Chia sẻ kiến thức chung trong mảng pháp chế doanh nghiệp và hành nghề luật với sinh viên, cử nhân luật tại các trường đại học do Học viện đào tạo pháp chế ICA biên soạn.
Học Viện ICA kỳ vọng rằng những kiến thức được chia sẻ trong chuyên mục này sẽ giúp sinh viên:
Hiểu biết và có thêm những kiến thức pháp lý cần thiết nhằm trao dồi, vun đắt, học hỏi những kỹ năng mới
Tạo lập kho dữ liệu phục vụ mục đích tham khảo, học tập
Tìm hiểu những kiến thức liên quan mảng pháp chế doanh nghiệp, tư vấn nội bộ doanh nghiệp
Có thêm định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Ngoài ra, Học viện pháp chế ICA cung cấp những khóa học liên quan đến kỹ năng hành nghề pháp chế doanh nghiệp, cung cấp nhân sự pháp chế và đào tạo nội bộ doanh nghiệp theo đặt hàng.
Thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản, của cải của người chết sang cho người con sống theo ý chí, nguyện vọng của người chết hay theo quy định pháp luật. Người hưởng tài sản thừa kế này có nghĩa vụ duy trì, phát triển, quản lý tài sản mà người chết để lại hay có nghĩa vụ khác theo ý cầu của người để lại tài sản. Tại nội dung bài viết dưới đây, Bài viết đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ chia sẻ đến bạn đọc Bài tập tình huống luật dân sự về thừa kế phổ biến và cách giải, mời bạn đọc theo dõi để nắm được quy định pháp luật về việc chia thừa kế,
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Dân sự năm 2015
Bài tập 1
Năm 1972, Ông A kết hôn với bà B. Ông bà sinh được 3 con là M, N, C. Đến năm 1995, M kết hôn với E sinh được H và X. N lấy chồng sinh được con là K và D. Đến tháng 3/1997 ông A chết để lại di chúc cho X và N. Qua quá trình điều tra thấy rằng Ô A lập di chúc không hợp pháp. Biết rằng tài sản của ông A là 200 triệu VNĐ. Tài sản chung của Ô bà là 100 triệu VNĐ. Bà B mai táng cho ông A hết 40 triệu. Hãy chia tài sản thừa kế.
Lời giải:
Tài sản riêng của ông A là 200.
Tài sản chung của ông A và B là 100.
Di sản của ông A là 200 + (100/2)=250.
Do bà B làm mai táng cho ông A hết 40 nên di sản của ông A còn lại là 250-40=210.
Theo luật định những người được hưởng tài sản thừa kế của ông A gồm: B, M, N và C: 210/4=52,5
Bài tập 2
Ông A và bà B có 02 người con, 01 trai, 01 gái, tạo lập được ngôi nhà trên diện tích đất 300m2. Ông A mất và không để lại di chúc. Do thấy cuộc sống của người con gái khó khăn, nên bà B muốn bán một nửa diện tích đất và chia cho người con gái một khoản tiền. Khi bà bàn việc này với vợ chồng con trai thì người con trai không đồng ý vì cho rằng con gái đi lấy chồng thì không có quyền hưởng di sản dẫn đến mâu thuẫn. Bà B đã nhờ hòa giải viên can thiệp. Vậy, hòa giải viên sẽ áp dụng quy định nào của pháp luật để hòa giải?
Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, Hòa giải viên cần căn cứ vào Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải thích cho người con trai của bà B và bà B hiểu rõ về người thừa kế theo pháp luật. Vì ông A mất không để lại di chúc nên những người được thừa kế theo pháp luật bao gồm: bà B, người con trai và người con gái. Vì vậy, người con gái cũng được hưởng di sản của ông A để lại.
Bài tập 3
Sau khi chồng là ông B qua đời, làm đám tang xong thì ông X ở xóm bên đến nhà đòi bà S trả nợ cho chồng do trước khi mất ông B có nợ một khoản tiền vay trong thời gian con bị ốm. Nhưng do quá nghèo nên bà S không có tiền để trả, ông X đòi lấy tiền phúng điếu và tiền của ông B để lại trả cho bà. Bà S cho biết toàn bộ tiền phúng điếu đều lo cho việc mai táng cho chồng, ông B cũng không để lại tài sản gì cho bà cả chỉ có ngôi nhà để mẹ, con bà che mưa nắng. Nên, bà S mong ông X cho bà thêm thời gian, bà sẽ cố gắng làm việc để trả nợ cho ông. Ông X không đồng ý, gây ồn ào. Bà S đã nhờ hòa giải viên giúp đỡ. Trong trường hợp này, Hòa giải viên áp dụng quy định nào của pháp luật để thực hiện hòa giải?
Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán như sau:
Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;
2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;
3. Chi phí cho việc bảo quản di sản;
4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;
5. Tiền công lao động;
6. Tiền bồi thường thiệt hại;
7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước;
8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân;
9. Tiền phạt;
10. Các chi phí khác.
Như vậy, Hòa giải viên cần căn cứ vào quy định tại Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015 giải thích cho bà S và ông X hiểu rõ quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán, ưu tiên thanh toán trước tiên là các chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng. Ngoài ra, Hòa giải viên phải vận dụng đạo đức truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam về tình làng nghĩa xóm.
Bài tập 4
Ông A kết hôn với bà B sinh được 5 người con. Anh con cả đã chết để lại 2 con: 1 trai và 1 gái đã thành niên. Gia tài của Ô bà gồm 2 ngôi nhà: 1 ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng. Trước khi chết Ông A lập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng. Biết đứa con trai út của ông bà đã sinh được 1 cháu trai đã thành niên. Sau đó anh con trai út này đã bị tai nạn và bị tâm thần. Anh (chị) hãy chia tài sản của ông A?
Giải:
Theo đề bài ta thì tài sản chung của ông A và bà B là 300
Di sản của ông A là 300/2 = 150
ông A để lại cho bà B 100
Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150-100=50
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 người con; do anh con cả mất nên theo Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì 02 con của anh cả sẽ được hưởng thừa kế kế vị, cụ thể:
Mỗi người được hưởng là 50/6=8,33
Mỗi người con của anh cả là 8,33/2= 4,165
Trên đây là tư vấn về Bài tập tình huống luật dân sự về thừa kế phổ biến và cách giải của chúng tôi gửi đến bạn đọc về nội dung. Hi vọng những tin mà chúng tôi chia sẻ sẽ mang lại nhiều điều hữu ích.
Câu hỏi thường gặp:
Trường hợp nào sẽ chia thừa kế theo pháp luật?
Theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, chia thừa kế theo pháp luật trong các trường hợp sau đây: – Không có di chúc; – Di chúc không hợp pháp; – Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; – Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 650 của Bộ luật Dân sự 2015, khi chia thừa kế theo di chúc, vẫn có thể chia thừa kế theo pháp luật trong các trường hợp sau đây: – Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; – Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; – Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Thừa kế tài sản không di chúc áp dụng đối với di sản thừa kế nào?
Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản thừa kế sau đây: Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật; Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Học viện đào tạo pháp chế ICA tổng hợp các tình huống thường xảy ra trong luật hình sự dành cho các sinh viên học ngành luật. Bạn đọc có thể tham khảo để củng cố kiến thức và có tư duy tốt hơn trong việc xử lý các tình huống về sau.
Tình huống 1: Tình huống về tội hiếp dâm
M (nữ) cùng hai tên H và Q rủ L là một cô gái 17 tuổi cùng đi dự sinh nhật M tại một nhà nghỉ có phòng hát karaoke. Cả bốn cùng uống rượu, nhảy múa, H và Q còn pha thuốc kích dục vào đồ uống của mình. Một lát sau M rủ H là bạn trai của mình lên phòng nghỉ và đề nghị L cũng vào phòng nghỉ thành một cặp với Q. Tuy nhiên L từ chối và đòi về. M, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ. Thấy L vẫn tiếp tục nằng nặc từ chối M đã rút con dao đặt lên bàn và bảo “Mày thích gì? Có chiều Q không thì bảo?” L sợ quá đành đồng ý ở lại cùng Q. Sau đó Q đã thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của L.
Hỏi:
1. Tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Trong trường hợp trên tội hiếp dâm đã hoàn thành chưa? Tại sao?
2. Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
4. Nếu sau khi M và H bỏ đi, L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu với L thì Q có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
Đáp án:
1. Tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Trong trường hợp trên tội hiếp dâm đã hoàn thành chưa? Tại sao?
Tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm (CTTP) hình thức;
Điều 141 BLHS quy định về tội hiếp dâm: “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”
Hành vi nguy hiểm cho xã hội ở đây là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ; nhưng Điều luật lại không chỉ rõ hậu quả của hành vi gây ra cũng như không nêu rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Vì vậy tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 là tội có CTTP hình thức.
Đối với tội hiếp dâm, chỉ cần có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân, cho dù đã giao cấu được hay chưa thì vẫn bị coi là đã phạm tội hiếp dâm và ở giai đoạn phạm tội hoàn thành nhưng chưa đạt. Vì vậy đối tượng phạm tội thường là nam giới. Nói như vậy không có nghĩa là nữ giới không bị xét xử về tội này nhưng thường nữ giới chỉ bị xét xử với tư cách là đồng phạm.
Do đó tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm hình thức vì chỉ cần thực hiện một trong những hành vi khách quan được quy định trong Điều 141 BLHS là tội phạm đã hoàn thành cho dù đã giao cấu được hay chưa. Nếu chưa giao cấu được do những yếu tố bên ngoài tác động vào thì tội phạm cũng đã hoàn thành nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt. Vì lỗi của người phạm tội luôn luôn là lỗi cố ý vì người phạm tội biết hành vi giao cấu của mình là trái ý muốn của người phụ nữ nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó bằng một trong những thủ đoạn nói trên.
Trong trường hợp trên thì tội hiếp dâm đã hoàn thành rồi. Vì M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng ngủ nhưng L vẫn tiếp tục từ chối sau đó M rút dao đe dọa L sợ quá nên L đồng ý ở lại cùng Q và sau đó Q đã thực hiện được hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Người phạm tội trong trường hợp này đã dùng vũ lực và sau đó là đe dọa dùng vũ lực buộc L phải đồng ý giao cấu trái ý muốn và Q đã thực hiện hành vi giao cấu với L. Như vậy, trong trường hợp này tội phạm đã hoàn thành.
2. Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
Trong trường hợp phạm tội này M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.
Trường hợp phạm tội này đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu về mặt chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Nhưng về mặt chủ thể của tội phạm hiếp dâm ngoài những yêu cầu nói chung về năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi thì còn có dấu hiệu đặc biệt đó phải là nam giới, nếu là nữ giới thì nữ giới đóng vai trò là đồng phạm. Trong vụ án này M là nữ giữ vai trò là người đồng phạm của tội phạm hiếp dâm nên M phải trịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.
Trường hợp phạm tội của M, H và Q đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm bao gồm mặt khách quan và mặt chủ quan:
Dấu hiệu về mặt khách quan: đó là phải có từ hai người trở lên tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Trong trường phạm tội trên thì M, H và Q cùng nhau thực hiện một tội phạm đó là tội hiếp dâm. M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ (thể hiện sự liên kết với nhau) để ép buộc L thực hiện hành vi giao cấu với Q. Hành vi này của M, H và Q đã cấu thành tội phạm cụ thể đó là tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS. Tội phạm hiếp dâm là tội phạm cấu thành hình thức nên khi M, H và Q dùng hành vi vũ lực với L nhằm mục đích để Q giao cấu với L thì tội phạm hiếp dâm đã được cấu thành.
Dấu hiệu về mặt chủ quan: M, H và Q đã cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Về mặt lý trí M, H và Q có đủ khả năng nhận thức để thấy được hành vi dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi hiếp dâm của mình là nguy hiểm và trái với quy định của pháp luật và về mặt ý chí M, H mong muốn Q thực hiện hành vi giao cấu với L và Q cũng muốn thực hiện hành vi này. Như vậy, là họ mong muốn hậu quả xảy ra.
Căn cứ vào dấu hiệu khách quan và chủ quan đã phân tích ta có thể khẳng định M là đồng phạm của tội hiếp dâm. Nhưng trong trường hợp này M là nữ không có những đặc điểm cấu tạo sinh học như nam giới nên không thể thực hiện hành vi giao cấu nên ta phải xác định M giữ vai trò đồng phạm là người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức. Trong trường hợp này M giữ vai trò đồng phạm là người giúp sức. M cùng H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng để tạo điều kiện cho Q giao cấu với L, sau đó M dùng dao và lời nói mang tính chất đe dọa, nhằm cưỡng bức về tinh thần làm L sợ và không giám chống cự. Việc M cưỡng bức về tinh thần đối với L cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Như vậy, cả hai hành vi dùng vũ lực và dùng dao cùng lời nói đe dọa nhằm tạo điều kiện để Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L thì M chính là người giúp sức.
3. Nếu sau khi M và H bỏ đi, L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu với L thì Q có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?
Nếu sau khi M và H bỏ đi , L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu của mình với L. Trong trường hợp này thì Q được miễn trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm. Vì hành vi của Q thuộc trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Theo Điều 16 BLHS : “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.
Tội hiếp dâm tại điều 141 BLHS có 2 loại hành vi khác nhau. Thứ nhất là loại hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác” và loại hành vi thứ 2 là “giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ”.
Khi mà M, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ và M đã rút con dao đặt lên bàn và bảo “Mày thích gì? Có chiều Q không thì bảo thì Q và M, H những người đồng phạm của Q đã dùng vũ lực và đã đe dọa dùng vũ lực làm tê liệt ý chí kháng cự của L (L sợ quá đành đồng ý ở lại cùng).Tuy nhiên, việc Q không thực hiện hành vi giao cấu với L tức là Q chưa thực hiện hết những hành vi được điều 141 BLHS mô tả cho nên thời điểm dừng lại việc phạm tội của Q là ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành.
Khi Q dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối. Khi dừng lại, Q vẫn tin rằng, hiện tại không có gì ngăn cản và vẫn có thể thực hiện hành vi tiếp theo là giao cấu với L Nhưng Q đã không thực hiện việc đó nữa. Sau đó, Q chấm dứt một cách triệt để, từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải tạm thời ngừng lại để tìm những thủ đoạn, phương tiện khác có hiệu quả hơn, thuận lợi hơn để tiếp tục thực hiện tội phạm mà nguyên nhân dẫn đến việc từ bỏ ý định phạm tội, không tiến hành tội phạm đến cùng của Q là do L khóc lóc van xin và Q đã mủi lòng thương hại nạn nhân. Hơn nữa L chưa bị tổn thương về mặt thể chất cũng như L chưa bị xâm phạm tới quyền bất khả xâm phạm về tình dục. Do đó Q được miễn chị trách nhiệm hình sựvề tội hiếp dâm.
Tình huống 2: Tình huống về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
Do có mâu thuẫn trong kinh doanh, P đã nhờ Q đến đốt xưởng của N vào ban đêm. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng.
Hỏi:
Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q.
Đáp án:
Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q.
1.1 Tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của Q
* Hành vi của Q đã cấu thành Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 BLHS.
Mặt khách quan :
Hành vi khách quan: Q đã có hành vi đốt xưởng của N, muốn là hư hại tài sản đó. Hành vi của Q là hành vi cố ý huỷ hoại tài sản của người khác.
– Hậu quả của tội phạm: CTTP tội này đòi hỏi có hậu quả là tài sản bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng. Tội phạm được coi là hoàn thành khi hậu quả này đã xảy ra. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng.
– QHNQ là dấu hiệu thuộc mặt khách quan tội này. Người có hành vi chỉ phải chịu TNHS về thiệt hại tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng nếu giữa thiệt hại này và hành vi của họ có QHNQ với nhau. Cụ thể ở đây hành vi đốt phân xưởng của Q đã trực tiếp gây ra thiệt hại về tài sản cho N.
Mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp: Q nhận thức được rằng hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N có thể bị cháy trụi và Q mong muốn hậu quả đó xảy ra.
+ Về lý trí: Q nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình gây ra và thấy trước hậu quả của hành vi đó là gây thiệt hại về tài sản cho N.
+Về ý chí: Q muốn hậu quả xảy ra
Khách thể là quan hệ sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ
=> Hành vi của Q đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của CTTP về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
* Định tội danh của Q
Theo điểm a Khoản 3 Điều 143 BLHS: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”
Giá trị tài sản mà Q hủy hoại là 350 triệu đồng.
=> Vì vậy mà khung hình phạt áp dụng cho Q là từ 7 năm đến 15 năm
1.2 Tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P
* P cũng bị truy cứu TNHS về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo điểm a Khoản 3 Điều 143 BLHS với vai trò là đồng phạm của Q. Đồng phạm đòi hỏi có những dấu hiệu sau:
Mặt khách quan:
– Có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Cụ thể trong trường hợp này P và Q là 2 người có đủ điều kiện về năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS.
– Cùng thực hiện tội phạm (cố ý): P đã có hành vi nhờ Q đến đốt xưởng của N. Như vậy P đã có hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm. P là người xúi giục.
Về mặt chủ quan:
– Dấu hiệu lỗi :
+ Về lí trí: P nhận thức được rất rõ hành vi của mình( xúi giục người khác thực hiện hành vi phạm tội) cũng như của Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và P cũng nhận thức được rõ sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và Q gây ra.
* Về ý chí:
Cả P và Q cùng mong muốn phân xưởng của N bị cháy để trả thù mâu thuẫn trong kinh doanh.
b. Dấu hiệu mục đích:
P muốn hủy hoại phân xưởng của N để trả thù mâu thuẫn trong kinh doanh, khiến công việc làm ăn của N gặp trở ngại. Q đã tiếp nhận mục đích đó của P và là người trực tiếp đốt phân xưởng của N
=> Hành vi của P và Q đã thỏa mãn đầu đủ các dấu hiệu của trường hợp Đồng phạm theo Điều 20 BLHS trong đó P là người chủ mưu Q là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
* Khung hình phạt áp dụng cho P cũng tương tự như Q là từ 7 năm đến 15 năm theo điểm a khoản 3 Điều 143 BLHS. Do hậu quả phát sinh vì hành vi đồng phạm của Q và P là như nhau.
Tình huống 3:
C mua đc 2kg ma tuý. C thuê K chuyển số ma tuý này đến thị xã X cho một người tên
là H với tiền công là 20 triệu đồng. Biết là hàng cấm nhưng đang cần tiền nên K đồng ý. Trên đường vận chuyển, vì lo sợ nên K có thái độ lấm lét khi cảnh sát kiểm tra giấy tờ xe và K đã bị đội đặc nhiệm bắt giữ cùng tang vật là gói hàng 2 kg ma tuý. K thành khẩn khai báo sự việc. Số hàng do K vận chuyển được đưa đi giám định.
Kết quả giám định cho biết đó là chất ma tuý giả. Cơ quan điều tra cũng xác định được C mua lầm số hàng nói trên của một người tên là P. Mở rộng điều tra, cơ quan điều tra cũng xác định được rằng P biết số ma tuý bán cho C là giả nhưng P vẫn bán cho C
Anh (chị) hãy:
Xác định tội danh cho hành vi của C, K và P.
Giải đáp:
a) Xác định tội danh cho hành vi của C.
Để xác định tội danh cho hành vi của C, ta xem xét các dấu hiệu cơ bản sau:
* Khách thể:
Hành vi của C đã xâm phạm tới chế độ quản lý của nhà nước về việc cất giữ vận chuyển trao đổi chất ma túy. Cho dù số ma tuý C mua là giả thì C vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thông tư liên tịch số 17 ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ công an – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao – Toà án nhân dân Tối cao – Bộ tư pháp: “Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy”. Số ma tuý mà C mua là giả nhưng khi mua nó trong ý thức chủ quan của mình C vẫn tin rằng số ma tuý đó là thật. Trường hợp này là sai lầm về khách thể.
*Mặt khách quan:
C mua được 2 kg ma tuý của P và C đã thuê K chuyển số ma tuý này đến thị xã X cho H là 20 triệu đồng. Như vậy, trong vụ án này, trước hết ta xác định được chắc chắn rằng là C có hành vi mua ma tuý trái phép.
* Mặt chủ quan:
C có lỗi cố ý trực tiếp. Thể hiện ở việc C nhận thức được ma tuý là ma túy bị nhà nước cấm lưu thông nhưng C vẫn có hành vi mua 2kg ma tuý này và thuê K vận chuyển đến thị xã X cho H với tiền công rất lớn 20 triệu đồng. Tóm lại, C nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện đến cùng tội phạm.
* Chủ thể:
Chỉ cần C có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Số lượng 2kg ma tuý mà C mua là rất lớn (>100gram) nên theo khoản 4 điều 194, C phạm tội trong trường hợp trong trường hợp này là tội đặc biệt nghiêm trọng nên chỉ cần C đủ 14 tuổi trở nên là C phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự (theo quy định tại điều 12 BLHS).
Tuy nhiên, như đã trình bày, ta chỉ mới xác định được C có hành vi mua ma tuý, chứ chưa biết C có mục đích bán hay không. Phải làm rõ được mục đích của C thì mới có thể định tội chính xác được.
Việc xác minh C có mục đích bán hay không, là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.Tuy nhiên, việc xác định mục đích của người mua trái phép chất ma túy có nhằm mục đích bán trái phép cho người khác hay không chỉ phức tạp trong trường hợp chất ma túy có số lượng nhỏ.Còn trong trường hợp của C, C đã mua 2kg
ma tuý số lượng ma tuý rất lớn thì mục đích của C mua về để bán là dễ dàng chứng minh được. Bởi thường thì không ai mua 2kg ma tuý về sử dụng dần cả.
Tuy vậy ta vẫn phải chia thành hai trường hợp tương ứng với mục đích của C có phải là nhằm mua bán trái phép chất ma tuý hay không:
– Trường hợp 1:
Chứng minh được mục đích mua bán trái phép chất ma tuý của C.
Ở trường hợp này thì hành vi của C là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào.
– Trường hợp 2:
Không chứng minh được mục đích bán trái phép chất ma túy của C.
Trong trường hợp này, C có thể có nhiều mục đích khác. Tùy từng mục đích cụ thể mà có thể khẳng định hành vi của C là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc thậm chí là sản xuất trái phép chất ma tuý.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ trái phép chất ma túy trong người, trong nhà hoặc ở nơi nào nào đó, không kể thời gian bao lâu.
Hành vi sản xuất trái phép chất ma tuý là hành vi tham gia vào quá trình tạo ra chất ma tuý dưới bất kì hình thức nào. Quá trình này có thể gồm nhiều công đoạn khác nhau và được tiến hành với các phương pháp, quy trình cũng như với các phương tiện, thiết bị khác nhau. Người phạm tội có thể có hành vi tham gia vào một giai đoạn hoặc toàn bộ quá trình.
b) Xác định tội danh cho hành vi của K.
Để xác định tội danh cho hành vi của K, ta cũng cần xem xét các dấu hiệu cơ bản.
Các dấu hiệu về khách thể, chủ thể và thái độ lỗi của tội phạm mà K thực hiện cũng tương tự như C.
– Về hành vi khách quan:
Có thể thấy ngay: Hành vi của K là hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma tuý từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác.. bằng bất kì phương thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt) nhưng đều không nhằm mục đích mua bán.
Như vậy, khái niệm vận chuyển trái phép chất ma tuý được dùng ở đây có nội hàm rộng hơn khái niệm vận chuyển hàng hoá thông thường. Vận chuyển trái phép chất ma tuý có thể giống với vận chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác trong một cự ly nhất định với phương tiện là ôtô, xe đạp, xe máy, tàu thuỷ, máy bay.., nhưng cũng có thể chỉ là hành vi chuyển dịch từ vị trí này sang vị trí khác trong một không gian chật hẹp như từ gầm giường sang giá sách, từ túi người này sang túi người khác trong một phòng, thậm chí từ túi này sang túi khác của cùng một người.
Xét hành vi của K: K dùng xe (không rõ là xe máy hay ôtô) để vận chuyển 2kg ma tuý đến thị xã X cho một người tên H theo thoả thuận với C. Như vậy hành vi của K đúng là hành vi vận chuyển trái phép ma tuý.
– Về mặt chủ quan:
Cùng là hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng với những thái độ lỗi khá nhau của người phạm tội thì có thể cấu thành những tội phạm khác nhau. Đặc biệt ở đây, K đóng vai trò vận chuyển thuê cho C, bởi vậy không thể không xét tới mối liên hệ về ý chí giữa hành vi của C và hành vi của K.
Cụ thể ở trường hợp này như sau:
Nếu vận chuyển ma tuý với mục đích mua bán chất ma tuý này thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Nếu vận chuyển ma tuý cho người khác mà biết rõ mục đích mua bán ma tuý của người mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò giúp sức.
Nếu vận chuyển ma tuý hộ người khác, không nhằm mục đích mua bán, cũng không biết rõ mục đích của người mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Dựa vào tình tiết của vụ án, ta có thể loại ngay trường hợp 1. Bởi lẽ: C là người đã giao cho K 2kg ma tuý đó và thuê K vận chuyển đến cho H với tiền công thoả thuận là 20 triệu đồng. Như vậy, rõ ràng K chỉ vận chuyển thuê chứ không phải mua bán với C hay H.
Tuy nhiên, do các tình tiết không nêu rõ K có biết được mục đích nhờ vận chuyển của C là mua bán chất ma tuý hay không, nên ta phải chia làm hai trường hợp ứng với hai trường hợp 2. và 3. nói trên cùng những tội danh tương ứng.
Kết luận: K có thể phạm tội vận chuyển trái phép chất ma tuý, hoặc đồng phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò giúp sức.
c) Xác định tội danh cho hành vi của P.
Theo Thông tư liên tịch số 17 ngày 24 tháng 12 năm 2007 Bộ công an – Viện Kiểm
sát nhân dân Tối cao – Toà án nhân dân Tối cao – Bộ tư pháp: “Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này”.
Như vậy, ta cần xét xem hành vi của P có thoả mãn các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 BLHS hay không.
– Khách thể:
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu. Hành vi lừa đảo của P là nhằm thiết lập quan hệ sở hữu đối với tài sản chiếm đoạt.
Đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản. Đối tượng tác động của hành vi của P cũng là tài sản số tiền tương ứng với giá trị 2kg ma tuý mà C trả cho P.
– Mặt khách quan:
Hành vi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt:
Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối;
Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.
Trong trường hợp này ta thấy mặc dù biết là ma tuý là giả nhưng P vẫn bán cho C. Như vậy, rõ ràng P đã lừa dối C.
Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hình thức thể hiện cụ thể:
Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản của người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản. Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận.
Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm đoạt là số tiền tương ứng với giá trị của 2kg
ma tuý mà C đã trả cho P. P đã giao hàng cho C chứng tỏ P đã nhận tiền của C. Từ đó cho thấy P đã thực hiện hành vi chiếm đoạt.
– Chủ thể:
Theo Điều 12 BLHS, P sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nếu P từ đủ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
– Mặt chủ quan:
Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.
Xét lỗi của P, ta thấy P biết mình có hành vi lừa dối C và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để chiếm đoạt được tài sản do đó P có lỗi cố ý trực tiếp.
Từ những phân tích trên, ta khẳng định hành vi của P cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trên đây là nội dung tư vấn về chủ đề: “Bài tập xác định tội phạm“. Hi vọng bài viết hữu ích cho bạn đọc
Câu hỏi thường gặp:
Tạm giam là gì?
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định trong luật tố tụng hình sự. Tạm giam bị can để nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi.
Thời hạn tạm giam bao lâu?
Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiệm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Pháp quyền – pháp chế, là hai khái niệm tưởng chừng như tương đồng. Nhiều người cho rằng hai khái niệm này nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong xã hội và buộc mọi chủ thể phải tuân theo pháp luật, từ đó mang lại trật tự cho xã hội. Do đó, về cơ bản giống nhau về bản chất nếu không muốn nói là pháp chế và pháp quyền tương đồng với nhau. Cùng chúng tôi đi tìm hiểu về pháp chế và pháp quyền trong bài viết dưới đây nhé!
Hiểu thế nào là pháp chế và pháp quyền
Pháp chế là gì?
Pháp luật là thiết chế pháp lý được thiết lập trong toàn bộ đời sống xã hội, từ tổ chức đến hoạt động của bộ máy nhà nước, các thiết chế, quan hệ xã hội, hoạt động và hoạt động của mỗi chủ thể trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong đời sống xã hội, pháp luật và công tác pháp chế có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng, quản lý và phát triển đất nước, cụ thể như:
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước quản lý nhân dân bằng pháp luật và theo pháp luật.
Nó là công cụ để tạo lập và củng cố trật tự kỷ cương trong xã hội.
Pháp luật giúp người dân đảm bảo và bảo vệ lợi ích của nhà nước và của công chúng.
Quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền kỷ cương
Pháp quyền là gì?
Pháp quyền: Là tư tưởng thể hiện quyền lực thống trị của pháp luật trong xã hội có nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự xã hội.
Nói một cách đơn giản, pháp quyền là khi tất cả công dân và tổ chức của một quốc gia, tiểu bang hoặc cộng đồng đều chịu trách nhiệm bình đẳng trước pháp luật.
Từ đó có thể hiểu nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật, là một hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện sự công bằng, phù hợp với các quyền tự nhiên của con người.
Lịch sử ra đời của pháp chế và pháp quyền
Lịch sử ra đời của pháp chế và pháp quyền
Pháp quyền: Ý tưởng về pháp quyền có lẽ lần đầu tiên được đề cập trong lời nói của Plato. Và khi luật pháp ở trên chính quyền, họ chỉ là nô lệ của luật pháp, và đó là nơi tìm thấy sự cứu rỗi của nhà nước. ”
Lý thuyết pháp quyền được đề cao trong bối cảnh chủ nghĩa toàn trị, sự lạm dụng quyền lực của chính phủ, và đặt ra câu hỏi rằng quyền lực công phải bị giới hạn bởi luật pháp. Nói cách khác, pháp quyền thực chất là sự kiềm chế quyền lực nhà nước, ban đầu là ở cấp trung ương, bằng cách buộc nhà nước phải tôn trọng và tuân theo pháp luật. Việc giới hạn quyền lực này nhằm bảo vệ con người và các quyền tự do dân sự. Vì nhà nước sợ nhất là vi phạm nhân quyền. Như vậy, trong nhà nước pháp quyền, pháp luật bắt nguồn từ luật tự nhiên, tức là quyền sống, quyền tự do… là những quyền tự nhiên mà Tạo hóa ban cho con người và bảo vệ những quyền này của con người bằng cách giới hạn quyền lực
Lịch sử ra đời của pháp quyền
Pháp luật: Khi nói đến “tính hợp pháp”, người ta thường liên tưởng nó với một loại quyền lực cụ thể – văn phòng công tố, một loại quyền lực đặc biệt không có trong lý thuyết chia sẻ quyền lực của các chính trị gia đồng kiểm soát. xuất hiện là bởi vì, trong bối cảnh nước Nga thời hậu cách mạng, chính quyền địa phương luôn có xu hướng thù địch với chính quyền trung ương. Nhà nước kiểu mới xã hội chủ nghĩa, quan hệ sở hữu mới, là sở hữu công, và sự đoàn kết tuyệt đối từ trụ sở chính đến các tỉnh là cần thiết để bảo đảm điều này. Mọi tổ chức, cá nhân của chính quyền trung ương chính quyền địa phương và xã hội. Khi nói đến pháp luật, có thể hiểu đó là một thể thống nhất dựa trên các quy định pháp luật trong toàn xã hội, ràng buộc mọi chủ thể vào các văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền trung ương ban hành.
Quy định chung về pháp chế và pháp quyền
Quy định chung về pháp chế
Pháp chế và luật pháp là hai định nghĩa khác nhau. Pháp luật là những quy tắc do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội. Pháp luật là nhà nước của xã hội thực thi các quy tắc này trong thực tế. Nội dung hợp phần xác định tính chất, mối quan hệ tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân làm công tác tham mưu, xây dựng, tuyên truyền, thẩm tra và thi hành pháp luật như Ban pháp chế ở nhiều cơ quan, tổ chức nhà nước khác nhau.
Các nguyên tắc pháp chế được quy định trong Hiến pháp như sau:
Pháp luật quy định toàn bộ cơ sở phải rõ ràng, chính xác, minh bạch. Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, hình thức hoạt động, cơ cấu của cơ quan nhà nước, công chức, viên chức. Để thực hiện các quy định của pháp luật, bộ máy nhà nước phải đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, v.v. của bộ máy nhà nước và những người điều hành nó rất quan trọng.
Cán bộ, công chức nhà nước, cơ quan nhà nước phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Những người trực tiếp thực hiện các chức năng của nhà nước là đội ngũ đại diện cho nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật. Đội ngũ này phải tuân thủ các nguyên tắc như rõ ràng, minh bạch, v.v. để thực hiện các chức năng của nhà nước.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc tôn trọng Hiến pháp và pháp luật.
Quy định chung về pháp quyền
Mục tiêu tổng quát là hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo;
Có hệ thống pháp luật đồng bộ, được thực thi nghiêm minh và thống nhất;
Tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả quyền con người, quyền công dân;
Quyền lực nhà nước thống nhất, phân bổ rõ ràng, phối hợp chặt chẽ, phân cấp, phân quyền và kiểm soát hiệu quả;
Đào tạo nghề, pháp luật và hành chính, tư pháp hiện đại;
Bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, chuyên nghiệp và liêm chính;
Nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045.
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nêu trên, Trung ương yêu cầu các đồng chí phải luôn bám sát, nắm vững Cương lĩnh (hoàn chỉnh, phát triển năm 2011) của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. nhằm Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta theo một số quan điểm, tư tưởng chỉ đạo nhất định:
Một là, phải kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
Bảo đảm vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quán triệt và xử lý kiên quyết các mối quan hệ chủ yếu giữa sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa với tăng cường pháp quyền, bảo đảm kỷ cương xã hội.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; phải đặt trong tổng thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh để thực hiện sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, một dân tộc mạnh mẽ, độc quyền, công bằng, văn minh.
Thứ hai, áp dụng nhất quán nguyên tắc:
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rõ ràng, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Câu hỏi thường gặp:
Người làm công tác pháp chế là gì?
Pháp luật là hệ thống pháp luật được thiết lập thông qua đời sống xã hội, từ tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước đến các thiết chế, quan hệ xã hội, hoạt động và hoạt động của mọi chủ thể pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Người hành nghề luật bao gồm: Luật sư được tuyển dụng, bổ nhiệm vào cơ quan pháp chế của Bộ, cơ quan ngang sở, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Luật sư được điều động, tuyển dụng vào các cơ quan pháp luật của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Luật sư được tuyển dụng hoặc chỉ định bởi các cơ quan pháp lý phi kinh doanh công cộng. Các luật sư được tuyển dụng bởi các tổ chức pháp lý của các doanh nghiệp nhà nước theo hệ thống hợp đồng lao động.
Vị trí, chức năng của tổ chức pháp chế là gì?
Điều 2 Nghị định 55/2011/NĐ-CP quy định nhiệm vụ của cơ quan pháp luật như sau: Pháp nhân Bộ, cơ quan ngang tỉnh, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đơn vị sự nghiệp có chức năng: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang tỉnh, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu, giúp thực hiện quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật đối với sở, lĩnh vực phụ trách. Tổ chức thực hiện công tác pháp chế quy định tại Nghị định 55/2011/NĐ-CP. Tổ chức pháp chế doanh nghiệp nhà nước là đơn vị chuyên môn, có chức năng: Tham mưu, tư vấn cho Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Chủ tịch, Tổng giám đốc và các Giám đốc về các vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản lý, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Trên thực tế, nhà cung cấp hoặc nhà sản xuất hàng hóa không tự phân phối hàng hóa mà dựa vào các trung gian được gọi là nhà phân phối để phân phối hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc nhà cung cấp khác hoặc doanh nghiệp khác. Khi thực hiện hoạt động phân phối sản phẩm, hai bên phải giao kết hợp đồng dịch vụ phân phối sản phẩm. Bạn đọc có thể tham khảo hợp đồng phân phối và tải xuống trong bài viết này của chúng tôi nhé!
Hợp đồng phân phối hàng hóa có thể bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Chủ thể của hợp đồng;
Chỉ tiêu về số lượng, chất lượng, doanh số.
Giá cả hàng hóa;
Loại đơn đặt hàng và giao hàng.
Loại và thời hạn thanh toán;
Chiết khấu giao dịch;
Yêu cầu bảo quản và vận chuyển sản phẩm.
Quyền và Nghĩa vụ của các Bên.
Hiệu lực và chấm dứt hợp đồng
Các bên có thể thỏa thuận và bổ sung thêm nhiều điều khoản khác phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu các bên không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì các bên sẽ áp dụng các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Hướng dẫn soạn thảo mẫu hợp đồng phân phối
Phần thông tin các bên: Yêu cầu các nhà cung cấp hàng hóa và thương nhân cung cấp thông tin đầy đủ như tên, địa chỉ, mã số thuế, số điện thoại và số tài khoản giao dịch.
Điều 1 Bổ nhiệm: Đề cập đến các lãnh thổ được chỉ định bởi Nhà phân phối và Nhà phân phối chấp nhận sự bổ nhiệm này theo các điều khoản và điều kiện được quy định trong hợp đồng.
Điều 2. Thời hạn phân phối: Ghi rõ thời điểm hợp đồng phân phối có hiệu lực và thời điểm chấm dứt.
Điều 3. Trách nhiệm của nhà cung cấp được công nhận là sản xuất các sản phẩm có thương hiệu, cung cấp các sản phẩm phù hợp với chất lượng và nhãn hiệu, v.v.
Điều 4 Trách nhiệm của Nhà phân phối cũng được ghi nhận như sau: Cung cấp cơ sở vật chất và cơ hội việc làm cho đại diện bán hàng;….
Điều 5. Tất cả các quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam thuộc sở hữu hoặc được cấp phép của Nhà cung cấp liên quan đến Sản phẩm. Nhà cung cấp không được sử dụng tên thương mại, logo hoặc khẩu hiệu của Nhà cung cấp trừ khi được sử dụng để quảng bá, quảng cáo và bán sản phẩm và/hoặc với sự đồng ý của Nhà cung cấp.
Điều 6. Nhà phân phối phải giữ bí mật mọi thông tin, bao gồm kế hoạch bán sản phẩm, nghiên cứu thị trường, chiến dịch quảng cáo và số liệu bán hàng.
Điều 7. Phí được tính theo tỷ lệ phần trăm và trừ trực tiếp trên hóa đơn bán hàng. Hoa hồng không được trả bằng tiền mặt. Hoa hồng được tính trên giá bán chưa có thuế GTGT. Điều 8. Chi tiêu doanh số và tiền thưởng: Nhà cung cấp đặt mục tiêu doanh số hàng tháng dựa trên doanh số và sản phẩm mà nhà phân phối phải đạt được. Tiền thưởng được tính theo phần trăm và được tính dựa trên doanh thu hàng tháng của nhà phân phối. Điều 9 Giao hàng: Nhà cung cấp sản phẩm chỉ định địa điểm giao hàng của sản phẩm và chi phí dỡ hàng do nhà cung cấp chịu. Điều 10. Kho bãi: Nhà phân phối phải bảo trì, bảo dưỡng kho bãi đúng cách để đảm bảo hàng hóa được lưu trữ an toàn.
Điều 13 Sản phẩm và giá: Các sản phẩm và giá quy định trong Thỏa thuận này có thể được Nhà cung cấp thay đổi bằng văn bản gửi cho Đại lý một tuần trước ngày có hiệu lực và những thay đổi đó có thể được thực hiện ngay lập tức hoặc thông báo.
Điều 15. Phương thức thanh toán: Do hai bên thỏa thuận và quy định trong hợp đồng.
Điều 16. Điều kiện chấm dứt hợp đồng: Các bên đề xuất trường hợp chấm dứt hợp đồng để các bên hiểu rõ.
Hai bên cam kết thực hiện các điều khoản của Hợp đồng này. Nếu có vấn đề gì vướng mắc hoặc thay đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng, hai bên nên trao đổi với nhau để tìm cách giải quyết. Những thay đổi đơn phương đối với thỏa thuận này là vô hiệu.
Hợp đồng này sẽ được điều chỉnh bởi luật pháp Việt Nam và bất kỳ tranh chấp nào theo hợp đồng không thể giải quyết được bằng hòa giải hoặc thương lượng hữu nghị giữa các bên trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày bắt đầu thảo luận của một trong hai bên tại tòa án thương mại có thẩm quyền sẽ được giải quyết sẽ được giải thích tương ứng
Câu hỏi thường gặp:
Hình thức trong hợp đồng phân phối độc quyền?
Hình thức của hợp đồng độc quyền phân phối phải bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý. Luật áp dụng không quy định thỏa thuận phân phối độc quyền có phải được công chứng, chứng thực hay không. Tuy nhiên, để đảm bảo lợi nhuận và hạn chế vi phạm hợp đồng, các thỏa thuận độc quyền phân phối cũng có giá trị tương đối cao. Vì vậy, các bên phải công chứng hợp đồng để tránh rủi ro pháp lý sau này.
Quy định về cách phân phối hàng hóa gồm những cách nào?
Bán hàng trực tuyến Mở cửa hàng pop-up Đặt hàng qua thư Sử dụng đại diện bán hàng Bán buôn và nhà phân phối
Với tình hình kinh tế ngày càng phát triển, mức sống và nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao và được chú trọng, quan tâm nhiều đến, theo đó mà các quy định về bảo vệ quyền lợi cho bản thân cũng được quan tâm. Lúc này, Luật sư là đối tượng đầu tiên được người dân nghĩ đến để hỗ trợ bảo vệ quyền lợi và tư vấn pháp luật. Tuy nhiên để trở thành Luật sư và theo nghề, sống với nghề chưa bao giờ là một câu chuyện đơn giản. Vậy để trở thành một Luật sư cần đáp ứng những điều kiện gì? Có phải Học luật là trở thành luật sư đúng không? Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ chia sẻ đến bạn đọc quy định về vấn đề này tại nội dung bài viết sau, mời bạn đọc tham khảo.
Căn cứ pháp lý
Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012
Luật sư là gì?
Căn cứ theo Điều 2 Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012 quy định như sau: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).
Chức năng xã hội của Luật sư bao gồm: Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Học luật là trở thành luật sư đúng không?
Theo quy định, để trở thành một Luật sư tại Việt Nam, một cá nhân có thể mất một thời gian ít nhất là trên 6 năm(hoặc dài hơn) vì phải hoàn thành các khóa học, chương trình học, tập sự, kiểm tra theo quy định.
Để trở thành Luật sư tại Việt Nam thì yếu tố đầu tiên cần đáp ứng là công dân Việt Nam. Trung thành Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật và có phẩm chất đạo đức tốt.
Yếu tố thứ hai là có bằng cử nhân Luật. Hiện nay, ở nước ta có các trường luật, khoa luật đào tạo cử nhân ngành luật cho các bạn sinh viên có mong muốn làm luật sư hoặc các ngành khác trong hệ thống Tư pháp Việt Nam. Trải qua 04 năm đại học, đáp ứng được các điều kiện tối thiểu và bắt buộc của nhà trường sẽ được cấp bằng tốt nghiệp cử nhân luật.
Sau khi bằng cử nhân luật các bạn sẽ tiến hành tham gia vào lớp đào tạo luật sư tại học viện tư pháp, trải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, bộ tư pháp sẽ kết hợp tổ chức luật sư tiến hành kiểm tra kết quả tập sự hành nghề, sau khi trải qua các kì thi sẽ được cấp giấy chứng nhận hành nghề luật.
Điều kiện để hành nghề luật sư cần đáp ứng đủ tiêu chuẩn hành nghề luật sư, có chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một đoàn luật sư trên lãnh thổ Việt Nam.
Như vậy, với thắc mắc Học luật là trở thành luật sư đúng không? Câu trả lời là Không, bởi sau khi trải qua quá trình học tập tại 4 năm Đại học thì lúc này, cử nhân Luật sẽ tham gia vào lớp đào tạo luật sư tại học viện tư pháp, trải qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, trải qua các kì thi sẽ được cấp giấy chứng nhận hành nghề luật và gia nhập một đoàn luật sư trên lãnh thổ Việt Nam.
Các điều kiện cơ bản để trở thành Luật sư
1/ Có bằng cử nhân Luật:
Có bằng cử nhân luật, tức là cá nhân phải tốt nghiệp trường Luật, khoa Luật của trường Đại học (thông thường là 4 năm học)
2/ Có bằng tốt nghiệp chương trình đào tạo Luật sư:
Lớp học được đăng ký tại Học viện tư pháp (quy định hiện hành được học trong 12 tháng), sau đó đạt kết quả qua kỳ thi tốt nghiệp của Học viện tư pháp, và được cấp bằng tốt nghiệp lớp Luật sư.
3/ Trải qua kỳ tập sự tại Tổ chức hành nghề Luật sư:
Sau khi tốt nghiệp lớp đào tạo Luật sư, cá nhân bắt buộc phải đăng ký tập sự tại 1 tổ chức hành nghề Luật sư với thời gian 12 tháng.
4/ Đạt điểm tại kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư:
Sau khi hoàn thành thời gian tập sự, người tập sự được tham gia kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư. Và nếu đạt điểm thì được cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư. Nếu không đạt điểm theo quy định thì sẽ phải chờ đăng ký tham gia kỳ kiểm tra lại ở lần kế tiếp.
5/ Cấp chứng chỉ và gia nhập đoàn Luật sư, cấp thẻ hành nghề Luật sư:
Nếu đạt kết quả trong kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư thì cá nhân làm hồ sơ theo quy định để xin cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư do Bộ tư pháp cấp, xin gia nhập một Đoàn Luật sư và xin cấp thẻ hành nghề Luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam cấp.
6/ Hành nghề Luật sư:
Sau khi được cấp chứng chỉ, gia nhập đoàn, cấp thẻ hành nghề Luật sư thì Luật sư được lựa chọn tổ chức hành nghề Luật sư để hành nghề, hoặc hành nghề với tư cách cá nhân và phải đăng ký với Sở tư pháp địa phương nơi hành nghề.
7/ Quy định khác:
Miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề Luật sư:
– Người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, điều tra viên trung cấp, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra Viên cao cấp ngành Kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật được miễn tập sự hành nghề luật sư.
– Người đã là điều tra viên sơ cấp, thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật được giảm hai phần ba thời gian tập sự hành nghề luật sư.
– Người có thời gian công tác ở các ngạch chuyên viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm tra viên ngành Tòa án, kiểm tra viên ngành Kiểm sát từ mười năm trở lên thì được giảm một nửa thời gian tập sự hành nghề luật sư.”
Miễn kiểm tra tập sự hành nghề Luật sư:
– Người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, điều tra viên trung cấp, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra Viên cao cấp ngành Kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật được miễn kiểm tra.
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung Học luật là trở thành luật sư đúng không?. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Nguyên tắc hành nghề luật sư là gì?
Căn cứ theo Điều 5 của Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012, Luật quy định về các nguyên tắc hành nghề Luật sư, cụ thể như sau: “Điều 5. Nguyên tắc hành nghề luật sư 1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. 2. Tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư. 3. Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan. 4. Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng. 5. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư”.
Thời gian tập sự hành nghề luật sư là bao lâu?
Thời gian tập sự hành nghề luật sư là mười hai tháng kể từ ngày Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư ra quyết định về việc đăng ký tập sự hành nghề luật sư
Không ai trên đời đều hoàn hảo hoàn toàn. Mỗi người đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng và thành công của mỗi người đến từ nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau. Tuy nhiên, việc học không giỏi có thể xem là một bất lợi đối với người đang có dự định lớn trong tương lai và việc chọn nghề luôn là vấn đề không bao giờ dễ dàng, bởi nếu chọn sai bạn sẽ mất nhiều thời gian để chọn lại, học lại từ đầu.
Vậy, liệu có hướng đi nào khác để cho những người không học giỏi có thể lựa chọn để phát triển bản thân, thành công trong tương lai không? Câu trả lời sẽ được Học viện đào tạo pháp chế ICA bật mí trong bài viết này, bạn đừng bỏ lỡ nhé!
Học giỏi có thể quan trọng nhưng không phải là tất cả
Ngày nay, học sinh phải chịu áp lực rất lớn về thành tích học tập. Bố mẹ luôn mong muốn con mình là những người tài giỏi với điểm số cao chót vót, bước vào các trường đại học top đầu trong nước, thậm chí là du học nước ngoài. Chính những điều bố mẹ mong muốn đã vô tình gây nên bệnh thành tích, áp lực cho con của mình. Điều tệ hơn là làm cho con mình càng mù mờ với tương lai không còn tự tin vào chính bản thân. Một đứa trẻ có khả năng tiếp thu giỏi, học hỏi cao và nhạy bén luôn là đứa con mà cha mẹ mong muốn. Nhưng các bậc phụ huynh cũng không cần phải quá lo lắng và các bạn học sinh cũng không phải tự ti về bản thân, bởi nếu học giỏi là bước tiến nhanh cho con đường thành công thì học không giỏi cũng không hẳn là bị tắc đường.
Việc học giỏi là tốt, là quan trọng nhưng nếu không học giỏi thì vẫn sẽ có những ngành nghề không đòi hỏi nhiều về kiến thức nhà trường mà vẫn dẫn bạn đến được với con đường thành công. Cho nên, các bậc phụ huynh và học sinh đừng quá lo lắng và tự ti mà từ bỏ tương lai của con em mình.
Học không giỏi thì làm gì để có tương lai tốt?
Nếu bạn học không giỏi, có thể bạn sẽ gặp khó khăn khi chọn ngành nghề. Tuy nhiên, vẫn có một số ngành không đòi hỏi cao về trình độ học vấn. Điều bạn cần làm là phải thật cố gắng và nỗ lực để thành công. Bạn hãy lựa chọn công việc theo mong muốn, nguyện vọng của bản thân để từ đó theo đuổi ngành nghề của mình. Dưới đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ gợi ý cho bạn những ngành nghề, công việc cho các bạn học sinh học không giỏi.
Học nghề
Bạn học không giỏi nhưng vẫn có thể đi học nghề sau khi tốt nghiệp THPT. Hiện nay, có rất nhiều dạng học nghề như học kết hợp với học văn hóa hoặc đơn thuần chỉ dạy nghề để lấy chứng chỉ tay nghề. Có thể thấy, việc học nghề sớm sẽ giúp sinh viên định hướng được công việc sau này mình muốn theo đuổi. Học nghề có thể giúp bạn nâng cao tay nghề và ứng tuyển vào các công ty, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước.
Đi du học
Bạn học không giỏi bạn nhưng bạn vẫn có thể đi du học. Nhưng điều kiện là bạn phải tốt nghiệp THPT và có tiềm lực tài chính. Đi du học có rất nhiều ngành nghề cho bạn lựa chọn, phù hợp với khả năng học vấn và điều kiện tài chính của bản thân, gia đình. Ngoài ra, tương lai nghề nghiệp sau khi đi du học cũng rất rộng mở giúp bạn học không giỏi tìm kiếm được con đường phát triển bản thân trong tương lai.
Đi xuất khẩu lao động
Ở nước ta hiện nay, thị trường xuất khẩu lao động rất tiềm năng với nhiều đơn hàng có mức thu nhập cao, hấp dẫn. Bên cạnh đó, điều kiện đi xuất khẩu lao động tại nhiều nước trên thế giới cũng không quá khắt khe, nhất là về vấn đề học lực, đa phần chỉ yêu cầu lao động có bằng cấp từ cấp 2 trở lên. Ngoài ra, những ngành nghề đi xuất khẩu lao động cũng không đòi hỏi chuyên môn quá cao về tay nghề hay năng lực học vấn. Vì vậy, bạn hoàn toàn yên tâm khi tham gia đơn hàng xuất khẩu lao động trong thời điểm này khi bạn học không quá giỏi.
Tự mở cửa hàng kinh doanh
Ngày nay, có rất nhiều bạn trẻ đã tự mình kinh doanh, mở cho mình những cửa hàng như thời trang, đồ ăn, mỹ phẩm,…Đây đều là những công việc không đòi hỏi bạn phải học giỏi quá nhiều kiến thức chuyên môn hay yêu cầu học vấn cao. Chỉ cần bạn có sự đam mê, kiên trì và dám thử thách thì bạn hoàn toàn có thể thực hiện được ước mơ của mình.
Những tiêu chí khi lựa chọn ngành nghề
Nếu bạn học không giỏi và không biết nên học ngành gì thì bạn hãy dựa vào nguyện vọng cũng như khả năng của chính bản thân mình, đồng thời dựa theo một số tiêu chi cơ bản dưới đây đã được các chuyên gia hướng nghiệp đưa ra và đa số học sinh, sinh viên áp dụng khi lựa chọn nghề nghiệp.
Thứ nhất, bạn nên chọn trường, chọn ngành dựa vào nguyện vọng và khả năng của bản thân. Bởi khi được học tập và làm công việc yêu thích của mình sẽ mang lại hiệu quả rất cao, vừa tốt cho tinh thần, vừa tốt cho việc học tập và làm việc. Bạn sẽ không thấy bị miễn cưỡng, ép buộc bản thân khi lựa chọn sai ngành, sai trường, sai định hướng và mong muốn.
Bên cạnh đó, khi định hướng ngành, bạn cần phải quan tâm đến yếu tố nữa đó chính là khả năng của bản thân, với những bạn học không giỏi nên học ngành gì, trường gì thì phải xem xét năng lực của bản thân.
Thứ hai, khi lựa chọn ngành phải phù hợp với nhu cầu và xu hướng phát triển của xã hội. Điều này sẽ giúp bạn có nhiều cơ hội việc làm và cơ hội thăng tiến trong công việc.
Thứ ba, nên ưu tiên chọn ngành có mức thu nhập, chế độ đãi ngộ tốt. Có thể thấy, mục đích chính của việc học là sau này đi làm có được công việc tốt, mức lương tốt và thu nhập ổn định. Vậy nên học không giỏi nên học ngành gì cũng cần phải ưu tiên những ngành có đãi ngộ tốt trong xã hội hiện nay.
Học không giỏi nên học ngành gì?
Từ phân tích ở trên, bạn cơ bản đã bước đầu có được định hướng ban đầu cho bản thân nên chọn ngành nào để học. Tuy nhiên, nếu bạn vẫn chưa biết nên chọn ngành gì phù hợp mà lại đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội thì bạn có thể tham khảo một số ngành dưới đây:
Ngành Spa-thẩm mỹ, làm đẹp: Trong vài năm trở lại đây, nhu cầu làm đẹp của con người ngày càng tăng cao, không chỉ phụ nữ mà cả nam giới cũng tìm tới các cửa hàng spa, thẩm mỹ viện để cải thiện nhan sắc của bản thân.
Học nghề chăm sóc sắc đẹp: đây là một nghề mà khi bạn muốn học bạn không cần phải có bằng cấp, chỉ cần có đam mê theo đuổi. Ngành này cũng không quy định về giới tính, bạn là nam hay nữ đều có thể theo học nghề này. Và đặc biệt, khi học ngành này bạn sẽ không tốn nhiều thời gian và chi phí nên bạn có thể theo đuổi nghề này bất cứ lúc nào.
Thợ trang điểm: hay makeup đang trở thành một trong những nghề nhận được nhiều sự quan tâm của giới trẻ. Cơ hội cho nghề makeup rất đa dạng, bạn có thể làm việc ở các spa, studio áo cưới, trang điểm cho người nổi tiếng,…Ngoài ra, thợ trang điểm làm việc cho các hãng mỹ phẩm, công ty thời trang hoặc bạn có thể làm việc tự do.
Nghề đầu bếp: Nếu bạn yêu thích nấu ăn và là một người tỉ mỉ, chu đáo thì bạn hãy lự chọn nghề đầu bếp làm định hướng tương lai cho mình. Sự phát triển của ngành du lịch và ẩm thực đã mở ra rất nhiều cơ hội cho các đầu bếp. Các nhà hàng, quán ăn, khách sạn, resort đang ngày càng phát triển bạn có thể làm việc tại những nơi này. Ngoài ra, bạn có thể tự mình kinh doanh nhà hàng, quán ăn riêng của mình. Kinh doanh online: Hiện nay, kinh doanh online trên các nền tảng mạng xã hội hoặc trang thương mại điện tử đang là xu hướng. Việc trở thành người kinh doanh không khó, bạn chỉ cần bán được sản phẩm thông qua các kênh mạng xã hội. Điều này cũng dễ dàng với những ai có điểm số họhọc tập không cao lắm.
Nghề lái xe ô tô: Nghề này không yêu cầu bằng cấp học vấn nhưng sẽ có yêu cầu bắt buộc là bạn phải có bằng lái xe theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, bạn cần có đức tính chăm chỉ, và sức khoẻ tốt sẽ giúp bạn thành công và ổn định trong nghề này.
Nghề cơ khí kỹ thuật: Nghề này sẽ phù hợp hơn với các bạn nam bởi môi trường làm việc phải thường xuyên tiếp xúc với các loại máy móc, cơ khí. Các bạn nam chỉ cần chịu khó, chịu được áp lực trong công việc thì bạn có thể thành công trong nghề này.
Trên đây là nội dung bài viết: “Học không giỏi nên học ngành gì?”. Hy vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Không học giỏi toán thì học ngành gì?
Nếu bạn không học giỏi toán thì bạn có thể lựa chọn học các ngành thiên về các môn xã hội như: ngành báo chí, ngành ngôn ngữ, ngành tâm lý học, ngành luật, ngành sư phạm, ngành du lịch lữ hành,…
Con gái nên học ngành gì để ổn định sớm?
Con gái thường sẽ phù hợp với những công việc nhẹ nhàng, môi trường làm việc không quá nặng nhọc. Do đó, con gái có thể lựa chọn học những ngành như: nhân viên văn phòng, hướng dẫn viên du lịch, nghề viết lách, kế toán, giáo viên,…
Chắc hẳn sẽ có rất nhiều bạn đặt ra các câu hỏi về ngành luật như: học luật có khó không? Học luật có phải học thuộc nhiều không? Hay học không giỏi các môn xã hội có thi vào học luật được không? Đối với những thắc mắc này, Học viện đào tạo pháp chế ICA có những chia sẽ như sau:
Học luật có phải học thuộc nhiều không?
Đây là hiểu lầm thường gặp khi nhắc đến ngành luật, ngành luật hiện nay tuyển sinh đa dạng nhiều tổ hợp môn điển hình như: A00, A01, C00, D01. Vì vậy, dù bạn học giỏi các môn tự nhiên hay xã hội, học đều tất cả các môn thì vẫn có thể học luật.
Học ngành luật không bắt buộc bạn phải học thuộc quá nhiều. Bản chất khi học luật là bạn sẽ được học về cách nhìn nhận vấn đề, rèn luyện tư duy pháp lý, và được các giảng viên hướng dẫn, định hướng nghiên cứu các quy định pháp luật để giải quyết các vấn đề trên thực tế. Bởi vì các văn bản luật, thông tư, nghị định có nội dung rất dài, phức tạp và thay đổi liên tục nên chuyện học thuộc là vô cùng khó.
Do đó, việc học luật không bắt buộc phải học thuộc lòng. Tuy nhiên, nếu bạn có khả năng học thuộc và nhớ được các điều luật vẫn tốt hơn cả so với người không nhớ điều luật. Điều quan trọng nhất khi học luật đó chính là phải nắm rõ những điểm mấu chốt hay những nguyên tắc được xem là cơ bản nhất của các bộ luật, luật. Khi nắm rõ nhưng nguyên tắc cơ bản của luật bạn mới có thể tư duy được tại sao điều luật lại quy định như vậy.
Ngoài ra, đối với người học luật và định hướng làm luật thì việc học thuộc thôi thì không đủ để có thể xử lý các vấn đề pháp lý. Bởi trong quá trình làm việc thực tế có rất nhiều tình huống xảy ra và theo nhiều chiều hướng khác nhau sẽ không theo sát với lý thuyết đã học. Học luật phải thực hành, tiếp xúc với thực tế thường xuyên để nắm vững các quy định pháp luật và biết cách áp dụng các điều luật đó để giải quyết những vụ việc thực tế.
Ngành luật “học đi đôi với hành”
Ngành nghề nào cũng cần phải “học đi đôi với hành”. Riêng ngành luật thì thực hành có vị trí quan trọng hơn cả, kinh nghiệm làm việc được xem là tiêu chí hàng đầu khi tuyển dụng vào các công ty luật. Bởi, ngành Luật bản chất thực sự là tập hợp những quy phạm đưa ra những quy tắc xử sự bắt buộc chung điều chỉnh những quy tắc, quan hệ trong đời sống xã hội nên đặc biệt cần nhiều kiến thức lịch sử, xã hội, học hỏi tư duy, kinh nghiệm thực tế.
Vì vậy, ngay khi còn đang học trên giảng đường năm 2, năm 3 đại học thì sinh viên học luật có thể đi thực tập ngày để tích luỹ kinh nghiệm. Bạn có thể đi thực tập tại: các công ty luật; Thực tập tại các cơ quan nhà nước như Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án; Thực tập tại bộ phận pháp chế của doanh nghiệp…
Những sinh viên luật muốn ra trường làm việc được ngay và mong muốn theo đuổi nghề Luật sư thì lựa chọn tốt nhất là thực tập tại Công ty/văn phòng Luật, đây chính là nơi các bạn có cơ hội áp dụng hết những lý thuyết khô khan ở trường mà không có bất kỳ cơ quan, tổ chức nào sánh được.
Khi đi thực tập, người học luật sẽ được tiếp xúc với các tình huống thực tế, các vấn đề pháp lý mà khách hàng gặp phải, được nghiên cứu hồ sơ của khách hàng. Bên cạnh đó, học được cách soạn thảo các văn bản đơn giản, cách làm việc với cơ quan nhà nước.
Học luật cần những tố chất nào?
Thứ nhất, bạn phải là người hàm đọc sách và sở hữu một trí nhớ tốt.
Đối với ngành luật đòi hỏi phải đọc rất nhiều các loại sách khác nhau và bạn cập nhật nhiều thông tin khác nhau để có thể hiểu và nắm bắt toàn bộ những quy định pháp luật và có thể vận dụng tốt trong trường hợp thực tiễn.
Thứ hai, bạn yêu thích sự tranh luận.
Luật sư là người có khả năng phân tích nhằm đưa ra những quan điểm chính xác cùng lý luận sắc bén kết hợp cùng nền tảng kiến thức vững chắc của bản thân để tiến hành thuyết phục thẩm phán, luật sư đối lập, khách hàng, người đối lập với mình rằng lý lẽ mình đưa ra là hoàn toàn thuyết phục. Trong các cuộc tranh luận, nếu bạn luôn là người đưa ra được những ý kiến đầy sức thuyết phục và nhận được sự đồng tình của mọi người thì bạn đã sở hữu được một trong những tố chất quan trọng của một người làm luật.
Thứ ba, khả năng giải quyết vấn đề.
Khi trở thành luật sư, bạn sẽ phải đối mặt với không ít các vấn đề khó khăn. Do đó, việc sở hữu cho mình kỹ năng giải quyết vấn đề sẽ giúp bạn thành công.
Trong trường hợp bạn bè, người thân hay khách hàng của mình gặp khó khăn, bạn có thể đưa ra hướng giải quyết vấn đề của họ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Bạn thích giải quyết khó khăn và thử thách, ngành luật sẽ là ngành thích hợp với bạn.
Thứ năm, bạn phải có tính kiên trì và nhẫn nại.
Kiên trì và nhẫn nại là yếu tố không thể thiếu của người làm luật. Bạn cần cố gắng kiên trì theo đuổi cho tới khi bạn “chiến thắng” trong cuộc tranh tụng. Sự kiên trì sẽ giữ cho bạn không bỏ cuộc hay trốn tránh khi gặp các vấn đề hoặc khó khăn, thách thức phía trước.
Thứ sáu, bạn phải có năng lực đàm phán và lắng nghe tốt.
Ngoài những yếu tố nêu trên, người học luật cần phải trau dồi khả năng đàm phán và kỹ năng lắng nghe. Trước mỗi sự việc, luật sư cần phải mềm mỏng, uyển chuyển để thích ứng với hoàn cảnh thực tế đang diễn ra.
Đã từng có người nào đó chia sẻ vấn đề họ gặp phải và tìm tới bạn về những lời khuyên chưa? Bạn có lắng nghe họ một cách kiên nhẫn không? Nếu bạn là mẫu người thường dành thời gian của mình để lắng nghe vấn đề của bạn bè vậy thì nghề luật chắc chắn sẽ phù hợp với bạn.
Bí quyết học luật dễ dàng cho sinh viên ngành luật
Hiểu rõ nội dung cần học thuộc
Đây là điều tiên quyết giúp bạn học thuộc bài nhanh hơn và hiểu rõ bài học hơn. Nếu như bạn chỉ học theo kiểu đọc đi đọc lại cho quen mặt chữ thì đây là lối “học vẹt” mà thôi. Áp dụng cách học này bạn sẽ mất rất nhiều thời gian, tuy nhiên lại không đạt được hiệu quả như mong muốn và bạn sẽ mau chóng quên đi. Chính vì vậy, khi học trên lớp, sinh viên nên lắng nghe thầy cô giảng bài, hiểu rõ các điều luật, nắm vững bản chất thì sẽ tiết kiệm được thời gian học mà còn ghi nhớ lâu.
Kết hợp vừa học vừa ghi
Vừa học thuộc bài nhưng bạn cũng phải kết hợp ghi chép, vẽ sơ đồ tư duy cho mỗi chương học. Cụ thể những nội dung trong chương đó quy định tại điều nào trong văn bản pháp luật. Khi xác định được điều luật thì sinh viên cần ghi nhớ các từ khóa chính và ghi thành từng ý nhỏ trong sơ đồ tư duy sẽ giúp bạn dễ nhớ và không bao giờ quên.
Thường xuyên làm bài tập
“Học đi đôi với hành” do vậy sinh viên cần thường xuyên làm bài tập trong hệ thống các tình huống giả định mà giảng viên đưa ra. Từ đó, bạn có thể áp dụng những kiến thức tiếp thu được mà tìm cách xử lý các tình huống. Với cách làm này, không những bạn tìm ra được thiếu sót trong quá trình học thuộc mà còn củng cố thêm kiến thức và rèn luyện được kỹ năng.
Không gian học yên tĩnh
Không gian học cũng là một trong những yếu tố giúp bạn tiếp thu bài nhanh và hiệu quả hơn. Sinh viên nên lựa chọn những nơi có không gian yên tĩnh, thoáng đãng như: thư viện, phòng tự học hoặc phòng cá nhân. Tránh xa nơi có nhiều tiếng ồn và đông người qua lại để tập trung cao độ nhất và ghi nhớ một cách nhanh nhất.
Học luật muốn làm pháp chế phải chuẩn bị những gì?
Rất nhiều bạn sinh viên Luật ra trường muốn xin vào làm pháp chế tại các doanh nghiệp, vì công việc này gắn liền với ngành luật, cơ hội nghề nghiệp, khả năng thăng tiến cao. Để làm pháp chế doanh nghiệp, sinh viên cần phải chuẩn bị cho mình những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng giải quyết công việc.
Sinh viên phải có nền tảng kiến thức vững chắc, đặc biết là kiến thức chuyên sâu về doanh nghiệp;
Sinh viên cần phải chuẩn bị cho mình những kỹ năng về soạn thảo văn bản, soạn thảo hợp đồng;
Kỹ năng đàm phán, thuyết phục người khác;
Kỹ năng giải quyết các công việc với cơ quan nhà cơ, cơ quan tố tụng;
Ngoài ra, sinh viên cần có tính cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác trong công việc, biết làm việc độc lập, làm việc theo nhóm.
Trên đây là nội dung bài viết: “Học luật có phải học thuộc nhiều không?“. Hi vọng bài viết giúp ích cho bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Ngành luật học khối nào?
Khi lựa chọn theo học ngành luật, sinh viên sẽ học ở các khối: Khối A00: Toán, Vật lý, Hoá học Khối A01: Toán, Vật lý, Tiếng Anh Khối C00: Văn, Sử Địa Khối D01: Văn, Toán, Tiếng Anh.
Muốn làm luật sư thì phải học giỏi môn gì?
Để trở thành luật sư trước tiên bạn cần hoàn thành chương trình đại học đào tạo ngành luật. Các môn học được đưa vào chương trình giáo dục đều giữ vai trò và ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, có những môn học chính đòi hỏi sinh viên phải chuyên tâm nghiên cứu và học tập nhiều hơn vì chúng trực tiếp liên quan đến chuyên ngành cụ thể như: Môn lý luận nhà nước và pháp luật; Luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật thương mại, logic học, luật hành chính.
Năng lực xử lý tình huống là một trong những năng lực cần phải phát triển cho sinh viên học ngành luật. Nó có vai trò quan trọng giúp cho sinh viên giải quyết được các tình huống trong quá trình học tập và công việc về sau. Bài tập tình huống luật hính ự được trình bày theo các nguyên tắc, quy trình sử dụng bài tập tình huống nhằm góp phần năng cao kỹ năng này cho sinh viên. Học viện đào tạo pháp chế ICA gửi tới bạn đọc bộ tài liệu bài tập tình huống luật hình sự phần chung (có đáp án), hi vọng bài viết đem lại hữu ích cho bạn đọc.
Tình huống 1:
A trộm cắp tài sản của B trị giá 80 triệu đồng. Hành vi của A cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù giam. Anh (chị) hãy xác định:
1. Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội gì? Tại sao?
2. Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành tội phạm (CTTP) vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?
3. Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
Đáp án:
1. Căn cứ vào Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà A thực hiện là loại tội phạm nghiêm trọng. Vì theo điểm b khoản 1 Điều 9 thì mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù, như vậy, khoản 2 Điều 173 mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đã thỏa mãn phân loại tội phạm nghiêm trọng.
2. Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có CTTP vật chất. Vì thiệt hại do việc phạm tội gây ra là thiệt hại về vật chất.
3. Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP tăng nặng. Vì hành vi phạm tội của A bao gồm dấu hiệu định tội và dấu hiệu định khung tăng nặng (điểm c khoản 2 Điều 173).
Tình huống 2:
A 15 tuổi 6 tháng đã thực hiện hành vi được quy định tại khoản 3 Điều 260 BLHS. Hãy xác định A có phải chịu TNHS về hành vi của mình hay không? (Biết rằng tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260 BLHS) được thực hiện với lỗi vô ý).
Đáp án:
A không phải chịu TNHS về hành vi của mình.
Khung hình phạt tại khoản 3 Điều 260 là từ 7 năm đến 15 năm thù theo phân loại tội phạm quy định tại Điều 9 thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng.
Khoản 2 Điều 12 BLHS quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê theo khoản 2 này.
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260) không nằm trong nhóm người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, A không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
Tình huống 3:
A là bác sĩ đa khoa có mở phòng mạch riêng. Trong lúc khám bệnh A đã kê toa thuốc cho bé Hoài Trung (3 tuổi) theo toa của người lớn. Do sơ suất, A không kiểm tra toa thuốc trước khi trao cho người nhà của bé Trung. Người nhà của bé Trung đến tiệm thuốc do H đứng bán. H bán thuốc theo toa của A mặc dù trên toa thuốc có ghi tuổi của bệnh nhân là 3 tuổi. Bé Trung do uống thuốc quá liều nên bị tử vong. Anh (chị) hãy xác định:
1. Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của A là gì?
2. Hành vi của A đã xâm phạm khách thể trực tiếp nào?
3. Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án này thuộc loại nào? Tại sao?
4. Lỗi của A là loại lỗi gì? Tại sao?
Đáp án:
1. Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của A là toa thuốc.
2. Hành vi của A đã xâm phạm khách thể trực tiếp là bé Trung.
3. Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong vụ án này thuộc loại kép trực tiếp. Vì có nhiều hành vi trái pháp luật cùng đóng vai trò là nguyên nhân của hậu quả, hậu quả chết người do hai nguyên nhân là kê thuốc nhầm và người bán thuốc không chú ý.
4. Lỗi của A là lỗi vô ý do cẩu thả. Vì người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù điều kiện khách quan buộc A phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Tình huống 4:
Vì mâu thuẫn cá nhân A luôn tìm mọi cách để hãm hại B. Sau khi nghiên cứu lịch sinh hoạt của B, A quyết định ra tay giết B. Vào lúc 11h đêm ngày 10/9/2017, B đang trên đường trở về nhà sau khi đi chơi với người yêu thì A canh sẵn ở vị trí lựa chọn và dùng hai thanh sắt dài, đặc ruột đánh liên tiếp nhiều cái vào đầu B. Sau đó B đã được người đi đường cứu nhưng vì vết thương quá nặng nên B đã chết vào ngày 30/10/2017.
Biết rằng hành vi của A cấu thành tội giết người theo khoản 1 Điều 123 BLHS; tội giết người có quy định hậu quả là dấu hiệu định tội.
Anh chị hãy xác định:
1. Khách thể của tội phạm do A thực hiện.
2. Hành vi chuẩn bị phạm tội giết người của A trong vụ án này là hành vi nào? Tại sao?
3. Thời điểm tội phạm hoàn thành là thời điểm nào? Tại sao?
Đáp án:
1.Khách thể của tội phạm là quan hện xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị B xâm hại, cụ thể: quan hệ nhân thân (tính mạng, sức khỏe con người, quyền được sống của con người…).
2. Hành vi của A:
+ Chuẩn bị kế hoạch phạm tội: Sau khi nghiên cứu lịch sinh hoạt của B, A quyết định ra tay giết B
+ Thăm dò vị trí phạm tội: A canh sẵn ở vị trí lựa chọn
+ Chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội: Dùng hai thanh sắt dài, đặc ruột
+ Loại trừ trở ngại khách quan để thực hiện phạm tội dễ dàng: Đợi đến 11h đêm
Những hành vi này của A tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm cố ý thỏa mãn quy định tại Điều 14 BLHS Chuẩn bị phạm tội.
3. Thời điểm tội phạm hoàn thành: Ngày B chết 30/10/2017
Vì: Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong CTTP. Mà CTTP trong khoản 1, Điều 123 là cấu thành vật chất tức là phải có hành vi giết người hậu quả chết người và hành vi và hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau. Như vậy, thời điểm tội phạm hoàn thành là thời điểm A chết vì khi đó hành vi phạm tội của A đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong CTTP.
Tình huống 5:
Đang chấp hành bản án treo về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 202 BLHS, A lại phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS. Về tội mới này A bị toà án tuyên phạt 5 năm tù. (Biết rằng bản án treo mà A đang phải chấp hành là phạt tù 2 năm và thời gian thử thách là 4 năm. A đã chấp hành được 18 tháng thì phạm tội mới)
Hãy xác định:
1.Trong lần phạm tội mới, A có bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm không? Tại sao?
2.Tổng hợp hình phạt của 2 bản án trên, chỉ rõ căn cứ pháp lý?
3.Thời hiệu thi hành bản án của A về tội cố ý gây thương tích? Chỉ rõ căn cứ pháp lý?
Đáp án:
1.Trong lần phạm tội mới A bị coi là tái phạm.
Vì: Trong trường hợp này A đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, cụ thể A đang phải chấp hành án treo về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (tội phạm ít nghiêm trọng) mà lại phạm tội cố ý gây thương tích, thỏa mãn quy định tại khoản 1 Điều 53 BLHS: Tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
2. Theo khoản 5, Điều 65 BLHS “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.” . Như vậy chúng ta phải áp dụng hình phạt là phạt tù và tổng hợp hình phạt theo quy định của Điều 56.
Trong trường hợp này A đang chấp hành một bản án mà lại thực hiện HVPT mới nên áp dụng quy định của khoản 2, Điều 56 BLHS.
Vì thời gian thử thách không được quy đổi sang phạt tù nên A vẫn phải chấp hành cả 5 năm tù.
Như vậy, A bị phạt 9 năm tù giam.
3. Thời hiệu được tính vào ngày A thực hiện tội cố ý gây thương tích.
Vì theo quy định tại khoản 4, Điều 60 BLHS “Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì thời hiệu tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.”
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về nội dung: “Bài tập tình huống luật hình sự phần chung”. Hi vọng bài viết sẽ giúp bạn có thêm nhiều kiến thức hữu ích, khi có bất kỳ vướng mặc bạn hãy liên ngay đến chúng tôi để được giải đáp nhé!
Câu hỏi thường gặp
Đánh bạc bao nhiêu thì bị phạt tù?
Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới hai triệu nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm, nếu quy mô lớn thì có thể từ 5 năm đến 10 năm.
Hành vi ngoại tình bị phạt bao nhiêu năm tù?
Theo pháp luật thường thì hành vi này chỉ bị phạt hành chính hoặc cải tạo không giam giữ 3 tháng đến 1 năm vì xét cho cùng đây là một vấn đề tâm lý khá nhạy cảm (nếu đã bị xử phạt hành chính rồi mà vẫn tái phạm thì có khả năng bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm).
Bạn sẽ thấy hợp đồng rất cần thiết trong bất kỳ giao dịch mua bán, cho thuê hoặc cho vay nào. Mỗi giao dịch trở thành một hợp đồng. Chúng ta sống dưới sự phủ sóng diện rộng của điện, mọi thứ đều cần dùng đến điện. Việc sử dụng này cũng phải tuân theo hợp đồng. Hợp đồng mua bán điện là hợp đồng có tính chất khác biệt hơn các loại hợp đồng khác vì bên cung cấp điện khá đặc biệt. Vì vậy mời bạn đọc tham khảo và tải xuống mẫu hợp đồng mua bán điện trong bài viết dưới đây của chúng tôi nhé!
Hợp đồng mua bán điện thường được hình thành khi các bên thống nhất về mặt hàng và giá cả. Người mua thanh toán và người bán giao hàng cho người mua. Tuy nhiên, các bên khác có thể đồng ý, chẳng hạn như: B. Nhận tiền trước giao hàng sau hoặc giao hàng trước trả tiền sau. Trường hợp hợp đồng mua bán điện có giá trị lớn thì các bên có thể chuyển nhượng kết quả thực hiện công việc nhiều lần, mỗi lần theo một số tiền nhất định. Sau khi các bên đã ký kết hợp đồng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của mình.
Hợp đồng mua bán điện là phương tiện pháp lý để công dân, tổ chức tạo lập các điều kiện trao đổi hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh hàng ngày. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, quan hệ thương mại phản ánh quan hệ kinh tế thông qua việc trao đổi tư liệu, sản phẩm giữa các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Điều này tạo điều kiện cho các ngành kinh tế cùng tồn tại và phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Hướng dẫn soạn thảo mẫu hợp đồng mua bán điện
Theo Điều 22 của Luật Điện lực 2004, hợp đồng mua bán và đặt mua điện phải được lập thành văn bản và có đầy đủ các nội dung như sau:
Đối tượng của hợp đồng;
Mục đích sử dụng điện;
Tiêu chuẩn và chất lượng dịch vụ cung cấp điện;
Quyền và nghĩa vụ của các bên;
Biểu giá điện, phương thức và thời hạn thanh toán.
Điều kiện chấm dứt hợp đồng;
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Thời hạn hợp đồng mua bán điện;
Các nội dung khác do hai bên thoả thuận.
Lưu ý khi thực hiện mẫu hợp đồng mua bán điện
Hình thức hợp đồng mua bán điện
Hợp đồng mua bán điện sinh hoạt phải được lập bằng văn bản, bản giấy hoặc bản điện tử (dữ liệu điện tử được Bên mua tra cứu, tải về trên Cổng thông tin điện tử của Bên bán). Ngôn ngữ hợp đồng là tiếng Việt.
Hợp đồng mua bán điện cho mục đích sinh hoạt phải được đăng ký và phê duyệt bởi cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng để áp dụng theo quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng.
Hợp đồng mua bán điện sinh hoạt phải đúng thể thức theo quy định.
Chủ thể ký hợp đồng mua bán điện
Người ký kết hợp đồng bên mua phải là người đại diện của bên mua có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Điều 8 Nghị định số 104/2022/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung số lượng người được giới thiệu trong khoản 1. Một phần quy định tại Nghị định về giao, nộp hộ khẩu giấy, thẻ tạm trú khi thực hiện thủ tục hành chính và thi hành công vụ (sau đây viết tắt là Nghị định số 104/2022/NĐ-CP). ).
Trường hợp bên mua điện gồm nhiều hộ tiêu thụ điện cùng ký kết hợp đồng thì người ký hợp đồng bên mua điện là đại diện cho số hộ ký kết hợp đồng phải thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này. được quan sát. Văn bản ủy quyền cho các hộ tham gia ký hợp đồng, trong hợp đồng phải có số hộ tham gia (danh sách kèm theo) và giá bán điện được áp dụng theo Quy định về thực hiện giá bán điện do Bộ Công nghiệp ban hành .phải là thuộc về thương mại.
Người ký hợp đồng bên bán là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện của đơn vị bán lẻ điện có khả năng cung cấp điện năng mà lưới điện phân phối đáp ứng nhu cầu của bên mua điện.
Thời hạn hợp đồng mua bán điện
Thời hạn hợp đồng do hai bên thoả thuận. Nếu các bên không đồng ý về một điều khoản cụ thể của thỏa thuận, thời hạn của thỏa thuận sẽ được coi là kể từ ngày ký cho đến ngày đơn phương chấm dứt thỏa thuận bởi các bên hoặc bởi một trong hai bên theo yêu cầu.
Tranh chấp trong thanh toán hợp đồng
Trong trường hợp có sự khác biệt một phần hoặc toàn bộ số tiền ghi trên hóa đơn, Người mua phải thông báo bằng văn bản về lý do chênh lệch với số tiền ghi trên hóa đơn trước khi đến hạn thanh toán. Người mua có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền không thể tranh cãi trước hoặc vào ngày đến hạn.
Người bán phải trả lời chính thức cho Người mua trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về số tiền tranh chấp. Nếu các bên không thỏa thuận được giá trị tranh chấp, mỗi bên có quyền thực thi các điều khoản giải quyết tranh chấp tại Mục 13 của Hợp đồng.
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về thông tin lịch thanh toán của lưới điện quốc gia và Đơn vị vận hành thị trường, các bên áp dụng các quy định về giải quyết tranh chấp thị trường điện quy định tại Quy chế vận hành thị trường điện do Bộ Công Thương ban hành.
Nếu một trong hai bên không cung cấp thông báo bằng văn bản về tranh chấp thanh toán trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày lập hóa đơn, bên đó sẽ được coi là từ bỏ quyền yêu cầu số tiền ghi trong hóa đơn tăng thêm.
Hợp đồng mua bán điện là một hợp đồng vô cùng quan trong mà đa số hầu hết tất cả các gia đình đều cần sử dụng. Hãy lưu ý rà soát hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của mình khi ký kết hợp đồng nhé!
Câu hỏi thường gặp:
Hiệu lực của hợp đồng mua bán điện được tính từ khi nào?
Hợp đồng mua bán điện có hiệu lực từ ngày được đại diện có thẩm quyền của hai bên ký chính thức nhưng trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Đơn vị mua điện gồm những ai?
Theo hướng dẫn của Thông tư 45/2018/TT-BCT, Bên mua điện là đơn vị tham gia thị trường bán buôn điện với vai trò là Bên mua điện, bao gồm Đơn vị bán buôn điện và Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Ở đây, công ty điện lực bán buôn là đơn vị kinh doanh điện năng có chức năng mua bán buôn điện năng trên thị trường giao ngay (điểm giao nhận giữa lưới điện và lưới điện phân phối, điểm giao nhận của lưới điện) . Trong giai đoạn đầu vận hành thị trường điện, đơn vị bán buôn điện sẽ bao gồm 05 Tổng công ty Điện lực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (các công ty điện lực miền Bắc, miền Trung, miền Nam, Hà Nội và TP.HCM). Thành phố Hồ Chí Minh).
Từ xưa đến nay, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển ngày nay, có cung và cầu, mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Nếu một bên cần sử dụng nó, chắc chắn họ sẽ có một nhà cung cấp để đảm bảo nhu cầu đó. Và thâm chí là rất nhiều nhà cung cấp cùng xuất hiện và chỉ cần chọn nơi thoả mãn yêu cầu. Tuy nhiên việc cung cấp hàng hoá cần phải được giao kết hợp đồng để đảm bảo có cách xử lý trong những trường hợp tranh chấp như giao không đúng hàng, giao không đúng thời gian, không trả đủ tiền, hàng lỗi… Bạn đọc có thể tham khảo vài tải xuống mẫu hợp đồng cung cấp hàng hóa trong bài viết dưới đây của chúng tôi.
Hướng dẫn soạn thảo mẫu hợp đồng cung cấp hàng hóa
Hợp đồng cung cấp hàng hóa:
Người bán và người mua phải cung cấp tên công ty, trụ sở chính, số điện thoại, chức danh, đại lý, v.v.
Điều 1: Thể hiện nội dung của sản phẩm mua bán
Điều 2: Ghi giá thỏa thuận.
Điều 3: Ghi chất lượng, quy cách hàng hóa.
Điều 4: Bao bì, trọng lượng, ký hiệu,..
Điều 5: Thỏa thuận phương thức vận chuyển.
Những lưu ý khi ký kết hợp đồng cung cấp hàng hóa
Khi ký kết hợp đồng cung cấp hàng hoá:
Giao kết hợp đồng cung cấp hàng hóa với pháp nhân dân sự, khả năng thực hiện hành vi dân sự theo giao dịch dân sự đã được xác lập;
Các bên giao kết hợp đồng giao nhận hàng hóa phải hoàn toàn tự nguyện.
Mục đích và nội dung của hợp đồng giao nhận sản phẩm không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.
Mặc dù luật hiện không yêu cầu phải ký kết hợp đồng đối với việc cung cấp hàng hóa, tuy nhiên, sẽ có nhiều điều khoản thuận lợi hơn trong trường hợp có tranh chấp nếu việc giao hàng dựa trên cơ sở hợp đồng.
Thông tin có trong hợp đồng cung cấp hàng hoá:
Thứ nhất, địa điểm giao hàng. Người bán có nghĩa vụ giao hàng đến địa điểm đã thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng được xác định như sau:
Nếu sản phẩm là bất động sản. Người bán phải giao hàng đến địa điểm nơi hàng hóa được đặt.
Nếu hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hóa thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên.
Nếu hợp đồng không có điều khoản về vận chuyển hàng hóa. Nếu các bên biết vị trí của kho tại thời điểm ký kết hợp đồng. Nếu đó là địa điểm bốc hàng, sản xuất hoặc chế tạo Hàng hóa, Bên bán sẽ giao Hàng hóa tại địa điểm đó.
Nếu không, Người bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của Người bán. Nếu không có văn phòng bán hàng, hàng hóa sẽ được giao đến địa chỉ của người bán được chỉ định tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán.
Thứ hai, thời gian giao hàng. Bên Bán sẽ giao hàng vào ngày giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu không có thỏa thuận về thời gian giao hàng, Bên bán sẽ giao hàng trong một khoảng thời gian hợp lý sau khi ký kết hợp đồng. Lưu ý: Nếu chỉ thỏa thuận về thời gian giao hàng. Nếu không quy định thời hạn giao hàng cụ thể, Bên Bán có quyền giao hàng bất cứ lúc nào trong khoảng thời gian này. Người mua phải được thông báo trước. Thứ ba, giải quyết việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng giao nhận hàng hóa được xác định như sau:
Người bán sẽ không chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa nếu Người mua đã biết hoặc lẽ ra phải biết về những khiếm khuyết này vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Người bán chịu trách nhiệm về tất cả các khiếm khuyết của hàng hóa tồn tại trước khi rủi ro được chuyển cho người mua. Ngay cả khi các thiếu sót được xác định sau khi chuyển giao rủi ro,
Người bán phải chịu trách nhiệm đối với bất kỳ khiếm khuyết nào của Hàng hóa phát sinh sau khi chuyển giao rủi ro, nếu các khiếm khuyết đó dựa trên nghĩa vụ hợp đồng của người bán.
Thứ tư, giải quyết trường hợp thiếu đồ. Nếu hợp đồng chỉ quy định thời gian giao hàng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nó không chỉ ra một thời gian giao hàng cụ thể. Được giao bởi Người bán trước khi kết thúc thời gian giao hàng. và giao thiếu hoặc không phù hợp; Người bán có thể giao các bộ phận bị thiếu đổi hàng theo hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hóa trong thời hạn còn lại.
Nếu bên bán đã loại bỏ bất kỳ khiếm khuyết nào dẫn đến bất lợi hoặc chi phí không tương xứng cho Bên mua. Trong trường hợp đó, Bên Mua có quyền yêu cầu Bên Bán khắc phục phần thiếu hụt hoặc chịu các chi phí này.
Thứ năm, giải quyết trường hợp giao nhận hàng hóa. Nếu người bán giao hàng. Trong trường hợp đó, người mua có quyền từ chối. Hoặc chấp nhận khoản khấu trừ. Nếu bên mua nhận hàng thừa thì phải thanh toán theo giá đã thoả thuận trong hợp đồng. Trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên.
Thứ sáu, quy định về kiểm tra hàng hóa trước khi xuất xưởng. Nếu các bên đồng ý với người mua. Ngoài ra, Người bán phải bảo đảm cho Người mua nếu đại diện của Người mua kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng. Hoặc đại diện bên mua sẽ tiến hành giám định.
Người mua; hoặc đại lý của Người mua phải kiểm tra hàng hóa trong thời gian ngắn nhất có thể. những gì tình hình thực tế cho phép. Nếu hợp đồng quy định việc vận chuyển hàng hóa, việc kiểm tra hàng hóa có thể bị hoãn lại cho đến khi hàng hóa được giao đến nơi đến.
NếubBên mua hoặc đại lý của bên mua không kiểm tra hàng hóa như đã thỏa thuận trước khi giao hàng, bên bán có quyền giao hàng theo quy định của hợp đồng.
Người bán không chịu trách nhiệm về lỗi sản phẩm. Người mua hoặc đại lý của Người mua biết; hoặc đáng lẽ phải biết nhưng không thông báo cho Người bán trong một thời gian hợp lý sau khi kiểm tra hàng hóa.
Người bán chịu trách nhiệm về lỗi sản phẩm. Nếu hàng hóa không bị lỗi thông qua kiểm tra thông thường, chúng sẽ được kiểm tra bởi người mua hoặc đại diện của họ. Và người bán biết. hoặc biết về những khiếm khuyết đó nhưng sẽ không thông báo cho người mua.
Thứ bảy, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Quyền và nghĩa vụ là những điều khoản bắt buộc các bên phải tuân thủ trong hợp đồng, vì vậy bạn cần chú ý đến các điều khoản.
Thứ tám, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Để đảm bảo tuân thủ hợp đồng của chúng tôi ngoài các quy định về quyền và nghĩa vụ của chúng tôi. Hợp đồng cũng phải bao gồm các điều khoản về tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại để không bị trừng phạt nếu vi phạm xảy ra.
Thứ chín, thanh toán tiền hàng. Người mua có nghĩa vụ thanh toán giá mua. Nhận hàng theo hợp đồng. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán và thực hiện thanh toán theo đúng trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.
Lưu ý: Người mua phải thanh toán khi mua hàng, ngay cả khi hàng bị mất hoặc hư hỏng sau khi rủ ro chuyển từ người bán sang người mua không bao gồm tổn thất thiệt hại do sơ suất của người bán.
Thứ mười, bạn nhận hàng. Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận và thực hiện các bước hợp lý để hỗ trợ người bán giao hàng.
Trên đây là mẫu hợp đồng cung cấp hàng hóa. Hy vọng những hướng dẫn và lưu ý mà chúng tôi nêu ra sẽ giúp bạn biết cách lập và rà soát hợp đồng một cách chính xác nhé!
Câu hỏi thường gặp
Đối tượng của hợp đồng cung cấp hàng hoá là gì?
Đối tượng của hợp đồng cung cấp hàng hóa là hàng hóa. Hàng hóa là bất cứ thứ gì có thể mua hoặc bán được, kể cả tài sản cá nhân hình thành trong tương lai, tất cả tài sản cá nhân, kể cả tài sản gắn liền với bất động sản. Người bán có nghĩa vụ giao Hàng hóa, chuyển quyền sở hữu Hàng hóa cho Người mua và chấp nhận thanh toán. Bên Mua có nghĩa vụ thanh toán cho Bên Bán, giao Hàng và nhận quyền đối với Hàng Hóa theo thỏa thuận.
Trường hợp cung cấp hàng hoá có địa điểm giao hàng vậy khi nào bên mua và bên bán chuyển rủi ro cho nhau?
Nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua tại một địa điểm được chỉ định. Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng đối với hàng hóa được chuyển cho người mua khi hàng hóa được giao cho người mua hoặc khi hàng hóa được người được người mua ủy quyền đến nhận tại địa điểm. Ngoài ra, nếu người bán được ủy quyền giữ lại chứng thư tiêu đề của hàng hóa.