Danh mục: Kiến thức pháp chế chung

Chia sẻ kiến thức chung trong mảng pháp chế doanh nghiệp và hành nghề luật với sinh viên, cử nhân luật tại các trường đại học do Học viện đào tạo pháp chế ICA biên soạn.

Học Viện ICA kỳ vọng rằng những kiến thức được chia sẻ trong chuyên mục này sẽ giúp sinh viên:

  • Hiểu biết và có thêm những kiến thức pháp lý cần thiết nhằm trao dồi, vun đắt, học hỏi những kỹ năng mới
  • Tạo lập kho dữ liệu phục vụ mục đích tham khảo, học tập
  • Tìm hiểu những kiến thức liên quan mảng pháp chế doanh nghiệp, tư vấn nội bộ doanh nghiệp
  • Có thêm định hướng nghề nghiệp trong tương lai

Ngoài ra, Học viện pháp chế ICA cung cấp những khóa học liên quan đến kỹ năng hành nghề pháp chế doanh nghiệp, cung cấp nhân sự pháp chế và đào tạo nội bộ doanh nghiệp theo đặt hàng.

  • Hợp đồng đại lý – Tải miễn phí

    Hợp đồng đại lý – Tải miễn phí

    Nếu đối tác kinh doanh muốn làm trung gian trở thành đại lý cho sản phẩm, hàng hóa nào đó thì phải tìm thương nhân khác để cung cấp hàng hóa, sản phẩm đó. Hiện tại, cả hai bên phải ký kết thỏa thuận đại lý trước khi sản phẩm có thể được vận chuyển và giao dịch. Hợp đồng đại lý cũng là một loại hợp đồng tương đối phổ biến hiện nay. Bạn đọc có thể tham khảo và tải xuống mẫu hợp đồng đại lý trong bài viết dưới đây của chúng tôi nhé!

    Tải xuống mẫu hợp đồng đại lý

    Hợp đồng đại lý gồm những điều khoản gì?

    Các bên có thể tự thỏa thuận các điều khoản khác nhau nhưng không được trái với pháp luật, đạo đức và xã hội. Một thỏa thuận đại lý chung thường bao gồm các điều khoản chính sau:

    • Điều kiện chung của các bên
    • Phương thức vận chuyển
    • Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán
    • Giá
    • Bảo hành, hỗ trợ
    • Thời hạn hiệu lực của hợp đồng
    • Các điều khoản khác: Giải quyết tranh chấp, Bồi thường…

    Hướng dẫn soạn thảo mẫu hợp đồng đại lý

    Hợp đồng đại lý

    Hai bên đại diện có thể thỏa thuận về việc sử dụng hình thức hợp đồng, loại hợp đồng. Tuy nhiên, một số điểm phải được xem xét trong quá trình xây dựng hợp đồng:

    Trước hết, trong hợp đồng phải đảm bảo về mặt hình thức: quốc hiệu, họ tên, tên người ký hợp đồng, ngày giờ ký kết hợp đồng.

    Thứ hai, nội dung hợp đồng phải rõ ràng, phải có đầy đủ thông tin về bên đại diện và bên nhận đại diện, ví dụ (tên công ty, người đại diện theo pháp luật, số chứng minh thư, nơi cấp, ngày cấp, địa chỉ liên hệ, địa chỉ email, trụ sở công ty, số thuê, v.v.

    Các bên phải cùng nhau thống nhất các điều khoản trong hợp đồng như: phương thức thanh toán, giá cả, phương thức giao hàng, điều khoản độc quyền (thỏa thuận đại lý độc quyền), quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài trong trường hợp vi phạm hợp đồng, giải quyết tranh chấp, v.v. Ngoài ra, các bên có quyền thỏa thuận thêm các điều kiện để làm rõ nội dung của hợp đồng.

    Thứ ba, phần cuối của hợp đồng phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp của hai bên

    Có những rủi ro nào từ hợp đồng đại lý?

    Hợp đồng đại lý là một loại hợp đồng đặc biệt nên nếu không có hợp đồng chuẩn giữa các bên thì nguy cơ xảy ra tranh chấp cao:

    a) Rủi ro tranh chấp liên quan đến đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng

    Chủ thể của hợp đồng đại lý: phải là thương nhân, có thể là thương nhân Việt Nam hoặc nước ngoài. Nhưng bên đại lý phải có hoa hồng tự mình thực hiện việc mua bán hàng hóa thay cho bên giao đại lý. Mặt khác, hiệu trưởng phải có khả năng sản xuất hoặc bán sản phẩm có liên quan, điều này được phản ánh trong các lĩnh vực kinh doanh của công ty.

    Trên thực tế, nhiều hợp đồng được ký kết bởi những người bên ngoài. Đây là tranh chấp do các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền ký: Không phải là đại diện theo pháp luật, không phải là đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật nhưng không có thẩm quyền ký. Ngoài ra, tranh chấp có thể do Người ký kết không phải là người đại diện theo pháp luật của công ty có thẩm quyền pháp lý mà ký kết hợp đồng trái thẩm quyền.

    b) Rủi ro tranh chấp hợp đồng đại lý cung ứng

    Đối tượng của thỏa thuận hoa hồng là công việc do bên đại diện thực hiện, có thể là: thay mặt bên giao đại diện mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thay bên giao đại diện.

    Các bên thường xảy ra tranh cãi khi bên giao hàng giao sai địa chỉ, số lượng hàng đã thỏa thuận, chất lượng hàng không đúng, không đúng tiêu chuẩn, đơn vị tính. Điều này có thể do các điều khoản trong hợp đồng chưa chính xác, chi tiết gây hiểu lầm hoặc do bên kia lợi dụng kẽ hở để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình.

    c. Rủi ro tranh chấp hợp đồng phát sinh khi có rủi ro xảy ra đối với hàng hóa

    Theo quy định của pháp luật, bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hóa hoặc số tiền đã chuyển cho bên đại lý nên căn cứ vào quan hệ sở hữu, bên giao đại lý phải chịu trách nhiệm chung về rủi ro đối với hàng hóa. Bên giao tài sản là chủ sở hữu nhưng không thực sự là chủ sở hữu nên bên giao tài sản không thể trực tiếp kiểm soát tài sản của mình.

    d. Rủi ro phát sinh tranh chấp về thỏa thuận đại diện liên quan đến việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán:

    Do hợp đồng đại lý thường dài hạn, trả nhiều lần, chiết khấu, ưu đãi, thưởng khá lớn nên dễ phát sinh tranh chấp nếu một bên chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc các bên không thỏa thuận được.

    Nhiều trường hợp môi giới bán được hàng nhưng không trả lại tiền cho nhà cung cấp. Rủi ro này có thể bộc lộ hết nếu đại lý hành xử thiếu trung thực, không tôn trọng đạo đức kinh doanh.

    đ. Tranh chấp hợp đồng đại lý khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia

    Nếu việc chấm dứt hợp đồng là do mong muốn của bên giao đại lý thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian làm đại lý. Số tiền bồi thường là phí trung bình của một tháng trong thời gian đại diện của mỗi năm, nếu thời gian đại diện dưới một năm, tiền bồi thường được tính bằng phí đại lý trung bình của một tháng.

    Trường hợp hủy bỏ hợp đồng đại lý theo yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường thiệt hại về thời gian đã làm đại lý. Quy định này khi áp dụng vào thực tế chưa thực sự hợp lý, bởi một số trường hợp khách hàng không tuân thủ, thực hiện không đúng.

    Lưu ý khi soạn thảo hợp đồng đại lý

    Để tránh rủi ro, một số nội dung cần được xem xét trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng đại diện:

    Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của các bên: trừ trường hợp có thỏa thuận khác, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo Điều 171-174 của Luật Thương mại 2005.

    Thứ hai, về việc trả tiền bên đại lý: tiền hàng hóa, dịch vụ và tiền đại lý được trả dần sau khi bên đại lý mua xong, trừ trường hợp có thỏa thuận khác như bán một lượng hàng hóa nhất định hoặc cung cấp một lượng dịch vụ nhất định.

    Thứ ba, thời hạn đại diện: Các bên tự thỏa thuận về thời hạn quyền hạn của người đại diện. Trừ khi có thỏa thuận khác, thời hạn đại diện chỉ kết thúc sau một khoảng thời gian hợp lý đã trôi qua, nhưng không sớm hơn 60 ngày sau khi mỗi bên đã thông báo cho bên kia về việc chấm dứt thỏa thuận đại diện bằng văn bản.

    Ngoài ra, cần cung cấp thông tin đầy đủ và trung thực về các bên khi soạn thảo hợp đồng đại lý. Thỏa thuận phải có đầy đủ chữ ký của hai bên và được lập thành 02 bản, mỗi bên 01 bản.

    Trên đây Học viện pháp chế ICA đã giới thiệu đến bạn đọc mẫu hợp đồng đại lý. Đây là mẫu hợp đồng chung nhất mà quý bạn đọc có thể áp dụng vào các mẫu hợp đồng đại lý tương tự. Hy vọng là những lưu ý mà chúng tôi đề cập sẽ giúp bạn đọc thực hiện hợp đồng một cách chuẩn nhất nhé!

    Câu hỏi thường gặp:

    Hợp đồng đại lý có phải công chứng, chứng thực hay không?

    Do các bên tham gia hợp đồng đại lý đều là pháp nhân nên hợp đồng đại lý không cần phải công chứng, chứng thực.

    Hợp đồng đại lý có bắt buộc phải soạn thảo bằng văn bản không?

    Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật Thương mại, hợp đồng đại lý phải được giao kết bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý.
    kinh doanh 2005.
    Điều này có nghĩa là nếu các bên giao dịch mà không có thỏa thuận thì giao dịch đó vô hiệu, không có quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Do đó, các bên phải thanh toán cho nhau những gì họ đã nhận

    Ngôn ngữ của hợp đồng đại lý quy định thế nào?

    Hợp đồng đại lý phải được lập bằng tiếng Việt hoặc tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Nếu sử dụng tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì trong hợp đồng phải ghi rõ ngôn ngữ nào được ưu tiên, nếu cách diễn đạt giữa tiếng Việt và tiếng nước ngoài có sự khác biệt vì các lý do sau:
    Trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, văn bản thỏa thuận đại lý phải được lập bằng tiếng Việt do các cơ quan nhà nước Việt Nam sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt.
    Nếu phát sinh tranh chấp hợp đồng và các bên yêu cầu tòa án giải quyết hòa giải thì thỏa thuận đại lý Việt Nam sẽ thuận lợi hơn nhiều vì tòa án làm việc bằng tiếng Việt.

  • Sinh viên luật có cần giỏi tiếng anh không?

    Sinh viên luật có cần giỏi tiếng anh không?

    Một trong những sai lầm hiện nay không chỉ các bạn học sinh mắc phải mà cả các bạn sinh viên gặp phải đó là chỉ chú trọng đến kiến thức được thầy cô truyền tải trong quá trình học mà không quan tâm đến các kỹ năng cần thiết khác, trong đó có kỹ năng tiếng Anh. Khi lựa chọn học tập hay theo đuổi một ngành nghề thì luôn cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để phục vụ cho nhu cầu học tập và mục đích tương lai đó. Đặc biệt là trong thời đại kinh tế hội nhập như hiện nay, tiếng anh có vai trò hết sức quan trọng, vậy nhiều thắc mắc rằng Sinh viên luật có cần giỏi tiếng anh không? Bạn đọc hãy cùng Học viện đào tạo pháp chế ICA  tìm hiểu về vấn đề này nhé!

    Sinh viên luật có cần giỏi tiếng anh không?

    Pháp luật có vai trò quan trọng trong đời sống, pháp luật gắn liền với đời sống xã hội. Xã hội ngày càng phát triển thì tầm quan trọng thì càng thấy được sự quan trọng của pháp luật. Các trường đại học, cơ sở đào tạo ngành luật đều yêu cầu sinh viên có chứng chỉ tiếng anh: Toeic, Ielts,… khi tốt nghiệp, điều này cũng hiểu chứng chỉ tiếng anh có vai trò quan trọng như thế nào.

    Là sinh viên ngành luật bạn có nghĩ đến tình huống, người nước ngoài sẽ làm thế nào nếu gặp rắc rối ở Việt Nam. Chắc chắn cũng như bản thân chúng ta, người nước ngoài đó họ sẽ tìm đến pháp luật, tìm đến những văn phòng luật sư uy tín nhờ giúp đỡ. Những lúc như vậy, nếu không thể giao tiếp bằng tiếng Anh, sẽ không có tự tin để hỗ trợ khách hàng. Ngày nay, chỉ cần bước chân ra đường là có thể bắt gặp người nước ngoài khắp mọi nơi trên lãnh thổ nước ta.

    Vì vậy, việc nên trang bị tiếng Anh cho sinh viên ngành Luật là thật sự quan trọng và cần thiết. Đơn giản nhất, việc trả lời email của khách hàng là người nước ngoài mà không thể làm được thì chắc chắn, cơ hội việc làm sẽ thấp. Ngoài ra, mỗi quốc gia đều có bộ luật riêng cho công dân nước mình, cử nhân luật buộc phải thông thạo tiếng Anh để có thể nghiên cứu tài liệu nước ngoài, am hiểu một cách chuẩn xác nhất để đảm bảo tư vấn khách hàng một cách phù hợp.

    Bên cạnh đó, tiếng Anh càng trở nên cần thiết hơn đối với công việc của ngành Luật Kinh tế. Đa số các công ty lớn hiện nay đều có không ít đối tác là các công ty nước ngoài, buộc họ phải nắm vững kiến thức về luật pháp kinh doanh, và thường xuyên trao đổi, thỏa thuận công việc tiến tới kí kết hợp đồng thương mại với đối tác. Khi đó, là một chuyên viên chịu trách nhiệm tư vấn pháp lý cho công ty, bạn phải thực hiện những công việc đó.  

    Theo đó, nếu đã chọn ngành Luật, không những chỉ phải trau dồi thật tốt tiếng Anh chuyên ngành mà còn phải thông thạo tiếng Anh giao tiếp nếu mong muốn được trải nghiệm môi trường công việc năng động và chuyên nghiệp với mức lương hấp dẫn.

    Sinh viên luật có cần giỏi tiếng anh không

    Sinh viên luật có cần chứng chỉ tiếng Anh, tin học hay không?

    Khi định hướng nghề nghiệp của cử nhân Luật sẽ làm việc theo con đường làm nhà nước như công tác ở Viện kiểm sát, Toàn án hay tại cơ quan thi hành án,..thì việc sử dụng ngoại ngữ hay tin học có thể không nhiều nên các thông tin tuyển dụng ở các cơ quan này thường ít khi đề cập đến các chứng chỉ ngoại ngữ. Tuy nhiên khi xác định hướng làm việc ở các doanh nghiệp hay các văn phòng – công ty Luật có mối quan hệ với nước ngoài thì có một chứng chỉ ngoại ngữ hay một chứng chỉ tin học quốc tế giúp bạn ghi điểm trong mắt các nhà tuyển dụng và có một mức lương cao, hậu hĩnh, tương xứng với năng lực của mình.

    Trong trường hợp, nếu doanh nghiệp có hợp tác với đối tác nước ngoài thì các hợp đồng, văn bản cần phải có song ngữ, mà không phải công ty hay văn phòng luật nào hiện nay cũng có 1 bộ phận dịch thuật riêng, thì việc của cử nhân luật ở phòng pháp chế hay bản thân là một chuyên viên pháp lý thì phải hỗ trợ soạn thảo các hợp đồng văn bản đó cả ở tiếng Việt và tiếng Anh, như vậy sẽ đỡ mất thời gian và chi phí để doanh nghiệp mang ra nơi khác dịch thuật.

    Là một người học luật thì việc đàm phán hợp đồng nằm trong phạm vi hoạt động của bạn, trong trường hợp cần đàm phán các điều khoản với đối tác nước ngoài thì bạn cần có vốn ngoại ngữ “đủ dùng” để có thể đi đến kết quả tốt cho việc ký kết hợp đồng

    Có thể thấy rằng, doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, và họ lúc nào cũng muốn sử dụng một người đã được trang bị các kiến thức căn bản như tin học để có thể dễ dàng nắm bắt được công việc và làm việc hiệu quả, các nhà tuyển dụng không hề muốn tốn thời gian để đào tạo lại cho bạn những kiến thức căn bản mà đáng lẽ ra bạn đã phải biết từ lâu rồi.

    Khi không có những bằng cấp, chứng chỉ đó thì sao ?

    Câu trả lời là không sao, nếu bạn tự bồi dưỡng khả năng ngoại ngữ và tin học của bạn, tự tin thể hiện nó ở buổi phỏng vấn, nhà tuyển dụng họ không phải cần những tấm bằng đó để làm đẹp hồ sơ nhân viên của họ mà đơn giản chỉ vì họ muốn tiết kiệm thời gian sàng lọc các ứng viên, các chứng chỉ đó là minh chứng cho quá trình học tập của bạn và khi nhìn vào họ sẽ không phải tốn thời gian để test năng lực anh văn hay tin học của bạn thêm lần nữa.

     Lời khuyên ở đây là mặc dù khả năng thực tế của bạn quan trọng hơn rất nhiều so với các loại bằng cấp, chứng chỉ, nhưng nhà tuyển dụng sẽ không thể biết được khả năng của bạn tới đâu nếu chưa tiếp xúc với bạn mà chỉ có thể xem trước các hồ sơ xin việc mà tiến hành sàng lọc, do đó các chứng chỉ đó có thể sẽ là bước đệm giúp bạn dễ dàng đi đến buổi phỏng vấn cùng nhà tuyển dụng. Nếu có thời gian và khả năng, bạn nên ôn luyện và “thủ” sẵn vài chứng chỉ có giá trị quốc tế để có thể thuận lợi trong quá trình xin việc và có mức thu nhập hài lòng.

    Học tiếng Anh chuyên ngành Luật như thế nào?

    Khi muốn học tiếng Anh giao tiếp thông thường, bạn có thể tham gia các khóa luyện toeic hoặc tự luyện bằng cách học trên các kênh thông tin tiếng Anh cộng với tham gia các câu lạc bộ tiếng Anh, đặc biệt là các câu lạc bộ có người nước ngoài thì càng thuận lợi. Việc thường xuyên trao đổi bằng tiếng Anh sẽ giúp kỹ năng nghe nói của bạn tăng lên rõ rệt.

    Khi muốn học tiếng anh chuyên ngành Luật, trước mắt, các bạn sinh viên nên học cách làm quen với từ vựng chuyên ngành bằng cách tham khảo các tài liệu về luật pháp của Việt Nam được viết bằng tiếng Anh rồi đến các tài liệu về luật pháp các quốc gia sử dụng tiếng Anh. Bạn phải học những từ ngữ tổng quát của ngành Luật trước, sau đó mới đi vào chuyên sâu từ vựng của các chuyên ngành cụ thể như Luật Dân sự hay Luật Kinh tế,…

    Đối với văn bản của ngành Luật bắt buộc phải trang trọng, rành mạch vì thế các bạn nên tham khảo thêm các mẫu văn bản hành chính, luyện nghe chương trình thời sự bằng tiếng Anh, đọc báo, nghe các thông tin chuyên ngành bằng tiếng Anh

    Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung Sinh viên luật có cần giỏi tiếng anh không?. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.

    Câu hỏi thường gặp:

    Sịnh viên Luật cần có những ký năng gì?

    Kỹ năng giao tiếp
    Kỹ năng tra cứu văn bản, tiếp cận và tư duy logic
    Kỹ năng phân tích, xử lý thông tin, xử lý tình huống
    Kỹ năng làm việc nhóm
    Tư duy phản biện và kỹ năng tranh luận

    Ngành luật học mấy năm?

    Cũng giống như đa số các ngành đại học chính quy khác, ngành Luật có thời gian đào tạo 4 năm. Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp cử nhân Luật ở Việt Nam chưa chính thức được gọi là Luật sư bởi họ còn phải tham gia một lớp đào tạo luật sư để nhận được chức chỉ hành nghề Luật sư.

  • Tốt nghiệp Học viện tòa án ra làm gì?

    Tốt nghiệp Học viện tòa án ra làm gì?

    Vào thời điểm hiện tại, khi gần đến kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông thì thông tin về tuyển sinh các trường đại học, cao đẳng được các bạn học sinh quan tâm lên trên cả. Việc tìm hiểu và có định hướng về một ngôi trường đại học sẽ giúp cho bản thân có mục tiêu phấn đấu và hết sức quan trọng đối với ngành nghề trong tương lai. Học viện tòa án là một ngôi trường được tìm kiếm nhiều trong thời gian qua, bên cạnh các thông tin tuyển sinh thì thắc mắc rằng “Học viện tòa án ra làm gì“. “Tốt nghiệp Học viện tòa án có dễ xin việc không?”. Bạn đọc hãy cùng Học viện đào tạo pháp chế ICA  tìm hiểu về vấn đề này tại nội dung bài viết sau nhé!

    Tổng quan về Học viện tòa án

    Học viện Tòa án nhân dân với tên gọi tiếng anh là Vietnam Court Academy (VCA), có tiền thân là trường Cán bộ Tòa án trực thuộc tòa án nhân dân tối cao. Học viện Tòa án nhân dân là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao. Học viện Tòa án nhân dân tọa lạc tại địa chỉ quốc lộ 17, xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

    Tốt nghiệp Học viện tòa án ra làm gì?

    Câu hỏi học viện tòa án ra trường làm gì là một câu hỏi được tìm kiếm nhiều nhất của các bậc phụ huynh và học sinh đang tìm hiểu và có khuynh hướng muốn cho con mình vào học. Sinh viên tốt nghiệp trường học viện tòa án có thể làm những công việc sau:

    Tốt nghiệp học viện toà án ra làm gì?

    Chuyên viên tại cơ quan pháp luật nhà nước

    Học viện Tòa án nhân dân là cơ sở giáo dục trực thuộc tòa án nhân dân nên khi học viên sau tốt nghiệp Học viện có thể làm việc tại các cơ quan Tòa án cao cấp với các vị trí như: luật sư, kiểm sát viên, thư ký tòa án, thẩm phán,… với chương trình đào tạo được đánh giá cao. Bên cạnh đó, sinh viên Học viện tòa án có thể chọn làm chuyên viên tại các cơ quan pháp luật nhà nước. Các cơ quan pháp luật nhà nước như là Cơ quan thi hành án, các trụ sở công an, Viện Kiểm sát nhân dân,… hay là các cơ quan nhà nước thuộc trung ương đến địa phương, các tổ chức Đảng, chính trị…

    – Báo cáo viên pháp luật: đây là vị trí cán bộ, công viên chức và sỹ quan làm việc trong các cơ quan có thẩm quyền, có chức năng hoạt động và kiêm nhiệm các hoạt động giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật. Điều quan trọng rằng, khi muốn trở thành báo cáo viên pháp luật thì phải phẩm chất đạo đức tốt, tư tưởng vững vàng, ý chí kiên định và đặc biệt là khả năng truyền đạt, giao tiếp tốt. Khi muốn ứng tuyển vào vị trí này thì bạn phải có bằng cử nhân chính quy và có ít nhất 2 năm kinh nghiệm với vị trí liên quan. 

    – Công chức, viên chức pháp chế: đây là vị trí làm việc tại các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các đơn vị, cơ quan thuộc Chính phủ hay đơn vị, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Đây được coi là một vị trí thuộc ngạch công chức, tương đương với bằng cử nhân luật trở lên. 

    – Chấp hành viên: Đây là vị trí làm việc cấp cao của Nhà nước, mang tính chủ thể đại diện quyền lực cho công tác tổ chức thi hành án dân sự

    – Ngoài ra, sinh viên Học viện Tòa án nhân dân có thể làm việc với các vị trí khác như: trợ ly luật sư, trợ giúp viên pháp lý….

    Chuyên viên pháp lý tại các cơ quan doanh nghiệp
    Hiện nay, sinh viên có quan ngại xin việc tại các cơ quan nhà nước bởi điều kiện ngày càng khó đáp ứng và mức lương thấp nên việc trở thành chuyên viên pháp lý tại các cơ quan, doanh nghiệp tư nhân là một lựa chọn phù hợp. Đa số các doanh nghiệp hiện nay đều hoạt động liên quan trong các lĩnh vực pháp lý như Tài chính – ngân hàng, tín dụng, bất động sản… và rất cần các chuyên gia pháp lý thông thạo pháp luật để tư vấn, tham mưu, hỗ trợ,… trong các công việc kinh doanh. 
    Để trở thành một chuyên viên tư vấn pháp luật thì điều kiện tối thiểu là công dân và đang sinh sống tại Việt Nam, có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt, có hành vi dân sự đầy đủ, có hồ sơ cá nhân sạch,…  cũng tấm bằng cử nhân luật chính quy.

    Giảng dạy tại các cơ sở giáo dục
    Sinh viên sau khi tốt nghiệp tại Học viện Tòa án nhân dân có thể trở thành giảng viên giảng dạy tại các cơ sở giáo dục và đào tạo, giảng dạy chuyên sâu cho những lĩnh vực liên quan đến hành chính, chính trị và pháp luật,… Các cơ sở giáo dục có thể xin việc đó chính là các trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp, các trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ về chính trị, các viện nghiên cứu chính trị,… Hoặc khi có đủ điều kiện thì bạn có thể trở thành giảng viên của chính ngôi trường mà mình theo học.

    Để trở thành giảng viên thì bạn cần có kiến thức chuyên môn chuyên sâu, có nghiệp vụ sư phạm và có bằng Thạc sĩ chuyên ngành trở lên thì mới được chấp nhận. 
    Làm việc tại các tổ chức phi chính phủ
    Làm việc tại các cơ quan tổ chức phi chính phủ hiện đang dần trở thành xu hướng của giới trẻ bởi làm việc ở đây thì chúng ta sẽ được làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp, hiện đại, mức thù lao khủng và có nhiều cơ hội làm việc với các đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, điều kiện để được làm việc tại các cơ quan tổ chức phi chính phủ cũng rất cao, tối thiểu là khả năng ngoại ngữ, trình độ chuyên môn và các kỹ năng mềm.

    Như vậy, đã có giải đáp với thắc mắc Học viện tòa án ra làm gì?

    Học ở Học viện Tòa án có phải xin việc không?

    Như đã phân tích trong nội dung nêu trên, khi tốt nghiệp Học viện Tòa án, sinh viên có thể làm việc tại Tòa án và một số cơ quan khác và điều đó không có nghĩa là Nhà trường sẽ cung ứng việc làm cho các em sau khi ra trường, mà các sinh viên phải tự đi xin việc. Tuy nhiên, sinh viên tốt nghiệp Học viện Tòa án sẽ được ưu tiên tuyển dụng làm việc tại các cơ quan Tòa án.

    Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung Tốt nghiệp Học viện tòa án ra làm gì. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.

    Câu hỏi thường gặp:

    Hình thức xét tuyển của Học viện tòa án như thế nào?

    Học viện Tòa án nhân dân thông qua 2 hình thức xét tuyển như sau: 
    – Xét tuyển dựa trên kết quả học tập THPT: tổ hợp các môn xét tuyển là A00, A01, C00, D01 với tổng điểm 3 môn từ 24 điểm trở lên và có hạnh kiểm tốt. Ngoài ra, Học viện còn xét tuyển dựa vào kết quả tổng kết cuối cùng của 3 năm học THPT với học lực giỏi và hạnh kiểm tốt.
    – Xét tuyển dựa trên kết quả thi THPT quốc gia với các tổ hợp A00, A01, C00, D01.

    Thông tin về vòng sơ tuyển Học viện tòa án như thế nào?

    Học viện Tòa án cũng có vòng sơ tuyển như các trường quân đội, công an với yêu cầu cụ thể như sau:
    – Thí sinh nam có chiều cao từ 160cm, cân nặng từ 48-80kg. Thí sinh nữ có chiều cao từ 155cm, cân nặng từ 45-60kg.
    – Thí sinh không có đặc điểm dị hình, khuyết tật, không nói lắp, nói ngọng, không quá 22 tuổi và không mắc các bệnh nan y, truyền nhiễm.
    – Thí sinh phải là Đoàn viên hay Đảng viên, có phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị tốt, tư tưởng lập trường vững vàng.
    – Hồ sơ lý lịch các thân nhân trong gia đình sạch sẽ, không có ai vi phạm pháp luật, hình sự.
    – Các thí sinh không được tham gia vòng sơ tuyển của Học viện Tòa án nhân dân khi đã tiến hành sơ tuyển tại Tòa án nhân dân.

  • Hợp đồng mua bán hàng hóa – Tải miễn phí

    Hợp đồng mua bán hàng hóa – Tải miễn phí

    Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng rất phổ biến hiện nay. Hợp đồng mua bán hàng hóa (giao nhận hàng hóa) là sự thỏa thuận giữa các bên quy định bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và chấp nhận thanh toán. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, giao hàng và đứng tên hàng hóa theo thỏa thuận. Sau đây, chúng tôi sẽ giới thiệu đến bạn đọc hợp đồng mua bán hàng hóa, bạn đọc có thể tham khảo và tải xuống trong bài viết dưới đây nhé!

    Tải xuống mẫu hợp đồng mua bán hàng hóa

    Nội dung cần có trong hợp đồng mua bán hàng hóa

    1. Phạm vi hợp đồng: Hợp đồng yêu cầu thông tin chi tiết để xác định phạm vi hợp đồng và vai trò trong hợp đồng mua bán.
    2. Đối với các bảo đảm hoặc hợp đồng có sự tham gia của bên thứ ba, cần xác định rõ thông tin của các bên này trong quá trình thực hiện hợp đồng hoặc giải quyết tranh chấp hợp đồng.
    3. Giá Mua Bán: Giá mua bán tự do thương lượng, nhưng căn cứ để định giá cao hay thấp không phải là yếu tố mang tính biểu thị, ngoại trừ trường hợp thỏa thuận giá cao gấp 10, 20 lần giá bán thông thường của món hàng, cưỡng chế kinh doanh là căn cứ hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu.
    4. Phương thức và thời gian thanh toán: Các bên phải ghi rõ phương thức thanh toán (chuyển khoản hay tiền mặt) và thời gian thanh toán cụ thể kèm theo số tiền thanh toán cho từng đợt. Để bảo đảm, các bên có thể mở LC hoặc sử dụng bảo lãnh của ngân hàng để thanh toán.
    5. Thời hạn giao hàng: Bên mua phải chỉ ra các điều kiện đi kèm và thời điểm cụ thể trong quá trình mua bán để bên bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo các điều khoản của hợp đồng.
    6. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên: Các bên phải đưa ra nghĩa vụ của mình trước, trong và sau khi thực hiện hợp đồng và đối với bất kỳ sự chấm dứt cụ thể nào.
    7. Các điều kiện ràng buộc trách nhiệm pháp lý: Hai bên có thể thấy trước các tình huống mà bên kia có thể lợi dụng để không thực hiện hợp đồng của mình mà có thể đặt ra các điều khoản phù hợp. Ví dụ, trách nhiệm của người mua đối với việc không thanh toán theo hợp đồng hoặc trách nhiệm của người bán đối với việc không giao hàng.
    8. Thời hạn thực hiện hợp đồng: Hợp đồng phải ghi rõ ngày có hiệu lực và ngày chấm dứt hoặc lý do chấm dứt.
    9. Điều khoản giải quyết tranh chấp: Tranh chấp có thể được giải quyết bằng cách đưa ra tòa án có thẩm quyền hoặc trọng tài thương mại.

    Hướng dẫn soạn thảo mẫu hợp đồng mua bán hàng hóa

    Hợp đồng mua bán hàng hóa

    Điều kiện của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa

    Các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể, nhưng thường là thể nhân và/hoặc pháp nhân.

    Trường hợp một hoặc cả hai bên là pháp nhân thì hợp đồng phải có các thông tin cơ bản sau:

    • Tên công ty
    • Thẻ đăng ký/Bằng lái xe

    Nếu luật pháp nhân quy định phải có sự đồng ý thì mới giao kết hợp đồng (thường có giá trị lớn)

    Nếu pháp luật của pháp nhân quy định về việc ký kết hợp đồng bởi cơ quan kiểm soát nội bộ (ví dụ: hội đồng thành viên, đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quản trị của công ty cổ phần), hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có thể được kết luận theo cách tương tự, được chấp thuận.

    Nếu một bên hoặc các bên là cá nhân thì hợp đồng phải có các thông tin cơ bản sau:

    • Họ và tên
    • Ngày sinh
    • Giới tính
    • Nhận biết
    • Địa chỉ
    • Số điện thoại

    Nếu bên ký hợp đồng là cá nhân thì bạn phải đảm bảo rằng người đó đủ tuổi theo luật định và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Nếu không, hợp đồng có thể trở nên vô hiệu. Hãy xem xét trường hợp sau đây.

    Lưu ý: Luật và quy định về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng

    Cả hai bên phải đồng ý về các lĩnh vực không phù hợp dựa trên các điều khoản dưới đây.

    Hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng loại.

    Hàng hóa không phù hợp cho một mục đích cụ thể mà người mua đã cho người bán biết hoặc người bán lẽ ra phải biết vào thời điểm ký kết hợp đồng;

    Hàng không đạt chất lượng so với mẫu do bên bán cung cấp cho bên mua.

    Sản phẩm không được bảo quản, được đóng gói theo cách thông thường đối với loại sản phẩm này hoặc được đóng gói theo cách không phù hợp để bảo quản sản phẩm vì không có cách bảo quản thông thường.

    Điều kiện đổi trả sản phẩm:

    Hợp đồng mua bán sản phẩm phải ghi rõ đơn giá, số lượng, giá cả.

    Trường hợp các bên tham gia hợp đồng là thể nhân, pháp nhân Việt Nam thì đồng tiền thanh toán trong hợp đồng là VND theo quy định tại Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN. Mặt khác, hợp đồng vi phạm các điều cấm của pháp luật và bị tuyên bố vô hiệu

    Câu hỏi thường gặp:

    Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa là gì?

    Theo quy định tại mục 24 Bộ luật thương mại 2005:
    Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được giao kết bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng hành vi pháp lý đặc biệt.
    Các loại hợp đồng mua bán

    Ngôn ngữ của hợp đồng mua bán hàng hoá như thế nào?

    Hợp đồng phải được giao kết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Nếu bạn sử dụng tiếng Việt và tiếng nước ngoài,
    Hợp đồng phải ghi rõ ngôn ngữ nào sẽ được ưu tiên áp dụng nếu có sự khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng nước ngoài vì nhiều lý do.
    ở phía sau:
    Khi thực hiện các thủ tục hành chính yêu cầu phải nộp hợp đồng thì hợp đồng mua bán hàng hóa phải được cơ quan có thẩm quyền cấp bằng tiếng Việt.
    Các cơ quan chính phủ Việt Nam sử dụng tiếng Việt.
    Nếu có tranh chấp về hợp đồng và các bên yêu cầu tòa án giải quyết thì hợp đồng mua bán hàng hóa bằng tiếng Việt có lợi.
    Phần lớn công việc của tòa án được thực hiện bằng tiếng Việt.

  • Bài tập tình huống tội cố ý gây thương tích

    Bài tập tình huống tội cố ý gây thương tích

    Học viện đào tạo pháp chế ICA tổng hợp các bài tập tình huống luật hình sự về tội cố ý gây thương tích (có lời giải) thường gặp trong các bài thi kết thúc học phần, bạn đọc có thể tham khảo để có thêm các kiến thức bổ ích, phục vụ trong quá trình học tập của mình.

    Tình huống 1

    Ngày 20/9/2018, anh C là thợ xây đến ăn cơm, uống rượu tại nhà anh trai. Khoảng 21 giờ cùng ngày, trên đường về nhà, C gặp D bạn cùng xóm. Thấy C say rượu, D nói: “Say thế này cậu nên về nhà ngay đi, đừng lang thang ngoài đường nữa, bị gió thì nguy hiểm lắm!”. C nghe thấy vậy thì cho rằng D lên lớp dạy đời mình nên doạ đánh D. Lúc đó bà Y (71 tuổi) là người cùng xóm đi ngang qua, thấy vậy liền khuyên can: “D nó nói đúng đó, thôi về đi”. C liền buông lời chửi bới, đuổi bà Y đi và doạ: “Không việc gì đến bà, nếu bà không im mồm tôi sẽ đánh chết”. Bà Y vội bỏ đi thì bị C bám theo tát hai cái vào vùng mang tai, thái dương và đá một cái vào sườn làm bà ngã xuống đất, đầu đập vào tảng đá ở đường bất tỉnh. Thấy vậy, C và D chạy đến báo công an xã, sau đó C bỏ trốn. Bà Y được mọi người đưa đến bệnh viện cấp cứu, nhưng mấy ngày sau thì tử vong. Ngày 10/10/2018 thì C đến cơ quan công an đầu thú. 

    Hỏi: 

    a. Hành vi của C phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao? 

    b. Xác định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể áp dụng đối với C trong tình huống nêu trên? 

    c. Giả sử bà Y sau khi được cấp cứu tại bệnh viện đã không chết mà chỉ bị thương tật 43% thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với C có thay đổi hay không? Vì sao?

    Bài tập tình huống tội cố ý gây thương tích

    Giải đáp:

    a. Hành vi của C phạm tội gì? Theo quy định tại điều, khoản nào của BLHS? Vì sao? 

    Theo tình huống trên, hành vi của C phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác làm chết người theo điểm a, khoản 4, Điều 134 BLHS 2015. 

    Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm 

    – Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Bộ Luật hình sự. Người phạm tội ở đây là anh C mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (bà Y). 

    Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức khỏe: Trong tình huống trên anh C không sử dụng công cụ, phương tiện nào để phạm tội mà dùng tay tát hai cái vào vùng mang tai, thái dương và dùng chân đá một cái vào sườn bà Y làm bà ngã xuống đất, đầu đập vào tảng đá. Tuy tay và chân không phải là công cụ phạm tội nhưng vẫn có thể gây ra thương tích nguy hiểm. Ở đây, do cú đá của C tác động lên sườn của bà Y khiến bà ngã đập đầu xuống đất và chết. 

    Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công: Trong tình huống, cường độ tấn công của anh C là tát 2 cái và đạp 1 cái, những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn nhân (bà Y), có thể nói đây là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.

    – Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác dẫn đến chết người được quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 134 BLHS 2015. 

    Sau khi bà Y ngã xuống đất đập đầu vào tảng đá ở đường bất tỉnh. Lúc này chỉ là gây thương tật, do tuổi già sức yếu nên sau vài ngày ở viện thì bà tử vọng. 

    Thứ hai, chủ thể của tội phạm

    Anh C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. 

    Thứ ba, khách thể của tội phạm

    Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe. 

    Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm 

    Anh C mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Trong trường hợp này, C thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. 

    b. Xác định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể áp dụng đối với C trong tình huống nêu trên? 

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có thể áp dụng với C trong tình huống: Ngày 10/10/2018, C đến cơ quan công an đầu thú, tức là C sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình, do đó có thể áp dụng Khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho C. 

    Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể áp dụng với C trong tình huống:

    Một là, phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 “Có tính chất côn đồ” là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người. Hành động của chúng thường là xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, danh dự người khác, gây gổ hành hung người khác một cách vô cớ hoặc vì một duyên cớ nhỏ nhặt…

    Trong tình huống, bà Y chỉ là một người không liên quan đi ngang qua và khuyên can chuyện của D và C nhưng C thấy vậy lại chửi bới, dọa dẫm: “Nếu bà không im mồm tôi sẽ đánh chết” và khi bà Y bỏ đi rồi thì C còn cố ý bám theo để gây thương tích cho bà Y. Hành động của C là hành động coi thường pháp luật, vô cớ vì một duyên cớ nhỏ nhặt mà gây gổ hành hung, dùng vũ lực xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bà Y. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tính chất côn đồ đối với hành vi phạm tội của C.

    Hai là, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người từ đủ 70 tuổi trở lên (quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 52 BLHS).

    Trong tình huống, bà Y đã 71 tuổi là người già do đó điều kiện khả năng chống cự lại yếu nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho C là phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên, thể hiện rõ mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của C.

    c. Giả sử bà Y sau khi được cấp cứu tại bệnh viện đã không chết mà chỉ bị thương tật 43% thì tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với C có thay đổi hay không? Vì sao?

    Về tội danh:

    Giả sử bà Y sau khi được cấp cứ tại bệnh viện đã không chết mà chỉ bị thương tật 43% thì tội danh đối với C cũng không có sự thay đổi mà vẫn là tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS. Tuy nhiên, khung hình phạt áp dụng đối với C sẽ có sự thay đổi vì hậu quả xảy ra không nghiêm trọng như trường hợp bà Y chết. 

    Về khung hình phạt:

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134 BLHS khung hình phạt đối với C là từ 2 năm đến 6 năm tù. Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với C là 6 năm tù có thể thấy hành vi của C trong trường hợp này thuộc vào loại tội phạm nghiêm trọng.

    Còn so với việc C gây thương tích cho bà Y dẫn đến hậu quả bà Y chết thì C bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 4 Điều 134 BLHS, khung hình phạt đối với C trong trường hợp này là từ 7 năm đến 14 năm tù. Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với C là 14 năm tù có thể thấy hành vi của C trong trường hợp này thuộc vào loại tội phạm rất nghiêm trọng. Chính vì vậy nếu giả thiết đặt ra bà Y chỉ bị thương tật 43 % mà không chết thì khung hình phạt của C sẽ được giảm đi.

    Tình huống 2:

    Ngày 29/4/2018, anh A và chị B đang ngồi chơi tại công viên M thì có C và D đến có hành vi trêu đùa chị B nên anh A đã nói với C và D là đi chỗ khác thì C và D đã lao vào dùng tay đấm vào người anh A. Bị C và D tấn công dồn ép vào tường rào công viên nên anh A rút con dao nhọn đem theo người đâm 01 phát trúng vào đùi của C (hậu quả: Trên đường đi cấp cứu do mất nhiều máu nên C tử vong). Sau khi vụ việc xảy ra Cơ quan điều tra đã trưng cầu kết luận giám định thương tích đối với A và D là 0%.

    Hỏi: Trong tình huống này anh A phạm tội gì? Vì sao?

    Giải đáp:

    Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm 

    – Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Bộ Luật hình sự. Người phạm tội ở đây là anh A mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe anh C. 

    – Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức khỏe: Trong tình huống trên anh A rút con dao nhọn đem theo người chỉ đâm 1 phát trúng vào đùi C, không phải vùng trọng yếu trên cơ thể. Mặt khác A cũng không mong muốn tước đoạt tính mạng của C. 

    – Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác dẫn đến chết người được quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 134 BLHS 2015. 

    Sau khi C bị đâm trúng vào chân thì do mất nhiều máu nên đã tử vọng. 

    Thứ hai, chủ thể của tội phạm

    Anh A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. 

    Thứ ba, khách thể của tội phạm

    Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe. 

    Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm 

    Anh A mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Trong trường hợp này, A thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Và anh A cũng không mong muốn tước đoạt tính mạng của C nên mặc dù C chết nhưng A không phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS mà hành vi của A phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ người khác dẫn đến chết người theo điểm a khoản 4 Điều 134 BLHS.

    Tình huống 3:

    Anh H đến nhà người quen đòi nợ số tiền 70 triệu đồng, trong quá trình nói chuyện hai bên đã xảy xa mâu thuẫn, cãi vã và lăng mạ nhau. Do không kìm chế được bản thân, anh H đã dùng gậy đánh trọng thương chủ nhà. Nạn nhân được đưa lên viện, xác định chấn thương ở đầu và nhiều bộ phận khác mức độ thương tích 15%. Sau khi gây án anh H đã bỏ trốn. Người nhà bệnh nhân đã làm đơn lên Công an phường để yêu cầu giải quyết. Như vậy H sẽ bị xử phạt như thế nào ?

    Giải đáp:

    Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm 

    – Hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Bộ Luật hình sự. Người phạm tội ở đây là anh H mong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của chủ nhà. 

    – Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức khỏe: Trong tình huống trên anh H đã dùng gậy đánh trọng thương chủ nhà.

    – Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác là làm chủ nhà bị thương với tỷ lệ thương tật là 15%.

    Sau khi C bị đâm trúng vào chân thì do mất nhiều máu nên đã tử vọng. 

    Thứ hai, chủ thể của tội phạm

    Anh H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định. 

    Thứ ba, khách thể của tội phạm

    Khách thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe. 

    Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm 

    Anh H mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác. Trong trường hợp này, H thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Và anh H cũng không mong muốn tước đoạt tính mạng của chủ nhà.

    Hành vi dùng gậy đánh trọng thương chủ nhà của anh H với mức độ thương tật 15% có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

    Trên đây là nội dung bài viết về “Bài tập tình huống tội cố ý gây thương tích”. Hy vọng có hữu ích cho bạn đọc.

    Câu hỏi thường gặp:

    Điều kiện hưởng án treo là gì?

    Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
    + Mức phạt tù không quá 03 năm;
    + Có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc;
    + Có từ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên; có nơi cư trú rõ ràng;
    + Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    Đồng phạm là gì?

    Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
    Trong đó, người đồng phạm bao gồm: 
    – Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
    – Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
    – Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
    – Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
    Ngoài ra, người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

  • Nên chọn học đại học hay trường nghề?

    Nên chọn học đại học hay trường nghề?

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ lao động, thương binh và xã hội cập nhật thị trường lao động hàng quý, hàng năm cho thấy, số người tốt nghiệp đại học trở lên thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao. Điều này đã khiến các bạn học sinh và các bậc phụ huynh rất trăn trở và đặt ra câu hỏi: Nên chọn học đại học hay trường nghề? Để tìm ra câu trả lời chính xác cho việc nên chọn học đại học hay trường nghề, Học viện đào tạo pháp chế ICA xin phân tích và đưa ra đánh giá của hai hình thức học này, kính mời bạn đọc tham khảo nội dung bài viết dưới đây để có thể đưa ra lựa chọn đúng đắn và sáng suốt cho bản thân, người thân.

    So sánh học đại học và học nghề

    Học đại học

    Học đại học là sự lựa chọn hàng đầu của các bậc phụ huynh khi các con sắp bước vào ngưỡng cửa kỳ thi tốt nghiệp THPT. Đây được coi là bước đệm tốt cho các bạn trẻ khi bắt đầu sự nghiệp.

    Ưu điểm của việc học đại học đó là:
    Thứ nhất, thời gian học đại học kéo dài từ 4 – 5 năm nên lượng kiến thức các bạn học được sẽ rất nhiều từ kiến thức cơ bản đến nâng cao, từ những môn đại cương cho đến các môn chuyên ngành, từ đó giúp bạn có thêm hiểu biết từ lý thuyết đến thực tiễn và kiến thức sâu, rộng.
    Thứ hai, môi trường đại học sẽ có rất nhiều các câu lạc bộ, các chương trình khác nhau và bạn có thể tham gia, từ đó bạn sẽ mở rộng mối quan hệ bạn bè của mình. Điều này giúp các bạn học hỏi những kiến thức, những kinh nghiệm từ các anh, chị, và các bậc tiền bối đi trước để chuẩn bị cho quá trình học tập và làm việc trong tương lai.
    Thứ ba, từ việc bạn tham gia các câu lạc bộ, các chương trình khác nhau ở trường đại học và thời gian đào tạo dài nên các bạn sinh viên có thể khám phá ra những điểm mạnh của mình thông qua các hoạt động và trải nghiệm. Điều này giúp các bạn phát triển bản thân mình hơn và có thể tìm ra được một hướng đi mới cho mình.
    Bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì việc học đại học cũng có nhược điểm:
    Thứ nhất, chương trình học đại học đặt nặng về lý thuyết mà ít chú trọng đến thực hành. Khiến cho các bạn sinh viên sau khi ra trường có cảm giác bị sốc vì công việc đi làm khác xa so với những gì mình đã được học trên giảng đường

    Nên chọn học đại học hay học nghề?

    Thứ hai, chi phí để theo học đại học khá cao. Vì thời gian học đại học kéo dài khiến cho chi phí của các đại học rất ca, chưa kể đến những chi phí khác như phí sinh hoạt, phó nhà ở,…Điều này khiến cho những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn khó lòng theo đuổi việc học được.

    Học trường nghề

    Ưu điểm:

    Thứ nhất, chương trình đào tạo nghề sát với thực tế. Trường nghề với chương trình học chú trọng rất nhiều vào việc thực hành cho các học viên. Vì vậy, các học viên được trang bị đầy đủ các kỹ năng để có thể làm việc ngay sau khi tốt nghiệp.

    Thứ hai, chi phí theo học tại trường nghề thấp hơn đại học rất nhiều vì thời gian đào tạo ngắn, có nhiều ngành đào tạo chỉ trong vòng 6 tháng – 1 năm. Vì vậy, chi phí mà học viên bỏ ra cũng rất thấp so với việc học đại học.

    Thứ ba, các học viên sau khi tốt nghiệp đều không cần pải lo lắng về vấn đề tìm kiếm việc làm. Vì các trường đào tạo đều liên kết với các doanh nghiệp để cung cấp các công việc cho học viên lựa chọn. Do đó, cơ hội việc làm của các học viên sau khi tốt nghiệp rất lớn.

    Nhược điểm:

    Thứ nhất, vì thời gian đào tạo ngắn nên sau khi tốt nghiệp học viên đi làm được ngay nên trong quá trình học, học viên cần phải chú tâm cao độ khi học và phải thực hành rèn luyện tay nghề mỗi ngày.

    Thứ hai, các bạn phải tự trang bị thêm cho mình những kỹ năng mềm để đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng.

    Nên học đại học hay trường nghề?

    Hầu hết mọi người đều sẽ nghĩ sau khi tốt nghiệp THPT, các em học sinh nên bước tiếp vào cánh cửa đại học. Họ cho rằng, với tấm bằng cử nhân, kỹ sư trong tay thì việc lập nghiệp không có gì là khó khăn, các em sẽ có một tương lai tươi sáng với công việc ổn định. Chính vì vậy, các bậc phụ huynh đều định hướng và các bạn học sinh đều lựa chọn muốn học đại học và học các trường hot.

    Tuy nhiên, thực trạng báo động hiện nay số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường thất nghiệp và làm trái ngành rất cao. Bên cạnh đó, các nhà tuyển dụng thường yêu cầu kỹ năng làm việc và kinh nghiệm, thâm niên trong nghề hơn là bằng cấp như trước đây. Đây là một thử thách lớn cho các bạn sinh viên bởi các trường đại học đa phần dạy lý thuyết nhiều hơn mà không có kinh nghiệm thực tiễn nên rất khó để tìm được việc làm mong muốn sau khi sinh viên tốt nghiệp. Điều này khiến các bạn sinh viên hoang mang, lo lằng về con đường tương lai phía trước, không biết nên chọn học đại học hay học nghề sẽ tốt hơn.

    Ngược lại học đại học thì khi học nghề các bạn học viên được tập trung đào tạo chuyên môn sâu, thực hành nhiều để nâng cao tay nghề cho người học. Biết rằng tấm bằng đại học là thể hiện trình độ học vấn của bản thân. Tuy nhiên, tấm bằng đó thực sự có ý nghĩa giá trị hay không là khi bạn vận dụng được những gì bạn học vào công việc, cuộc sống.

    Đại học là con đường dẫn đến thành công nhưng không phải là con đường duy nhất, sẽ còn có những con đường khác tốt hơn nếu như bạn xác định được đam mê và tiềm năng của bản thân. Chính vì thế, học đại học hay học nghề đều tốt, quan trọng là bạn yêu thích và nỗ lực hết mình với lựa chọn của bản thân.

    Nên học gì khi không học đại học?

    Nếu bạn lựa chọn không học đại học thì bạn có thể lựa chọn học nghề, hiện nay có rất nhiều nghề hấp dẫn với cơ hội việc làm rất cao.

    Nghề thẩm mỹ, làm đẹp.

    Xã hội ngày càng phát triển hiện đại, nhu cầu làm đẹp của con người ngày càng tăng cao nên những cơ sở thẩm mỹ viện luôn là nơi tạo ra nhiều công ăn việc làm cho các bạn chuyên viên thẩm mỹ có tay nghề cao. Học thẩm mỹ, làm đẹp cũng không mất nhiều thời gian, thời gian học chỉ mất khoảng vài tháng, học viên được đào tạo lý thuyết song song với thực hành, vừa tiết kiệm thời gian, tiền bạc, vừa có kỹ năng nghề tốt.

    Nghề thiết kế, lập trình web

    Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ số, thời đại mà công nghệ thông tin rất phát triển. Vì vậy, trở thành một người thiết kế, lập trình web luôn là xu hướng được nhiều người hướng đến để phát triển trong tương lai.

    Nghề thiết kế đồ họa

    Các doanh nghiệp, tổ chức luôn muốn tạo cho mình những nét riêng, ấn tượng riêng trong từng sản phẩm hàng hóa, nhãn hiệu của mình để thu hút khách hàng. Vì vậy, thiết kế đồ họa trở thành một nghề hấp dẫn với cơ hội việc làm rất cao. Nếu bạn có năng lực thì sẽ được các công ty nhận làm sau khi ra trường mà không cần yêu cầu quá cao về bằng cấp.

    Điện

    Thật khó để nói rằng cuộc sống của chúng ta hiện nay sẽ ra sao nếu không có điện, vì vậy, ngành điện luôn là một trong những ngành nghề được nhiều người lựa chọn khi học nghề. Sau khi tốt nghiệp, các bạn học viên có thể làm việc trong các nhà máy điện hoặc trong các công trình xây dựng.

    Trên đây là nội dung tư vấn về vấn đề: “Nên chọn học đại học hay trường nghề?”. Hy vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.

    Câu hỏi thường gặp:

    Nữ nên học nghề gì?

    Các ngành nghề phù hợp với nữ giới để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn nhất đó là:
    – Ngành nghề liên quan đến viết lách;
    – Nghề kế toán;
    – Nghề dịch vụ;
    – Nghề thẩm mỹ, làm đẹp;
    – Ngành nhân sự, tuyển dụng,…

    Nam nên học nghề gì?

    Một số nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong vài năm tới và đáng cân nhắc để các bạn nam tham khảo đó là:
    – Digital Marketing;
    Nữ nên học nghề gì? Các ngành nghề phù hợp với nữ giới để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn nhất đó là:
    – Ngành nghề liên quan đến viết lách;
    – Nghề kế toán;
    – Nghề dịch vụ;
    – Nghề thẩm mỹ, làm đẹp;
    – Ngành nhân sự, tuyển dụng,…
    Nam nên học nghề gì? Một số nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong vài năm tới và đáng cân nhắc để các bạn nam tham khảo đó là:
    – Digital Marketing;
    – Cơ khí;
    – Công nghệ thông tin;
    – Kỹ thuật pha chế đồ uống;
    – Đầu bếp;
    – Nghiệp vụ Nhà hàng Khách sạn,…

  • Bài tập tình huống cấu thành tội phạm có đáp án

    Bài tập tình huống cấu thành tội phạm có đáp án

    Trong các loại trách nhiệm pháp lý thì trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất. Muốn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người hoặc một pháp nhân thì cần chứng minh được họ đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm. Muốn xác định một hành vi phạm tội hay không để truy cứu trách nhiệm hình sự cần xác định dựa vào việc hành vi phạm tội thực hiện đã thảo mãn hết các yếu tố cấu thành tội phạm được luật quy định chưa. Cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để hiểu rõ hơn về cấu thành tội phạm, hãy cùng Học viện đào tạo pháp chế ICA phân tích và đưa ra bài tập tình huống cấu thành tội phạm để bạn đọc tham khảo từ đó có thêm hiểu biết và kiến thức về vấn đề này.

    Lý thuyết về tội phạm và cấu thành tội phạm

    Khái niệm về phân loại tội phạm

    Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, theo đó, khái niệm tội phạm được hiểu là: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế nền văn hoá quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

    Phân loại tội phạm được quy định tại Điều 9 BLHS. Tội phạm được phân thành 4 loại:

    Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm (điểm a, khoản 1 Điều 9);

    Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù (điểm b, khoản 1 Điều 9);

    Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù (điểm c, khoản 1 Điều 9);

    Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (điểm d, khoản 1 Điều 9).

    Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như trên và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

    Khái niệm và phân loại cấu thành tội phạm

    Bài tập tình huống cấu thành tội phạm

    Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Cấu thành tội phạm phải có đầy đủ 4 yếu tố: yếu tố khách thể, yếu tố chủ thể, yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan.

    Việc phân loại cấu thành tội phạm dựa vào các tiêu chí sau:

    – Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, có 3 loại: cấu thành tội phạm cơ bản; cấu thành tội phạm tăng nặng; cấu thành tội phạm giảm nhẹ.

    – Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc trong mặt khách quan của CTTP, có 2 loại CTTP: cấu thành tội phạm hình thức; cấu thành tội phạm vật chất.

    Bài tập tình huống về cấu thành tội phạm

    Tình huống 1:

    Anh L sinh năm 1957 và chị M là vợ chồng chung sống với nhau có 02 con chung. Khoảng tháng 7/2018, giữa anh L và chị M xảy mâu thuẫn vì anh L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là anh H nên anh L bỏ nhà đến ở nhờ nhà anh T (là cháu L).

    Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/10/2018, chị M nhờ anh K (là cháu chị M) chở bằng xe mô tô đến nhà anh T để đòi tiền L vì trước đó chị M có cho anh T mượn 3.000.000 đồng và anh T đã trả tiền cho L. Do L không có nhà nên chị M và anh K đi về. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày chị M và anh K tiếp tục đến tìm L. Khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc xô xát, L lấy tuýp sắt ở đống đồ nghề sửa chữa ca nô của anh T (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà tử vong tại chỗ. Lúc này, nhiều người chạy đến xô cửa để vào trong nhà nhưng do cửa khoá bên trong nên không vào được. Thấy vậy, anh S đã gọi điện cho Cảnh sát 113 và Công an phường đến lập Biên bản và bắt L.

    Được biết tội phạm mà L đã thực hiện là tội giết người tại khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

    1. Xác định các tình tiết trong cấu trúc của cấu thành tội phạm.

    2. Theo anh/chị, tội phạm mà anh L thực hiện thuộc loại tội phạm nào? Cơ sở pháp lý?

    3. Tội phạm mà anh L thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Tại sao?

    Đáp án:

    Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý:

    – Giữa anh L và chị M xảy mâu thuẫn vì anh L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là anh H;

    – Vì muốn đòi lại khoản tiền 3.000.000 đồng mà anh M trả cho L (tiền của M) nên khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau; L lấy tuýp sắt (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M tử vong;

    – Tội phạm mà anh L đã thực hiện là tội giết người tại khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

    Pháp luật liên quan cần áp dụng:

    – Khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015;

    – Khoản 1, Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015;

    1. Các tình tiết trong cấu trúc cấu thành tội phạm trên bao gồm tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết định khung giảm nhẹ. Cụ thể:

    – Tình tiết định tội: giữa anh L và chị M xảy mâu thuẫn vì anh L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là anh H. Và vì muốn đòi lại khoản tiền 3.000.000 đồng mà anh M trả cho L (tiền của M). Nên khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc xô xát, L lấy tuýp sắt đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và tử vong. Đây là tình tiết định tội giết người tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

    – Tình tiết định khung tăng nặng: Hành vi của anh L dùng tuýp sắt (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và bị chết ngay tại chỗ là hành vi phạm tội có tính chất côn đồ. Tình tiết này là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

    – Tình tiết định khung giảm nhẹ: Trong vụ án này không có tình tiết định khung giảm nhẹ.

    2. Căn cứ vào điểm d, khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm và căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 là hình phạt tử hình thì loại tội phạm mà anh L thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Tội phạm mà anh L thực hiện là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất. Bởi vì, tội phạm giết người là loại tội phạm mà cấu trúc trong mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi tước đoạt tính mạng của người khác và hậu quả chết người cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, được thể hiện trong dấu hiệu định tội của tội phạm này.

    Kết luận

    1. Các tình tiết trong cấu trúc cấu thành tội phạm trên bao gồm:

    Tình tiết định tội: anh L lấy tuýp sắt đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và bị chết ngay tại chỗ. Đây là tình tiết định tội giết người tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

    Tình tiết định khung tăng nặng: có tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015.

    2. Loại tội phạm mà anh L thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Tội phạm mà anh L thực hiện là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất.

    Tình huống 2:

    Vào khoảng 15 giờ ngày 18/5/2018, đối tượng T đi bộ đến cửa hàng kinh doanh trò chơi điện tử trên đường X, quận Y chơi thì gặp đối tượng  D. D rủ T đi cướp giật tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. T đồng ý. Đối tượng D điều khiển xe mô tô biển số 55P1-XXXX chở đối tượng T lưu thông qua nhiều tuyến đường. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến trước số nhà 10 Đường số 2, cư xá V, Phường Z, Quận 11 thì đối tượng D phát hiện thấy bà L đang dừng và ngồi trên xe sử dụng điện thoại nên chỉ cho đối tượng T thấy. Sau đó, đối tượng D điều khiển xe quay lại, từ phía sau vượt lên áp sát vào bên trái xe của bà L để đối tượng T dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu iphone 7 của bà L. Sau đó, đối tượng D tăng ga bỏ chạy. Bà L tri hô và điều khiển xe chạy đuổi theo. Khi đến trước siêu thị CoopMart ở góc đường V – Nguyễn Thị M, Quận 11 thì xe của đối tượng D va chạm với xe của người đi đường làm cho đối tượng T đánh rơi chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của bà L. Lúc này, đối tượng T nhảy xuống xe, chạy bộ được một đoạn thì bị bà L cùng người đi đường bắt giữ giao cho Công an Phường Z, Quận 11 lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang chuyển giao Công an Quận 11 xử lý. Riêng đối tượng D điều khiển xe chạy tẩu thoát. Đến ngày 19/5/2018 Công an Quận 11 bắt được đối tượng D.

    Được biết tội phạm mà T và D đã thực hiện là tội cướp giật tài sản tại điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.

    1. Theo anh/chị, tội phạm mà T và D thực hiện thuộc loại tội phạm gì? Cơ sở pháp lý?

    2. Dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hãy xác định loại CTTP mà T và D đã thực hiện?

    Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

    – D rủ T đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. T đồng ý;

    – Khi đang lưu thông trên đường bằng xe máy, D phát hiện thấy bà L đang dừng và ngồi trên xe sử dụng điện thoại nên chỉ cho đối tượng T thấy;

    – D điều khiển xe quay lại, từ phía sau vượt lên áp sát vào bên trái xe của bà L để đối tượng T dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu iphone 7 của bà L sau đó, đối tượng D tăng ga bỏ chạy;

    – Tội phạm mà T và D đã thực hiện là Tội cướp giật tài sản tại điểm d, Khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.

    Pháp luật liên quan cần áp dụng

    – Khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015;

    – Khoản 1, Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015.

    1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm, và căn cứ vào khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 về tội cướp giật tài sản với mức cao nhất của khung hình phạt là 10 năm tù, nên loại tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.

    2. Tội phạm mà T và D thực hiện bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “dùng thủ đoạn nguy hiểm” tại điểm d, khoản 2, Điều 171 BLHS năm 2015, nên tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm tăng nặng (ngoài dấu hiệu định tội thì người phạm tội có thêm tình tiết định khung, làm tăng nặng khung hình phạt).

    Kết luận

    1. Tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.

    2. Tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm tăng nặng.

    Trên đây là nội dung bài viết: “Bài tập tình huống cấu thành tội phạm”. Hy vọng bài viết hữu ích với bạn đọc

    Câu hỏi thường gặp:

    Khách thể của tội cố ý gây thương tích là gì?

    Khách thể của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe. Là quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người.

    Mặt chủ quan của tội giết người là gì?

    Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý. Lỗi cố ý này có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc là lỗi cố ý gián tiếp

  • Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải

    Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải

    Trên thực tế có thể nhận thấy rằng nhiều vụ án hình sự xảy ra với nhiều yếu tố tác động, hành vi vi phạm pháp luật có thể do một hai hai hoặc nhiều chủ thể tổ chức liên kết với nhau để cùng thực hiện. Khi đó để xác định được mức độ vi phạm thì cần có sự can thiệp của cơ quan điều tra. Trong pháp luật hình sự có quy định về đồng phạm là 02 người trở lên cùng cố ý thực hiện phạm tội đã được sắp xếp, bàn bạn từ trước… cụ thể quy định về vấn đề này ra sao, bạn đọc hãy cùng tham khảo nội dung bài viết Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải dưới đây của Học viện đào tạo pháp chế ICA nhé!

    Căn cứ pháp lý

    Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải

    Bài tập 1: M (nữ) cùng hai tên H và Q rủ L là một cô gái 17 tuổi cùng đi dự sinh nhật M tại một nhà nghỉ có phòng hát karaoke. Cả bốn cùng uống rượu, H và Q còn pha thuốc kích dục vào đồ uống của mình. Một lát sau M rủ H là bạn trai của mình lên phòng nghỉ và đề nghị L cũng vào phòng nghỉ thành một cặp với Q. Tuy nhiên L từ chối và đòi về. M, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ. Thấy L vẫn tiếp tục nằng nặc từ chối M đã rút con dao đặt lên bàn và đe dọa L. Sau đó Q đã thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của L.

    Hỏi: Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?

    Trong trường hợp phạm tội này M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.

    Trường hợp phạm tội này đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu về mặt chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Nhưng vềmặt chủ thể của tội phạm hiếp dâm ngoài những yêu cầu nói chung về năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi thì còn có dấu hiệu đặc biệt đó phải là nam giới, nếu là nữ giới thì nữ giới đóng vai trò là đồng phạm. Trong vụ án này M là nữ giữ vai trò là người đồng phạm của tội phạm hiếp dâm nên M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.

    Đồng phạm được quy định tại Điều 20 BLHS như sau:

    Điều 20:

    1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

    2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

    Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

    Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

    Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

    Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm..

    Trường hợp phạm tội của M, H và Q đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm bao gồm mặt khách quan và mặt chủ quan:

    Dấu hiệu về mặt khách quan: đó là phải có từ hai người trở lên tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Trong trường phạm tội trên thì M, H và Q cùng nhau thực hiện một tội phạm đó là tội hiếp dâm. M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ (thể hiện sự góp sự, liên kết với nhau) để ép buộc L thực hiện hành vi giao cấu với Q. Hành vi này của M, H và Q đã cấu thành tội phạm cụ thể đó là tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS. Tội phạm hiếp dâm là tội phạm cấu thành hình thức nên khi M, H và Q dùng hành vi vũ lực với L nhằm mục đích để Q giao cấu với L thì tội phạm hiếp dâm đã được cấu thành.

    Dấu hiệu về mặt chủ quan: M, H và Q đã cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Vềmặt lý trí M, H và Q có đủ khả năng nhận thức để thấy được hành vi dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi hiếp dâm của mình là nguy hiểm và trái với quy định của pháp luật và về mặt ý chí M, H mong muốn Q thực hiện hành vi giao cấu với L và Q cũng muốn thực hiện hành vi này. Như vậy, là họ mong muốn hậu quả xảy ra.

    Căn cứ vào dấu hiệu khách quan và chủ quan nêu trên, có thể khẳng định M là đồng phạm của tội hiếp dâm. Nhưng trong trường hợp này M là nữ không có những đặc điểm cấu tạo sinh học như nam giới nên không thể thực hiện hành vi giao cấu nên ta phải xác định M giữ vai trò đồng phạm là người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức. Trong trường hợp này M giữ vai trò đồng phạm là người giúp sức. Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 thì: “Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”. Người giúp sức là người tạo những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm, có thể là giúp sức về vật chất hoặc tinh thần. M cùng H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng để tạo điều kiện cho Q giao cấu với L, sau đó M dùng dao và lời nói mang tính chất đe dọa, nhằm cưỡng bức về tinh thần làm L sợ và không giám chống cự. Việc M cưỡng bức về tinh thần đối với L cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Như vậy, có thể kết luận cả hai hành vi dùng vũ lực và dùng dao cùng lời nói đe dọa nhằm tạo điều kiện để Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L thì M chính là người giúp sức.

    Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải

    Bài tập 2: Do có mâu thuẫn trong kinh doanh, P đã nhờ Q đến đốt xưởng của N vào ban đêm. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng.

    Hỏi: Q có phải đồng phạm trong trường hợp này không? Hình phạt đối với P và Q như thế nào?

    Lời giải:

    Q cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo điểm a Khoản 3 Điều 143 BLHS với vai trò là đồng phạm của P .Đồng phạm đòi hỏi có những dấu hiệu sau:

    Mặt khách quan:

    – Có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Cụ thể trong trường hợp này P và Q là 2 người có đủ điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

    – Cùng thực hiện tội phạm (cố ý): P đã có hành vi nhờ Q đến đốt xưởng của N. Như vậy P đã có hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm. P là người xúi giục.

    Về mặt chủ quan:

    – Dấu hiệu lỗi :

    + Về lí trí: P nhận thức được rất rõ hành vi của mình( xúi giục người khác thực hiện hành vi phạm tội) cũng như của Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và P cũng nhận thức được rõ sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và Q gây ra.

    * Về ý chí:

    Cả P và Q cùng mong muốn phân xưởng của N bị cháy để trả thù mâu thuẫn trong kinh doanh.

    Dấu hiệu mục đích:

    P muốn hủy hoại phân xưởng của N để trả thủ mẫu thuẫn trong kinh doanh, khiến công việc làm ăn của N gặp trở ngại. Q đã tiếp nhận mục đích đó của P và là người trực tiếp đốt phân xưởng của N

    Hành vi của P và Q đã thỏa mãn đầu đủ các dấu hiệu của trường hợp Đồng phạm theo Điều 20 BLHS trong đó P là người chủ mưu Q là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

    Khung hình phạt áp dụng cho P cũng tương tự như Q là từ 7 năm đến 15 năm theo điểm a khoản 3 Điều 143 BLHS. Do hậu quả phát sinh vì hành vi đồng phạm của Q và P là như nhau.

    Bài tập 3: A ăn trộm chiếc SH sau đó mang tới gửi nhà B ( bạn thân). B hỏi A xe ở đâu mà không mang về nhà A. A bảo xe ăn trộm sau đó bảo B giữ hộ mai có người mua rồi sẽ cho B một khoản tiền. Nói xong A đi về, tới trưa ngày hôm sau A tới lấy xe sau đó đến chiều mang cho B 5 triệu đồng.

    Vậy trong trường hợp này B phạm tội gì? Đồng phạm tội trộm xe hay tội che dấu tội phạm?

    Lời giải: Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

    Khi thực hiện xác định tội danh, nếu người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp thì định tội là “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; nếu người phạm tội thực hiện hành vi tiêu thụ thì định tội là “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chứ không định tội như tên gọi của điều luật là “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Trường hợp người phạm tội thực hiện cả hai hành vi chứa chấp và tiêu thụ thì định tội là “Chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Ở trường hợp trên, B chỉ thực hiện hành vi cất giữ mà không thực hiện hành vi tiêu thụ. Vì vậy tội danh của B là “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung Bài tập tình huống luật hình sự về đồng phạm phổ biến và cách giải. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.

    Câu hỏi thường gặp:

    Chủ thể đặc biệt trong đồng phạm được hiểu là như thế nào?

    Đối với những tội phạm có chủ thể đặc biệt; luật hình sự chỉ đòi hỏi người thực hành có đặc điểm của chủ thể đó.
    Những người đồng phạm khác không nhất thiết phải có những đặc điểm của chủ thể đặc biệt
    Ví dụ: trong vụ tham ô tài sản, người thực hành là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến tài sản; còn những người đồng phạm khác có thể là người không có chức vụ, quyền hạn như vậy.

    Xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm như thế nào?

    Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đến cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành thực hiện tội phạm đến giai đoạn nào họ phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó.
    Nếu người bị xúi giục không nghe theo sự xúi giục không có kết quả thì chỉ riêng người xúi giục phải gánh chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ muốn xúi giục.
    Nếu người giúp sức người khác thực hiện tội phạm nhưng người này không thực hiện tội phạm đó hoặc không sử dụng sự giúp sức thì người giúp sức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ muốn giúp sức

  • Bài tập luật hình sự về tội giết người phổ biến và lời giải

    Bài tập luật hình sự về tội giết người phổ biến và lời giải

    Trong các quyền nhân thân của con người thì quyền được sống là quyền tự nhiên, quyền thiêng liêng và là quyền cao quý nhất, bởi lẽ vậy vì con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, hiện nay tội phạm về giết người trong xã hội diễn ra với một con số đáng báo động khi mà số lượng các vụ việc xâm phạm đến tính mạng con người ngày càng gia tăng. Bài viết đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ chia sẻ đến bạn đọc Bài tập luật hình sự về tội giết người thường phổ biến và cách giải, mời bạn đọc tham khảo nội dung bài viết để nắm được những quy định pháp luật về loại tội phạm này.

    Căn cứ pháp lý

    Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Tham khảo bộ slide bài giảng, video, bài tập luật hình sự 2 tại đây: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-2?ref=ica

    Bài tập 1

    A có ý định giết B (đang có thai) để trả thù. Biết B đi chơi chưa về nhà nên A đã nấp ở bụi vây gần cổng nhà B, đợi B về để giết. Thấy A có dấu hiệu khả nghi, đội tuần tra đã yêu cầu A xuất trình giấy tờ. A bạt theo khoản chạy và sau đó đã bị bắt. Hành vi của A được xác định là phạm tội giết người theo khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự.

    Câu hỏi: Hành vi phạm tội của A thuộc giai đoạn phạm tội nào? Giải thích rõ tại sao?

    Bài tập luật hình sự về tội giết người phổ biến và cách giải

    Đáp án

    Hành vi phạm tội của A thuộc giai đoạn chuẩn bị phạm tội.

    Trước hết giai đoạn chuẩn bị phạm tội được xác định chỉ thực hiện đối với tội cố ý, người thực hiện tội phạm ở giai đoạn này biết trước hậu quả mà hành vi của mình gây ra là bất lợi đối với xã hội và các quan hệ được nhà nước và pháp luật bảo vệ. Khoa học luật hình sự Việt Nam xác định “chuẩn bị phạm tội là giai đoạn phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó”. Hành vi chuẩn bị phạm tội tuy đã thực hiện hành động nhưng hành động đó chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tương tác động của tội phạm để gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể của loại tội phạm định thực hiện. Trong thực tế hành vi chuẩn bị phạm tội có thể thực hiện ở một số dạng như: chuẩn bị công cụ, phương tiện; chuẩn bị kế hoạch phạm tội; thăm dò địa điểm phạm tội; thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại; loại trừ trước những trở ngại khách quan…

    Bài tập 2

    A bị lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động trong nước. Khi thấy tình hình xã hội có nhiều biến động, để gây thêm thanh thế của tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, A nhận nhiệm vụ ném lựu đạn vào nhà chủ tịch huyện B (huyện giáp biên giới) nhằm giết chết ông K và làm suy yếu chính quyền. A ném lựu đạn vào nhà nhưng lựu đạn không nổ. Sau đó A bị bắt.

    Hỏi:

    1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?

    a. A phạm tội giết người?

    b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành?

    Đáp án:

    1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?

    a. A phạm tội giết người? Sai

    Nếu xét các dấu hiệu cảu mặt khách quan thì hành vi của A cũng tương tự tội giết người. Đối với tội giết người, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc, dấu hiệu định tội nhưng nếu giết người có mục đích làm suy yếu chính quyền nhân dân thì đã thỏa mãn cấu thành tội phạm tội khủng bố. Hành vi của A không đơn thuần chỉ là hành vi giết một con người cụ thể mà hành vi của A để gây thêm thanh thế cho tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, từ đó nhằm làm suy yếu chính quyền. Mặt khác, B là một chủ tịch huyện, với vai trò cán bộ nhà nước, lại ở giáp biên giới, nơi thường bị các lực lượng thù địch lợi dụng chống phá. Như vậy, xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội thì hành vi của A là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Chính vì thế, A không phạm tội giết người mà là phạm tội khủng bố theo điều 84 Bộ luật Hình sự.

    b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành? Sai

    Về căn cứ pháp lý, cấu thành tội phạm tội khủng bố là cấu thành tội phạm vật chất, là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.

    Mặt khác, tội khủng bố có 2 loại hậu quả:

    Hậu quả trực tiếp: chết người, thương tích, tự do thân thể bị tước đoạt hoặc bị hạn chế. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của tội khủng bố, và nó hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra. Hậu quả này là phương tiện để người phạm tội đạt được kết quả suy yếu chính quyền nhân dân.

    Hậu quả gián tiếp: thông qua hậu quả trực tiếp, người phạm tội có thể làm suy yếu chính quyền. Tuy nhiên hậu quả này không phải là dáu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội khủng bố.

    Xét về lý luận, cấu thành tội phạm vật chất hoàn thành khi hậu quả đã xảy ra, xét với tội khủng bố tức là cả 2 hậu quả đều xảy ra. Tuy nhiên, rất khó để xác định, thậm chí là không thể xác định được chính quyền đã suy yếu hay chưa, nếu suy yếu thì nó ở mức độ nào, và nhà nước cũng không thể công bố kết quả ra được vì nguyên nhân chính trị… Như vậy tội khủng bố hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra.

    Xét vào vụ án trên, A đã có hành vi ném lựu đạn vào nhà với ý muốn giết chết B, nên hành vi của A không thể là hành vi quy định tại khoản 3 điều 84: “đe dọa xâm phạm tính mạng” mà là hành vi quy đinh tại khoản 1 nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt vì hậu quả chết người chưa xảy ra.

    Bài tập 3:

    Do thường xuyên bị mất trộm hoa quả trong vườn nên ông H đã dùng dây kim loại trần mắc quanh vườn nhà mình và đấu nối với điện sinh hoạt nhằm ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài vào. Mỗi góc vườn ông H có treo biển cảnh báo nguy hiểm và thông báo với hàng xóm xung quanh. Ngày 12/5/2018 chị B đang có thai 04 tháng tuổi ở xã bên cạnh đi làm về, khi đi sát vườn nhà H thì bị điện giật chết do chạm vào dây điện mà ông H giăng ở quanh vườn.

    Hỏi: Với tình huống trên thì ông H có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự? Giải thích tại sao?

    Lời giải:

    Với hành vi trong tình huống trên của ông H thì ông H đã phạm tội Giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Vì đã có hành vi dùng dây kim loại trần mắc quanh vườn nhà mình và đấu nối với điện sinh hoạt nhằm chống mất, mặc dù có treo biển cảnh báo nguy hiểm và thông báo cho những người xung quanh biết những đã gây ra cái chết cho chị B. Mặt khác, vì hành vi của H là hành vi trái pháp luật đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Nghị định 169/2003 ngày 24/12/2003 về an toàn điện.

    Do vậy, trong trường hợp này H mặc dù không nhằm vào ngư­ời cụ thể nào và không mong muốn cho hậu quả chết ngư­ời xảy ra như­ng có ý thức  bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, H đã phạm tội Giết người với lỗi cố ý gián tiếp. H không nhằm trực tiếp vào chị B, không biết chị B có thai nên không phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó hành vi giết người của H phạm tội theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015.

    Trên đây là tư vấn về Bài tập luật hình sự về tội giết người thường phổ biến và cách giải của chúng tôi gửi đến bạn đọc về nội dung. Hi vọng những tin mà chúng tôi chia sẻ sẽ mang lại nhiều điều hữu ích.

    Câu hỏi thường gặp:

    Bị thần kinh khi giết người có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

    Theo quy định tại điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

    Giết người có phải bồi thường thiệt hại hay không?

    Theo quy định tại Điều 585 BLDS Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
    Bồi thường thiệt hại về tính mạng bao gồm:
    – Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm như:
    + Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
    + Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị;
    – Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
    – Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; d) Thiệt hại khác do luật quy định.
    Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần

  • Bài tập luật hình sự pháp luật đại cương (có đáp án)

    Bài tập luật hình sự pháp luật đại cương (có đáp án)

    Trong quá trình học luật, để rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống thì việc đưa ra các bài tập tình huống giả định là rất cần thiết. Nếu chỉ học mình lý thuyết mà không kết hợp thực tiễn thì sinh viên không thể linh hoạt trong việc xử lý cá tình huống khi làm nghề. Học viện đào tạo pháp chế ICA tổng hợp một vài bài tập tình huống luật hình sự pháp luật đại cương (có đáp án), bạn có thể tham khảo để nâng cap trình độ chuyên môn và khả năng phản xạ.

    Tình huống 1:

    B thấy chị H đeo hai nhẫn vàng ở ngón tay nên T dùng gậy đánh vào sau gáy của chị H làm chị H ngất, sau đó B lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H. Vậy B phạm tội gì?

    Đáp án:

    B đã có hành vi dùng vũ lực (dùng gậy đánh vào đầu chị H) để nhằm chiếm đoạt tài sản (lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H) và thực tế là B đã lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H, do đó B đã phạm tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực. Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi hành động dùng sức mạnh vật chất (có thể có vũ khí hoặc không có vũ khí) để tác động, tấn công vào cơ thể của người bị tấn công như: dùng chân tay đấm, đánh, bóp cổ, dùng dây trói, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, đập, dùng dao đâm, chém… Hành động tấn công này có thể làm cho người bị tấn công bị thương tích, bị tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị chết nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể cho nạn nhân. Việc dùng vũ lực là nhằm mục đích là làm cho người bị tấn công mất khả năng chống cự nhằm để cướp tài sản. Việc dùng vũ lực được thực hiện ở cả hai phương thức đó là phương thức bí mật (như: bắn lén lút, đánh vào sau gáy…) và phương thức công khai (tấn công trước mặt người bị tấn công để cho người đó biết, bất luận có người nào khác biết hay không).

    Bài tập luật hình sự pháp luật đại cương

    Tình huống 2:

    T vừa lĩnh 50 triệu đồng tiền gửi ngân hàng đi ra đến đường quốc lộ thì K dùng dao dí vào cổ T và yêu cầu T đưa tiền, nếu không đưa thì K sẽ đâm. Ngay lúc đó quần chúng nhân dân chạy tới bắt giữ K. Vậy K có phạm tội không?

    Đáp án:

    K đã có hành vi đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực (dùng dao dí vào cổ T) để buộc T là người bị tấn công phải sợ và tin tưởng nếu không đưa tiền cho K thì tính mạng của T sẽ bị nguy hại (bị đâm dao vào người), do đó K đã phạm tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự. Bởi theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc.

    Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc được hiểu là đe doạ dùng ngay tức thì sức mạnh vật chất (có thể có vũ khí hoặc không có vũ khí) để tác động, tấn công vào cơ thể của người bị tấn công như: dùng chân tay đấm, đánh, bóp cổ, dùng dây trói, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, đập, dùng dao đâm, chém… nếu người bị tấn công không chịu khuất phục để buộc người bị tấn công phải sợ và tin tưởng rằng nếu không để cho lấy tài sản thì tính mạng và sức khoẻ sẽ bị nguy hại. Ở đây thông thường được kết hợp giữa hành vi sẽ dùng vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo, để tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin tưởng rằng người phạm tội sẽ dùng vũ lực.

    Ngay tức khắc là ngay lập tức, không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị tấn công không giao tài sản cho người phạm tội. Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

    Tình huống 3:

    T lập kế hoạch và bàn bạc với M và P cướp tiền của những người mới lĩnh tiền từ Ngân hàng Đ. T phân công cho M dùng dao đe doạ người bị tấn công, còn M lao vào cướp tiền rồi lên xe máy do T đang đứng đợi sẵn. Vậy T, M và P phạm tội gì và theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự?

    Đáp án:

    Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì cướp tài sản có tổ chức được hiểu là hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện tội cố ý cướp tài sản mà giữa họ có sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện tội phạm (có sự bàn bạc, chuẩn bị chu đáo, vạch trương trình kế hoạch phạm tội, phân công vai trò, vị trí của từng người), trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên không phải vụ án cướp tài sản có tổ chức nào cũng đủ những người giữ vai trò như trên, mà tuỳ từng trường hợp có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục hoặc người giúp sức nhưng nhất định phải có người thực hành và người tổ chức thì mới phạm tội có tổ chức.

    Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi sướng việc phạm tội; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm…

    Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm như: trực tiếp cầm dao chém người bị tấn công, trực tiếp cầm súng đe doạ người bị tấn công hay trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người bị tấn công…

    Như vậy, trong vụ án cướp tài sản trên thì có ba người đó là T, M và P cùng cố ý thực hiện tội cướp tài sản, trong đó T là người tổ chức vì là người vạch kế hoạch, chủ động bàn bạc với M và P thực hiện hành vi cướp tài sản và phân công trách nhiệm cho M và P, còn M và P là những người thực hành vì có hành vi trực tiếp dùng dao đe doạ và cướp tài sản của người bị tấn công. Do đó T, M và P đã phạm tội cướp tài sản với tình tiết có tổ chức được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về nội dung “Bài tập luật hình sự pháp luật đại cương”. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.

    Câu hỏi thường gặp:

    Phương pháp nào giúp học và làm bài tập tình huống hình sự tốt nhất?

    Để học và làm bài tập luật hình sự giỏi thì sinh viên cần phải có những phương pháp học tập phù hợp nhất. Đó là:
    + Thường xuyên làm đề cương và học thông qua đề cương bài tập tình huống;
    + Học các văn bản luật liên quan đến luật hình sự thật kỹ càng;
    + Chịu khó giải các bài tập trắc nghiệm và bài tập tình huống.

    Cấu thành tội phạm vật chất, cấu thành tội phạm hình thức được pháp luật quy định như nào?

    – Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.
    – Cấu thành tội phạm hình thức là cấu hành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khác quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

.
.
.