Chia sẻ kiến thức chung trong mảng pháp chế doanh nghiệp và hành nghề luật với sinh viên, cử nhân luật tại các trường đại học do Học viện đào tạo pháp chế ICA biên soạn.
Học Viện ICA kỳ vọng rằng những kiến thức được chia sẻ trong chuyên mục này sẽ giúp sinh viên:
Hiểu biết và có thêm những kiến thức pháp lý cần thiết nhằm trao dồi, vun đắt, học hỏi những kỹ năng mới
Tạo lập kho dữ liệu phục vụ mục đích tham khảo, học tập
Tìm hiểu những kiến thức liên quan mảng pháp chế doanh nghiệp, tư vấn nội bộ doanh nghiệp
Có thêm định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Ngoài ra, Học viện pháp chế ICA cung cấp những khóa học liên quan đến kỹ năng hành nghề pháp chế doanh nghiệp, cung cấp nhân sự pháp chế và đào tạo nội bộ doanh nghiệp theo đặt hàng.
Ký gửi tài sản là một giao dịch phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Do nhu cầu và yêu cầu của thực tế, các đối tượng cùng thực hiện nhiều nghiệp vụ lưu trữ. Để điều chỉnh quan hệ giữa các bên, pháp luật quy định về thỏa thuận bảo lưu tài sản. Do đó, Bộ luật Dân sự có quy định về bất động sản về việc duy trì văn bản thỏa thuận, đây cũng là nội dung được nhiều bạn đọc quan tâm khi cần giao kết loại văn bản này. Bạn đọc có thể tham khảo quy định này trong bài viết “Trách nhiệm đối với tài sản gửi giữ trong hợp đồng gửi giữ tài sản?” này của Học viện đào tạo pháp chế ICA nhé!
Hợp đồng gửi giữ tài sản là gì?
Theo quy định tại Điều 554 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc cầm giữ tài sản được xác định như sau:
Hợp đồng cầm giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên ký gửi nhận tài sản của bên ký gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên ký gửi sau khi hết thời hạn hợp đồng, bên ký gửi phải thanh toán cho bên ký gửi, nếu không còn khoản cầm giữ.
Như vậy, thỏa thuận gửi giữ tài sản là thỏa thuận giữa các bên trong đó người quản lý đầu tư nhận tài sản từ người ký gửi và trả lại chính tài sản đó cho người gửi khi hết thời hạn hợp đồng, người ký gửi phải trả tiền cho người gửi giữ.
Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng gửi giữ tài sản?
Quyền và nghĩa vụ của bên đặt cọc được quy định cụ thể tại Điều 555 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 556 Bộ luật Dân sự 2015.
Khi tài sản được giao, Quản tài viên phải thông báo ngay cho Quản lý biết tình trạng tài sản và có biện pháp thích hợp để bảo quản tài sản đang tạm giữ. Nếu Bên ký gửi không thông báo cho Bên ký gửi và Bên ký gửi phá hủy hoặc làm hư hỏng Tài sản ký gửi do bảo quản không đúng cách thì Bên ký gửi phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp thiệt hại phải được bồi thường.
Việc bồi thường phải được trả đầy đủ, đúng thời hạn và phương thức đã thỏa thuận.
Có thể yêu cầu tạm giữ tài sản bất cứ lúc nào, miễn là trong hợp đồng cầm giữ không xác định thời hạn, nhưng phải báo trước cho người cầm giữ một cách hợp lý.
Nếu làm mất, hư hỏng tài sản của mình thì yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp bất khả kháng.
Quyền và nghĩa vụ của bên đặt cọc được quy định tại Điều 555 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 556 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:
Đối với việc chuyển giao tài sản, người quản lý tài sản phải thông báo ngay cho người quản lý tài sản về tình trạng của tài sản và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo quản tài sản gửi giữ; nếu bên gửi giữ không thông báo mà tài sản gửi giữ bị tiêu hủy, hư hỏng do không bảo quản đầy đủ thì bên gửi giữ phải mang theo; Nếu đã gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Tiền công phải được trả đầy đủ, đúng thời hạn và phương thức đã thoả thuận.
Yêu cầu lấy lại tài sản bất cứ lúc nào, nếu trong thời hạn gửi giữ không xác định thời hạn nhưng phải báo trước cho người quản lý tài sản một thời gian hợp lý.
Yêu cầu bồi thường nếu Quản tài viên làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.
Do đó, bên gửi tài sản có quyền:
Yêu cầu rút tài sản bất cứ lúc nào, nếu trong thời hạn gửi không ghi thời hạn nhưng phải báo trước cho người quản lý tài sản một thời gian hợp lý.
Yêu cầu bồi thường nếu chủ sở hữu làm mất, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.
Đồng thời phải có nghĩa vụ:
Trong quá trình chuyển giao tài sản, Quản tài viên phải thông báo ngay cho chủ tài sản về tình trạng của tài sản và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo quản tài sản gửi giữ; nếu bên gửi không thông báo mà tài sản gửi giữ bị tiêu hủy, hư hỏng do không bảo quản đầy đủ thì bên gửi giữ phải mang theo; Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Trả lương đầy đủ, đúng thời hạn theo thỏa thuận.
Đối với quyền và nghĩa vụ của bên giữ tài sản được quy định tại Điều 557 Bộ luật Dân sự 2015
Giữ tài sản theo hợp đồng, trả lại tài sản cho bên gửi trong tình trạng như lúc gửi.
Chỉ thay đổi cách gửi giữ tài sản nếu việc thay đổi đó là cần thiết để bảo quản tài sản tốt hơn, nhưng phải thông báo ngay cho bên gửi biết về việc thay đổi đó.
Thông báo ngay cho người gửi hàng về nguy cơ hư hỏng hoặc hủy hoại phát sinh từ bản chất của tài sản và yêu cầu người gửi hàng biết cách xử lý đúng hạn; nếu quá thời hạn mà người gửi không trả lời thì chủ sở hữu có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo quản và yêu cầu người gửi hoàn trả chi phí.
Bồi thường thiệt hại đối với tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng.
Và Điều 558 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể:
Yêu cầu người gửi trả số tiền bồi thường đã thỏa thuận.
Yêu cầu bên gửi giữ các chi phí hợp lý để bảo quản tài sản trong trường hợp không trả tiền ký gửi.
Yêu cầu người gửi đến nhận tài sản bất cứ lúc nào, nhưng trong trường hợp gửi giữ không thời hạn thì phải báo trước cho người gửi một thời gian hợp lý.
Bán tài sản gửi giữ có nguy cơ bị mất mát, hư hỏng để bảo vệ quyền lợi của bên gửi giữ, báo cho bên gửi giữ biết và thanh toán cho bên gửi giữ số tiền bán tài sản sau khi trừ các chi phí. bán bất động sản.”
Trách nhiệm đối với tài sản gửi giữ trong hợp đồng gửi giữ tài sản?
Trách nhiệm trả lại tài sản ký gửi được quy định tại Điều 559 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:
Chủ sở hữu phải trả lại tài sản, thu nhập đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Địa điểm trả hàng ký gửi là địa điểm ký gửi. Nếu người gửi yêu cầu chuyển trả hàng hóa đến địa điểm khác thì bạn phải chịu chi phí vận chuyển đến địa điểm đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Bên gửi giữ phải trả hàng đúng thời hạn và chỉ được quyền yêu cầu bên nhận gửi trả lại hàng trước thời hạn nếu có căn cứ chính đáng. ” Đối với trường hợp chậm giao, nhận tài sản cầm giữ thì áp dụng quy định tại Điều 560 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
Nếu bên gửi giữ chậm giao tài sản thì kể từ ngày chậm giao tài sản không được yêu cầu bên gửi giữ trả tiền công, phí bảo trì và phải chịu rủi ro về tài sản trong thời gian chậm giao tài sản đó. Trường hợp bên gửi chậm giao tài sản thì phải trả cho bên nhận kinh phí bảo quản và tiền bồi thường phí giữ tài sản trong thời gian chậm giao.
Do đó, nếu chậm trễ trong việc tiếp nhận tài sản, bạn sẽ phải trả cho người nhận phí quản lý và tiền công giữa các tài sản. Ngoài ra, do số lượng hàng hóa của khách hàng sắp hết, công ty dịch vụ có quyền bán tài sản ký gửi với rủi ro hư hỏng hoặc tiêu hủy nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi. Tuy nhiên, theo Điều 558 BLDS 2015, sau khi trừ các chi phí hợp lý về việc bán tài sản, số tiền bán tài sản phải được thông báo cho người gửi và trả cho người gửi.
Trên đây là bài viết trách nhiệm đối với tài sản gửi giữ trong hợp đồng gửi giữ tài sản, bạn đọc có thể tham khảo thêm nhé!
Câu hỏi thường gặp:
Trả lại tài sản gửi giữ trong hợp đồng gửi giữ tài sản ra sao?
Chủ sở hữu phải trả lại tài sản và lợi tức đã nhận; trừ khi có thoả thuận khác. Nơi trả lại tài sản gửi giữ là nơi gửi giữ; nếu bên gửi yêu cầu gửi lại tài sản để nơi khác; phải chịu chi phí vận chuyển đến địa điểm đó; trừ khi có thoả thuận khác. Chủ sở hữu phải trả lại tài sản đúng thời hạn; và họ chỉ có quyền yêu cầu bên gửi hàng nhận lại tài sản trước thời hạn; nếu có lý do chính đáng để làm như vậy.
Đối tượng của hợp đồng gửi giữ tài sản là ai?
Đối tượng của hợp đồng cấp dưỡng là tài sản tự do lưu thông. Tài sản khó bảo quản, dễ cháy nổ, độc hại… phải được chủ sở hữu đóng gói theo quy định của pháp luật. Bên nhận tài sản phải có đầy đủ cơ sở vật chất như kho bảo quản, bến bãi, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy để bảo đảm an toàn cho tài sản, ngăn ngừa rủi ro phát sinh. Đối tượng của hợp đồng cầm cố có thể là động sản và bất động sản. Như vậy, bên gửi giữ tài sản có quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật theo cách thức đã trình bày ở trên.
Trong mọi hoạt động mua bán, vận chuyển hàng hóa đều phải có sự thỏa thuận và nghĩa vụ trong hợp đồng vận chuyển giữa chủ sở hữu hàng hóa và người thực hiện việc vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, nhiều khách hàng vẫn còn lúng túng và không hiểu quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo pháp luật hiện hành như thế nào? Do vậy bài viết dưới đây Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ trình bày một số quy định về hợp đồng vận chuyển để bạn đọc có thể tìm hiểu thêm về quy định này nhé.
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là gì?
Căn cứ theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp đồng vận chuyển bao gồm 2 loại đó là:
Vận chuyển hành khách được quy định tại Điều 522
Vận chuyển tài sản được quy định tại Điều 530
Trong đó:
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là một dạng của hợp đồng vận chuyển tài sản
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa là văn bản ghi nhận lại sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển hàng hóa đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao hàng hóa đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả chi phí vận chuyển.
Đặc điểm hợp đồng vận chuyển hàng hóa
* Hợp đồng vận chuyển hàng hóa có những đặc điểm như sau:
– Đây là hợp đồng bồi thường song vụ, có thể là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế trong từng trường hợp cụ thể. Cũng như mọi hợp đồng dịch vụ khác, trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa, các bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Người vận chuyển phải giao hàng đến địa điểm đã thỏa thuận và nhận tiền. Người thuê vận chuyển phải thanh toán và nhận hàng tại nơi quy định. Khi tham gia quan hệ hợp đồng này, cả hai bên đều thu được những lợi ích kinh tế nhất định: bên vận chuyển được trả tiền, bên thuê vận chuyển được chuyển hàng hóa từ nơi này sang nơi khác.
Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa là việc vận chuyển hàng hóaTai từ nơi này đến nơi khác theo thoả thuận của các bên, tức là di chuyển vị trí địa lý của hàng hóa do các bên thỏa thuận tùy theo tính chất của hàng hóa dịch vụ. Hợp đồng vận chuyển hàng hóa có thể được phân loại theo nhiều cách: Căn cứ vào phương tiện vận tải (đường sắt, đường hàng không,…); dựa trên thương hiệu khu vực (vận chuyển nội địa, vận chuyển quốc tế); căn cứ vào lộ trình vận chuyển (vận chuyển một chiều, vận chuyển kết hợp nhiều loại phương tiện vận tải trong từng đoạn hành trình…)
Quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Hiện nay hợp đồng vận chuyển hàng hóa được quy định tại Luật Giao thông đường thủy nội địa. Theo Điều 86 Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004 quy định hợp đồng vận tải hàng hoá, giấy gửi hàng hoá và giấy vận chuyển như sau:
Hợp đồng vận tải hàng hóa là sự thoả thuận giữa người kinh doanh vận tải và người thuê vận tải, trong đó xác định quan hệ về quyền và nghĩa vụ của hai bên. Hợp đồng vận tải được lập thành văn bản hoặc theo các hình thức khác mà hai bên thoả thuận.
Giấy gửi hàng hoá là bộ phận của hợp đồng vận tải do người thuê vận tải lập và gửi cho người kinh doanh vận tải trước khi giao hàng hoá. Giấy gửi hàng hoá có thể lập cho cả khối lượng hàng hoá thuê vận tải hoặc theo từng chuyến do hai bên thoả thuận trong hợp đồng.
Giấy gửi hàng hoá phải ghi rõ loại hàng hoá; ký hiệu, mã hiệu hàng hóa; số lượng, trọng lượng hàng hoá; nơi giao hàng hoá, nơi nhận hàng hoá; tên và địa chỉ của người gửi hàng; tên và địa chỉ của người nhận hàng; những yêu cầu khi xếp, dỡ, vận tải hàng hoá.
Giấy vận chuyển là chứng từ giao nhận hàng hoá giữa người kinh doanh vận tải và người thuê vận tải, là chứng cứ để giải quyết tranh chấp.
Giấy vận chuyển do người kinh doanh vận tải lập sau khi hàng hoá đã xếp lên phương tiện và phải có chữ ký của người thuê vận tải hoặc người được người thuê vận tải uỷ quyền.
Giấy vận chuyển phải ghi rõ loại hàng hoá; ký hiệu, mã hiệu hàng hoá; số lượng, trọng lượng hàng hoá; nơi giao hàng hoá, nơi nhận hàng hoá; tên và địa chỉ của người gửi hàng, tên và địa chỉ của người nhận hàng; cước phí vận tải và các chi phí phát sinh; các chi tiết khác mà người kinh doanh vận tải và người thuê vận tải thoả thuận ghi vào giấy vận chuyển; xác nhận của người kinh doanh vận tải về tình trạng hàng hoá nhận vận tải.
Chủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Vận chuyển hàng hóa là một giao giao dịch dân sự vì vậy các bên trong hợp đồng là chủ thể của giao dịch dân sự theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015:
“Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện.”
Theo đó, hủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hóa phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Ngoài ra khi tham gia vào giao dịch nào đó thì chủ thể tham gia phải tự nguyện không bị ép buộc hay lừa dối, đe dọa.
Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hóa là:
Những thỏa thuận của các bên theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận;
Bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận chuyển.
Cụ thể là những nội dung về: Thông tin các bên chủ thể tham gia, địa điểm thời gian giao hàng hóa, số lượng, chất lượng hàng hóa; quyền và nghĩa vụ của các bên; phương thức giao hàng; điều khoản về biện pháp bảo đảm và phạt vi phạm hợp đồng.
” Hợp đồng vận chuyển tài sản được giao kết bằng văn bản, bằng lời nói hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.”
Như vậy hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hóa rất đa dạng, có thể bằng văn bản, lời nói thậm chí chỉ là một hành vi
Trên đây là bài viết liên quan đến vấn đề “Quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hóa“. Rất hy vọng bài viết trên đây mang lại nhiều thông tin có ích cho bạn đọc. Hãy theo dõi chúng tôi để biết thêm nhiều bài viết về pháp luật nhé.
Câu hỏi thường gặp
Khi nào cần có hợp đồng vận chuyển hàng hóa?
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa cần thiết cho bất kỳ đơn hàng nào. Tuy nhiên trên thực tế hợp đồng vận chuyển hàng hóa thường áp dụng cho những đơn hàng có giá trị lớn. Số lượng nhiều để làm cơ sở ràng buộc trách nhiệm và một số điều khoản giữa công ty vận chuyển và đơn vị gửi nhận hàng. Còn đối với những mặt hàng nhỏ, lẻ, ghép, khối, cần biên bản giao nhận ghi những điều khoản cụ thể. Có chữ ký xác nhận của bên gửi sau khi đã thỏa thuận giá cả, thời gian vận chuyển, thông tin người gửi và người nhận. Để hàng hóa được đảm bảo và phải bồi thường nếu bị mất mát, thiệt hại do lỗi của quá trình vận chuyển.
Người nhận hàng có quyền và nghĩa vụ như thế nào?
Người nhận hàng có quyền: – Nhận và kiểm tra hàng hoá nhận được theo giấy vận chuyển; – Yêu cầu người kinh doanh vận tải thanh toán chi phí phát sinh do giao hàng hoá chậm; – Yêu cầu hoặc thông báo cho người thuê vận tải yêu cầu người kinh doanh vận tải bồi thường thiệt hại do mất mát, hư hỏng hàng hoá; – Yêu cầu giám định hàng hoá khi cần thiết. Người nhận hàng có nghĩa vụ: – Đến nhận hàng hoá đúng thời gian, địa điểm đã thoả thuận; xuất trình giấy vận chuyển và giấy tờ tuỳ thân cho người kinh doanh vận tải trước khi nhận hàng hoá; – Thanh toán chi phí phát sinh do việc nhận hàng hoá chậm; – Thông báo cho người kinh doanh vận tải về mất mát, hư hỏng hàng hoá ngay khi nhận hàng hoá hoặc chậm nhất là ba ngày, kể từ ngày nhận hàng hoá nếu không thể phát hiện thiệt hại từ bên ngoài.
Theo quy định hiện hành, để xác định một hành vi nào đó có được xem là tội phạm hay không thì lúc bày việc xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm có ý nghĩa quan trọng. Việc xác định các yếu tố cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Nội dung bài viết dưới đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ chia sẻ đến bạn đọc Tình huống cấu thành tội phạm thường gặp đối với sinh viên Luật, mời bạn đọc theo dõi nội dung bài viết.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Tình huống cấu thành tội phạm thường gặp đối với sinh viên Luật
Tình huống 1:
C và D rủ nhau đi săn thú rừng, khi đi C và D mỗi người mang theo khẩu súng săn tự chế. Hai người thoả thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần, nếu không thấy phản ứng gì sẽ bắn. Sau đó họ chia nhau đi mỗi người một ngả. Khi C đi được khoảng 200 mét, C nghe có tiếng động, và C huýt sao 3 lần nhưng không nghe phản ứng gì của D. C bật đèn soi về phía có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, C chạy đến thì phát hiện D đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. C vội đưa D đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng B đã chết trên đường đi.
Hỏi:
C đã phạm tội gì? Phân tích dấu hiệu pháp lý của tội phạm C đã thực hiện?
Lời giải:
C đã phạm tội gì?
Căn cứ vào tình huống đã cho thì C phạm tội vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017): “Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
Phân tích dấu hiệu pháp lý (các yếu tố cấu thành) tội vô ý làm chết người
* Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội vô ý làm chết người là quyền nhân thân, đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Đối tượng của tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng. Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người – thực thể tự nhiên và xã hội. Như vậy, trong tình huống trên C tước đoạt tính mạng của D, xâm phạm tới quan hệ nhân thân được luật hình sự bảo vệ.
* Mặt khách quan của tội phạm:
– Hành vi khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc an toàn. Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người. Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể là những quy tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành những tập quán sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận. Trong tình huống trên thì C và D rủ nhau đi săn thú rừng và hai người thỏa thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần nếu không thấy phản ứng gì thì sẽ bắn. Sau đó mỗi người chia nhau một ngả, và khi C nghe thấy có tiếng động, đã C huýt sáo 3 lần nhưng không nghe thấy phản ứng gì của D. C bật đèn soi về phìa có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, C xách súng chạy đến thì phát hiện là D đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. C vội vã đưa D đi đến trạm xá địa phương nhưng D đã chết trên đường đi cấp cứu. Như vậy, hành vi của C do không cẩn thận xem xét kỹ lưỡng trong khi đi săn nên đã để đạn lạc vào người D làm cho D chết.
– Hậu quả của tội phạm: Hành vi vi phạm nói trên phải đã gây ra hậu quả chết người. Hậu quả này là dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Trong tình huống trên thì hành vi của C đã gây ra hậu quả làm cho D chết.
– Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm: quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả đã xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Người có hành vi vi phạm chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra, nếu hành vi vi phạm của họ đã gây ra hậu quả này hay nói cách khác là giữa hành vi vi phạm của họ và hậu quả chết người có quan hệ nhân quả với nhau. Trong tình huống trên thì hậu quả chết người của D là do hành vi của C gây ra. Đó là C nhằm bắn về phía con thú nhưng đã bắn sang D, hậu quả là làm cho D chết, như vậy nguyên nhân D chết là do hành vi bắn súng của C vào người D.
* Mặt chủ quan của tội phạm:
Trong trường hợp này, C phạm tội vô ý làm chết người với lỗi vô ý vì quá tự tin. Bởi vì C tuy thấy hành vi của mình có thể ra hậu quả làm chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả chết người đó.
– Về lí trí: C nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả làm chết người do hành vi của mình có thể gây ra nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra. Như vậy, sự thấy trước hậu quả làm chết người ở đây thực chất chỉ là sự cân nhắc đến khả năng hậu quả đó xảy ra hay không và kết quả người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu đó quả xảy ra.
– Về ý chí: C không mong muốn hành vi của mình sẽ gây ra cái chết cho D, nó thể hiện ở chỗ, sự không mong muốn hậu quả của C gắn liền với việc C đã loại trừ khả năng hậu quả xảy ra. C đã cân nhắc, tính toán trước khi hành động, thể hiện ở chỗ C đã huýt sáo như thỏa thuận với D và chỉ đến khi không nghe thấy phản ứng gì của D, C mới nhằm bắn về phía có ánh mắt con thú nhưng hậu quả là đã bắn chết D. Và khi C xách súng chạy đến thì phát hiện C đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn, C đã vội đưa D đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng D đã chết trên đường đi. Điều này đã chứng tỏ C không mong muốn hậu quả chết người xảy ra. Như vậy, hình thức lỗi của C trong trường hợp trên là lỗi vô ý vi quá tự tin.
* Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội vô ý làm chết người là chủ thể thường, là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Trong khuôn khổ của tình huống đã cho thì là người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.
Tình huống 2:
A đang đi bộ trên đường với chiếc túi khoác trên vai, B đi xe máy vượt qua giật thật nhanh chiếc túi của A, A kéo lại nhưng B đánh vào tay A rồi giật chiếc túi và chạy lên xe phóng đi. B đã xâm hại đến khách thể trực tiếp là quyền sở hữu chiếc túi của A, ngoài ra một khách thể nữa bị xâm hại trực tiếp đó là quan hệ nhân thân (tính mạng và sức khỏe của A, vì hành vi dùng vũ lực của B đã khiến A hoảng sợ và có thể bị thương).
Hỏi: B phạm tội gì? Phân tích cách yếu tố cấu thành tội của B
Lời giải:
Trong trường hợp này, B phạm tội Cướp giật tài sản theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Chủ thể của Tội cướp giật tài sản
Tội phạm được thực hiện bởi người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định
Người phạm tội từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2,3,4 Điêu 171 BLHS.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mội trường hợp cưỡng đoạt tài sản.
Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cô ý.
Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. nếu có hành vi giật tài sản nhưng không có mục đích chiếm đoạt thì tùy từng trường hợp sẽ xem xét để định tội tương ứng.
Khách thể của tội phạm
Tội phạm xâm hại đến quyền sở hữu tài sản
Đối tượng tác động của tội phạm là tài sản. Nhưng không phải mọi loại tài sản đều là đối tượng tác động của tội phạm này. Chỉ có vật thực, tiền, giấy tờ có giá mới là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản.
Ngoài ra tội phạm này còn xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người. Vì vậy nếu trong quá trình cướp giật tài sản, nếu người phạm tội gây thiệt hại về tính mạng, súc khỏe của nạn nhân thì không xác định tội phạm độc lập mà cho đó là tình tiết tăng nặng của tội phạm này.
Mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi khách quan:
Được thể hiện ở việc công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản đang trong tầm quản lý của người khác.
Công khai chiếm đoạt tài sản có nghĩa người phạm tôi không cần che giấu hành vi của mình của mình đối với người quản lý tài sản trong lúc thực hiện.
Nhanh chóng chiếm đoạt thể hiện, người phạm tội sau khi tiếp nhận tài sản ngay lập tức dùng sức mạnh thể chất tác động vào tài sản làm cho tài sản làm cho tài sản rời khỏi sự quản lý của người khác.
Người phạm tội có thể có nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau như bí mật đi theo để tránh sự phát hiện của nạn nhân; đợi thời cơ, chen lấn, xô đẩy để chủ quản lý rời xa tài sản, dùng thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản và tạo ra sợ sơ hở cho người quản lý tài sản. Đối với hành vi nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường là biểu hiện thường thấy và là đặc trưng của tội phạm này. Tuy nhiên không phải là hành vi khách quan bắt buộc trong tội phạm này.
Tội phạm hoàn thành từ khi tài sản bị giật rời khỏi sự kiểm soát của chủ tài sản. Nếu người phạm tội đã giật tài sản nhưng tài sản chưa rời khỏi sự quản lý của chủ tài sản thì tội phạm ở giai đoạn chưa hoàn thành.
+ Hậu quả:
Thiệt hại do hành vi cướp giật gây ra làm cho chủ sỏ hữu mất quyền sở hữu đối với tài sản. Do tính chất nguy hiểm của hành vi cướp giật đối với tính mạng, súc khỏe con người, nên luật không quy định trị giá tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tội phạm này có cấu thành vật chất, vì vậy dấu hiệu bị giạt mất tài sản là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm hoàn thành.
Tình huống 3: A thực hiện thủ tục vay vốn hợp pháp tại ngân hàng để thực hiện kinh doanh vận tải, khi vay được tiền A không kinh doanh vận tải theo cam kết mà lấy tiền vay để hối lộ.
Hỏi: Trong trường hợp này, A phạm tội gì? Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm?
Lời giải:
Trong trường hợp này, A sẽ bị cơ quan tố tụng xem xét theo hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chứ không phải tội lừa đảo. Việc xác định tội danh trong trường hợp sẽ căn cứ theo Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, như sau:
Thứ nhất, dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm
Có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên. Đây là một trong các điểm mới của Bộ luật hình sự 2015, bộ luật mới đã có sự tách bạch rõ ràng hơn về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Thứ hai, dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt.
Thứ ba, dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm
Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do cố ý trực tiếp. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Thứ tư, dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu thành khi thuộc một trong các trường hợp sau:
– Giá trị của tài sản chiếm đoạt của người khác từ 4.000.000 đồng trở lên;
– Giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội về xâm phạm sở hữu khác được quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 290 của Bộ luật hình sự, các tội này là các tội liên quan đến tài sản : tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
– Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống của chính người bị hại hoặc gia đình họ.
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung Tình huống cấu thành tội phạm thường gặp đối với sinh viên Luật. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Tại sao cần xác định các yếu tố cấu thành tội phạm?
Xác định các yếu tố cấu thành tội phạm có ý nghĩa làm rõ đặc điểm pháp lý của tội phạm, có tác dụng định tội cho tội phạm xảy ra và để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Nếu chỉ dừng lại ở nghiên cứu tôi phạm mà không nghiên cứu cấu thành tội phạm thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội
Quy định pháp luật về tội phạm như thế nào?
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho Xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực, trách nhiệm Hình sự thực hiện một cách cố tình hay vô ý. Xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, xâm phạm chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự Pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam ngày càng phát triển, với số lượng khách du lịch quốc tế và nội địa ngày càng tăng. Du lịch Việt Nam ngày càng nổi tiếng trên thế giới, nhiều điểm đến trong nước được bình chọn là địa chỉ yêu thích của du khách quốc tế. Du lịch ngày càng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Chất lượng và năng lực cạnh tranh du lịch là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm và thảo luận rộng rãi. Có rất nhiều chủ thể kinh doanh hoạt động du lịch, để có một chuyến đi trọn vẹn hơn bạn có thể lựa chọn dịch vụ của các chủ thể này. Thỏa thuận của 2 bên sẽ được lập thành hợp đồng du lịch. Sau đây là Những lưu ý khi soạn thảo hợp đồng dịch vụ du lịch. Mời bạn tham khảo nhé
Hợp đồng dịch vụ du lịch là gì?
Theo quy định của Luật Du lịch 2017 hiện hành, khái niệm dịch vụ lữ hành được ghi nhận như sau:
Điều 39. Hợp đồng lữ hành
1. Hợp đồng lữ hành là sự thỏa thuận việc thực hiện chương trình du lịch giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành với doanh nghiệp, khách du lịch hoặc đại diện của khách du lịch.
Hợp đồng du lịch được giao kết giữa doanh nghiệp kinh doanh du lịch và khách du lịch có nhu cầu, được giao kết bằng văn bản, nội dung quy định rõ về số lượng, chất lượng, thời gian và phương thức cung cấp dịch vụ. Các điều khoản bắt buộc về giá trị hợp đồng và phương thức thanh toán, miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp bất khả kháng; các điều kiện và trách nhiệm tài chính liên quan đến việc thay đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, các điều khoản của bảo hiểm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của doanh nghiệp du lịch được lựa chọn
Mẫu hợp đồng dịch vụ du lịch và hướng dẫn điền mẫu hợp đồng dịch vụ du lịch
[1] Điền cụ thể, chi tiết nội dung Chương trình mà Bên A cần thực hiện theo yêu cầu của Bên B.
[2] Điền số lượng hành khách tối thiểu tham gia (gồm bao nhiêu trẻ em, bao nhiêu người lớn).
[3] Điền số lượng hành khách tối đa tham gia (gồm bao nhiêu trẻ em, bao nhiêu người lớn).
[4] Điền mức thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với Chương trình mà Bên A cung cấp cho Bên B.
[5] Các bên thỏa thuận về mức giá dịch vụ trọn gói cho hợp đồng được ghi bằng số và bằng chữ (Ví dụ: 10.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười triệu đồng)).
[6] Ghi theo thỏa thuận của các bên (Ví dụ: Thanh toán thành 02 đợt, bằng cách chuyển khoản, …).
[7] Công ty ghi rõ các tiêu chuẩn dịch vụ.
[8] Điền nội dung thỏa thuận về trách nhiệm của các bên.
[9] Các bên thỏa thuận điền mức phạt vi phạm. Lưu ý: Theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại 2005 thì mức phạt vi phạm không quá 8% giá trị hợp đồng nêu tại Điều 3 hợp đồng này.
[10] Các bên thỏa thuận và điền thời gian Hợp đồng có hiệu lực.
Những lưu ý khi soạn thảo hợp đồng dịch vụ du lịch
Dữ liệu cá nhân của các bên là bắt buộc, việc đăng ký đầy đủ, chính xác dữ liệu của các bên trong hợp đồng dịch vụ du lịch là cơ sở để giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh sau này.
Đọc kỹ thông tin, tính hợp pháp trước khi lựa chọn công ty lữ hành tổ chức chuyến đi cho bạn, gia đình, doanh nghiệp, đảm bảo an toàn, chất lượng, phòng chống lừa đảo.
Cung cấp thông tin, địa chỉ và chi tiết liên lạc của các bên.
Hợp đồng và ghi rõ quy mô dịch vụ, phương thức thanh toán, phương thức thanh toán và các trường hợp người sử dụng dịch vụ du lịch có thể đơn phương hủy bỏ hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của mình. Xác định rõ trách nhiệm giữa các bên
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động du lịch
1. Làm phương hại đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
2. Lợi dụng hoạt động du lịch để đưa người từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam trái pháp luật.
3. Xâm hại tài nguyên du lịch, môi trường du lịch.
4. Phân biệt đối xử với khách du lịch, thu lợi bất hợp pháp từ khách du lịch; tranh giành khách du lịch, nài ép khách du lịch mua hàng hóa, dịch vụ.
5. Kinh doanh du lịch khi không đủ điều kiện kinh doanh, không có giấy phép kinh doanh hoặc không duy trì điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
6. Sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành khác hoặc cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành của doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh.
7. Hành nghề hướng dẫn du lịch khi không đủ điều kiện hành nghề.
8. Quảng cáo không đúng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; quảng cáo về loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
9. Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của luật khác có liên quan.
Trên đây Học viện đào tạo pháp chế ICA đã cung cấp một số thông tin về “Những lưu ý khi soạn thảo hợp đồng dịch vụ du lịch“. Nếu bạn đọc quan tâm về những vấn đề pháp luật khác, hãy theo dõi những bài viết tiếp theo của chúng tôi nhé
Câu hỏi thường gặp
Hình thức hợp đồng du lịch là gì?
Theo quy định tại Điều 39 Luật Du lịch 2017, hợp đồng lữ hành (hay còn gọi là hợp đồng du lịch) là sự thỏa thuận việc thực hiện chương trình du lịch giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành với doanh nghiệp, khách du lịch hoặc đại diện của khách du lịch. Hợp đồng lữ hành phải được lập thành văn bản. Hợp đồng lữ hành phải có các nội dung sau đây: Mô tả rõ ràng số lượng, chất lượng, giá dịch vụ, thời gian, cách thức cung cấp dịch vụ trong chương trình du lịch; Giá trị hợp đồng và phương thức thanh toán; Điều khoản loại trừ trách nhiệm trong trường hợp bất khả kháng; Điều kiện và trách nhiệm tài chính liên quan đến việc thay đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng; Điều khoản về bảo hiểm cho khách du lịch. Như vậy, theo quy định nêu trên thì hợp đồng du lịch phải được lập thành văn bản.
Hồ sơ kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành bao gồm những gì?
Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa bao gồm: a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định; b) Bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; c) Giấy chứng nhận ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành; d) Bản sao có chứng thực quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành với người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành; đ) Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ của người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 của Luật này.
Hợp đồng mượn tài sản như mượn nhà, mượn đất, mượn xe… là một hợp đồng dân sự nói chung, trong đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn trong một thời hạn nhất định mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đạt được. Trong hợp này việc thoả thuận về thời hạn của hợp đồng mượn tài sản là vô cùng quan trọng bởi nếu không có điều khoản về thời hạn trả thì bên cho mượn sẽ rất khó để lấy lại tài sản nếu bên mượn không chịu trả. Mời bạn đọc tìm hiểu thêm về vấn đề này trong bài viết của Học viện đào tạp pháp chế ICA nhé.
Hợp đồng mượn tài sản là gì?
Theo quy định tại Điều 494 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay mua bất động sản được xác định như sau:
Hợp đồng mượn bất động sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn mà không phải trả tiền trong một thời hạn xác định và bên mượn phải trả lại tài sản khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã xác định.
Do đó, hợp đồng cho vay bất động sản là một hợp đồng giữa các bên, theo đó bên cho vay cung cấp tài sản cho bên vay trong một khoảng thời gian xác định mà bên vay không phải trả tiền, và bên vay phải trả lại tài sản trước thời hạn.
Đối tượng của hợp đồng mượn tài sản
Một hợp đồng cho vay có thể bị chấm dứt đối với tất cả các tài sản không tiêu hao.
Trong hợp đồng vay mua bất động sản, đối tượng của hợp đồng là một hoặc nhiều bất động sản. Thuật ngữ tài sản phải được hiểu cụ thể là vật có thật, bất động sản, có thể được sử dụng vì lợi ích của bên vay. Đối tượng của hợp đồng phải là vật cụ thể, vật không tiêu hao được. Khi kết thúc hợp đồng, bên vay phải trả lại tài sản theo tình trạng ban đầu. nếu gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.
Đặc điểm pháp lí của hợp đồng mượn tài sản
Hợp đồng cho mượn bất động sản là một hợp đồng không có đền bù. Bên mượn có quyền sử dụng tài sản của bên cho mượn mà không phải trả tiền sử dụng tài sản đó.
Một thỏa thuận cho vay bất động sản là một thỏa thuận một bên. Người cho vay bất động sản có quyền yêu cầu bên vay trả lại tài sản đã cho mượn khi đến hạn hoặc mục tiêu cho vay đã đạt được. Bên mượn có nghĩa vụ trả lại tài sản mượn theo yêu cầu của bên cho thuê. Một thỏa thuận cho vay bất động sản là một hợp đồng thực sự. Quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh khi tài sản được chuyển giao cho bên vay
Đối tượng của hợp đồng vay tài sản là bất động sản. Sau khi sử dụng tài sản mượn, bên mượn phải trả lại tài sản mượn cho bên cho thuê. Trường hợp làm mất mát, hư hỏng tài sản mượn thì bên mượn tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Quyền và nghĩa vụ của bên mượn tài sản?
Theo quy định tại Điều 496 Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ của bên vay tiền như sau:
Bảo quản, giữ gìn tài sản mượn, không được tự ý thay đổi tình trạng của tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng thông thường thì phải sửa chữa.
Không được cho người khác mượn khi chưa được sự đồng ý của bên cho mượn.
Trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; Nếu không thỏa thuận được thời gian trả tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay khi đạt được mục đích mượn.
Bồi thường thiệt hại nếu tài sản mượn bị mất mát, hư hỏng.
Trong thời gian chậm trả, bên vay phải chịu rủi ro phát sinh đối với tài sản vay.
Và tại Điều 497 của Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền của bên vay như sau:
Sử dụng tài sản mượn đúng đối tượng, đúng mục đích đã thoả thuận.
Bên cho mượn có nghĩa vụ thanh toán các chi phí hợp lý để sửa chữa hoặc làm tăng giá trị của tài sản mượn, nếu có thoả thuận.
Không chịu trách nhiệm về những hao mòn tự nhiên của tài sản thuê.
Quyền và nghĩa vụ của bên cho mượn trong hợp đồng mượn tài sản?
Theo quy định tại Điều 498 Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ của bên cho mượn bất động sản như sau:
Cung cấp thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và những thiếu sót có thể xảy ra.
Thanh toán cho bên vay chi phí sửa chữa và chi phí gia tăng giá trị cho tài sản, nếu vấn đề đã được thỏa thuận.
Bồi thường cho bên vay nếu bạn biết có lỗi mà không thông báo cho bên vay, rằng tài sản có những khiếm khuyết gây hại cho bên vay, ngoài những khiếm khuyết mà bên vay đã biết hoặc lẽ ra phải biết.
Và theo Điều 499 BLDS 2015 thì quyền của bên cho mượn bất động sản là:
Nhận lại tài sản ngay sau khi đạt được mục đích của bên mượn, nếu không thỏa thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu sử dụng tài sản cho mượn đột xuất, cấp bách thì có thể lấy lại tài sản đó ngay cả khi người mượn chưa đạt được mục đích đã định, nhưng việc này phải được báo trước một cách hợp lý.
Đòi lại tài sản nếu bên mượn sử dụng trái mục đích, sử dụng không đúng mục đích hoặc cho người khác mượn mà không được sự đồng ý của bên mượn.
Yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản do bên mượn gây ra.
Người cho mượn tài sản phải:
Cung cấp những thông tin cần thiết về việc sử dụng tài sản và những khiếm khuyết có thể có của nó.
Thanh toán cho bên vay chi phí sửa chữa, chi phí thẩm định bất động sản nếu có thoả thuận.
Bồi thường thiệt hại cho bên mượn, nếu bên mượn biết tài sản có khuyết tật mà không báo cho bên mượn dẫn đến thiệt hại cho bên mượn, trừ những khiếm khuyết mà bên mượn đã biết hoặc lẽ ra phải biết. Về quyền, bên cho vay bất động sản có thể sử dụng, trong số những quyền khác:
Mua lại tài sản sau khi đạt được mục đích của bên mượn, nếu không thỏa thuận được thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu sử dụng tài sản cho mượn đột xuất, cấp bách thì có thể lấy lại tài sản đó ngay cả khi người mượn chưa đạt được mục đích đã định, nhưng việc này phải được báo trước một cách hợp lý.
Yêu cầu trả lại tài sản nếu bên mượn sử dụng trái ý muốn, sử dụng không đúng thỏa thuận hoặc cho người khác mượn mà không được sự đồng ý của bên mượn.
Yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của bên vay Vì những lý do nêu trên, nếu một người hàng xóm ký kết thỏa thuận vay mua bất động sản, đặc biệt là vay xe để đưa con đi học. Tuy nhiên, việc mang xe đi thuê mà không được sự đồng ý của bạn không áp dụng đối với trường hợp mượn tài sản do hai bên thỏa thuận. Người hàng xóm đã vi phạm nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 496 Bộ luật dân sự 2015.
Trong trường hợp này, bạn có quyền lấy lại tài sản, do bên mượn đã sử dụng tài sản trái phép và cho người khác mượn khi chưa được sự đồng ý của bên cho mượn , theo Điều 499 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thời hạn của hợp đồng mượn tài sản
Theo quy định thời hạn của hợp đồng mượn tài sản sẽ do các bên tự thoả thuận và bên mượn sẽ phải trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; Nếu không thỏa thuận được thời gian trả tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay khi đạt được mục đích mượn.
Bài viết trên đây chúng tôi đã giới thiệu với bạn đọc quy định về mẫu hợp đồng mượn tài sản, bạn đọc có thể lưu lại thông tin và sử dụng khi cần thiết nhé!
Câu hỏi thường gặp:
Nội dung hợp đồng mượn tài sản được quy định như thế nào?
Vì vậy, các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận những nội dung sau trong hợp đồng: Mục tiêu của hợp đồng; Số lượng Chất lượng; Giá cả, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm và cách thức thực hiện hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Giải quyết tranh luận.
Giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng cho mượn tài sản như thế nào?
Tranh chấp hợp đồng phải được giải quyết thỏa đáng bằng các biện pháp có thể áp dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, bảo đảm pháp luật, trật tự, kỷ cương xã hội, giáo dục và đào tạo, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, tích cực tham gia phòng chống các hành vi vi phạm hợp đồng. Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp lâu đời nhất trong lịch sử xã hội loài người trong nhiều lĩnh vực chứ không chỉ tranh chấp hợp đồng. Hòa giải là khi các bên tranh chấp thảo luận và thống nhất giải quyết những khác biệt của họ và tự nguyện thực hiện giải pháp đã thỏa thuận thông qua hòa giải. Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng nếu các bên không thương lượng, không thống nhất được với nhau thì có thể đưa ra giải quyết tại tòa án.
Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển mạnh mé. Hoạt động giao thương diễn ra sôi nổi và thường xuyên hàng ngày. Hợp đồng kinh tế là loại hợp đồng phổ biến và được sử dung khá nhiều. Các bên khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế cần lưu ý một số điều cơ bản. Để giúp các chủ thể hiểu rõ hơn về hợp đồng kinh tế thì Học viện đào tạo pháp chế IAC đã tổng hợp những lưu ý khi làm hợp đồng kinh tế ở bài viết dưới đây. Mời bạn đọc tham khảo nhé
Một số hợp đồng kinh tế phổ biến
Đối tượng của hợp đồng kinh tế rất đa dạng và mỗi loại hợp đồng kinh tế có những đặc điểm riêng. Tài sản phải được quy định và điều chỉnh bởi pháp luật có liên quan để các bên có liên quan sử dụng theo đúng quy định.
Một số loại hợp đồng kinh tế như:
Hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
Hợp đồng xây dựng;
Hợp đồng vận chuyển;
Hợp đồng gia công hàng hóa;
Hợp đồng giao nhận thầu;
Hợp đồng dịch vụ;
Hợp đồng môi giới;
Hợp đồng thuê tài sản;
Hợp đồng chuyển giao công nghệ;
Hợp đồng đại lý;
Các hợp đồng khác liên quan đến mục đích kinh doanh.
Những lưu ý khi làm hợp đồng kinh tế
Sau đây, chúng tôi sẽ nêu một số lưu ý khi làm hợp đồng kinh tế như sau:
Đặt tên hợp đồng đúng với loại hợp đồng ký kết. Ví dụ như hợp đồng mua bán hay hợp đồng thi công,..
Văn phong trong hợp đồng chuẩn mực, không dùng từ đa nghĩa, trình bày rõ ràng, đúng chính tả
Việc ký kết hợp đồng kinh tế phải nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động kinh doanh đã đăng ký.
Các bên tham gia hợp đồng kinh tế không được lợi dụng quyền tự do ký kết hợp đồng để làm trái pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi bên tham gia vào quan hệ hợp đồng kinh tế đều là xuất phát từ lợi ích riêng của mình. Khi ký kết hợp đồng kinh tế, các bên cùng nhau thoả thuận những điều khoản hợp đồng hợp lý có lợi nhất cho cả hai bên, không được có những điều khoản lừa dối chèn ép nhau.
Các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế có quyền và nghĩa vụ hoàn toàn bình đẳng với nhau. Quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tương xứng với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm phán để ký kết hợp đồng các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình và đều có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của bên kia. Không bên nào có quyền ép buộc bên nào. Quan hệ hợp đồng kinh tế chỉ hình thành khi các bên thống nhất ý chí và hoàn toàn đồng ý với nhau về các điều khoản hợp đồng.
Khi quan hệ hợp đồng kinh tế đã được xác lập, các bên đều có nghĩa vụ thực hiện đúng những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì đều phải chịu trách nhiệm trước bên còn lại.
Trong quan hệ hợp đồng kinh tế các bên tham gia ký kết hợp đồng có quyền tự do thoả thuận các điều khoản của hợp đồng miễn là không vi phạm điều cấm của luật. Pháp luật kinh tế luôn tôn trọng ý chí của các bên. Tuy nhiên, các bên có quyền thoả thuận nhưng mọi thoả thuận trong hợp đồng thì không được vi phạm pháp luật cấm mà phải phù hợp với các quy định của pháp luật.
Khi tham gia quan hệ hợp đồng kinh tế các bên phải dùng chính tài sản của mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Các bên có thể dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp hoặc nhờ người khác bảo lãnh về tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng. Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc đảm bảo lợi ích kinh tế của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Hợp đồng kinh tế có hiệu lực khi đảm bảo các điều kiện
Các chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đủ tuổi và nhân thức, có đủ quyền để đại diện ký kết hợp đồng.
Các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện. Sự tự nguyện này xuất phát từ ý chí của chủ thể, tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó mà không phải do cưỡng chế, ép buộc. Sự ép buộc, giả dối sẽ làm vô hiệu hợp đồng.
Nội dung, điều khoản của hợp đồng không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội.
Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa bị cấm giao dịch, công việc bị cấm thực hiện.
Việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải chính xác và có tính khả thi. Các nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ.
Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
Chủ thể trong hợp đồng kinh tế được tự do thỏa thuận và lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế và phương thức giải quyết tranh chấp (nếu có tranh chấp). Cụ thể:
Giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài.
Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng
Giải quyết tranh chấp hợp đồng các bên có thể thông qua phương thức:
Tự thương lượng, hòa giải
Hòa giải tại Trung tâm hòa giải tại Tòa án, tại Trung tâm trọng tài.
Khởi kiện tranh chấp tại Tòa án, hoặc Trung tâm trọng tài.
Bạn vừa theo dõi bài viết về vấn đề “Những lưu ý khi làm hợp đồng kinh tế” của chúng tôi. Hy vọng rằng những lưu ý khi làm hợp đồng kinh tế sẽ giúp bạn lập được hợp đồng kinh tế một cách chỉn chu hơn. Hãy theo dõi chúng tôi để tìm hiểu thêm các kiến thức về pháp luật nhé
Câu hỏi thường gặp
Hợp đồng kinh tế giữa tổ chức và cá nhân có bắt buộc phải công chứng ?
Trường hợp 1: Hợp đồng của bạn pháp luật không có quy định cụ thể về việc bắt buộc phải công chứng hay không, hợp đồng của bạn chỉ cần tuân thủ các quy định của pháp luật. Hợp đồng kinh tế giữa tổ chức ký kết với cá nhân, đã được xác lập bằng văn bản có chữ ký của cả hai bên, các bên trong hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, thì hợp đồng của bạn vẫn có giá trị pháp lý và làm căn cứ để khởi kiện nếu một bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Trường hợp 2: Hợp đồng có đối tượng đặc biệt mà pháp luật yêu cầu phải được lập thành văn bản và phải có công chứng, chứng thực. Khi này hợp đồng kinh tế bắt buộc phải đi công chứng, chứng thực để đảm bảo hợp đồng có hiệu lực.
Cá nhân có thể ký hợp đồng kinh tế với công ty không?
Chủ thể hợp đồng kinh tế được xây dựng giữa các chủ thể hầu hết chính là các thương nhân. Trong đó, thương nhân được định nghĩa tại Điều 6 Luật Thương mại 2005 như sau: “Điều 6. Thương nhân Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ. Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia. Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước”. Đối với hoạt động của những bên chủ thể không phải là thương nhân cũng không có mục đích kiếm lợi nhuận trong quan hệ mua bán phải tuân theo những quy định có trong luật thương mại nếu chủ thể áp dụng hợp đồng mua bán theo Luật thương mại. Như vậy, đối với những quy định nêu trên, công ty được phép ký hợp đồng kinh tế với các cá nhân đủ năng lực dân sự và với các loại hàng hoá mà pháp luật không cấm.
Hiện nay bên cạnh sự phát triển về mọi mặt kinh tế đời sống xã hội thì vấn đề về an ninh trật tự xã hội được quan tâm, chú trọng nhiều tới. Đặc biệt là thời gian hiện nay hàng loạt những vi phạm về pháp luật hình sự diễn ra thường xuyên, một trong những quyền được pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng bảo vệ, tránh sự xâm hại của những hành vi vi phạm đó là quyền sở hữu. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm thường xuyên xảy ra. Nội dung bài viết dưới đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ chia sẻ đến bạn đọc Bài tập về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường gặp và lời giải, mời bạn đọc tham khảo:
Căn cứ pháp lý
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Bài tập về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường gặp và lời giải
Bài tập 1:
Nhận thấy rằng trong khu phố cổ có nhiều người đến tham quan cần phải gửi xe nên A đã rủ B, C, D lấy dây thừng thắt vào các cây bên vỉa hè làm bãi nhận trông giữ xe đạp, xe máy. Sau khi nhận được 4 chiếc xe máy và 3 chiếc xe đạp gửi vào bãi, 4 người này nhanh chóng dắt 4 chiếc xe máy để tẩu tán, để lại 3 chiếc xe đạp. Biết 4 chiếc xe máy này có giá trị trên là 120 triệu đồng.
1. Xác định tội danh của A, B, C, D trong trường hợp này.
2. Nếu B, C chỉ mới 15 tuổi thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này hay không
Lời giải:
1. Hành vi của A,B,C và D đủ yếu tố cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể:
Khách thể của tội phạm
– Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân mà cụ thể ở đây là quyền sở hữu xe máy của những người gửi xe cho A, B, C và D
Mặt khách quan của tội phạm
– Về mặt khách quan, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt tài sản.
– Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt. Trong đó thủ đoạn gian dối là điều kiện, là cơ sở tạo nên lòng tin ở người quản lý tài sản. Người phạm tội chiếm đoạt được tài sản thì được coi là tội phạm hoàn thành. Chiếm đoạt được tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội được người bị hại giao tài sản hoặc nếu người phạm tội đang là người chiếm giữ tài sản thì bằng thủ đoạn gian dối người phạm tội giữ lại được tài sản mà đáng ra phải giao lại cho người bị lừa dối thì coi là chiếm đoạt được tài sản.
– Trong trường hợp này, rõ ràng rằng A, B, C, D đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo mọi người đó là tự nhận mình là người trông giữ xe. Sau khi nhận được tài sản từ họ giao cho thì A, B, C và D đã có hành vi chiếm đoạt cụ thể là nhanh chóng dắt 4 chiếc xe tẩu tán.
Chủ thể của tội phạm
– Chủ thể của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Mặt chủ quan của tội phạm
– Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Trong trường hợp này, cả 4 người đều nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi gian dối, trái pháp luật nhưng vẫn quyết phạm tội đến cùng, mong muốn hậu quả của hành vi xảy ra đó là chiếm đoạt được xe máy của người gửi.
2. Nếu B và C chỉ mới 15 tuổi thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”
Như vậy, theo quy định nêu trên nếu B, C chỉ mới 15 tuổi thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này.
Bài tập 2:
A là sinh viên năm hai của một trường Đại học tại Hà Nội và ở tại ký túc xá khu B của trường. A thường gửi xe mô tô tại nhà giữ xe số 1 của ký túc xá.
Trong một lần khi gửi xe A phát hiện xe Honda Lead của chị X còn gắn chìa khoá trên ổ khoá, A lấy chìa khoá mang về phòng cất giấu. Khoảng 10 ngày, A nhặt được 01 phiếu giữ xe gắn máy của nhà giữ xe nói trên mang số 312 nên A cất giữ với ý định khi có cơ hội sẽ lấy trộm xe của chị X.
Khoảng 6 giờ ngày 22/8/2022 khi thấy nhà giữ xe chỉ có 01 bảo vệ mà sinh viên ra vào đông nên A dùng phiếu giữ xe nhặt được lấy xe của chị X ra khỏi nhà giữ xe và chạy về quê tại cất giấu.
Đến ngày 14/9/2022 A dùng xe trên chở bạn gái đi trên đường thì bị anh C là bạn chị X phát hiện trình báo Công an.
Kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản xác định: Xe mô tô hiệu Honda Lead nêu trên có trị giá 25.000.000 đồng.
Hỏi:Trong trường hợp này A phạm tội gì (Trộm cắp hay lừa đảo)? theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự?
Lời giải:
– A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Vì A đã có ý thức chiếm đoạt tài sản là chiếc xe Honda Leadcủa chị X từ trước nên A lấy chìa khóa xe của chị X khi chị X bỏ quên mang về phòng chờ thời cơ chiếm đoạt và khi có thời cơ A đã có hành vi gian dối là dùng một phiếu giữ xe nhặt được không phải là phiếu của xe Honda Lead, lợi dụng lúc đông người ra vào và chỉ có 01 bảo vệ giữ xe để lấy xe Honda Leadra khỏi bãi gửi xe. Hành vi gian dối thể hiện ở việc A dùng phiếu giữ xe không phải là phiếu xe của xe Honda Leadđể lấy xe. Vì vậy, hành vi của A đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Bài tập 3: Vì muốn có tiền đánh bạc nên A có đến nhà B mượn xe máy và nói rằng mượn xe để đi thăm người ốm. B cho A mượn xe thì A đến quán mua bán xe máy xe máy cũ và bán xe này được 5 triệu.
Hỏi: Hành vi của A đã phạm tội gì?
Lời giải: Trong trường hợp này, A có hành vi dùng thủ đoạn gian dối (giả vờ mượn xe máy của B để thăm người ốm) làm cho B là người sở hữu xe máy tưởng thật và giao xe cho mượn. Khi nhận được xe cho mượn thì A đi bán xe để lấy tiền đánh bạc. Hành vi này của A là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện ở hành vu duy nhất đó là hành vi chiếm đoạt nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Trong đó thủ đoạn gian dối là điều kiện để thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Bài tập 4: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 100 triệu đi tù bao nhiêu năm?
Khoản 2,3,4,5 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Như vậy, nếu phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên 100 triệu có thể sẽ phải ngồi tù từ 2 năm. Cụ thể:
Bị phạt tù 2 năm đến 7 năm nếu lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ 50 triệu đến dưới 200 triệu.
Bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ 200 triệu đến dưới 500 triệu.
Bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ 500 triệu trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (theo khoản 5 điều này).
Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung Bài tập về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường gặp và lời giải. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng có phải chịu trách nhiệm hình sự?
Căn cứ điều 12 bộ luật hình sự 2015; Người dưới 16 tuổi khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bao lâu?
Theo quy định hiện hành, thời hiệu đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định là 01 năm.
Ngày nay, nhân viên bảo vệ rất phổ biến. Ngày nay, bảo vệ đang trở thành một ngành kinh doanh đòi hỏi phải đáp ứng những nhu cầu nhất định và góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh, trật tự nội bộ và an toàn tài sản của công ty. Dù là cơ quan nhà nước, cơ quan hành chính hay chung cư thương mại, lực lượng an ninh luôn có mặt. Sự có mặt của họ đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, xử lý các vụ việc gây rối và chỉ đạo các phong trào trên địa bàn nhằm đảm bảo an ninh trật tự của cơ sở một cách tốt nhất. Sau đây, Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ giới thiệu đến bạn đọc mẫu hợp đồng dịch vụ bảo vệ, bạn đọc có thể tham khảo và tải xuống nhé!
Hợp đồng dịch vụ bảo vệ là một hợp đồng quan trọng để khách hàng thuê nhân viên bảo vệ thực hiện các nhiệm vụ và chức năng bảo vệ tại văn phòng của họ. Nếu người dùng dịch vụ lựa chọn Nhà cung cấp Dịch vụ Bảo mật và dịch vụ bảo mật có uy tín, người dùng dịch vụ chấp nhận và ký vào thỏa thuận và sử dụng dịch vụ.
Hợp đồng dịch vụ bảo vệ. Dịch vụ bảo vệ là cơ sở pháp lý quan trọng để các bên ghi nhận quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình. Xác định công việc và tổ chức và các điều khoản khác.
Người sử dụng dịch vụ có lý do để yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác đã giao kết trong hợp đồng. Xác định đối tượng và yêu cầu không được chuyển giao dịch vụ cho người khác khi chưa được sự đồng ý của người sử dụng dịch vụ.
Hợp đồng phát sinh nghĩa là nó là căn cứ xác định trách nhiệm, mức bồi thường thiệt hại, làm căn cứ khởi kiện người gây thiệt hại.
Hai bên phải cung cấp đầy đủ thông tin như tên, số điện thoại, ngày sinh, an sinh xã hội, nơi làm việc, v.v.
Thỏa thuận bào chữa phải tương ứng với nội dung Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
Mục tiêu của hợp đồng;
Số lượng, chất lượng;
Giá cả, phương thức thanh toán;
Thời hạn, địa điểm và cách thức thực hiện hợp đồng;
Quyền và nghĩa vụ của các bên;
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; Giải quyết tranh chấp.
Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ bảo vệ:
Khi bạn quyết định các điều kiện về quyền và nghĩa vụ của các bên thì căn cứ vào điều kiện nội dung, giá trị của hợp đồng cũng như lợi ích hợp pháp mà các bên đã thỏa thuận.
Quy định này có thể nhắc lại các nhiệm vụ, nghĩa vụ của các bên đã được xác định trong các quy định trước và bổ sung các điều kiện bắt buộc nếu các bên thấy cần thiết.
Nhìn chung, đối với mỗi loại hợp đồng, pháp luật đều có những quy định cơ bản về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này.
Điều kiện của hợp đồng:
Đây là điều kiện quan trọng để hiệp định được thực thi trên thực tế.
Các bên nên thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cụ thể; Thời gian thực hiện hợp đồng; Ngày chấm dứt hợp đồng.
Khi xác định loại hợp đồng cho một nhiệm vụ, loại hợp đồng có thể là: hợp đồng xác định thời hạn, hợp đồng không xác định thời hạn;
Hợp đồng có thời hạn được thêm vào;
Nơi làm việc: ghi rõ địa chỉ, số nhà, đường/phố, quận/huyện, tỉnh/thành phố; tại trụ sở chính, chi nhánh…
Đàm phán thỏa thuận lương
Tiền lương bao gồm tiền lương theo chức vụ hoặc chức danh công việc, tiền lương bổ sung và các khoản bổ sung khác.
Lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do chính phủ quy định.
Hoặc các bên ký hợp đồng có thỏa thuận khác
Thỏa thuận bào chữa có thể được thực hiện dưới hai hình thức miệng hoặc văn bản như sau:
Dạng lời nói (nói):
Với hình thức này, các bên trong hợp đồng chỉ phải thỏa thuận bằng lời nói về nội dung chủ yếu của hợp đồng hoặc gián tiếp thực hiện các hành vi nhất định đối với nhau.
Hình thức này thường được sử dụng trong trường hợp các bên có sự tin tưởng lẫn nhau (bạn bè cho nhau vay mượn) hoặc đối với những hợp đồng được thực hiện và hủy bỏ ngay sau khi ký kết.
Hình thức viết (bằng văn bản):
Để nâng cao tính xác thực của nội dung đã thỏa thuận, các bên có thể sửa chữa nội dung của hợp đồng bằng văn bản.
Trong văn bản, các bên phải ghi đầy đủ nội dung chính của thỏa thuận và cùng nhau ký tên vào văn bản.
Trong trường hợp có tranh chấp, hợp đồng bằng văn bản cung cấp bằng chứng pháp lý mạnh mẽ hơn so với hình thức miệng.
Căn cứ vào nội dung của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình đối với bên kia.
Vì vậy, các bên thường lựa chọn hình thức này trong các hợp đồng không được thực hiện bằng chữ ký.
Thông thường, hợp đồng được lập thành nhiều bản, mỗi bên giữ một bản, được coi là bằng chứng về quyền công dân của mình.
Cần lưu ý gì khi ký kết hợp đồng dịch vụ bảo vệ với công ty bảo vệ?
Dữ liệu cá nhân được cung cấp từ đầu tài liệu là bắt buộc và phải chính xác. Nếu sai chủ thể thì hợp đồng có thể vô hiệu
Hợp đồng chung và hợp đồng bảo đảm. về dịch vụ bảo vệ nói chung, bạn phải đọc kỹ nội dung trước khi ký tên. Đây là bước cơ bản để tự bảo vệ mình. Nhiều người đã mắc phải sai lầm này khi chỉ đọc qua mà không hiểu hợp đồng viết gì, dẫn đến những rủi ro không đáng có.
Khi tìm kiếm và lựa chọn công ty bảo vệ uy tín, an toàn thì hợp đồng cần rõ ràng, ngôn từ đơn giản, gần gũi để khách hàng có thể hiểu được nội dung của hợp đồng. Hợp đồng càng chi tiết, càng dễ hiểu thì càng dễ xử lý các tình huống phát sinh.
Câu hỏi thường gặp:
Chủ thể hợp đồng dịch vụ bảo vệ là ai?
Nhìn chung, nội dung này thường được ghi trong hợp đồng để các bên biết. Một hợp đồng chỉ được ký kết nếu có hai bên trong hợp đồng và cơ sở. Do đó, nội dung của đối tượng của hợp đồng là cơ bản và ràng buộc. Chủ thể của hợp đồng có thể là cá nhân, tổ chức hoặc người (pháp nhân) có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Nguyên tắc thanh lý hợp đồng dịch vụ bảo vệ là gì?
Nguyên tắc “hủy bỏ hợp đồng dịch vụ bảo vệ” được thực hiện theo nguyên tắc hợp đồng của pháp luật dân sự luôn tôn trọng các nguyên tắc tự do, tự nguyện của nghĩa vụ và hợp đồng bảo đảm không mâu thuẫn với các quy định của pháp luật dân sự. luật Điều luật quy định tại mục 3 BLDS 2015: Tất cả các thể nhân và pháp nhân đều bình đẳng và không được sử dụng bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; đều được bảo vệ bình đẳng cả về nhân thân và tài sản. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự trên cơ sở tự do, nghĩa vụ tự nguyện và thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội đều có hiệu lực thi hành đối với các bên và các bên khác phải tuân theo. Chủ thể hợp đồng phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
Hiện nay, đất nước ta đang mở cửa hội nhập cùng với nền kinh tế thế giới, các cơ quan ban ngành từ trung ương đến địa phương đang thực hiện nhiều giải pháp để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Vì vậy, hoạt động thương mại, kinh doanh của các công ty không chỉ giới hạn ở thị trường trong nước mà đã lan rộng ra nước ngoài. Do đó, các rủi ro pháp lý tiềm ẩn luôn tồn tại, đòi hỏi phải có các giải pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại trong hợp đồng. Để nhằm ghi nhận lại một số thỏa thuận của các bên trong hoạt động kinh tế thì các bên tiến hành lí kết hợp đồng kinh tế. Khi nghe loại hợp đồng này không phải ai cũng hiểu rõ Hợp đồng kinh tế là gì? Nội dung hợp đồng kinh tế bao gồm những gì? Do vậy vài viết dưới đây Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ trình bày một số thông tin về hợp đồng kinh tế. Cùng tìm hiểu nhé
Hợp đồng kinh tế là gì?
Hợp đồng kinh tế là văn bản ghi lại sự thỏa thuận, các tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết với nhau về việc thực hiện hoạt động sản xuất, trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình.
Hợp đồng kinh tế là thuật ngữ nói chung. Một số hợp đồng kinh tế cụ thể như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; hợp đồng hợp tác kinh doanh; hợp đồng môi giới; hợp đồng gia công hàng hóa; hợp đồng dịch vụ; hợp đồng giao nhận thầu; hợp đồng xây dựng; hợp đồng đại lý; hợp đồng vận chuyển; hợp đồng chuyển giao công nghệ; …
Hợp đồng kinh tế phải tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng, tuân thủ quy định của Luật thương mại và các văn bản pháp lý liên quan. Khi giao kết hợp đồng kinh tế các bên có thể thỏa thuận hình thức của hợp đồng bằng giấy hoặc sử dụng hợp đồng điện tử.
Đặc điểm của hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế có những đặc điểm nổi bật như sau:
Mục đích: Hợp đồng kinh tế gắn liền với hoạt động mua, bán sản phẩm, hàng hóa giữa các chủ thể kinh doanh. Trong đó, bên ký kết hợp đồng phải có mục tiêu kinh doanh là thu lợi nhuận.
Chủ thể thực hiện hợp đồng: Hợp đồng ký kết giữa một bên là pháp nhân, phía còn lại có thể là cá nhân có đăng ký kinh doanh, hay là pháp nhân theo quy định. Nội dung của hợp đồng đã giao kết phải phù hợp với lĩnh vực, hoạt động ngành nghề kinh doanh đã đăng ký với cơ quan nhà nước.
Hình thức hợp đồng: Hợp đồng phải thể hiện bằng văn bản và phải có chữ ký xác nhận của các bên về điều khoản, nội dung đã thỏa thuận
Nội dung hợp đồng kinh tế
Các bên tham gia giao kết hợp đồng kinh tế có quyền tự do thỏa thuận nội dung của hợp đồng kinh tế. Dưới đây chúng tôi sẽ nếu ra một số nội dung chính của hợp đồng kinh tế giúp bạn đọc hiểu hơn về hợp đồng kinh tế nhé:
Về tên hợp đồng: Ví dụ như Hợp đồng thi công công trình, hợp đồng cung cấp thiết bị xây dựng;…
Đối tượng của hợp đồng: Ví dụ: công trình thi công; thiết bị xây dựng,……
Giá, phương thức thanh toán: Nêu rõ giá cả cụ thể để thực hiện hợp đồng, ghi rõ sử dụng đồng tiền nào để thanh toán và phương thức thanh toán.
Số lượng, chất lượng: Tùy từng đối tượng cụ thể mà ghi rõ về về số lượng, chất lượng của đối tượng ấy. Ví dụ trong hợp đồng bán hàng hóa mặt hàng là tấm tôn để lợp nhà. Số lượng 30 tấm, chất lượng: tôn lạnh, dày 1,5mm,…
Thời hạn, địa điểm: Ví dụ thời hạn thực hiện hợp đồng từ ngày… đến ngày… Địa điểm giao hàng tại… … Các nội dung được nêu ra càng chi tiết thì càng tránh được rủi ro.
Phương thức thực hiện hợp đồng: Ví dụ thực hiện theo tiến độ
Quyền, nghĩa vụ của các bên: Có điều khoản ghi rõ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng kinh tế
Phương thức giải quyết tranh chấp: Điều khoản này ghi rõ phương án giải quyết chung khi phát sinh tranh chấp. Ví dụ: giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng: quy định việc phạt vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ( nếu có bên vi phạm hợp đồng)
Được phạt vi phạm hợp đồng kinh tế trong trường hợp nào?
Tại Điều 300 Luật Thương mại quy định về phạt vi phạm như sau:
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”.
Ngoài ra, Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, trong đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm sẽ do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Như vậy, căn cứ theo các quy định trên, phạt vi phạm hợp đồng được thực hiện khi:
– Có hành vi vi phạm hợp đồng;
– Các bên có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm.
Về mức phạt vi phạm, với mỗi loại hợp đồng kinh tế khác nhau sẽ quy định mức phạt vi phạm hợp đồng khác nhau:
– Với hợp đồng kinh tế thương mại, theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
– Đối với hợp đồng kinh tế xây dựng, Điều 146 Luật Xây dựng 2014 quy định công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.
Trên đây là một số thông tin tư vấn của chúng tôi về hợp đồng kinh tế. Mong rằng thông tin chúng tôi chia sẻ giúp bạn đọc hiểu hơn về Hợp đồng kinh tế là gì? Hãy theo dõi chúng tôi để biết thêm nhiều kiến thức pháp luật hay nhé
Câu hỏi thường gặp
Để hợp đồng kinh tế có hiệu lực cần đáp ứng điều kiện gì?
Điều kiện hợp đồng kinh tế có hiệu lực Hợp đồng kinh tế cần ký kết một cách hợp pháp tuân thủ quy định của Pháp luật. Điều kiện hợp đồng kinh tế có hiệu lực gồm có: Thứ nhất, các chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có đủ thẩm quyền đại diện ký kết hợp đồng. Thứ hai, giao kết trên nguyên tắc tự nguyện, tự do ý chí, trung thực. Sự ép buộc, giả dối sẽ làm vô hiệu hợp đồng khi ký kết. Thứ ba, Nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Có thể giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế bằng những phương thức nào?
Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Do liên quan đến lợi ích kinh tế do đó khi thực hiện hợp đồng rất dễ dẫn đến giao tranh chấp. Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế được sử dụng thường là: (!)Tự thương lượng, hòa giải (!!) Giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài. (!!!) Giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Dưới đây là bài tập tình huống luật hình sự (có lời giải) thường gặp trong các bài thi của các trường đào tạo Luật. Học viện đào tạo pháp chế ICA tổng hợp lại để các bạn sinh viên có thể tham khảo, từ đó nâng cao kiến thức và biết cách vận dụng quy định pháp luật để giải quyết các tình huống thực tế.
Tình huống 1:
A là chủ kiêm lái xe chở xăng dầu. A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty. Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn lấy bớt dầu vẫn chuyển của công ty X như sau:
Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần 200 lít. Sau đó A đổ đầy nước vào chiếc thùng phi đúng 200 lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe.
Bằng thủ đoạn trên A đã nhiều lần lấy dầu được thuê vận chuyển với tổng trị giá là 100 triệu đồng thì bị phát hiện.
Câu hỏi:
Anh (chị) hãy xác định tội danh cho hành vi của A?
B có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A không? Nếu có thì tội danh cho hành vi của B là gì?
Đáp án:
1. Anh (chị) hãy xác định tội danh cho hành vi của A?
Trường hợp 1: Hành vi của A cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS 2015):
Về dấu hiệu pháp lý: Điều 175 BLHS quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 trường hợp:
Thứ nhất, bằng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay mượn, thuê,…
Thứ hai, sử dụng tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê,… vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
* Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản luôn là tài sản, giống như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, tuy nhiên, tội phạm này không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây là điểm khác biệt so với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhắm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản. Trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không quy định những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản mà người phạm tội bị đuổi bắt, có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hay gây thương tích, hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác thì tùy trường hợp người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích, hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Trong tình huống trên, khách thể của tội phạm chính là lượng dầu mà A đã chiếm đoạt được sau nhiều lần thực hiện hành vi gian dối, tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 100 triệu đồng.
* Chủ thể của tội phạm:
Ngoài những điều kiện về tuổi và phải có năng lực trách nhiệm hình sự, tội này đòi hỏi chủ thể phải là những người đã được chủ tài sản tín nhiệm giao cho khối lượng tài sản nhất định. Cơ sở giao tài sản là hợp đồng, việc giao và nhận tài sản là hoàn toàn ngay thẳng. Chủ tài sản do tín nhiệm đã giao tài sản để người được giao sử dụng, bảo quản, vận chuyển, gia công hoặc sửa chữa,… tài sản.
Theo đề ra, vì A ký hợp đồng vận chuyển dầu nên A chắc chắn đã có bằng lái ô tô bởi vậy có thể khẳng định rằng A có đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự, Trong đề cũng nêu rõ “A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty”, như vậy A đã được công ty X tín nhiệm, giao cho việc vận chuyển dầu chạy máy. Nếu công ty X là doanh nghiệp tư nhân thì A không có trách nhiệm quản lý tài sản, mà chỉ có trách nhiệm vận chuyển, như vậy A không có dấu hiệu chủ thể đặc biệt của tội tham ô đó là có chức vụ, quyền hạn quản lý đối với tài sản được giao.
* Mặt khách quan của tội phạm:
– Hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đã được giao trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa chủ tài sản và người có hành vi chiếm đoạt.
Hành vi chiếm đoạt ở đây là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết. Những hành vi đó là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết:
– Không trả lại tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối ( như giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản rút bớt tài sản,… ) hoặc
– Không trả lại được tài sản do không có khả năng vì đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp (như dùng vào việc buôn lậu, buôn bán hàng cấm hay đánh bạc, ….)
Hành vi gian dối của A đã được miêu tả kỹ trong đề bài “Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần 200 lít. Sau đó A đổ đầy nước vào chiếc thùng phuy không mang sẵn đúng 200 lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe”. Ban đầu sau khi nhận được dầu thật, A bí mật đem bán, sau đó A đổ nước vào thùng với khối lượng tương đương, đem tới công ty nhập kho, cuối cùng đổ nước đi và ra khỏi kho dầu.
A đã lợi dụng sự tín nhiệm của công ty X để kiếm lừa dối, chiếm dụng lượng dầu mỗi lần vận chuyển. Giữa A và công ty X đã có hợp đồng vận chuyển “A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty”. A đã có hành vi gian dối, tráo đổi tài sản, cụ thể là đổi dầu bằng nước.
– Đối tượng của hành vi chiếm đoạt: Đối tượng của hành vi chiếm đoạt trong tội này là những tài sản đã được giao ngay thẳng cho người phạm tội trên cơ sở hợp đồng, trong đề bài đối tượng của hợp đồng chính là 200 lít dầu mỗi lần A được thuê vận chuyển.
– Hậu quả: Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Theo khoản 1 Điều 175 BLHS thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 4 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 4 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trong đề bài đã cho thì hậu quả của hành vi chiếm đoạt của A đã quá rõ ràng, tổng trị giá tài sản mà A đã chiếm đoạt phi pháp có giá trị là 100 triệu đồng, thỏa mãn điểm b khoản 2 Điều 175 BLHS
* Mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt được tài sản, mục đích cũng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trong trường hợp đề ra thì lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp. Về lý trí, A nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt dầu máy của công ty X sẽ gây thiệt hại về tài sản cho công ty, thấy trước hậu quả của hành vi chiếm đoạt trên. Về ý chí, A mong muốn hậu quả phát sinh, A mong chiếm được số dầu trên để đem bán kiếm lợi nhuận.
Khi phân tích đề bài rất có thể có sự nhầm lẫn, cho rằng hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Vì giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản có 1 điểm khác nhau cơ bản đó là thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt, nếu như A trước khi ký hợp đồng vận chuyển dầu cho công ty X đã có ý định chiếm đoạt tài sản thì chắc chắn A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn nếu sau khi A có được lượng dầu một cách hợp pháp (thông qua hợp đồng vận chuyển) mới nảy sinh ý định chiếm đoạt thì hành vi của A cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Có thể thấy trong đề nêu rằng “Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn lấy bớt dầu vẫn chuyển của công ty X” mặt khác, hợp đồng vận chuyển dầu nhiều lần thì thường là hợp đồng vận chuyển dài hạn, nên ý định phạm tội của A có thể coi là phát sinh sau khi ký được hợp đồng. Tuy nhiên, nếu ý định này phát sinh trước khi ký hợp đồng, hoặc hợp đồng vận chuyển dầu được ký mỗi lần trước khi vận chuyển thì hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Về cơ bản thì khung hình phạt của A là không thay đổi “bị phạt tù từ 2 đến 7 năm”.
Trường hợp 2: Hành vi của A cấu thành tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS 2015):
Về dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội phạm)
* Chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội tham ô là chủ thể đặc biệt: chỉ những người mang dấu hiệu chủ thể đặc biệt đó làm dấu hiệu có chức vụ quyền hạn quản lý tài sản mới có thể là chủ thể của tội này, những người không có chức vụ quyền hạn chỉ có thể là đồng phạm tham ô với vai trò là người xúi giục, tổ chức hay giúp sức.
Chủ thể của tội tham ô là người có trách nhiệm quản lý tài sản, trách nhiệm này có thể có được do có chức vụ hoặc do đảm nhiệm những chức trách công tác nhất định, trách nhiệm quản lý tài sản cần được phân biệt với trách nhiệm bảo vệ đơn thuần của người làm công việc bảo vệ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Người có chức vụ quyền hạn là người do bổ nhiệm,do bầu cử ,do hợp đồng hoặc do hình thức khác có hưởng lương hoặc không hưởng lương được giao thực hiện nhiệm vụ nhất định có quyền hạn. Cho nên ở đây A thông qua hợp đồng đã được công ty X giao cho nhiệm vụ và quyền hạn trong việc vận chuyển xăng dầu. A được đảm nhiệm công việc có tính độc lập đó là công việc tạo ra cho người được giao (tuy không có trách nhiệm quản lí tài sản) mối quan hệ cũng như trách nhiệm với khối lượng tài sản nhất định trong khoảng thời gian nhất định. Ở đây công ty X đã giao cho anh A một mình vận chuyển chuyển chuyến hàng, không có người áp tải. (Trong trường hợp những thùng dầu A chở được một cơ quan dùng dây chì buộc lại với nhau thì cơ quan đó mới là người quản lý tài sản, và khi đó A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như đã nêu ở phần a.1).
Khi A có trách nhiệm quản lý lượng dầu máy thì A là người có thẩm quyền, bởi vậy A thỏa mãn dấu hiệu chủ thể đặc biệt của tội tham ô tài sản.
* Về mặt khách quan:
Người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ quyền hạn.
Hành vi phạm tội của tội tham ô trước hết là hành vi chiếm đoạt, đối tượng của hành vi chiếm đoạt là những tài sản mà người phạm tội được giao quển lý, người phạm tội đã lợi dụng trách nhiệm quản lý tài sản được giao mà chiếm đoạt tài sản mình đang quản lý. Người phạm tội tham ô có thể dùng những thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt được tài sản, xét đến cùng thì những thủ đoạn đó thực chất đều là sử dụng chức vụ quyền hạn được giao như phương tiện, điều kiện để có thể dễ dàng biến tài sản được giao thành tài sản của mình.
Trong vụ án đề ra, hành vi của A là hành vi gian dối, với những thủ đoạn đã phân tích như trong phần a.1.
* Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội tham ô tài sản là những quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội là hoạt động theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Hành vi của A
Về mặt chủ quan của tội phạm không có gì khác biệt so với phần a.1.
Điểm khác biệt giữa Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tội tham ô chính là dấu hiệu về chủ thể. Nếu như A có trách nhiệm quản lý tài sản thì hành vi của A cấu thành tội tham ô tài sản.
Hành vi của A thỏa mãn Điểm d Khoản 2 Điều 353 BLHS về tội tham ô tài sản.
2. B có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A.
Việc B có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không thì có thể chia ra những trường hợp như sau:
Thứ nhất, nếu B hoàn toàn không biết gì về hành vi chiếm đoạt của A, không biết số dầu A bán cho mình là bất hợp pháp, và không có bất kỳ thỏa thuận nào với A thì B không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A. Trong cấu thành của mọi vi phạm pháp luật thì yếu tố lỗi là yếu tố không thể thiếu. Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Trong trường hợp thứ nhất này, B không hề có lỗi trong việc tiêu thụ dầu của A, hoàn toàn ngay tình, bởi vậy nên B không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A.
Thứ hai, nếu B hoàn toàn biết được số dầu mình mua của A là do A chiếm đoạt được một cách phi pháp, nhưng giả vờ như không biết, giữa A và B không hề có sự hứa hẹn hay thỏa thuận nào, B do ham lợi vẫn cố tình tiêu thụ dầu thì hành vi của B thỏa mãn cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323 BLHS)
– Về mặt khách quan của tội phạm, hành vi của B là hành vi tiêu thụ dầu máy mà biết được đó là lượng dầu A chiếm được do phạm tội, tuy nhiên giữa A và B không có bất kỳ sự thỏa thuận nào.
– Về mặt chủ quan, B nhận thức rõ hành vi tiêu thụ dầu máy mà A chiếm đoạt được một cách phi pháp là nguy hiểm cho xã hội, lượng dầu rất lớn (200 lít dầu mỗi lần) nhưng do ham lợi nhuận, B vẫn cố tình tiêu thụ số dầu đó, B nhận thức được rõ ràng hậu quả của hành vi của mình. Lỗi của B là lỗi cố ý.
Như vậy hành vi của B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 323 BLHS – Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Thứ ba, nếu giữa B và A có sự thỏa thuận trước với nhau (ví dụ như A chiếm đoạt dầu để B tiêu thụ, dầu sẽ được bán cho B với giá thấp hơn giá thị trường 5%, B đảm bảo nguồn cầu cho A,.. ). A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì hành vi của B cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 175 – BLHS với vai trò đồng phạm của A.
* Về mặt khách quan:
– Đồng phạm đòi hỏi có ít nhất 2 người tham gia thực hiện tội phạm và họ có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm, cả A và B đều đủ điều kiện chủ thể,
– Những người đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm, với một trong 4 hành vi: thực hiện tội phạm hoặc tổ chức thực hiện tội phạm hoặc xúi giục người khác thực hiện tội phạm hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm. A và B cùng tham gia thực hiện tội phạm, A lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt dầu máy, B phụ trách tiêu thụ.
* Về mặt chủ quan:
Cả A và B đều cố ý thực hiện hành vi phạm tội, A chiếm đoạt, B tiêu thụ giúp, vì giữa hai người đã có sự thỏa thuận với nhau nên họ còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của người đồng phạm kia.
– Về lý trí: A biết rõ hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt dầu máy là trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, B cũng biết rõ hành vi tiêu thụ dầu của mình là gây nguy hiểm cho xã hội. Hai người cũng biết rõ hành vi cố ý của người kia.
– Về ý chí: tất nhiên cả hai người này mong muốn có hoạt động chung, và cùng mong muốn để cho hậu quả phát sinh, bởi vì nếu A chiếm đoạt được dầu thì rất cần có nơi tiêu thụ, B cũng muốn kiếm được thêm tiền vì hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tuy nguy hiểm nhưng chắc chắn đem lại lợi nhuận cao hơn so với bình thường.
Trường hợp đồng phạm của A và B là đồng phạm giản đơn, cả 2 người tham gia với vai trò đồng thực hành nếu phân chia theo dấu hiệu khách quan. Còn nếu chia theo dấu hiệu chủ quan thì trường hợp đồng phạm của họ là đồng phạm có dự mưu, nghĩa là đã có sự bàn bạc, thỏa thuận từ trước để thực hiện hành vi chiếm đoạt và tiêu thụ dầu nhiều lần (tổng trị giá tài sản lên tới 100 triệu).
Đối với trường hợp đồng phạm giản đơn này, theo nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, thì A và B đều bị truy tố, xét xử về cùng 1 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo điểm d khoản 2.
Thứ tư, nếu giữa B và A có sự thỏa thuận trước với nhau, A phạm tội tham ô tài sản, thì hành vi của B cấu thành Tội tham ô tài sản với vai trò đổng phạm.
* Về mặt chủ quan: không có gì khác biệt so với trường hợp thứ ba nêu trên.
* Về mặt khách quan :
– Đồng phạm đòi hỏi có ít nhất 2 người tham gia thực hiện tội phạm và họ có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm, cả A và B đều đủ điều kiện chủ thể,
– Những người đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm, với một trong 4 hành vi : thực hiện tội phạm hoặc tổ chức thực hiện tội phạm hoặc xúi giục người khác thực hiện tội phạm hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm.
Trong đề bài ra thì A đóng vai trò người thực hành của tội tham ô, hành vi của A là lợi dụng quyền hạn quản lý tài sản bằng hành vi gian dối đã chiếm đoạt lượng dầu với tổng trị giá 100 triệu, còn B đóng vai trò người giúp sức,hành vi của B là tiêu thụ dầu giúp A.
Như vậy B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản với vai trò người giúp sức. Ngoài ra B cũng có thể là người xúi giục hoặc người tổ chức.
Tình huống 2:
A là người quốc tịch Canada. A có hành vi phạm tội giết người trên lãnh thổ Việt Nam và bị bắt tại Anh.
Câu hỏi:
a) Hành vi phạm tội của A có bị xử theo Bộ luật Hình Sự Việt Nam không?
b) Giả định A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A có bị coi là tội phạm không?
Giải đáp:
a) Về nguyên tắc thì A bị xử lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam: Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuy nhiên do A là người Canada nên việc xử lý A phải căn cứ vào khoản 2 điều 5 của Bộ luật hình sự. Nếu A là đối tượng thuộc khoản 2, điều 5 bộ luật hình sự thì vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Như vậy, có thể A sẽ bị xử theo Bộ luật Hình sự Việt Nam.
b) Dù A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A vẫn bị coi là tội phạm.
Hành vi của A là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam vì nó thoả mãn những đặc điểm của tội phạm:
Tính nguy nguy hiểm cho xã hội
Tính có lỗi
Tính trái pháp luật hình sự
Tính chịu hình phạt
Hành vi của A là tội phạm tuy nhiên do A (chủ thể của tội phạm) thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao nên vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao theo quy định tại khoản 2, điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Tình huống 3:
Lợi dụng lúc gia đình B ngủ trưa không đóng cửa, A lẻn vào nhà B lấy chiếc xe đạp mini Nhật (trị giá khoảng hai triệu đồng). A dắt xe ra đến sân thì bị anh B phát hiện và đuổi theo giằng lại, A dùng chân đạp mạnh vào người anh B làm anh ngã ra sân. A vội lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát nhưng đã bị mọi người bắt giữ. Anh B ngã chỉ bị xây xước. Về việc phạm tội của A có quan điểm cho rằng:
a) A phạm tội trộm cắp tài sản với tình tiết hành hung tẩu thoát (điểm d khoản 2 Điều 173 BLHS)
b) A phạm tội cướp tài sản
Theo anh (chị) quan điểm nào đúng và giải thích tại sao?
Giải đáp:
Với tình huống như đã mô tả ở trên thì A phạm tội cướp tài sản theo điều 168 BLHS.
Giải thích: Tội cướp tài sản là dùng vũ lực hoặc đe doa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản (168 BLHS)
* Khách thể:
Xâm phạm đến quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Như vậy, tội “Cướp tài sản” xâm phạm đồng thời hai quan hệ được luật hình sự bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu.
* Mặt khách quan :
Theo quy định của điều luật, có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi phạm tội của tội cướp tài sản. Đó là: + Hành vi dùng vũ lực; + Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc; + Hành vi làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Cả ba hành vi trên đều có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản.
* Chủ thể:
Là chủ thể thường chỉ đòi hỏi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
* Mặt chủ quan của tội pham:
+ Lỗi của người phạm tội cướp tài sản là lỗi cố ý.
+ Mục đích của tội cướp tài sản là chiếm đoạt tài sản.
Đối chiếu và tình huống trên ta thấy mặc dù ý định ban đầu của A là thực hiện hành vi trộm cắp nhưng từ lúc A dắt xe ra bị B phát hiện và giữ lại, A dùng chân đạp mạnh và người B, làm B ngã và A đã lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát hành vi này đã đủ cấu thành tội cướp tài sản và lúc này tội trộm cắp tài sản đã chuyển hóa thành tội cướp tài sản, đây chính là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản. Kể cả trong trường hợp A đã chiếm đoạt được chiếc xe đạp bằng thủ đoạn của tội trộm cắp nhưng ngay sau đó đã bị phát hiện và A đã tấn công lại B bằng những thủ đoạn của tội cướp nhằm giữ bằng được chiếc xe đạp đã chiếm đoạt trước đó thì vấn bị xử tội cướp tài sản. Hành vi tấn công B dùng chân đạp mạnh vào người B làm B ngã và lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát không thể được coi là tình tiết hành hung để tẩu thoát theo điểm d khoản 2 điều 173 BLHS được vì trường hợp hành hung để tẩu thoát là người phạm tội đã có hành vi dùng sức mạnh chống trả lại việc bắt giữ để tẩu thoát. Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát chứ không phải nhằm mục đích giữ bằng được tài sản vừa mới chiếm đoạt được. Mà theo mô tả trên thì A tấn công B không phải nhằm mục đích tẩu thoát mà nhằm mục đích giữ bằng được chiếc xe đạp vì vậy đây là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản nên tội trộm cắp đã chuyển hoá thành tội cướp tài sản.
Trong tình huống trên, mặc dù A cho là lên xe đạp để tẩu thoát nhưng xe đạp là xe của ông D, việc A tẩu thoát cùng với xe đạp của người bị hại phải bị coi là chiếm đoạt tài sản chứ không thể coi là A “mượn tạm” để tẩu thoát. Ai thực hiện hành vi phạm tội xong cũng đều có mục đích tẩu thoát. Nhưng trong trường hợp này, mục đích của A không chỉ đơn thuần là tẩu thoát mà còn là chiếm đoạt.
Như vậy, qua sự phân tích và căn cứ vào hướng dẫn trên ta khẳng định rằng A phạm tội cướp tài sản theo điều 168 BLHS, (do tội Cướp tài sản là tội có cấu thành hình thức nên tội phạm đã hoàn thành từ khi A dùng chân đạp vào B để lấy cho bằng được chiếc xe), chứ không phải tội trộm cắp tài sản với tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm d khoản 2 điều 173 BLHS).
Trên đây là nội dung tư vấn về: “Bài tập tình huống luật hình sự có lời giải”. Hy vọng bài viết có ích cho bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Thế nào được coi là phạm tội chưa đạt?
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Phạm tội chưa đạt có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.