 10/10/2018, C đến cơ quan công an đầu thú, tức là C sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình, do đó có thể áp dụng Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho C.
– Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể áp dụng với C trong tình huống:
Một là, phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 “Có tính chất côn đồ” là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người. Hành động của chúng thường là xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, danh dự người khác, gây gổ hành hung người khác một cách vô cớ hoặc vì một duyên cớ nhỏ nhặt…
Trong tình huống, bà Y chỉ là một người không liên quan đi ngang qua và khuyên can chuyện của D và C nhưng C thấy vậy lại chửi bới, dọa dẫm: “Nếu bà không im mồm tôi sẽ đánh chết” và khi bà Y bỏ đi rồi thì C còn cố ý bám theo để gây thương tích cho bà Y. Hành động của C là hành động coi thường pháp luật, vô cớ vì một duyên cớ nhỏ nhặt mà gây gổ hành hung, dùng vũ lực xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bà Y. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ đối với hành vi phạm tội của C.
Hai là, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người từ đủ 70 tuổi trở lên (quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 52 BLHS).
Trong tình huống, bà Y đã 71 tuổi là người già do đó điều kiện khả năng chống cự lại yếu nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho C là phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên, thể hiện rõ mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của C.
c. Giả sử bà Y sau khi được cấp cứu tại bệnh viện đã không chết mà chỉ bị thương tật 43% thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với C có thay đổi hay không? Vì sao?
Về tội danh:
Giả sử bà Y sau khi được cấp cứ tại bệnh viện đã không chết mà chỉ bị thương tật 43% thì tội danh đối với C cũng không có sự thay đổi mà vẫn là tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS. Tuy nhiên, khung hình phạt áp dụng đối với C sẽ có sự thay đổi vì hậu quả xảy ra không nghiêm trọng như trường hợp bà Y chết.
Về khung hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134 BLHS khung hình phạt đối với C là từ 2 năm đến 6 năm tù. Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với C là 6 năm tù có thể thấy hành vi của C trong trường hợp này thuộc vào loại tội phạm nghiêm trọng.
Còn so với việc C gây thương tích cho bà Y dẫn đến hậu quả bà Y chết thì C bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 4 Điều 134 BLHS, khung hình phạt đối với C trong trường hợp này là từ 7 năm đến 14 năm tù. Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với C là 14 năm tù có thể thấy hành vi của C trong trường hợp này thuộc vào loại tội phạm rất nghiêm trọng. Chính vì vậy nếu giả thiết đặt ra bà Y chỉ bị thương tật 43 % mà không chết thì khung hình phạt của C sẽ được giảm đi.
Tình huống 2:
Ngày 29/4/2018, anh A và chị B đang ngồi chơi tại công viên M thì có C và D đến có hành vi trêu đùa chị B nên anh A đã nói với C và D là đi chỗ khác thì C và D đã lao vào dùng tay đấm vào người anh A. Bị C và D tấn công dồn ép vào tường rào công viên nên anh A rút con dao nhọn đem theo người đâm 01 phát trúng vào đùi của C (hậu quả: Trên đường đi cấp cứu do mất nhiều máu nên C tử vong). Sau khi vụ việc xảy ra Cơ quan điều tra đã trưng cầu kết luận giám định thương tích đối với A và D là 0%.
Hỏi: Trong tình huống này anh A phạm tội gì? Vì sao?
Giải đáp:
Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm
– Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Bộ Luật hình sự. Người phạm tội ở đây là anh A mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe anh C.
– Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức khỏe: Trong tình huống trên anh A rút con dao nhọn đem theo người chỉ đâm 1 phát trúng vào đùi C, không phải vùng trọng yếu trên cơ thể. Mặt khác A cũng không mong muốn tước đoạt tính mạng của C.
– Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác dẫn đến chết người được quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 134 BLHS 2015.
Sau khi C bị đâm trúng vào chân thì do mất nhiều máu nên đã tử vọng.
Thứ hai, chủ thể của tội phạm
Anh A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Thứ ba, khách thể của tội phạm
Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe.
Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm
Anh A mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Trong trường hợp này, A thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Và anh A cũng không mong muốn tước đoạt tính mạng của C nên mặc dù C chết nhưng A không phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS mà hành vi của A phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ người khác dẫn đến chết người theo điểm a khoản 4 Điều 134 BLHS.
Tình huống 3:
Anh H đến nhà người quen đòi nợ số tiền 70 triệu đồng, trong quá trình nói chuyện hai bên đã xảy xa mâu thuẫn, cãi vã và lăng mạ nhau. Do không kìm chế được bản thân, anh H đã dùng gậy đánh trọng thương chủ nhà. Nạn nhân được đưa lên viện, xác định chấn thương ở đầu và nhiều bộ phận khác mức độ thương tích 15%. Sau khi gây án anh H đã bỏ trốn. Người nhà bệnh nhân đã làm đơn lên Công an phường để yêu cầu giải quyết. Như vậy H sẽ bị xử phạt như thế nào ?
Giải đáp:
Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm
– Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Bộ Luật hình sự. Người phạm tội ở đây là anh H mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của chủ nhà.
– Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức khỏe: Trong tình huống trên anh H đã dùng gậy đánh trọng thương chủ nhà.
– Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác là làm chủ nhà bị thương với tỷ lệ thương tật là 15%.
Sau khi C bị đâm trúng vào chân thì do mất nhiều máu nên đã tử vọng.
Thứ hai, chủ thể của tội phạm
Anh H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Thứ ba, khách thể của tội phạm
Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe.
Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm
Anh H mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Trong trường hợp này, H thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Và anh H cũng không mong muốn tước đoạt tính mạng của chủ nhà.
Hành vi dùng gậy đánh trọng thương chủ nhà của anh H với mức độ thương tật 15% có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Trên đây là nội dung bài viết về “Bài tập tình huống tội cố ý gây thương tích”. Hy vọng có hữu ích cho bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Điều kiện hưởng án treo là gì?
Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây: + Mức phạt tù không quá 03 năm; + Có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc; + Có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên; có nơi cư trú rõ ràng; + Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Đồng phạm là gì?
Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Trong đó, người đồng phạm bao gồm: – Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. – Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. – Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. – Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Ngoài ra, người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ lao động, thương binh và xã hội cập nhật thị trường lao động hàng quý, hàng năm cho thấy, số người tốt nghiệp đại học trở lên thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao. Điều này đã khiến các bạn học sinh và các bậc phụ huynh rất trăn trở và đặt ra câu hỏi: Nên chọn học đại học hay trường nghề? Để tìm ra câu trả lời chính xác cho việc nên chọn học đại học hay trường nghề, Học viện đào tạo pháp chế ICA xin phân tích và đưa ra đánh giá của hai hình thức học này, kính mời bạn đọc tham khảo nội dung bài viết dưới đây để có thể đưa ra lựa chọn đúng đắn và sáng suốt cho bản thân, người thân.
So sánh học đại học và học nghề
Học đại học
Học đại học là sự lựa chọn hàng đầu của các bậc phụ huynh khi các con sắp bước vào ngưỡng cửa kỳ thi tốt nghiệp THPT. Đây được coi là bước đệm tốt cho các bạn trẻ khi bắt đầu sự nghiệp.
Ưu điểm của việc học đại học đó là: Thứ nhất, thời gian học đại học kéo dài từ 4 – 5 năm nên lượng kiến thức các bạn học được sẽ rất nhiều từ kiến thức cơ bản đến nâng cao, từ những môn đại cương cho đến các môn chuyên ngành, từ đó giúp bạn có thêm hiểu biết từ lý thuyết đến thực tiễn và kiến thức sâu, rộng. Thứ hai, môi trường đại học sẽ có rất nhiều các câu lạc bộ, các chương trình khác nhau và bạn có thể tham gia, từ đó bạn sẽ mở rộng mối quan hệ bạn bè của mình. Điều này giúp các bạn học hỏi những kiến thức, những kinh nghiệm từ các anh, chị, và các bậc tiền bối đi trước để chuẩn bị cho quá trình học tập và làm việc trong tương lai. Thứ ba, từ việc bạn tham gia các câu lạc bộ, các chương trình khác nhau ở trường đại học và thời gian đào tạo dài nên các bạn sinh viên có thể khám phá ra những điểm mạnh của mình thông qua các hoạt động và trải nghiệm. Điều này giúp các bạn phát triển bản thân mình hơn và có thể tìm ra được một hướng đi mới cho mình. Bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì việc học đại học cũng có nhược điểm: Thứ nhất, chương trình học đại học đặt nặng về lý thuyết mà ít chú trọng đến thực hành. Khiến cho các bạn sinh viên sau khi ra trường có cảm giác bị sốc vì công việc đi làm khác xa so với những gì mình đã được học trên giảng đường
Thứ hai, chi phí để theo học đại học khá cao. Vì thời gian học đại học kéo dài khiến cho chi phí của các đại học rất ca, chưa kể đến những chi phí khác như phí sinh hoạt, phó nhà ở,…Điều này khiến cho những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn khó lòng theo đuổi việc học được.
Học trường nghề
Ưu điểm:
Thứ nhất, chương trình đào tạo nghề sát với thực tế. Trường nghề với chương trình học chú trọng rất nhiều vào việc thực hành cho các học viên. Vì vậy, các học viên được trang bị đầy đủ các kỹ năng để có thể làm việc ngay sau khi tốt nghiệp.
Thứ hai, chi phí theo học tại trường nghề thấp hơn đại học rất nhiều vì thời gian đào tạo ngắn, có nhiều ngành đào tạo chỉ trong vòng 6 tháng – 1 năm. Vì vậy, chi phí mà học viên bỏ ra cũng rất thấp so với việc học đại học.
Thứ ba, các học viên sau khi tốt nghiệp đều không cần pải lo lắng về vấn đề tìm kiếm việc làm. Vì các trường đào tạo đều liên kết với các doanh nghiệp để cung cấp các công việc cho học viên lựa chọn. Do đó, cơ hội việc làm của các học viên sau khi tốt nghiệp rất lớn.
Nhược điểm:
Thứ nhất, vì thời gian đào tạo ngắn nên sau khi tốt nghiệp học viên đi làm được ngay nên trong quá trình học, học viên cần phải chú tâm cao độ khi học và phải thực hành rèn luyện tay nghề mỗi ngày.
Thứ hai, các bạn phải tự trang bị thêm cho mình những kỹ năng mềm để đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng.
Nên học đại học hay trường nghề?
Hầu hết mọi người đều sẽ nghĩ sau khi tốt nghiệp THPT, các em học sinh nên bước tiếp vào cánh cửa đại học. Họ cho rằng, với tấm bằng cử nhân, kỹ sư trong tay thì việc lập nghiệp không có gì là khó khăn, các em sẽ có một tương lai tươi sáng với công việc ổn định. Chính vì vậy, các bậc phụ huynh đều định hướng và các bạn học sinh đều lựa chọn muốn học đại học và học các trường hot.
Tuy nhiên, thực trạng báo động hiện nay số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường thất nghiệp và làm trái ngành rất cao. Bên cạnh đó, các nhà tuyển dụng thường yêu cầu kỹ năng làm việc và kinh nghiệm, thâm niên trong nghề hơn là bằng cấp như trước đây. Đây là một thử thách lớn cho các bạn sinh viên bởi các trường đại học đa phần dạy lý thuyết nhiều hơn mà không có kinh nghiệm thực tiễn nên rất khó để tìm được việc làm mong muốn sau khi sinh viên tốt nghiệp. Điều này khiến các bạn sinh viên hoang mang, lo lằng về con đường tương lai phía trước, không biết nên chọn học đại học hay học nghề sẽ tốt hơn.
Ngược lại học đại học thì khi học nghề các bạn học viên được tập trung đào tạo chuyên môn sâu, thực hành nhiều để nâng cao tay nghề cho người học. Biết rằng tấm bằng đại học là thể hiện trình độ học vấn của bản thân. Tuy nhiên, tấm bằng đó thực sự có ý nghĩa giá trị hay không là khi bạn vận dụng được những gì bạn học vào công việc, cuộc sống.
Đại học là con đường dẫn đến thành công nhưng không phải là con đường duy nhất, sẽ còn có những con đường khác tốt hơn nếu như bạn xác định được đam mê và tiềm năng của bản thân. Chính vì thế, học đại học hay học nghề đều tốt, quan trọng là bạn yêu thích và nỗ lực hết mình với lựa chọn của bản thân.
Nên học gì khi không học đại học?
Nếu bạn lựa chọn không học đại học thì bạn có thể lựa chọn học nghề, hiện nay có rất nhiều nghề hấp dẫn với cơ hội việc làm rất cao.
Nghề thẩm mỹ, làm đẹp.
Xã hội ngày càng phát triển hiện đại, nhu cầu làm đẹp của con người ngày càng tăng cao nên những cơ sở thẩm mỹ viện luôn là nơi tạo ra nhiều công ăn việc làm cho các bạn chuyên viên thẩm mỹ có tay nghề cao. Học thẩm mỹ, làm đẹp cũng không mất nhiều thời gian, thời gian học chỉ mất khoảng vài tháng, học viên được đào tạo lý thuyết song song với thực hành, vừa tiết kiệm thời gian, tiền bạc, vừa có kỹ năng nghề tốt.
Nghề thiết kế, lập trình web
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ số, thời đại mà công nghệ thông tin rất phát triển. Vì vậy, trở thành một người thiết kế, lập trình web luôn là xu hướng được nhiều người hướng đến để phát triển trong tương lai.
Nghề thiết kế đồ họa
Các doanh nghiệp, tổ chức luôn muốn tạo cho mình những nét riêng, ấn tượng riêng trong từng sản phẩm hàng hóa, nhãn hiệu của mình để thu hút khách hàng. Vì vậy, thiết kế đồ họa trở thành một nghề hấp dẫn với cơ hội việc làm rất cao. Nếu bạn có năng lực thì sẽ được các công ty nhận làm sau khi ra trường mà không cần yêu cầu quá cao về bằng cấp.
Điện
Thật khó để nói rằng cuộc sống của chúng ta hiện nay sẽ ra sao nếu không có điện, vì vậy, ngành điện luôn là một trong những ngành nghề được nhiều người lựa chọn khi học nghề. Sau khi tốt nghiệp, các bạn học viên có thể làm việc trong các nhà máy điện hoặc trong các công trình xây dựng.
Trên đây là nội dung tư vấn về vấn đề: “Nên chọn học đại học hay trường nghề?”. Hy vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Nữ nên học nghề gì?
Các ngành nghề phù hợp với nữ giới để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn nhất đó là: – Ngành nghề liên quan đến viết lách; – Nghề kế toán; – Nghề dịch vụ; – Nghề thẩm mỹ, làm đẹp; – Ngành nhân sự, tuyển dụng,…
Nam nên học nghề gì?
Một số nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong vài năm tới và đáng cân nhắc để các bạn nam tham khảo đó là: – Digital Marketing; – Nữ nên học nghề gì? Các ngành nghề phù hợp với nữ giới để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn nhất đó là: – Ngành nghề liên quan đến viết lách; – Nghề kế toán; – Nghề dịch vụ; – Nghề thẩm mỹ, làm đẹp; – Ngành nhân sự, tuyển dụng,… Nam nên học nghề gì? Một số nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong vài năm tới và đáng cân nhắc để các bạn nam tham khảo đó là: – Digital Marketing; – Cơ khí; – Công nghệ thông tin; – Kỹ thuật pha chế đồ uống; – Đầu bếp; – Nghiệp vụ Nhà hàng Khách sạn,…
Trong các loại trách nhiệm pháp lý thì trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất. Muốn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người hoặc một pháp nhân thì cần chứng minh được họ đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm. Muốn xác định một hành vi phạm tội hay không để truy cứu trách nhiệm hình sự cần xác định dựa vào việc hành vi phạm tội thực hiện đã thảo mãn hết các yếu tố cấu thành tội phạm được luật quy định chưa. Cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để hiểu rõ hơn về cấu thành tội phạm, hãy cùng Học viện đào tạo pháp chế ICA phân tích và đưa ra bài tập tình huống cấu thành tội phạm để bạn đọc tham khảo từ đó có thêm hiểu biết và kiến thức về vấn đề này.
Lý thuyết về tội phạm và cấu thành tội phạm
Khái niệm về phân loại tội phạm
Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, theo đó, khái niệm tội phạm được hiểu là: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế nền văn hoá quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Phân loại tội phạm được quy định tại Điều 9 BLHS. Tội phạm được phân thành 4 loại:
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm (điểm a, khoản 1 Điều 9);
Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù (điểm b, khoản 1 Điều 9);
Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù (điểm c, khoản 1 Điều 9);
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (điểm d, khoản 1 Điều 9).
Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như trên và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
Khái niệm và phân loại cấu thành tội phạm
Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Cấu thành tội phạm phải có đầy đủ 4 yếu tố: yếu tố khách thể, yếu tố chủ thể, yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan.
Việc phân loại cấu thành tội phạm dựa vào các tiêu chí sau:
– Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, có 3 loại: cấu thành tội phạm cơ bản; cấu thành tội phạm tăng nặng; cấu thành tội phạm giảm nhẹ.
– Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc trong mặt khách quan của CTTP, có 2 loại CTTP: cấu thành tội phạm hình thức; cấu thành tội phạm vật chất.
Bài tập tình huống về cấu thành tội phạm
Tình huống 1:
Anh L sinh năm 1957 và chị M là vợ chồng chung sống với nhau có 02 con chung. Khoảng tháng 7/2018, giữa anh L và chị M xảy mâu thuẫn vì anh L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là anh H nên anh L bỏ nhà đến ở nhờ nhà anh T (là cháu L).
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/10/2018, chị M nhờ anh K (là cháu chị M) chở bằng xe mô tô đến nhà anh T để đòi tiền L vì trước đó chị M có cho anh T mượn 3.000.000 đồng và anh T đã trả tiền cho L. Do L không có nhà nên chị M và anh K đi về. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày chị M và anh K tiếp tục đến tìm L. Khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc xô xát, L lấy tuýp sắt ở đống đồ nghề sửa chữa ca nô của anh T (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà tử vong tại chỗ. Lúc này, nhiều người chạy đến xô cửa để vào trong nhà nhưng do cửa khoá bên trong nên không vào được. Thấy vậy, anh S đã gọi điện cho Cảnh sát 113 và Công an phường đến lập Biên bản và bắt L.
Được biết tội phạm mà L đã thực hiện là tội giết người tại khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.
1. Xác định các tình tiết trong cấu trúc của cấu thành tội phạm.
2. Theo anh/chị, tội phạm mà anh L thực hiện thuộc loại tội phạm nào? Cơ sở pháp lý?
3. Tội phạm mà anh L thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Tại sao?
Đáp án:
Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý:
– Giữa anh L và chị M xảy mâu thuẫn vì anh L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là anh H;
– Vì muốn đòi lại khoản tiền 3.000.000 đồng mà anh M trả cho L (tiền của M) nên khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau; L lấy tuýp sắt (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M tử vong;
– Tội phạm mà anh L đã thực hiện là tội giết người tại khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.
Pháp luật liên quan cần áp dụng:
– Khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015;
– Khoản 1, Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015;
1. Các tình tiết trong cấu trúc cấu thành tội phạm trên bao gồm tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết định khung giảm nhẹ. Cụ thể:
– Tình tiết định tội: giữa anh L và chị M xảy mâu thuẫn vì anh L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là anh H. Và vì muốn đòi lại khoản tiền 3.000.000 đồng mà anh M trả cho L (tiền của M). Nên khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc xô xát, L lấy tuýp sắt đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và tử vong. Đây là tình tiết định tội giết người tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.
– Tình tiết định khung tăng nặng: Hành vi của anh L dùng tuýp sắt (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và bị chết ngay tại chỗ là hành vi phạm tội có tính chất côn đồ. Tình tiết này là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.
– Tình tiết định khung giảm nhẹ: Trong vụ án này không có tình tiết định khung giảm nhẹ.
2. Căn cứ vào điểm d, khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm và căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 là hình phạt tử hình thì loại tội phạm mà anh L thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Tội phạm mà anh L thực hiện là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất. Bởi vì, tội phạm giết người là loại tội phạm mà cấu trúc trong mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi tước đoạt tính mạng của người khác và hậu quả chết người cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, được thể hiện trong dấu hiệu định tội của tội phạm này.
Kết luận
1. Các tình tiết trong cấu trúc cấu thành tội phạm trên bao gồm:
Tình tiết định tội: anh L lấy tuýp sắt đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và bị chết ngay tại chỗ. Đây là tình tiết định tội giết người tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.
Tình tiết định khung tăng nặng: có tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015.
2. Loại tội phạm mà anh L thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Tội phạm mà anh L thực hiện là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất.
Tình huống 2:
Vào khoảng 15 giờ ngày 18/5/2018, đối tượng T đi bộ đến cửa hàng kinh doanh trò chơi điện tử trên đường X, quận Y chơi thì gặp đối tượng D. D rủ T đi cướp giật tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. T đồng ý. Đối tượng D điều khiển xe mô tô biển số 55P1-XXXX chở đối tượng T lưu thông qua nhiều tuyến đường. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến trước số nhà 10 Đường số 2, cư xá V, Phường Z, Quận 11 thì đối tượng D phát hiện thấy bà L đang dừng và ngồi trên xe sử dụng điện thoại nên chỉ cho đối tượng T thấy. Sau đó, đối tượng D điều khiển xe quay lại, từ phía sau vượt lên áp sát vào bên trái xe của bà L để đối tượng T dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu iphone 7 của bà L. Sau đó, đối tượng D tăng ga bỏ chạy. Bà L tri hô và điều khiển xe chạy đuổi theo. Khi đến trước siêu thị CoopMart ở góc đường V – Nguyễn Thị M, Quận 11 thì xe của đối tượng D va chạm với xe của người đi đường làm cho đối tượng T đánh rơi chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của bà L. Lúc này, đối tượng T nhảy xuống xe, chạy bộ được một đoạn thì bị bà L cùng người đi đường bắt giữ giao cho Công an Phường Z, Quận 11 lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang chuyển giao Công an Quận 11 xử lý. Riêng đối tượng D điều khiển xe chạy tẩu thoát. Đến ngày 19/5/2018 Công an Quận 11 bắt được đối tượng D.
Được biết tội phạm mà T và D đã thực hiện là tội cướp giật tài sản tại điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.
1. Theo anh/chị, tội phạm mà T và D thực hiện thuộc loại tội phạm gì? Cơ sở pháp lý?
2. Dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hãy xác định loại CTTP mà T và D đã thực hiện?
Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý
– D rủ T đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. T đồng ý;
– Khi đang lưu thông trên đường bằng xe máy, D phát hiện thấy bà L đang dừng và ngồi trên xe sử dụng điện thoại nên chỉ cho đối tượng T thấy;
– D điều khiển xe quay lại, từ phía sau vượt lên áp sát vào bên trái xe của bà L để đối tượng T dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu iphone 7 của bà L sau đó, đối tượng D tăng ga bỏ chạy;
– Tội phạm mà T và D đã thực hiện là Tội cướp giật tài sản tại điểm d, Khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.
Pháp luật liên quan cần áp dụng
– Khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015;
– Khoản 1, Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015.
1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm, và căn cứ vào khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 về tội cướp giật tài sản với mức cao nhất của khung hình phạt là 10 năm tù, nên loại tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.
2. Tội phạm mà T và D thực hiện bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “dùng thủ đoạn nguy hiểm” tại điểm d, khoản 2, Điều 171 BLHS năm 2015, nên tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm tăng nặng (ngoài dấu hiệu định tội thì người phạm tội có thêm tình tiết định khung, làm tăng nặng khung hình phạt).
Kết luận
1. Tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.
2. Tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm tăng nặng.
Trên đây là nội dung bài viết: “Bài tập tình huống cấu thành tội phạm”. Hy vọng bài viết hữu ích với bạn đọc
Câu hỏi thường gặp:
Khách thể của tội cố ý gây thương tích là gì?
Khách thể của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe. Là quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người.
Mặt chủ quan của tội giết người là gì?
Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý. Lỗi cố ý này có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc là lỗi cố ý gián tiếp
Trên thực tế có thể nhận thấy rằng nhiều vụ án hình sự xảy ra với nhiều yếu tố tác động, hành vi vi phạm pháp luật có thể do một hai hai hoặc nhiều chủ thể tổ chức liên kết với nhau để cùng thực hiện. Khi đó để xác định được mức độ vi phạm thì cần có sự can thiệp của cơ quan điều tra. Trong pháp luật hình sự có quy định về đồng phạm là 02 người trở lên cùng cố ý thực hiện phạm tội đã được sắp xếp, bàn bạn từ trước… cụ thể quy định về vấn đề này ra sao, bạn đọc hãy cùng tham khảo nội dung bài viết Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải dưới đây của Học viện đào tạo pháp chế ICA nhé!
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải
Bài tập 1: M (nữ) cùng hai tên H và Q rủ L là một cô gái 17 tuổi cùng đi dự sinh nhật M tại một nhà nghỉ có phòng hát karaoke. Cả bốn cùng uống rượu, H và Q còn pha thuốc kích dục vào đồ uống của mình. Một lát sau M rủ H là bạn trai của mình lên phòng nghỉ và đề nghị L cũng vào phòng nghỉ thành một cặp với Q. Tuy nhiên L từ chối và đòi về. M, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ. Thấy L vẫn tiếp tục nằng nặc từ chối M đã rút con dao đặt lên bàn và đe dọa L. Sau đó Q đã thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của L.
Hỏi: Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
Trong trường hợp phạm tội này M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.
Trường hợp phạm tội này đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu về mặt chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Nhưng vềmặt chủ thể của tội phạm hiếp dâm ngoài những yêu cầu nói chung về năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi thì còn có dấu hiệu đặc biệt đó phải là nam giới, nếu là nữ giới thì nữ giới đóng vai trò là đồng phạm. Trong vụ án này M là nữ giữ vai trò là người đồng phạm của tội phạm hiếp dâm nên M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.
Đồng phạm được quy định tại Điều 20 BLHS như sau:
Điều 20:
1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm..
Trường hợp phạm tội của M, H và Q đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm bao gồm mặt khách quan và mặt chủ quan:
Dấu hiệu về mặt khách quan: đó là phải có từ hai người trở lên tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Trong trường phạm tội trên thì M, H và Q cùng nhau thực hiện một tội phạm đó là tội hiếp dâm. M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ (thể hiện sự góp sự, liên kết với nhau) để ép buộc L thực hiện hành vi giao cấu với Q. Hành vi này của M, H và Q đã cấu thành tội phạm cụ thể đó là tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS. Tội phạm hiếp dâm là tội phạm cấu thành hình thức nên khi M, H và Q dùng hành vi vũ lực với L nhằm mục đích để Q giao cấu với L thì tội phạm hiếp dâm đã được cấu thành.
Dấu hiệu về mặt chủ quan: M, H và Q đã cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Vềmặt lý trí M, H và Q có đủ khả năng nhận thức để thấy được hành vi dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi hiếp dâm của mình là nguy hiểm và trái với quy định của pháp luật và về mặt ý chí M, H mong muốn Q thực hiện hành vi giao cấu với L và Q cũng muốn thực hiện hành vi này. Như vậy, là họ mong muốn hậu quả xảy ra.
Căn cứ vào dấu hiệu khách quan và chủ quan nêu trên, có thể khẳng định M là đồng phạm của tội hiếp dâm. Nhưng trong trường hợp này M là nữ không có những đặc điểm cấu tạo sinh học như nam giới nên không thể thực hiện hành vi giao cấu nên ta phải xác định M giữ vai trò đồng phạm là người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức. Trong trường hợp này M giữ vai trò đồng phạm là người giúp sức. Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 thì: “Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”. Người giúp sức là người tạo những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm, có thể là giúp sức về vật chất hoặc tinh thần. M cùng H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng để tạo điều kiện cho Q giao cấu với L, sau đó M dùng dao và lời nói mang tính chất đe dọa, nhằm cưỡng bức về tinh thần làm L sợ và không giám chống cự. Việc M cưỡng bức về tinh thần đối với L cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Như vậy, có thể kết luận cả hai hành vi dùng vũ lực và dùng dao cùng lời nói đe dọa nhằm tạo điều kiện để Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L thì M chính là người giúp sức.
Bài tập 2: Do có mâu thuẫn trong kinh doanh, P đã nhờ Q đến đốt xưởng của N vào ban đêm. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng.
Hỏi: Q có phải đồng phạm trong trường hợp này không? Hình phạt đối với P và Q như thế nào?
Lời giải:
Q cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo điểm a Khoản 3 Điều 143 BLHS với vai trò là đồng phạm của P .Đồng phạm đòi hỏi có những dấu hiệu sau:
Mặt khách quan:
– Có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Cụ thể trong trường hợp này P và Q là 2 người có đủ điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
– Cùng thực hiện tội phạm (cố ý): P đã có hành vi nhờ Q đến đốt xưởng của N. Như vậy P đã có hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm. P là người xúi giục.
Về mặt chủ quan:
– Dấu hiệu lỗi :
+ Về lí trí: P nhận thức được rất rõ hành vi của mình( xúi giục người khác thực hiện hành vi phạm tội) cũng như của Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và P cũng nhận thức được rõ sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và Q gây ra.
* Về ý chí:
Cả P và Q cùng mong muốn phân xưởng của N bị cháy để trả thù mâu thuẫn trong kinh doanh.
Dấu hiệu mục đích:
P muốn hủy hoại phân xưởng của N để trả thủ mẫu thuẫn trong kinh doanh, khiến công việc làm ăn của N gặp trở ngại. Q đã tiếp nhận mục đích đó của P và là người trực tiếp đốt phân xưởng của N
Hành vi của P và Q đã thỏa mãn đầu đủ các dấu hiệu của trường hợp Đồng phạm theo Điều 20 BLHS trong đó P là người chủ mưu Q là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Khung hình phạt áp dụng cho P cũng tương tự như Q là từ 7 năm đến 15 năm theo điểm a khoản 3 Điều 143 BLHS. Do hậu quả phát sinh vì hành vi đồng phạm của Q và P là như nhau.
Bài tập 3: A ăn trộm chiếc SH sau đó mang tới gửi nhà B ( bạn thân). B hỏi A xe ở đâu mà không mang về nhà A. A bảo xe ăn trộm sau đó bảo B giữ hộ mai có người mua rồi sẽ cho B một khoản tiền. Nói xong A đi về, tới trưa ngày hôm sau A tới lấy xe sau đó đến chiều mang cho B 5 triệu đồng.
Vậy trong trường hợp này B phạm tội gì? Đồng phạm tội trộm xe hay tội che dấu tội phạm?
Lời giải: Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Khi thực hiện xác định tội danh, nếu người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp thì định tội là “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; nếu người phạm tội thực hiện hành vi tiêu thụ thì định tội là “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chứ không định tội như tên gọi của điều luật là “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Trường hợp người phạm tội thực hiện cả hai hành vi chứa chấp và tiêu thụ thì định tội là “Chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Ở trường hợp trên, B chỉ thực hiện hành vi cất giữ mà không thực hiện hành vi tiêu thụ. Vì vậy tội danh của B là “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Chủ thể đặc biệt trong đồng phạm được hiểu là như thế nào?
Đối với những tội phạm có chủ thể đặc biệt; luật hình sự chỉ đòi hỏi người thực hành có đặc điểm của chủ thể đó. Những người đồng phạm khác không nhất thiết phải có những đặc điểm của chủ thể đặc biệt Ví dụ: trong vụ tham ô tài sản, người thực hành là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến tài sản; còn những người đồng phạm khác có thể là người không có chức vụ, quyền hạn như vậy.
Xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm như thế nào?
Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đến cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành thực hiện tội phạm đến giai đoạn nào họ phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó. Nếu người bị xúi giục không nghe theo sự xúi giục không có kết quả thì chỉ riêng người xúi giục phải gánh chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ muốn xúi giục. Nếu người giúp sức người khác thực hiện tội phạm nhưng người này không thực hiện tội phạm đó hoặc không sử dụng sự giúp sức thì người giúp sức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ muốn giúp sức
Trong các quyền nhân thân của con người thì quyền được sống là quyền tự nhiên, quyền thiêng liêng và là quyền cao quý nhất, bởi lẽ vậy vì con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, hiện nay tội phạm về giết người trong xã hội diễn ra với một con số đáng báo động khi mà số lượng các vụ việc xâm phạm đến tính mạng con người ngày càng gia tăng. Bài viết đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ chia sẻ đến bạn đọc Bài tập luật hình sự về tội giết người thường phổ biến và cách giải, mời bạn đọc tham khảo nội dung bài viết để nắm được những quy định pháp luật về loại tội phạm này.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
A có ý định giết B (đang có thai) để trả thù. Biết B đi chơi chưa về nhà nên A đã nấp ở bụi vây gần cổng nhà B, đợi B về để giết. Thấy A có dấu hiệu khả nghi, đội tuần tra đã yêu cầu A xuất trình giấy tờ. A bạt theo khoản chạy và sau đó đã bị bắt. Hành vi của A được xác định là phạm tội giết người theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự.
Câu hỏi: Hành vi phạm tội của A thuộc giai đoạn phạm tội nào? Giải thích rõ tại sao?
Đáp án
Hành vi phạm tội của A thuộc giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Trước hết giai đoạn chuẩn bị phạm tội được xác định chỉ thực hiện đối với tội cố ý, người thực hiện tội phạm ở giai đoạn này biết trước hậu quả mà hành vi của mình gây ra là bất lợi đối với xã hội và các quan hệ được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Khoa học luật hình sự Việt Nam xác định “chuẩn bị phạm tội là giai đoạn phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó”. Hành vi chuẩn bị phạm tội tuy đã thực hiện hành động nhưng hành động đó chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tương tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể của loại tội phạm định thực hiện. Trong thực tế hành vi chuẩn bị phạm tội có thể thực hiện ở một số dạng như: chuẩn bị công cụ, phương tiện; chuẩn bị kế hoạch phạm tội; thăm dò địa điểm phạm tội; thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại; loại trừ trước những trở ngại khách quan…
Bài tập 2
A bị lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động trong nước. Khi thấy tình hình xã hội có nhiều biến động, để gây thêm thanh thế của tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, A nhận nhiệm vụ ném lựu đạn vào nhà chủ tịch huyện B (huyện giáp biên giới) nhằm giết chết ông K và làm suy yếu chính quyền. A ném lựu đạn vào nhà nhưng lựu đạn không nổ. Sau đó A bị bắt.
Hỏi:
1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?
a. A phạm tội giết người?
b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành?
Đáp án:
1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?
a. A phạm tội giết người? Sai
Nếu xét các dấu hiệu cảu mặt khách quan thì hành vi của A cũng tương tự tội giết người. Đối với tội giết người, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc, dấu hiệu định tội nhưng nếu giết người có mục đích làm suy yếu chính quyền nhân dân thì đã thỏa mãn cấu thành tội phạm tội khủng bố. Hành vi của A không đơn thuần chỉ là hành vi giết một con người cụ thể mà hành vi của A để gây thêm thanh thế cho tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, từ đó nhằm làm suy yếu chính quyền. Mặt khác, B là một chủ tịch huyện, với vai trò cán bộ nhà nước, lại ở giáp biên giới, nơi thường bị các lực lượng thù địch lợi dụng chống phá. Như vậy, xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội thì hành vi của A là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Chính vì thế, A không phạm tội giết người mà là phạm tội khủng bố theo điều 84 Bộ luật Hình sự.
b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành? Sai
Về căn cứ pháp lý, cấu thành tội phạm tội khủng bố là cấu thành tội phạm vật chất, là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.
Mặt khác, tội khủng bố có 2 loại hậu quả:
Hậu quả trực tiếp: chết người, thương tích, tự do thân thể bị tước đoạt hoặc bị hạn chế. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của tội khủng bố, và nó hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra. Hậu quả này là phương tiện để người phạm tội đạt được kết quả suy yếu chính quyền nhân dân.
Hậu quả gián tiếp: thông qua hậu quả trực tiếp, người phạm tội có thể làm suy yếu chính quyền. Tuy nhiên hậu quả này không phải là dáu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội khủng bố.
Xét về lý luận, cấu thành tội phạm vật chất hoàn thành khi hậu quả đã xảy ra, xét với tội khủng bố tức là cả 2 hậu quả đều xảy ra. Tuy nhiên, rất khó để xác định, thậm chí là không thể xác định được chính quyền đã suy yếu hay chưa, nếu suy yếu thì nó ở mức độ nào, và nhà nước cũng không thể công bố kết quả ra được vì nguyên nhân chính trị… Như vậy tội khủng bố hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra.
Xét vào vụ án trên, A đã có hành vi ném lựu đạn vào nhà với ý muốn giết chết B, nên hành vi của A không thể là hành vi quy định tại khoản 3 điều 84: “đe dọa xâm phạm tính mạng” mà là hành vi quy đinh tại khoản 1 nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt vì hậu quả chết người chưa xảy ra.
Bài tập 3:
Do thường xuyên bị mất trộm hoa quả trong vườn nên ông H đã dùng dây kim loại trần mắc quanh vườn nhà mình và đấu nối với điện sinh hoạt nhằm ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài vào. Mỗi góc vườn ông H có treo biển cảnh báo nguy hiểm và thông báo với hàng xóm xung quanh. Ngày 12/5/2018 chị B đang có thai 04 tháng tuổi ở xã bên cạnh đi làm về, khi đi sát vườn nhà H thì bị điện giật chết do chạm vào dây điện mà ông H giăng ở quanh vườn.
Hỏi: Với tình huống trên thì ông H có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự? Giải thích tại sao?
Lời giải:
Với hành vi trong tình huống trên của ông H thì ông H đã phạm tội Giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Vì đã có hành vi dùng dây kim loại trần mắc quanh vườn nhà mình và đấu nối với điện sinh hoạt nhằm chống mất, mặc dù có treo biển cảnh báo nguy hiểm và thông báo cho những người xung quanh biết những đã gây ra cái chết cho chị B. Mặt khác, vì hành vi của H là hành vi trái pháp luật đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Nghị định 169/2003 ngày 24/12/2003 về an toàn điện.
Do vậy, trong trường hợp này H mặc dù không nhằm vào người cụ thể nào và không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, H đã phạm tội Giết người với lỗi cố ý gián tiếp. H không nhằm trực tiếp vào chị B, không biết chị B có thai nên không phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó hành vi giết người của H phạm tội theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015.
Trên đây là tư vấn về Bài tập luật hình sự về tội giết người thường phổ biến và cách giải của chúng tôi gửi đến bạn đọc về nội dung. Hi vọng những tin mà chúng tôi chia sẻ sẽ mang lại nhiều điều hữu ích.
Câu hỏi thường gặp:
Bị thần kinh khi giết người có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Theo quy định tại điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Giết người có phải bồi thường thiệt hại hay không?
Theo quy định tại Điều 585 BLDS Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Bồi thường thiệt hại về tính mạng bao gồm: – Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như: + Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; + Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; – Chi phí hợp lý cho việc mai táng; – Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; d) Thiệt hại khác do luật quy định. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần
Trong quá trình học luật, để rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống thì việc đưa ra các bài tập tình huống giả định là rất cần thiết. Nếu chỉ học mình lý thuyết mà không kết hợp thực tiễn thì sinh viên không thể linh hoạt trong việc xử lý cá tình huống khi làm nghề. Học viện đào tạo pháp chế ICA tổng hợp một vài bài tập tình huống luật hình sự pháp luật đại cương (có đáp án), bạn có thể tham khảo để nâng cap trình độ chuyên môn và khả năng phản xạ.
Tình huống 1:
B thấy chị H đeo hai nhẫn vàng ở ngón tay nên T dùng gậy đánh vào sau gáy của chị H làm chị H ngất, sau đó B lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H. Vậy B phạm tội gì?
Đáp án:
B đã có hành vi dùng vũ lực (dùng gậy đánh vào đầu chị H) để nhằm chiếm đoạt tài sản (lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H) và thực tế là B đã lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H, do đó B đã phạm tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.
Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực. Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi hành động dùng sức mạnh vật chất (có thể có vũ khí hoặc không có vũ khí) để tác động, tấn công vào cơ thể của người bị tấn công như: dùng chân tay đấm, đánh, bóp cổ, dùng dây trói, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, đập, dùng dao đâm, chém… Hành động tấn công này có thể làm cho người bị tấn công bị thương tích, bị tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị chết nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể cho nạn nhân. Việc dùng vũ lực là nhằm mục đích là làm cho người bị tấn công mất khả năng chống cự nhằm để cướp tài sản. Việc dùng vũ lực được thực hiện ở cả hai phương thức đó là phương thức bí mật (như: bắn lén lút, đánh vào sau gáy…) và phương thức công khai (tấn công trước mặt người bị tấn công để cho người đó biết, bất luận có người nào khác biết hay không).
Tình huống 2:
T vừa lĩnh 50 triệu đồng tiền gửi ngân hàng đi ra đến đường quốc lộ thì K dùng dao dí vào cổ T và yêu cầu T đưa tiền, nếu không đưa thì K sẽ đâm. Ngay lúc đó quần chúng nhân dân chạy tới bắt giữ K. Vậy K có phạm tội không?
Đáp án:
K đã có hành vi đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực (dùng dao dí vào cổ T) để buộc T là người bị tấn công phải sợ và tin tưởng nếu không đưa tiền cho K thì tính mạng của T sẽ bị nguy hại (bị đâm dao vào người), do đó K đã phạm tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự. Bởi theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc.
Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc được hiểu là đe doạ dùng ngay tức thì sức mạnh vật chất (có thể có vũ khí hoặc không có vũ khí) để tác động, tấn công vào cơ thể của người bị tấn công như: dùng chân tay đấm, đánh, bóp cổ, dùng dây trói, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, đập, dùng dao đâm, chém… nếu người bị tấn công không chịu khuất phục để buộc người bị tấn công phải sợ và tin tưởng rằng nếu không để cho lấy tài sản thì tính mạng và sức khoẻ sẽ bị nguy hại. Ở đây thông thường được kết hợp giữa hành vi sẽ dùng vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo, để tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin tưởng rằng người phạm tội sẽ dùng vũ lực.
Ngay tức khắc là ngay lập tức, không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị tấn công không giao tài sản cho người phạm tội. Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.
Tình huống 3:
T lập kế hoạch và bàn bạc với M và P cướp tiền của những người mới lĩnh tiền từ Ngân hàng Đ. T phân công cho M dùng dao đe doạ người bị tấn công, còn M lao vào cướp tiền rồi lên xe máy do T đang đứng đợi sẵn. Vậy T, M và P phạm tội gì và theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự?
Đáp án:
Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì cướp tài sản có tổ chức được hiểu là hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện tội cố ý cướp tài sản mà giữa họ có sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện tội phạm (có sự bàn bạc, chuẩn bị chu đáo, vạch trương trình kế hoạch phạm tội, phân công vai trò, vị trí của từng người), trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên không phải vụ án cướp tài sản có tổ chức nào cũng đủ những người giữ vai trò như trên, mà tuỳ từng trường hợp có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục hoặc người giúp sức nhưng nhất định phải có người thực hành và người tổ chức thì mới phạm tội có tổ chức.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi sướng việc phạm tội; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm…
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm như: trực tiếp cầm dao chém người bị tấn công, trực tiếp cầm súng đe doạ người bị tấn công hay trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người bị tấn công…
Như vậy, trong vụ án cướp tài sản trên thì có ba người đó là T, M và P cùng cố ý thực hiện tội cướp tài sản, trong đó T là người tổ chức vì là người vạch kế hoạch, chủ động bàn bạc với M và P thực hiện hành vi cướp tài sản và phân công trách nhiệm cho M và P, còn M và P là những người thực hành vì có hành vi trực tiếp dùng dao đe doạ và cướp tài sản của người bị tấn công. Do đó T, M và P đã phạm tội cướp tài sản với tình tiết có tổ chức được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về nội dung “Bài tập luật hình sự pháp luật đại cương”. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Phương pháp nào giúp học và làm bài tập tình huống hình sự tốt nhất?
Để học và làm bài tập luật hình sự giỏi thì sinh viên cần phải có những phương pháp học tập phù hợp nhất. Đó là: + Thường xuyên làm đề cương và học thông qua đề cương bài tập tình huống; + Học các văn bản luật liên quan đến luật hình sự thật kỹ càng; + Chịu khó giải các bài tập trắc nghiệm và bài tập tình huống.
Cấu thành tội phạm vật chất, cấu thành tội phạm hình thức được pháp luật quy định như nào?
– Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. – Cấu thành tội phạm hình thức là cấu hành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khác quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản, của cải của người chết sang cho người con sống theo ý chí, nguyện vọng của người chết hay theo quy định pháp luật. Người hưởng tài sản thừa kế này có nghĩa vụ duy trì, phát triển, quản lý tài sản mà người chết để lại hay có nghĩa vụ khác theo ý cầu của người để lại tài sản. Tại nội dung bài viết dưới đây, Bài viết đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ chia sẻ đến bạn đọc Bài tập tình huống luật dân sự về thừa kế phổ biến và cách giải, mời bạn đọc theo dõi để nắm được quy định pháp luật về việc chia thừa kế,
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Dân sự năm 2015
Bài tập 1
Năm 1972, Ông A kết hôn với bà B. Ông bà sinh được 3 con là M, N, C. Đến năm 1995, M kết hôn với E sinh được H và X. N lấy chồng sinh được con là K và D. Đến tháng 3/1997 ông A chết để lại di chúc cho X và N. Qua quá trình điều tra thấy rằng Ô A lập di chúc không hợp pháp. Biết rằng tài sản của ông A là 200 triệu VNĐ. Tài sản chung của Ô bà là 100 triệu VNĐ. Bà B mai táng cho ông A hết 40 triệu. Hãy chia tài sản thừa kế.
Lời giải:
Tài sản riêng của ông A là 200.
Tài sản chung của ông A và B là 100.
Di sản của ông A là 200 + (100/2)=250.
Do bà B làm mai táng cho ông A hết 40 nên di sản của ông A còn lại là 250-40=210.
Theo luật định những người được hưởng tài sản thừa kế của ông A gồm: B, M, N và C: 210/4=52,5
Bài tập 2
Ông A và bà B có 02 người con, 01 trai, 01 gái, tạo lập được ngôi nhà trên diện tích đất 300m2. Ông A mất và không để lại di chúc. Do thấy cuộc sống của người con gái khó khăn, nên bà B muốn bán một nửa diện tích đất và chia cho người con gái một khoản tiền. Khi bà bàn việc này với vợ chồng con trai thì người con trai không đồng ý vì cho rằng con gái đi lấy chồng thì không có quyền hưởng di sản dẫn đến mâu thuẫn. Bà B đã nhờ hòa giải viên can thiệp. Vậy, hòa giải viên sẽ áp dụng quy định nào của pháp luật để hòa giải?
Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, Hòa giải viên cần căn cứ vào Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải thích cho người con trai của bà B và bà B hiểu rõ về người thừa kế theo pháp luật. Vì ông A mất không để lại di chúc nên những người được thừa kế theo pháp luật bao gồm: bà B, người con trai và người con gái. Vì vậy, người con gái cũng được hưởng di sản của ông A để lại.
Bài tập 3
Sau khi chồng là ông B qua đời, làm đám tang xong thì ông X ở xóm bên đến nhà đòi bà S trả nợ cho chồng do trước khi mất ông B có nợ một khoản tiền vay trong thời gian con bị ốm. Nhưng do quá nghèo nên bà S không có tiền để trả, ông X đòi lấy tiền phúng điếu và tiền của ông B để lại trả cho bà. Bà S cho biết toàn bộ tiền phúng điếu đều lo cho việc mai táng cho chồng, ông B cũng không để lại tài sản gì cho bà cả chỉ có ngôi nhà để mẹ, con bà che mưa nắng. Nên, bà S mong ông X cho bà thêm thời gian, bà sẽ cố gắng làm việc để trả nợ cho ông. Ông X không đồng ý, gây ồn ào. Bà S đã nhờ hòa giải viên giúp đỡ. Trong trường hợp này, Hòa giải viên áp dụng quy định nào của pháp luật để thực hiện hòa giải?
Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán như sau:
Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;
2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;
3. Chi phí cho việc bảo quản di sản;
4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;
5. Tiền công lao động;
6. Tiền bồi thường thiệt hại;
7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước;
8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân;
9. Tiền phạt;
10. Các chi phí khác.
Như vậy, Hòa giải viên cần căn cứ vào quy định tại Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 giải thích cho bà S và ông X hiểu rõ quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán, ưu tiên thanh toán trước tiên là các chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng. Ngoài ra, Hòa giải viên phải vận dụng đạo đức truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam về tình làng nghĩa xóm.
Bài tập 4
Ông A kết hôn với bà B sinh được 5 người con. Anh con cả đã chết để lại 2 con: 1 trai và 1 gái đã thành niên. Gia tài của Ô bà gồm 2 ngôi nhà: 1 ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng. Trước khi chết Ông A lập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng. Biết đứa con trai út của ông bà đã sinh được 1 cháu trai đã thành niên. Sau đó anh con trai út này đã bị tai nạn và bị tâm thần. Anh (chị) hãy chia tài sản của ông A?
Giải:
Theo đề bài ta thì tài sản chung của ông A và bà B là 300
Di sản của ông A là 300/2 = 150
ông A để lại cho bà B 100
Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150-100=50
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 người con; do anh con cả mất nên theo Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì 02 con của anh cả sẽ được hưởng thừa kế kế vị, cụ thể:
Mỗi người được hưởng là 50/6=8,33
Mỗi người con của anh cả là 8,33/2= 4,165
Trên đây là tư vấn về Bài tập tình huống luật dân sự về thừa kế phổ biến và cách giải của chúng tôi gửi đến bạn đọc về nội dung. Hi vọng những tin mà chúng tôi chia sẻ sẽ mang lại nhiều điều hữu ích.
Câu hỏi thường gặp:
Trường hợp nào sẽ chia thừa kế theo pháp luật?
Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, chia thừa kế theo pháp luật trong các trường hợp sau đây: – Không có di chúc; – Di chúc không hợp pháp; – Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; – Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 650 của Bộ luật Dân sự 2015, khi chia thừa kế theo di chúc, vẫn có thể chia thừa kế theo pháp luật trong các trường hợp sau đây: – Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; – Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; – Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Thừa kế tài sản không di chúc áp dụng đối với di sản thừa kế nào?
Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản thừa kế sau đây: Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Học viện đào tạo pháp chế ICA tổng hợp các tình huống thường xảy ra trong luật hình sự dành cho các sinh viên học ngành luật. Bạn đọc có thể tham khảo để củng cố kiến thức và có tư duy tốt hơn trong việc xử lý các tình huống về sau.
Tình huống 1: Tình huống về tội hiếp dâm
M (nữ) cùng hai tên H và Q rủ L là một cô gái 17 tuổi cùng đi dự sinh nhật M tại một nhà nghỉ có phòng hát karaoke. Cả bốn cùng uống rượu, nhảy múa, H và Q còn pha thuốc kích dục vào đồ uống của mình. Một lát sau M rủ H là bạn trai của mình lên phòng nghỉ và đề nghị L cũng vào phòng nghỉ thành một cặp với Q. Tuy nhiên L từ chối và đòi về. M, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ. Thấy L vẫn tiếp tục nằng nặc từ chối M đã rút con dao đặt lên bàn và bảo “Mày thích gì? Có chiều Q không thì bảo?” L sợ quá đành đồng ý ở lại cùng Q. Sau đó Q đã thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của L.
Hỏi:
1. Tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Trong trường hợp trên tội hiếp dâm đã hoàn thành chưa? Tại sao?
2. Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
4. Nếu sau khi M và H bỏ đi, L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu với L thì Q có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
Đáp án:
1. Tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Trong trường hợp trên tội hiếp dâm đã hoàn thành chưa? Tại sao?
Tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm (CTTP) hình thức;
Điều 141 BLHS quy định về tội hiếp dâm: “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”
Hành vi nguy hiểm cho xã hội ở đây là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ; nhưng Điều luật lại không chỉ rõ hậu quả của hành vi gây ra cũng như không nêu rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Vì vậy tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 là tội có CTTP hình thức.
Đối với tội hiếp dâm, chỉ cần có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân, cho dù đã giao cấu được hay chưa thì vẫn bị coi là đã phạm tội hiếp dâm và ở giai đoạn phạm tội hoàn thành nhưng chưa đạt. Vì vậy đối tượng phạm tội thường là nam giới. Nói như vậy không có nghĩa là nữ giới không bị xét xử về tội này nhưng thường nữ giới chỉ bị xét xử với tư cách là đồng phạm.
Do đó tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm hình thức vì chỉ cần thực hiện một trong những hành vi khách quan được quy định trong Điều 141 BLHS là tội phạm đã hoàn thành cho dù đã giao cấu được hay chưa. Nếu chưa giao cấu được do những yếu tố bên ngoài tác động vào thì tội phạm cũng đã hoàn thành nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Vì lỗi của người phạm tội luôn luôn là lỗi cố ý vì người phạm tội biết hành vi giao cấu của mình là trái ý muốn của người phụ nữ nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng một trong những thủ đoạn nói trên.
Trong trường hợp trên thì tội hiếp dâm đã hoàn thành rồi. Vì M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng ngủ nhưng L vẫn tiếp tục từ chối sau đó M rút dao đe dọa L sợ quá nên L đồng ý ở lại cùng Q và sau đó Q đã thực hiện được hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Người phạm tội trong trường hợp này đã dùng vũ lực và sau đó là đe dọa dùng vũ lực buộc L phải đồng ý giao cấu trái ý muốn và Q đã thực hiện hành vi giao cấu với L. Như vậy, trong trường hợp này tội phạm đã hoàn thành.
2. Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
Trong trường hợp phạm tội này M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.
Trường hợp phạm tội này đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu về mặt chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Nhưng về mặt chủ thể của tội phạm hiếp dâm ngoài những yêu cầu nói chung về năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi thì còn có dấu hiệu đặc biệt đó phải là nam giới, nếu là nữ giới thì nữ giới đóng vai trò là đồng phạm. Trong vụ án này M là nữ giữ vai trò là người đồng phạm của tội phạm hiếp dâm nên M phải trịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.
Trường hợp phạm tội của M, H và Q đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm bao gồm mặt khách quan và mặt chủ quan:
Dấu hiệu về mặt khách quan: đó là phải có từ hai người trở lên tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Trong trường phạm tội trên thì M, H và Q cùng nhau thực hiện một tội phạm đó là tội hiếp dâm. M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ (thể hiện sự liên kết với nhau) để ép buộc L thực hiện hành vi giao cấu với Q. Hành vi này của M, H và Q đã cấu thành tội phạm cụ thể đó là tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS. Tội phạm hiếp dâm là tội phạm cấu thành hình thức nên khi M, H và Q dùng hành vi vũ lực với L nhằm mục đích để Q giao cấu với L thì tội phạm hiếp dâm đã được cấu thành.
Dấu hiệu về mặt chủ quan: M, H và Q đã cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Về mặt lý trí M, H và Q có đủ khả năng nhận thức để thấy được hành vi dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi hiếp dâm của mình là nguy hiểm và trái với quy định của pháp luật và về mặt ý chí M, H mong muốn Q thực hiện hành vi giao cấu với L và Q cũng muốn thực hiện hành vi này. Như vậy, là họ mong muốn hậu quả xảy ra.
Căn cứ vào dấu hiệu khách quan và chủ quan đã phân tích ta có thể khẳng định M là đồng phạm của tội hiếp dâm. Nhưng trong trường hợp này M là nữ không có những đặc điểm cấu tạo sinh học như nam giới nên không thể thực hiện hành vi giao cấu nên ta phải xác định M giữ vai trò đồng phạm là người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức. Trong trường hợp này M giữ vai trò đồng phạm là người giúp sức. M cùng H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng để tạo điều kiện cho Q giao cấu với L, sau đó M dùng dao và lời nói mang tính chất đe dọa, nhằm cưỡng bức về tinh thần làm L sợ và không giám chống cự. Việc M cưỡng bức về tinh thần đối với L cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Như vậy, cả hai hành vi dùng vũ lực và dùng dao cùng lời nói đe dọa nhằm tạo điều kiện để Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L thì M chính là người giúp sức.
3. Nếu sau khi M và H bỏ đi, L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu với L thì Q có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
Nếu sau khi M và H bỏ đi , L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu của mình với L. Trong trường hợp này thì Q được miễn trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm. Vì hành vi của Q thuộc trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Theo Điều 16 BLHS : “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.
Tội hiếp dâm tại điều 141 BLHS có 2 loại hành vi khác nhau. Thứ nhất là loại hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác” và loại hành vi thứ 2 là “giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ”.
Khi mà M, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ và M đã rút con dao đặt lên bàn và bảo “Mày thích gì? Có chiều Q không thì bảo thì Q và M, H những người đồng phạm của Q đã dùng vũ lực và đã đe dọa dùng vũ lực làm tê liệt ý chí kháng cự của L (L sợ quá đành đồng ý ở lại cùng).Tuy nhiên, việc Q không thực hiện hành vi giao cấu với L tức là Q chưa thực hiện hết những hành vi được điều 141 BLHS mô tả cho nên thời điểm dừng lại việc phạm tội của Q là ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành.
Khi Q dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối. Khi dừng lại, Q vẫn tin rằng, hiện tại không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện hành vi tiếp theo là giao cấu với L Nhưng Q đã không thực hiện việc đó nữa. Sau đó, Q chấm dứt một cách triệt để, từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải tạm thời ngừng lại để tìm những thủ đoạn, phương tiện khác có hiệu quả hơn, thuận lợi hơn để tiếp tục thực hiện tội phạm mà nguyên nhân dẫn đến việc từ bỏ ý định phạm tội, không tiến hành tội phạm đến cùng của Q là do L khóc lóc van xin và Q đã mủi lòng thương hại nạn nhân. Hơn nữa L chưa bị tổn thương về mặt thể chất cũng như L chưa bị xâm phạm tới quyền bất khả xâm phạm về tình dục. Do đó Q được miễn chị trách nhiệm hình sựvề tội hiếp dâm.
Tình huống 2: Tình huống về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
Do có mâu thuẫn trong kinh doanh, P đã nhờ Q đến đốt xưởng của N vào ban đêm. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng.
Hỏi:
Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q.
Đáp án:
Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q.
1.1 Tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của Q
* Hành vi của Q đã cấu thành Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 BLHS.
Mặt khách quan :
Hành vi khách quan: Q đã có hành vi đốt xưởng của N, muốn là hư hại tài sản đó. Hành vi của Q là hành vi cố ý huỷ hoại tài sản của người khác.
– Hậu quả của tội phạm: CTTP tội này đòi hỏi có hậu quả là tài sản bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng. Tội phạm được coi là hoàn thành khi hậu quả này đã xảy ra. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng.
– QHNQ là dấu hiệu thuộc mặt khách quan tội này. Người có hành vi chỉ phải chịu TNHS về thiệt hại tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng nếu giữa thiệt hại này và hành vi của họ có QHNQ với nhau. Cụ thể ở đây hành vi đốt phân xưởng của Q đã trực tiếp gây ra thiệt hại về tài sản cho N.
Mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp: Q nhận thức được rằng hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N có thể bị cháy trụi và Q mong muốn hậu quả đó xảy ra.
+ Về lý trí: Q nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình gây ra và thấy trước hậu quả của hành vi đó là gây thiệt hại về tài sản cho N.
+Về ý chí: Q muốn hậu quả xảy ra
Khách thể là quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ
=> Hành vi của Q đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của CTTP về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
* Định tội danh của Q
Theo điểm a Khoản 3 Điều 143 BLHS: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”
Giá trị tài sản mà Q hủy hoại là 350 triệu đồng.
=> Vì vậy mà khung hình phạt áp dụng cho Q là từ 7 năm đến 15 năm
1.2 Tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P
* P cũng bị truy cứu TNHS về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo điểm a Khoản 3 Điều 143 BLHS với vai trò là đồng phạm của Q. Đồng phạm đòi hỏi có những dấu hiệu sau:
Mặt khách quan:
– Có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Cụ thể trong trường hợp này P và Q là 2 người có đủ điều kiện về năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS.
– Cùng thực hiện tội phạm (cố ý): P đã có hành vi nhờ Q đến đốt xưởng của N. Như vậy P đã có hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm. P là người xúi giục.
Về mặt chủ quan:
– Dấu hiệu lỗi :
+ Về lí trí: P nhận thức được rất rõ hành vi của mình( xúi giục người khác thực hiện hành vi phạm tội) cũng như của Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và P cũng nhận thức được rõ sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và Q gây ra.
* Về ý chí:
Cả P và Q cùng mong muốn phân xưởng của N bị cháy để trả thù mâu thuẫn trong kinh doanh.
b. Dấu hiệu mục đích:
P muốn hủy hoại phân xưởng của N để trả thù mâu thuẫn trong kinh doanh, khiến công việc làm ăn của N gặp trở ngại. Q đã tiếp nhận mục đích đó của P và là người trực tiếp đốt phân xưởng của N
=> Hành vi của P và Q đã thỏa mãn đầu đủ các dấu hiệu của trường hợp Đồng phạm theo Điều 20 BLHS trong đó P là người chủ mưu Q là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
* Khung hình phạt áp dụng cho P cũng tương tự như Q là từ 7 năm đến 15 năm theo điểm a khoản 3 Điều 143 BLHS. Do hậu quả phát sinh vì hành vi đồng phạm của Q và P là như nhau.
Tình huống 3:
C mua đc 2kg ma tuý. C thuê K chuyển số ma tuý này đến thị xã X cho một người tên
là H với tiền công là 20 triệu đồng. Biết là hàng cấm nhưng đang cần tiền nên K đồng ý. Trên đường vận chuyển, vì lo sợ nên K có thái độ lấm lét khi cảnh sát kiểm tra giấy tờ xe và K đã bị đội đặc nhiệm bắt giữ cùng tang vật là gói hàng 2 kg ma tuý. K thành khẩn khai báo sự việc. Số hàng do K vận chuyển được đưa đi giám định.
Kết quả giám định cho biết đó là chất ma tuý giả. Cơ quan điều tra cũng xác định được C mua lầm số hàng nói trên của một người tên là P. Mở rộng điều tra, cơ quan điều tra cũng xác định được rằng P biết số ma tuý bán cho C là giả nhưng P vẫn bán cho C
Anh (chị) hãy:
Xác định tội danh cho hành vi của C, K và P.
Giải đáp:
a) Xác định tội danh cho hành vi của C.
Để xác định tội danh cho hành vi của C, ta xem xét các dấu hiệu cơ bản sau:
* Khách thể:
Hành vi của C đã xâm phạm tới chế độ quản lý của nhà nước về việc cất giữ vận chuyển trao đổi chất ma túy. Cho dù số ma tuý C mua là giả thì C vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thông tư liên tịch số 17 ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ công an – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao – Toà án nhân dân Tối cao – Bộ tư pháp: “Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy”. Số ma tuý mà C mua là giả nhưng khi mua nó trong ý thức chủ quan của mình C vẫn tin rằng số ma tuý đó là thật. Trường hợp này là sai lầm về khách thể.
*Mặt khách quan:
C mua được 2 kg ma tuý của P và C đã thuê K chuyển số ma tuý này đến thị xã X cho H là 20 triệu đồng. Như vậy, trong vụ án này, trước hết ta xác định được chắc chắn rằng là C có hành vi mua ma tuý trái phép.
* Mặt chủ quan:
C có lỗi cố ý trực tiếp. Thể hiện ở việc C nhận thức được ma tuý là ma túy bị nhà nước cấm lưu thông nhưng C vẫn có hành vi mua 2kg ma tuý này và thuê K vận chuyển đến thị xã X cho H với tiền công rất lớn 20 triệu đồng. Tóm lại, C nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện đến cùng tội phạm.
* Chủ thể:
Chỉ cần C có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Số lượng 2kg ma tuý mà C mua là rất lớn (>100gram) nên theo khoản 4 điều 194, C phạm tội trong trường hợp trong trường hợp này là tội đặc biệt nghiêm trọng nên chỉ cần C đủ 14 tuổi trở nên là C phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự (theo quy định tại điều 12 BLHS).
Tuy nhiên, như đã trình bày, ta chỉ mới xác định được C có hành vi mua ma tuý, chứ chưa biết C có mục đích bán hay không. Phải làm rõ được mục đích của C thì mới có thể định tội chính xác được.
Việc xác minh C có mục đích bán hay không, là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.Tuy nhiên, việc xác định mục đích của người mua trái phép chất ma túy có nhằm mục đích bán trái phép cho người khác hay không chỉ phức tạp trong trường hợp chất ma túy có số lượng nhỏ.Còn trong trường hợp của C, C đã mua 2kg
ma tuý số lượng ma tuý rất lớn thì mục đích của C mua về để bán là dễ dàng chứng minh được. Bởi thường thì không ai mua 2kg ma tuý về sử dụng dần cả.
Tuy vậy ta vẫn phải chia thành hai trường hợp tương ứng với mục đích của C có phải là nhằm mua bán trái phép chất ma tuý hay không:
– Trường hợp 1:
Chứng minh được mục đích mua bán trái phép chất ma tuý của C.
Ở trường hợp này thì hành vi của C là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào.
– Trường hợp 2:
Không chứng minh được mục đích bán trái phép chất ma túy của C.
Trong trường hợp này, C có thể có nhiều mục đích khác. Tùy từng mục đích cụ thể mà có thể khẳng định hành vi của C là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc thậm chí là sản xuất trái phép chất ma tuý.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ trái phép chất ma túy trong người, trong nhà hoặc ở nơi nào nào đó, không kể thời gian bao lâu.
Hành vi sản xuất trái phép chất ma tuý là hành vi tham gia vào quá trình tạo ra chất ma tuý dưới bất kì hình thức nào. Quá trình này có thể gồm nhiều công đoạn khác nhau và được tiến hành với các phương pháp, quy trình cũng như với các phương tiện, thiết bị khác nhau. Người phạm tội có thể có hành vi tham gia vào một giai đoạn hoặc toàn bộ quá trình.
b) Xác định tội danh cho hành vi của K.
Để xác định tội danh cho hành vi của K, ta cũng cần xem xét các dấu hiệu cơ bản.
Các dấu hiệu về khách thể, chủ thể và thái độ lỗi của tội phạm mà K thực hiện cũng tương tự như C.
– Về hành vi khách quan:
Có thể thấy ngay: Hành vi của K là hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma tuý từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác.. bằng bất kì phương thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt) nhưng đều không nhằm mục đích mua bán.
Như vậy, khái niệm vận chuyển trái phép chất ma tuý được dùng ở đây có nội hàm rộng hơn khái niệm vận chuyển hàng hoá thông thường. Vận chuyển trái phép chất ma tuý có thể giống với vận chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác trong một cự ly nhất định với phương tiện là ôtô, xe đạp, xe máy, tàu thuỷ, máy bay.., nhưng cũng có thể chỉ là hành vi chuyển dịch từ vị trí này sang vị trí khác trong một không gian chật hẹp như từ gầm giường sang giá sách, từ túi người này sang túi người khác trong một phòng, thậm chí từ túi này sang túi khác của cùng một người.
Xét hành vi của K: K dùng xe (không rõ là xe máy hay ôtô) để vận chuyển 2kg ma tuý đến thị xã X cho một người tên H theo thoả thuận với C. Như vậy hành vi của K đúng là hành vi vận chuyển trái phép ma tuý.
– Về mặt chủ quan:
Cùng là hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng với những thái độ lỗi khá nhau của người phạm tội thì có thể cấu thành những tội phạm khác nhau. Đặc biệt ở đây, K đóng vai trò vận chuyển thuê cho C, bởi vậy không thể không xét tới mối liên hệ về ý chí giữa hành vi của C và hành vi của K.
Cụ thể ở trường hợp này như sau:
Nếu vận chuyển ma tuý với mục đích mua bán chất ma tuý này thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Nếu vận chuyển ma tuý cho người khác mà biết rõ mục đích mua bán ma tuý của người mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò giúp sức.
Nếu vận chuyển ma tuý hộ người khác, không nhằm mục đích mua bán, cũng không biết rõ mục đích của người mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Dựa vào tình tiết của vụ án, ta có thể loại ngay trường hợp 1. Bởi lẽ: C là người đã giao cho K 2kg ma tuý đó và thuê K vận chuyển đến cho H với tiền công thoả thuận là 20 triệu đồng. Như vậy, rõ ràng K chỉ vận chuyển thuê chứ không phải mua bán với C hay H.
Tuy nhiên, do các tình tiết không nêu rõ K có biết được mục đích nhờ vận chuyển của C là mua bán chất ma tuý hay không, nên ta phải chia làm hai trường hợp ứng với hai trường hợp 2. và 3. nói trên cùng những tội danh tương ứng.
Kết luận: K có thể phạm tội vận chuyển trái phép chất ma tuý, hoặc đồng phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò giúp sức.
c) Xác định tội danh cho hành vi của P.
Theo Thông tư liên tịch số 17 ngày 24 tháng 12 năm 2007 Bộ công an – Viện Kiểm
sát nhân dân Tối cao – Toà án nhân dân Tối cao – Bộ tư pháp: “Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này”.
Như vậy, ta cần xét xem hành vi của P có thoả mãn các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 BLHS hay không.
– Khách thể:
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu. Hành vi lừa đảo của P là nhằm thiết lập quan hệ sở hữu đối với tài sản chiếm đoạt.
Đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản. Đối tượng tác động của hành vi của P cũng là tài sản số tiền tương ứng với giá trị 2kg ma tuý mà C trả cho P.
– Mặt khách quan:
Hành vi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt:
Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối;
Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.
Trong trường hợp này ta thấy mặc dù biết là ma tuý là giả nhưng P vẫn bán cho C. Như vậy, rõ ràng P đã lừa dối C.
Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hình thức thể hiện cụ thể:
Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản của người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản. Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận.
Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm đoạt là số tiền tương ứng với giá trị của 2kg
ma tuý mà C đã trả cho P. P đã giao hàng cho C chứng tỏ P đã nhận tiền của C. Từ đó cho thấy P đã thực hiện hành vi chiếm đoạt.
– Chủ thể:
Theo Điều 12 BLHS, P sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nếu P từ đủ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
– Mặt chủ quan:
Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.
Xét lỗi của P, ta thấy P biết mình có hành vi lừa dối C và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để chiếm đoạt được tài sản do đó P có lỗi cố ý trực tiếp.
Từ những phân tích trên, ta khẳng định hành vi của P cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trên đây là nội dung tư vấn về chủ đề: “Bài tập xác định tội phạm“. Hi vọng bài viết hữu ích cho bạn đọc
Câu hỏi thường gặp:
Tạm giam là gì?
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong luật tố tụng hình sự. Tạm giam bị can để nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi.
Thời hạn tạm giam bao lâu?
Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiệm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Pháp quyền – pháp chế, là hai khái niệm tưởng chừng như tương đồng. Nhiều người cho rằng hai khái niệm này nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong xã hội và buộc mọi chủ thể phải tuân theo pháp luật, từ đó mang lại trật tự cho xã hội. Do đó, về cơ bản giống nhau về bản chất nếu không muốn nói là pháp chế và pháp quyền tương đồng với nhau. Cùng chúng tôi đi tìm hiểu về pháp chế và pháp quyền trong bài viết dưới đây nhé!
Hiểu thế nào là pháp chế và pháp quyền
Pháp chế là gì?
Pháp luật là thiết chế pháp lý được thiết lập trong toàn bộ đời sống xã hội, từ tổ chức đến hoạt động của bộ máy nhà nước, các thiết chế, quan hệ xã hội, hoạt động và hoạt động của mỗi chủ thể trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong đời sống xã hội, pháp luật và công tác pháp chế có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng, quản lý và phát triển đất nước, cụ thể như:
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước quản lý nhân dân bằng pháp luật và theo pháp luật.
Nó là công cụ để tạo lập và củng cố trật tự kỷ cương trong xã hội.
Pháp luật giúp người dân đảm bảo và bảo vệ lợi ích của nhà nước và của công chúng.
Quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền kỷ cương
Pháp quyền là gì?
Pháp quyền: Là tư tưởng thể hiện quyền lực thống trị của pháp luật trong xã hội có nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự xã hội.
Nói một cách đơn giản, pháp quyền là khi tất cả công dân và tổ chức của một quốc gia, tiểu bang hoặc cộng đồng đều chịu trách nhiệm bình đẳng trước pháp luật.
Từ đó có thể hiểu nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật, là một hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện sự công bằng, phù hợp với các quyền tự nhiên của con người.
Lịch sử ra đời của pháp chế và pháp quyền
Lịch sử ra đời của pháp chế và pháp quyền
Pháp quyền: Ý tưởng về pháp quyền có lẽ lần đầu tiên được đề cập trong lời nói của Plato. Và khi luật pháp ở trên chính quyền, họ chỉ là nô lệ của luật pháp, và đó là nơi tìm thấy sự cứu rỗi của nhà nước. ”
Lý thuyết pháp quyền được đề cao trong bối cảnh chủ nghĩa toàn trị, sự lạm dụng quyền lực của chính phủ, và đặt ra câu hỏi rằng quyền lực công phải bị giới hạn bởi luật pháp. Nói cách khác, pháp quyền thực chất là sự kiềm chế quyền lực nhà nước, ban đầu là ở cấp trung ương, bằng cách buộc nhà nước phải tôn trọng và tuân theo pháp luật. Việc giới hạn quyền lực này nhằm bảo vệ con người và các quyền tự do dân sự. Vì nhà nước sợ nhất là vi phạm nhân quyền. Như vậy, trong nhà nước pháp quyền, pháp luật bắt nguồn từ luật tự nhiên, tức là quyền sống, quyền tự do… là những quyền tự nhiên mà Tạo hóa ban cho con người và bảo vệ những quyền này của con người bằng cách giới hạn quyền lực
Lịch sử ra đời của pháp quyền
Pháp luật: Khi nói đến “tính hợp pháp”, người ta thường liên tưởng nó với một loại quyền lực cụ thể – văn phòng công tố, một loại quyền lực đặc biệt không có trong lý thuyết chia sẻ quyền lực của các chính trị gia đồng kiểm soát. xuất hiện là bởi vì, trong bối cảnh nước Nga thời hậu cách mạng, chính quyền địa phương luôn có xu hướng thù địch với chính quyền trung ương. Nhà nước kiểu mới xã hội chủ nghĩa, quan hệ sở hữu mới, là sở hữu công, và sự đoàn kết tuyệt đối từ trụ sở chính đến các tỉnh là cần thiết để bảo đảm điều này. Mọi tổ chức, cá nhân của chính quyền trung ương chính quyền địa phương và xã hội. Khi nói đến pháp luật, có thể hiểu đó là một thể thống nhất dựa trên các quy định pháp luật trong toàn xã hội, ràng buộc mọi chủ thể vào các văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền trung ương ban hành.
Quy định chung về pháp chế và pháp quyền
Quy định chung về pháp chế
Pháp chế và luật pháp là hai định nghĩa khác nhau. Pháp luật là những quy tắc do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội. Pháp luật là nhà nước của xã hội thực thi các quy tắc này trong thực tế. Nội dung hợp phần xác định tính chất, mối quan hệ tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân làm công tác tham mưu, xây dựng, tuyên truyền, thẩm tra và thi hành pháp luật như Ban pháp chế ở nhiều cơ quan, tổ chức nhà nước khác nhau.
Các nguyên tắc pháp chế được quy định trong Hiến pháp như sau:
Pháp luật quy định toàn bộ cơ sở phải rõ ràng, chính xác, minh bạch. Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, hình thức hoạt động, cơ cấu của cơ quan nhà nước, công chức, viên chức. Để thực hiện các quy định của pháp luật, bộ máy nhà nước phải đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, v.v. của bộ máy nhà nước và những người điều hành nó rất quan trọng.
Cán bộ, công chức nhà nước, cơ quan nhà nước phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Những người trực tiếp thực hiện các chức năng của nhà nước là đội ngũ đại diện cho nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật. Đội ngũ này phải tuân thủ các nguyên tắc như rõ ràng, minh bạch, v.v. để thực hiện các chức năng của nhà nước.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc tôn trọng Hiến pháp và pháp luật.
Quy định chung về pháp quyền
Mục tiêu tổng quát là hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo;
Có hệ thống pháp luật đồng bộ, được thực thi nghiêm minh và thống nhất;
Tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả quyền con người, quyền công dân;
Quyền lực nhà nước thống nhất, phân bổ rõ ràng, phối hợp chặt chẽ, phân cấp, phân quyền và kiểm soát hiệu quả;
Đào tạo nghề, pháp luật và hành chính, tư pháp hiện đại;
Bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, chuyên nghiệp và liêm chính;
Nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045.
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nêu trên, Trung ương yêu cầu các đồng chí phải luôn bám sát, nắm vững Cương lĩnh (hoàn chỉnh, phát triển năm 2011) của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. nhằm Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta theo một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nhất định:
Một là, phải kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
Bảo đảm vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quán triệt và xử lý kiên quyết các mối quan hệ chủ yếu giữa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa với tăng cường pháp quyền, bảo đảm kỷ cương xã hội.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh để thực hiện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, một dân tộc mạnh mẽ, độc quyền, công bằng, văn minh.
Thứ hai, áp dụng nhất quán nguyên tắc:
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Câu hỏi thường gặp:
Người làm công tác pháp chế là gì?
Pháp luật là hệ thống pháp luật được thiết lập thông qua đời sống xã hội, từ tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước đến các thiết chế, quan hệ xã hội, hoạt động và hoạt động của mọi chủ thể pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Người hành nghề luật bao gồm: Luật sư được tuyển dụng, bổ nhiệm vào cơ quan pháp chế của Bộ, cơ quan ngang sở, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Luật sư được điều động, tuyển dụng vào các cơ quan pháp luật của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Luật sư được tuyển dụng hoặc chỉ định bởi các cơ quan pháp lý phi kinh doanh công cộng. Các luật sư được tuyển dụng bởi các tổ chức pháp lý của các doanh nghiệp nhà nước theo hệ thống hợp đồng lao động.
Vị trí, chức năng của tổ chức pháp chế là gì?
Điều 2 Nghị định 55/2011/NĐ-CP quy định nhiệm vụ của cơ quan pháp luật như sau: Pháp nhân Bộ, cơ quan ngang tỉnh, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đơn vị sự nghiệp có chức năng: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang tỉnh, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu, giúp thực hiện quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật đối với sở, lĩnh vực phụ trách. Tổ chức thực hiện công tác pháp chế quy định tại Nghị định 55/2011/NĐ-CP. Tổ chức pháp chế doanh nghiệp nhà nước là đơn vị chuyên môn, có chức năng: Tham mưu, tư vấn cho Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Chủ tịch, Tổng giám đốc và các Giám đốc về các vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.