Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương XII

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương XII

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương XII tập trung vào các quy định về vi phạm hành chính và cách xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý nhà nước. Nội dung chương cung cấp cho sinh viên kiến thức quan trọng về khái niệm vi phạm hành chính, các hình thức xử phạt, thẩm quyền xử lý và biện pháp ngăn chặn. Đây là tài liệu cần thiết để hiểu rõ quy trình xử lý vi phạm hành chính theo pháp luật, hỗ trợ sinh viên chuẩn bị tốt cho các kỳ thi và vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương XII

    I. Vi phạm hành chính

    1. Khái niệm

    ĐN: Vi phạm hành chính là hành vi trái PL do các cá nhân, tổ chức thực hiện 1 cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm, được PL hành chính quy định về cấu thành và nguy cơ áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính.

    Chú ý: vấn đề phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm là vấn đề khó trong thực tế. Vì ở VN luật hình sự rất phát triển (hơn hẳn luật hành chính), vì yếu tố lịch sử do pháp luật từ thời phong kiến hầu như là hình luật, do đó thường thấy hiện tượng áp dụng tư duy luật hình sự vào xử lý vi phạm phạm hành chính.

    Trên thế giới cũng chưa có quốc gia nào ban hành được Luật hành chính, vì nếu có thì sẽ là bộ luật rất khổng lồ, chỉ tính riêng Luật xử lý vi phạm hành chính cũng đã có hơn 50 nghị định

    Đặc điểm của vi phạm hành chính:

    Là hành vi trái PL của cá nhân, tổ chức: trái PL ở đây là trái PL hành chính hoặc trái bất kỳ PL nào khác như PL dân sự, PL môi trường, PL lao động, …

    Chú ý: Vi phạm hành chính  ><  Vi phạm PL hành chính, vì có những hành vi không trái PL hành chính vẫn được coi là vi phạm hành chính, và ngược lại có những hành vi tuy trái PL hành chính nhưng không phải là vi phạm hành chính mà có thể là tội phạm (VD hành vi chống người thi hành công vụ, tham ô, tham nhũng, cố ý làm trái các quy định của PL, mặc dù là trái PL hành chính, nhưng do tính chất mức độ nguy hiểm đã đủ để cấu thành tội phạm nên không còn là vi phạm hành chính mà trở thành tội phạm)

    VD: vi phạm hành chính trái PL hành chính:

    • người đang điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà sử dụng ô, điện thoại di động; không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên mô tô, xe máy đang tham gia giao thông (Nghị định 171 về xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông)
    • người gây rối trật tự nơi công cộng (Nghị định 167 về xử phạt vi phạm an ninh trật tự xã hội)

    VD: vi phạm hành chính trái PL khác (không phải PL hành chính):

    • người có hành vi cử chỉ thô bạo, xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác: đây là vi phạm PL dân sự (vi phạm quyền bất khả xâm phạm về nhân thân), nhưng vẫn được quy định là vi phạm hành chính (trong Nghị định 167 về xử phạt vi phạm an ninh trật tự xã hội)
    • hành vi đơn phương sa thải lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai: đây là trái PL lao động, nhưng vẫn được coi là vi phạm hành chính
    • người lao động không sử dụng phương tiện bảo hộ lao động khi làm việc, hoặc sử dụng phương tiện bảo hộ lao động sai mục đích: cũng là vi phạm PL lao động, nhưng cũng được coi là vi phạm hành chính
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương XII
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương XII

    Là hành vi đươc thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý (tức là có lỗi): lỗi của vi phạm hành chính là thái độ tâm lý của 1 người đối với hành vi của mình, có nội dung là sự nhận thức về tính xâm hại trật tự quản lý hành chính NN, tính trái PL của hành vi đó, nhưng vẫn lựa chọn thúc đẩy hành động của mình trái với yêu cầu của PL, trong khi có đủ điều kiện lựa chọn và quyết định 1 cách xử sự khác phù hợp với yêu cầu của PL.

    Chú ý: lỗi là hành vi của cá nhân, như vậy tổ chức không thể có hành vi, do đó không thể có lỗi (ở góc độ tâm lý). Tuy nhiên ở góc độ pháp lý thì PL quy định tổ chức có thể có lỗi, vì tổ chức có thể có tư cách pháp nhân, tức là có tư cách độc lập giống như cá nhân theo quy định của PL, và do đó tổ chức có hành vi, và hành vi của tổ chức thực chất là hành vi của cá nhân trong tổ chức, nhưng theo quy định của PL thì đó là hành vi của tổ chức. Như vậy khi một cá nhân thực hiện hành vi với tư cách tổ chức mà có lỗi thì lỗi đó được PL coi là của tổ chức, và tổ chức phải gành chịu các hậu quả pháp lý do lỗi đó gây ra (và tất nhiên tổ chức cũng được hưởng lợi từ các hành vi tốt).

    Chú ý: lỗi của luật hành chính   ><   lỗi của luật hình sự

    • Lỗi của luật hành chính: gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý (luật hành chính chỉ quan tâm đến thái độ tâm lý của 1 người đối với hành vi của mình mà không quan tâm đến hậu quả của hành vi)
    • Lỗi của luật hình sự: gồm lỗi cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, lỗi vô ý do quá tự tin, vô ý do cẩu thả (luật hình sự coi lỗi là thái độ tâm lý của 1 người đối với hành vi và hậu quả của hành vi)

    Tại sao ? Vì luật hình sự quy định tội phạm là những lỗi rất nặng, mức hình phạt cao (hơn rất nhiều so với phạt hành chính) nên cần chia nhỏ lỗi để định khung hình phạt tương ứng.

    Việc chia nhỏ lỗi ở luật hành chính là không cần thiết, và thực tế cũng không thể chia nhỏ được, vì:

    • phần lớn vi phạm hành chính là cấu thành hình thức (tức là chỉ cần có hành vi trái PL, có thể chưa gây ra hậu quả) chứ không cấu thành vật chất (có hành vi trái PL và gây ra hậu quả)
    • người ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phần lớn là Chủ tịch UBND các cấp, không phải cán bộ chuyên trách về luật pháp, nên rất khó phân biệt được các lỗi chi tiết. (còn đối với tội phạm, khi xử lý có cơ quan điều tra, tòa án và viện kiểm sát tham gia, tức là những người có trình độ chuyên sâu về luật pháp, thì mới có khả năng phân biệt được các lỗi chi tiết)

    Câu hỏi: Cán bộ công chức làm trái với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng có phải là vi phạm PL không ?

    Trả lời:

    Đối với môn Lý luận NN PL: câu trả lời là Không, vì đường lối chủ trương chính sách của Đảng không phải là quy phạm PL, đó là quy phạm chính trị, nên không vi phạm PL.

    Đối với môn Luật Hành chính: câu trả lời là Có, vì trong Điều 8 khoản 4 luật Cán bộ công chức 2008 quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức phải “Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”. Do đó là vi phạm PL hành chính.

    Có sự khác nhau này là do Lý luận NN PL dựa vào khoa học pháp lý, còn luật Hành chính dựa vào PL thực định (tức là PL trong thực tế, cụ thể ở đây là dựa vào Luật cán bộ công chức)

    Bản chất của lỗi: là sự tự do ý chí của cá nhân trong việc xử sự trái với yêu cầu của PL. Như vậy hành vi không thể có lỗi nếu nó không trái PL. Ngược lại, một hành vi trái PL chỉ có lỗi khi chủ thể có sự tự do ý chí trong việc làm trái quy định của PL, do đó nếu họ không “tự do” thì cũng không có lỗi.

    Như vậy sự tự do / không tự do trong việc làm trái yêu cầu PL phụ thuộc vào những yếu tố, điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau chi phối. Lỗi xảy ra khi có:

    • Điều kiện khách quan: sự kiện bất ngờ, bất khả kháng => được coi là không có lỗi, mặc dù có thể trái PL
    • Điều kiện chủ quan: phụ thuộc vào khả năng nhận thức, và khả năng điều khiển hành vi của cá nhân => nếu cá nhân không có khả năng nhận thức thì được coi là không có lỗi; hoặc nếu có khả năng nhận thức, nhưng không có khả năng điều khiển hành vi thì cũng được coi là không có lỗi, vì đó không phải là kết quả của ý chí của họ

    PL quy định những người bị mắc bệnh tâm thần hoặc những bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi thì không có lỗi, không phải chịu trách nhiệm hành chính và các loại trách nhiệm khác; ngoài ra PL còn quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính là từ đủ 14 tuổi:

    • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hành chính với những vi phạm có lỗi cố ý
    • Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm (cố ý và vô ý)

    => Như vậy, người chưa đủ 14 tuổi thì không bao giờ có lỗi dưới góc độ pháp lý

    Các vi phạm hành chính không phải là tội phạm: Chú ý: không phải vi phạm hành chính thì có mức độ nguy hiểm cho XH thấp hơn tội phạm. VD: trộm cắp 1 chiếc xe đạp có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đã bị coi là tội phạm, trong khi vụ việc xả thải chưa qua xử lý ra môi trường của công ty Vedan Việt Nam lại chỉ bị coi là vi phạm hành chính, mặc dù nguy hiểm cho XH hơn rất nhiều.

    Hiện tại, PL quy định tội phạm chỉ có thể là cá nhân, hành vi trái PL của tổ chức không bị coi là tội phạm nên chỉ bị xử lý hành chính (dù có rất nguy hiểm).

    PL hiện tại quy định hành vi trái PL do cá nhân thực hiện, nếu có tính chất mức độ nguy hiểm đáng kể cho XH thì bị coi là tội phạm, nếu có tính chất mức độ nguy hiểm không đáng kể cho XH thì bị xử vi phạm hành chính.

    Ranh giới nào để phân biệt mức độ nguy hiểm ? Căn cứ vào luật Hình sự, chỉ những hành vi được quy định trong luật Hình sự mới được coi là tội phạm. VD Điều 138 khoản 1 về tội trộm cắp tài sản từ 2 triệu trở lên (tức là trôm cắp dưới 2 triệu thì nhìn chung là vi phạm hành chính trừ một số trường hợp đặc biệt), Điều 161 luật Hình sự về tội trốn thuế từ 100 triệu trở lên (trốn thuế dưới 100 triệu nhìn chung là vi phạm hành chính, trừ một số trường hợp đặc biệt), điều 104 khoản 1 luật Hình sự về cố ý gây thương tích cho người khác từ 10% tỷ lệ thương tật (dưới 10% thì không bị coi là tội phạm trừ một số trường hợp đặc biệt), …

    Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính: “Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.”

    Trong quá trình thi hành xử phạt hành chính (tức là đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính) mới phát hiện hành vi đó có dấu hiệu tội phạm thì cũng phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, khi đó nếu quyết định xử phạt hành chính chưa được thi hành thì phải đình chỉ thi hành quyết định đó rồi mới chuyển sang cơ quan tố tụng hình sự.

    Các vi phạm hành chính phải được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm PL về cấu thành và nguy cơ áp dụng các biện pháp xử phạt: cũng giống như tính trái PL của luật Hình sự. Các quy định chi tiết xem trong các Nghị định của Chính phủ (vì không có trong luật Xử lý vi phạm hành chính)

    2. Cấu thành của vi phạm hành chính

    ĐN: Cấu thành của VPHC gồm các dấu hiệu đặc trưng thể hiện đầy đủ tính xâm hại trật tự quản lý hành chính NN của 1 loại vi phạm hành chính và cần thiết để xác định ranh giới của các loại vi phạm hành chính với nhau, bao gồm:

    • Mặt khách quan của VPHC
    • Mặt chủ quan của VPHC
    • Chủ thể của VPHC
    • Khách thể của VPHC

    a. Mặt khách quan của VPHC

    Là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của hành vi VPHC, gồm các dấu hiệu:

    Các dấu hiệu có trong cấu thành của mọi VPHC:

    • Hậu quả của VPHC: (cần phân biệt với thiệt hại do VPHC gây ra) thể hiện:
      • qua các quy đinh của PL bị làm trái, cái trật tự quản lý hành chính NN bị xâm phạm, bị thay đổi
      • qua các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, tài sản (có thể có thiệt hại hoặc không)
    • Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của vi phạm hành chính

    Các dấu hiệu có trong cấu thành của một số VPHC:

    • Thời gian VPHC: trong một số VPHC không mang tính chất quan trọng, VD trộm cắp thì ban ngày hay ban đêm cũng không khác nhau, trộm cắp ở nông thôn hay thành thị thì cũng không khác nhau. Ngược lại, mang tính quan trọng trong một số VPHC, ví dụ gây ồn ào vào giờ nghỉ ngơi (từ 22h đến 5h sáng hôm sau)
    • Địa điểm VPHC: ví dụ phóng uế nơi công cộng mới là VPHC, không mặc quần áo nơi công cộng, nơi thờ cúng tín ngưỡng tôn giáo
    • Công cụ, phương tiện VPHC: có những VPHC không có công cụ hay phương tiện, VD như việc phóng uế bừa bãi, xâm phạm đời tư của người khác. Có những VPHC mà công cụ phương tiện lại là yếu tố quan trọng để xác định mức độ vi phạm, VD vi phạm luật giao thông với xe đạp, xe máy, và ô tô sẽ có các mức phạt khác nhau

    Hậu quả của vi phạm hành chính chủ yếu được thể hiện thông qua việc các quy phạm PL bị làm trái, các trật tự pháp lý hành chính bị xâm hại. Trong nhiều trường hợp, các hậu quả đó được thể hiện qua các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, tài sản. Nhìn chung, các thiệt hại cụ thể trên chỉ có ý nghĩa trong việc xác định hình thức và mức xử phạt.

    b. Mặt chủ quan của VPHC

    Là những quan hệ tâm lý bên trong của hành vi VPHC, gồm các dấu hiệu:

    Lỗi: là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của mọi VPHC

    Hình thức lỗi: (cố ý hay vô ý) chỉ là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của một số loại vi phạm hành chính. VD với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phải xác định được là lỗi cố ý mới được coi là VPHC; hủy hoại tài sản người khác thì phải là cố ý mới là VPHC, vô ý làm hư hỏng tài sản người khác không bị coi là VPHC (chỉ cần bồi thường dân sự, trong khi nếu là cố ý thì ngoài việc bồi thường dân sự còn bị xử phạt VPHC); tang vật sử dụng để VPHC một cách cố ý mới bị tịch thu (nếu vô ý thì không bị tịch thu)

    Mục đích của VPHC (không bắt buộc phải có): là những giá trị trong nhận thức mà chủ thể VPHC đặt ra và mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi VPHC. Mục đích của VPHC chỉ có thể xảy ra với lỗi cố ý. VD: tụ tập cổ vũ đua xe trái phép, xe khách có hành vi trốn khách để tránh bị kiểm tra (khi đến trạm kiểm soát thì yêu cầu hành khách xuống bớt để không bị phát hiện chở quá số lượng quy định), tàng trữ trong người vũ khí, phương tiện nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng

    Động cơ của vi phạm hành chính (không bắt buộc phải có trong cấu thành của VPHC): là động lực thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi VPHC. Động cơ của VPHC chỉ có thể xảy ra với lỗi cố ý và có mục đích rõ ràng. VD mua bán vé tàu nhằm mục đích thu lợi bất chính, lợi dụng chăm sóc người cao tuổi để trục lợi, lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi

    c. Chủ thể của VPHC

    Chú ý: cần phân biệt năng lực trách nhiệm hành chính với năng lực chủ thể của quan hệ PL hành chính

    • Năng lực trách nhiệm hành chính là khả năng phải chịu trách nhiệm hành chính. Một cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính là có nguy cơ bị xử phạt hành chính, khi đó họ có thể tham gia vào quan hệ PL hành chính
    • Như vậy khi 1 người có năng lực trách nhiệm hành chính thì sẽ có năng lực chủ thể của quan hệ PL hành chính. Ngược lại không đúng: vì năng lực trách nhiệm hành chính chỉ là 1 bộ phận của năng lực chủ thể, ví dụ người 12 tuổi có thể phải chịu các biện pháp giáo dục, giáo dưỡng, tức là có năng lực chủ thể của quan hệ PL hành chính, nhưng người 12 tuổi không thể bị xử phạt VPHC (vì độ tuổi tối thiểu phải chịu xử phạt VPHC là đủ 14 tuổi)

    Chủ thể cá nhân:

    • Cá nhân là chủ thể của VPHC khi có năng lực trách nhiệm hành chính vào thời điểm thực hiện VPHC
    • Cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính khi từ đủ 14 tuổi trở lên và không mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc không có khả năng điều khiển hành vi

    Chủ thể tổ chức:

    • Tổ chức là chủ thể của vi phạm hành chính nếu có tư cách pháp nhân và thực hiện hành vi trái PL mà theo quy định của PL phải bị xử phạt hành chính
    • Vi phạm hành chính của tổ chức là vi phạm về quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó

    Câu hỏi: Tập thể lớp K14CCQ tổ chức hoạt động ngoại khóa bằng hình thức đá bóng trên đường phố, bị cảnh sát giao thông lập biên bản xử phạt hành chính. Hỏi sẽ xử phạt tập thể hay cá nhân ?

    Trả lời: xử phạt các cá nhân vi phạm, vì tập thể lớp không phải là pháp nhân.

    Câu hỏi: Lái xe A của công ty X chở giám đốc công ty đi công tác, do thời gian gấp để kịp ký Hợp đồng quan trọng nên A buộc phải điều khiển ô tô quá tốc độ cho phép. Hỏi ai sẽ là chủ thể của VPHC này ?

    Trả lời: Lái xe A là chủ thể của vi phạm, vì PL quy định người điều kiện phương tiện giao thông có nghĩa vụ phải chấp hành quy định về tốc độ khi tham gia giao thông

    Câu hỏi: Nguyễn Văn A là giám đốc công ty dịch vụ cho thuê ô tô tự lái, ký hợp đồng cho thuê và giao ô tô cho chị Nguyễn Thị B, chị B chưa có Giấy phép lái xe, bị cơ quan chức năng phát hiện và phạt VPHC về hành vi giao phương tiện giao thông cho người không có giấy phép lái xe. Hỏi ai là chủ thể của VPHC này ?

    Trả lời: Chủ thể VPHC ở đây là Công ty dịch vụ cho thuê ô tô, vì PL quy định chủ sở hữu của phương tiện giao thông phải chịu trách nhiệm, giám đốc công ty ở đây là đại diện cho Công ty ký hợp đồng cho thuê xe, nên chủ thể VPHC này là công ty.

    => cách xác định chủ thể VPHC: căn cứ vào tính trái PL của hành vi, hay tính trái nghĩa vụ của chủ thể (do đó chỉ cần xác định nghĩa vụ của ai thì quy trách nhiệm cho người đó, nếu nghĩa vụ của cá nhân thì cá nhân là chủ thể, nghĩa vụ của tổ chức thì tổ chức là chủ thể.

    d. Khách thể của VPHC

    Là những quan hệ XH được PL hành chính bảo vệ và bị các VPHC xâm hại.

    Hầu hết các VPHC đều có khách thể chung là trật tự quản lý hành chính NN, khách thể loại (cụ thể hơn) sẽ là trật tự quản lý hành chính NN về lĩnh vực, VD lĩnh vực an toàn giao thông (nghị định 171), xây dựng đô thị, … Khách thể trực tiếp (là các quan hệ XH cụ thể được PL bảo vệ mà bị hành vi VPHC xâm hại) của VPHC xác định khó hơn

    VD: A 17 tuổi điều khiển xe máy 110 phân khối chạy quá tốc độ. Hành vi này đã xâm hại 2 khách thể trực tiếp:

    • Xâm hại khách thể là trật tự xã hội quy định về độ tuổi được phép lái xe máy trên 50 phân khối (phải từ 18 tuổi trở lên)
    • Xâm hại khách thể là trật tự xã hội quy định về tốc độ của xe máy trên đường bộ

    Hành vi này cấu thành 2 VPHC, và sẽ xử phạt cả 2 VPHC này (mặc dù chỉ có 1 hành vi)

    Câu hỏi: Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm

     Vi phạm hành chínhTội phạm
    Định nghĩaVPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của PL về quản lý NN mà không phải là tội phạm và theo quy định của PL phải bị xử phạt VPHCTội phạm là hành vi nguy hiểm cho XH, có lỗi, được quy định trong bộ luật hình sự, và phải chịu hình phạt.Chú ý: tính “được quy định trong bộ luật hình sự” gây nhiều tranh cãi và chưa thống nhất
    Chủ thểCá nhân, tổ chứcCá nhân
    Tính chất, mức độ nguy hại cho XHNhìn chung ít nguy hiểm, hoặc nguy hiểm không đáng kểNhìn chung nguy hiểm đáng kể
    Hình thức lỗiCố ý, vô ýCố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin, vô ý do cẩu thả
    Thẩm quyền quy địnhQuốc hội, UBTV quốc hội, Chính phủ (trong đó chủ yếu là Chính phủ quy định thông qua các Nghị định) (quy định trong luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, thông tư, quyết định)Quốc hội (quy định trong luật Hình sự)
    Khách thểMột số quan hệ XH rất quan trọng không thể là khách thể của VPHC, ví dụ tính mạng con ngườiMột số quan hệ XH ít quan trọng không thể là khách thể của tội phạm, ví dụ
    Thẩm quyền xử lýChủ thể quản lý hành chính NN: các cơ quan quản lý hành chính NN (hấu hết là thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp)Chủ thể quản lý tư pháp: cơ quan điều tra, tòa án, viện kiểm sát, cơ quan tố tụng hình sự
    Thủ tục xử lýThủ tục hành chínhThủ tục tư pháp, thủ tục tố tụng hình sự
    Hậu quả pháp lý của người vi phạm– Chịu trách nhiệm hành chính– Hình thức là Quyết định xử phạt VPHC– Hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, đưa vào trại giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh– Chịu trách nhiệm hình sự– Hình thức là bản án của tòa án– Hình phạt là phạt tiền, phạt tù, cải tạo không giam giữ, tử hình

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương IX

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IX

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IX giới thiệu chi tiết về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên ngành, bao gồm y tế, giáo dục, môi trường, và kinh tế. Chương này giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc điều hành và giám sát hoạt động của các lĩnh vực này, đồng thời nắm vững các quy định pháp lý liên quan. Đây là tài liệu không thể thiếu để sinh viên ôn tập và nghiên cứu chuyên sâu về quản lý hành chính trong từng ngành cụ thể.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IX

    I. Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức

     Cán bộCông chứcViên chức
    Khái niệmLà công dân VN, được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng, NN, tổ chức chính trị XH ở TƯ, ở tỉnh, ở huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách NNLà công dân VN, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định 06/2010Là công dân VN, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của PL
    Cách thức hình thànhĐược bầu, bổ nhiệm chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.Theo nhiệm kỳ của cơ quan bầu hoặc bổ nhiệmĐược tuyển dụng, bổ nhiệm, có thể có nhiệm kỳ hoặc không có nhiệm kỳ.Nhiệm kỳ tính từ thời gian bổ nhiệmĐược tuyển dụng theo chế độ hợp đồng
    Nơi làm việcCơ quan NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị XHCơ quan NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị XH, đơn vị sự nghiệp công lập (chỉ ban lãnh đạo)Đơn vị sự nghiệp công lập
    Nguồn lươngNgân sách NNNgân sách NN và nguồn thu sự nghiệpNguồn thu sự nghiệp, nếu là đơn vị chưa tự chủ thì vẫn lấy từ ngân sách

    II. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức, viên chức

    1. Quyền và nghĩa vụ

    Có nghĩa vụ tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Trường hợp mệnh lệnh cấp trên yêu cầu hành vi trái PL thì có trách nhiệm báo cáo cấp trên, nếu cấp trên vẫn kiên quyết yêu cầu thực hiện thì vẫn phải thực hiện nhưng sẽ không phải chịu trách nhiệm. Còn nếu không báo cáo mà thực hiện thì có thể chịu trách nhiệm liên đới.

    Chú ý: việc báo cáo phải bằng văn bản

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IX
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IX

    2. Trách nhiệm pháp lý khi thi hành nhiệm vụ

    Có 4 loại trách nhiệm pháp lý:

    • Trách nhiệm dân sự
    • Trách nhiệm hình sự
    • Trách nhiệm hành chính
    • Trách nhiệm kỷ luật

    Câu hỏi: 1 cá nhân thực hiện 1 hành vi vi phạm PL thì phải chịu tối đa mấy trách nhiệm pháp lý ?

    Trả lời: 1 hành vi vi phạm PL có thể chịu nhiều trách nhiệm pháp lý (trong số 4 trách nhiệm pháp lý kể trên), tuy nhiên có cặp trách nhiệm pháp lý hành chính và hình sự không bao giờ xuất hiện cùng nhau trong 1 vụ việc (vì cả 2 loại trách nhiệm này có cùng 1 chủ thể quản lý là NN, nên nếu đã là hành chính thì không thể là hình sự, và ngược lại), do đó sẽ có tối đa 3 trách nhiệm pháp lý:

    • Dân sự, hình sự, kỷ luật
    • Dân sự, hành chính, kỷ luật

    Chú ý: kỷ luật ở đây là kỷ luật mang tính NN

    Mời bạn xem thêm:

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương VIII

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VIII

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VIII cung cấp kiến thức chuyên sâu về quản lý hành chính nhà nước, các nguyên tắc và quy trình xử lý vi phạm hành chính. Nội dung chương giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của các cơ quan hành chính trong việc thực thi pháp luật, đồng thời nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Đây là tài liệu quan trọng để học viên chuẩn bị cho các kỳ thi và nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực hành chính nhà nước.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VIII

    Chương VIII: Cơ quan hành chính Nhà nước

    I. Khái niệm, đặc điểm, phân loại

    1. Định nghĩa

    Cơ quan hành chính NN là 1 loại cơ quan trong bộ máy NN chuyên thực hiện chức năng quản lý hành chính NN

    Bao gồm Chính phủ và UBND các cấp

    2. Đặc điểm

    Đặc điểm chung:

    Tham gia vào quan hệ PL, cơ quan hành chính giống như các cơ quan NN khác, được quyền nhân danh NN. Khác với các tổ chức XH như đoàn thành niên, hội phụ nữ, … khi tham gia vào quan hệ PL là nhân danh đoàn thanh niên, hội phụ nữ, … không được nhân danh NN

    Được quyền sử dụng quyền lực NN khi tham gia vào quan hệ PL. Các tổ chức XH, trừ trường hợp được NN giao quyền, không được sử dụng quyền lực NN. Thể hiện qua:

    • Ban hành các quyết định hành chính: quyết định hành chính quy phạm, quyết định hành chính cá biệt: đây là những văn bản mang tính đơn phương, áp đặt. Không phải mọi văn bản do cơ quan hành chính ban hành đều là quyết định hành chính, VD công văn đề nghị phối hợp giữa các cơ quan, hợp đồng, …
    • Áp dụng các biện pháp cưỡng chế NN khi cần thiết, chủ yếu là cưỡng chế hành chính. Khác với các tổ chức XH khác không được quyền sử dụng dụng cưỡng chế NN. (các tổ chức XH cũng có cưỡng chế, nhưng là cưỡng chế XH, tức là tác động về mặt tinh thần như cảnh cáo, kỷ luật, khai trừ; trong khi cưỡng chế NN được NN đảm bảo thi hành bằng các công cụ quyền lực như công an, quân đội)

    Các cơ quan hành chính NN (giống với cơ quan NN khác) được tổ chức thành bộ máy từ TƯ đến địa phương. Khác với tổ chức XH, VD ủy ban hòa bình thế giới chỉ có ở cấp TƯ, không có cấp tỉnh, huyện, xã; VD đoàn luật sư là tổ chức XH nghề nghiệp, có ở cấp TƯ (là Liên đoàn luật sư) và đoàn luật sư cấp tỉnh, không có đoàn luật sư cấp huyện, cấp xã; VD ban thanh tra nhân dân là tổ chức XH dưới dạng tổ chức tự quản chỉ có ở cấp xã (vì cấp huyện đã có thanh tra huyện, cấp tỉnh đã có thanh tra tỉnh)

    Các cơ quan hành chính NN có thẩm quyền theo quy định của PL: tức là giới hạn bao gồm các quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm mà NN trao cho các cơ quan NN, căn cứ vào đó, các cơ quan NN thực hiện được chức năng của mình. Thẩm quyền là khả năng để các cơ quan NN có thể tác động điều chỉnh đến các đối tượng có liên quan. Các tổ chức XH, trừ trường hợp được NN giao quyền, thì không có thẩm quyền, chỉ có quyền trong phạm vi tổ chức XH đó. Còn cơ quan hành chính NN có thẩm quyền, tức là không chỉ có quyền trong nội bộ cơ quan mà còn có quyền tác động ra bên ngoài.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VIII
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VIII

    Đặc điểm riêng:

    Các cơ quan hành chính NN là loại cơ quan chuyên thực hiện chức năng quản lý hành chính NN: đây là chức năng cơ bản của cơ quan hành chính NN, bao gồm:

    • Ban hành các văn bản quản lý hành chính nhằm cụ thể hóa và chi tiết hóa văn bản của cơ quan quyền lực NN. VD chính phủ ban hành nghị định, bộ ban hành thông tư để cụ thể hóa, chi tiết hóa luật do Quốc hội ban hành
    • Ban hành các văn bản quản lý hành chính nhằm cụ thể hóa, chi tiết hóa văn bản của cơ quan cấp trên. VD: UBND tỉnh ban hành các Quyết định cụ thể hóa các nghị định của chính phủ, thông tư của các bộ để áp dụng cho đại phương mình
    • Tổ chức, triển khai thực hiện các văn bản quản lý hành chính. VD: UBND cấp xã, huyện tổ chức thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến quy định về an toàn giao thông để nhân dân được biết và thực hiện (như việc tuyên truyền đội mũ bảo hiểm)
    • Tổ chức chỉ đạo hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc để thực hiện các chức năng quan lý hành chính
    • Giải quyết các công việc cụ thể nhằm thỏa mãn đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức trong XH. VD: cấp giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, giấy phép xây dựng nhà, …

    Chú ý: mọi cơ quan đều có chức năng quản lý hành chính, như tổ chức bộ máy, bổ nhiệm, tuyển dụng nhân sự, phân công công tác, điều động công tác, khen thưởng kỷ luật; đây được gọi là chức năng quản lý hành chính nội bộ.

    Câu hỏi: ngoài chức năng quản lý hành chính NN thì các cơ quan hành chính NN có thực hiện hoạt động thuộc các chức năng khác không ?

    Trả lời: Có, VD chính phủ tham gia rất tích cực vào công tác lập pháp (là chức năng chính của Quốc hội), hầu hết các dự thảo PL đều do chính phủ trình Quốc hội để thông qua và ban hành; chính phủ và các cấp chính quyền địa phương đều tham gia vào công tác bảo vệ PL (là chức năng chính của bộ máy tư pháp là Tòa án và Viện kiểm sát) như việc giám sát và xử phạt vi phạm hành chính

    Cơ quan hành chính NN là cơ quan duy nhất trong bộ máy NN có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc: đơn vị cơ sở là các đơn vị trực tiếp sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần cho XH, được chia làm 2 khối:

    • Khối sản xuất kinh doanh: sản xuất ra sản phẩm có giá trị vật chất, gồm nhà máy, xí nghiệp, tổng công ty, công ty, nông trường, lâm trường, …
    • Khối hành chính sự nghiệp: sản xuất ra sản phẩm có giá trị tinh thần, gồm trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu, bảo tàng, …

    Chú ý: các cơ quan NN khác cũng có đơn vị cơ sở trực thuộc, nhưng không thành thành hệ thống các đơn vị cơ sở trực thuộc được tổ chức thành một cơ cấu thống nhất và có các mối quan hệ chặt chẽ với nhau. VD ngành kiểm sát có trường đại học kiểm sát, tạp chí kiểm sát là đơn vị cơ sở của ngành kiểm sát, tòa án cũng có trường đào tạo cán bộ tòa án, tạp chí tòa án là đơn vị cơ sở của tòa án, nhưng không được gọi là hệ thống đơn vị cơ sở (vì số lượng rất ít so với cơ quan hành chính NN)

    Câu hỏi: Vì sao chỉ có cơ quan hành chính NN mới có hệ thống đơn vị cơ sở trực thuộc ?

    Trả lời: Vì chức năng của cơ quan hành chính NN là quản lý hành chính NN, tức là gồm 2 mảng công việc:

    • quản trị: đảm bảo an ninh, đảm bảo ổn định
    • phát triển: đảm bảo sự phát triển các lĩnh vực của đời sống XH, từ hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, … tức là phải chăm lo phát triển mọi mặt của đời sống XH

    Chính vì vậy, phải có hệ thống các đơn vị cơ sở trực thuộc để giúp cơ quan hành chính NN thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình. VD: để giúp cơ quan hành chính NN trong lĩnh vực giáo dục thì phải có hệ thống các trường học công lập để chăm lo về mặt giáo dục cho XH; để đảm bảo bình ổn lương thực thì phải có hệ thống các nông trường để sản xuất lương lực để vào các kho dự trữ quốc gia; để đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho người dân thì phải có hệ thống các bệnh viện công từ TƯ đến địa phương

    • Cơ quan hành chính NN là cơ quan NN có tính thống nhất cao: xuất phát từ chức năng, các cơ quan hành chính NN có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, mục đích để đảm bảo hoạt động của các cơ quan hành chính được chặt chẽ, thông suốt. Trong khi các cơ quan NN khác không có tính thống nhất cao, VD các cơ quan Viện kiểm sát và Tòa án thì nguyên tắc hoạt động là độc lập và chỉ tuân theo PL, tức là tòa án cấp trên không trực tiếp chỉ đạo tòa án cấp dưới, hội đồng xét xử chỉ tuân theo PL mà xét xử, nếu ra bản án mà bị kháng cáo, thì tòa án cấp trên có quyền xem xét lại việc áp dụng PL của cấp dưới có đúng không, nhưng nếu cấp dưới chứng minh được việc áp dụng PL của mình là đúng thì cấp trên cũng phải chịu, không thể chỉ đạo được cấp dưới. Còn trong quan hệ hành chính NN thì cấp dưới xin ý kiến cấp trên, và cấp trên chỉ đạo cấp dưới thực hiện, chính phủ là trung tâm của toàn hệ thống hành chính.
    • Các cơ quan trong hệ thống hành chính NN được đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy và nhân sự khổng lồ (so với các cơ quan NN khác)

    3. Phân loại

    Căn cứ vào quy định của PL:

    • Cơ quan hiến định: là cơ quan được quy định trong Hiến pháp, có tính ổn định cao, việc thành lập hay bãi bỏ phải tuân theo các quy định rất chặt chẽ. VD chính phủ, bộ, UBND
    • Cơ quan luật định: được quy định trong luật hay các văn bản dưới luật, có tính năng động hơn, việc thành lập, bãi bỏ xuất phát từ nhu cầu thực tế. VD: sở, cục, tổng cục

    Chú ý: các cơ quan được quy định trong hiến pháp không có nghĩa là không được quy định trong luật hay văn bản dưới luật.

    Căn cứ vào thẩm quyền:

    Cơ quan có thẩm quyền chung: liên quan đến quản lý nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, liên quan đến nhiều đối tượng, VD chính phủ, UBND các cấp

    Cơ quan có thẩm quyền chuyên môn: chỉ quản lý 1, hoặc 1 số lĩnh vực, VD bộ, sở, phòng. Cơ quan chuyên môn lại chia thành 2 loại:

    • Cơ quan chuyên ngành: VD bộ giáo dục đào tạo, bộ tư pháp
    • Cơ quan chuyên môn có chức năng tổng hợp: VD bộ tài chính, bộ nội vụ, bộ đầu tư, …

    Căn cứ vào phạm vi hoạt động:

    • Cơ quan hoạt động trong phạm vi toàn quốc: các cơ quan này có thẩm quyền ban hành ra các quyết định hành chính có phạm vi tác động điều chỉnh trên toàn quốc, VD: chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ
    • Cơ quan hoạt động trong phạm vi địa phương: các cơ quan này chỉ hoạt động trong phạm vi địa phương, căn cứ vào địa giới hành chính, VD: UBND các cấp, cơ quan chuyên môn của UBND

    Căn cứ vào chế độ thủ trưởng:

    • Chế độ thủ trưởng tập thể: lãnh đạo cơ quan là 1 tập thể, VD: chính phủ, UBND các cấp. Chú ý: luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương đều quy định chức năng của tập thể lãnh đạo và chức năng riêng của người đứng đầu tập thể lãnh đạo (là Thủ tướng và Chủ tịch UBND)
    • Chế độ thủ trưởng 1 người: lãnh đạo cơ quan là 1 cá nhân, VD bộ, cơ quan ngang bộ, sở, phòng

    Câu hỏi: Vì sao các cơ quan có thẩm quyền chung lại hoạt động theo chế độ thủ trưởng tập thể, trong khi các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn lại hoạt động theo chế độ thủ trưởng 1 người ?

    II. Hệ thống cơ quan hành chính

    1. Cơ quan hành chính ở Trung ương

    Chính phủ

    Bộ và cơ quan ngang bộ

    2. Cơ quan hành chính ở địa phương

    UBND các cấp

    Cơ quan chuyên môn của UBND

    Đọc tài liệu:

    • Luật tổ chức Chính phủ
    • Luật tổ chức HĐND, UBND
    • Luật tổ chức chính quyền địa phương
    • Nghị định 36 năm 2012 (ngày 18/04/2012) quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ và cơ quan ngang bộ
    • Nghị định 24 năm 2014 (ngày 04/04/2014) quy định về cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh
    • Nghị định 37 ngày 05/05/2014 quy định về cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện

    Câu hỏi:

    (1) Về chính phủ:

    • Vị trí, vai trò của Chính phủ về quản lý hành chính NN
    • Phương thức hoạt động của chính phủ

    (2) Về UBND:

    • Vị trí, vai trò của UBND
    • Mối quan hệ giữa UBND với HĐND cùng cấp và cơ quan NN cấp trên

    (3) Các cơ quan chuyên môn:

    • Mối quan hệ quản lý về chuyên môn theo hệ thống dọc, VD bộ và sở, sở với phòng
    • Mối quan hệ quản lý về chuyên môn theo chiều ngang, VD Chính phủ và bộ, UBND tỉnh và sở

    (4) Phân tích mối quan hệ trực thuộc 2 chiều trong tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính NN ở địa phương

    Chú ý: trong hiến pháp (2013) chỉ quy định chính phủ và UBND các cấp là cơ quan hành chính NN, các cơ quan chuyên môn của UBND là sở, phòng không được thừa nhận là cơ quan quản lý hành chính NN trong hiến pháp cũng như trong các luật. Tuy nhiên, về mặt khoa học pháp lý thì sở, phòng vẫn được coi là cơ quan quản lý hành chính NN, vì:

    + có pháp nhân độc lập

    + có chức năng quản lý hành chính

    Riêng UBND cấp xã có cơ quan chuyên môn là các ban , thì ban không được coi là cơ quan quản lý hành chính NN theo cả hiến pháp, luật, và khoa học pháp lý. Lý do là vì ban không có tư cách pháp nhân độc lập, chỉ là 1 bộ phận của UBND cấp xã.

    Mời bạn xem thêm:

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương II

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương II

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương II tập trung vào các nguồn của Luật hành chính, bao gồm các văn bản pháp luật và quy định cơ bản hình thành nên hệ thống pháp luật hành chính Việt Nam. Nội dung chương này giúp sinh viên hiểu rõ cơ sở pháp lý và các loại văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước. Đây là tài liệu quan trọng hỗ trợ sinh viên xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc về hệ thống pháp luật hành chính, phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu sâu hơn.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương II

    Chương II: Ngành luật hành chính

    Văn bản ==> văn bản PL ==> văn bản quy phạm PL ==> ngành luật

    văn bản là thông tin được thể hiện bằng ngôn ngữ viết. Văn bản chia làm 2 loại:

    • Văn bản thể hiện quyền lực NN: VD luật hình sự, luật dân sự, giấy triệu tập của tòa án, …
    • Văn bản không thể hiện quyền lực NN

    Văn bản PL là văn bản thể hiện quyền lực NN, gồm 2 loại:

    • Văn bản quy phạm PL: áp dụng chung, VD Hiến pháp, các luật, thông tư, nghị định, …
    • Văn bản áp dụng PL (văn bản cá biệt PL): áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể

    Ngành luật: là tập hợp các văn bản quy phạm PL cùng loại, được phân biệt bởi 2 yếu tố:

    • Đối tượng điều chỉnh
    • Phương pháp điều chỉnh

    Khái niệm Luật hành chính: Luật hành chính là 1 ngành luật độc lập trong hệ thống PL VN, bao gồm tổng thể các quy phạm PL điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính NN và bằng phương pháp mệnh lệnh phục tùng

    1. Đối tượng điều chỉnh của ngành luật Hành chính

    Đối tượng điều chỉnh của luật (nói chung) là các quan hệ XH.

    Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính là các quan hệ XH phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính NN.

    VD: người dân khởi kiện 1 quyết định hành chính thu hồi quyền sử dụng đất ảnh hưởng đến tài sản của họ=> đây là hoạt động tư pháp, không phải hoạt động hành chính

    VD: thanh tra y tế xử phạt hiệu thuốc bán thuốc quá hạn sử dụng ==> đây là hoạt động hành chính

    Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính được chia làm 3 nhóm (dựa vào chủ thể thực hiện hoạt động quản lý hành chính):

    Nhóm 1: gồm những quan hệ XH phát sinh trong quá trình cơ quan hành chính NN thực hiện chức năng quản lý hành chính NN. Đây là nhóm có số lượng lớn nhất , phong phú nhất, bao gồm một số quan hệ XH cơ bản như sau: 9 quan hệ (ngoài 9 nhóm trên, còn có các quan hệ PL khác):

    (1) Giữa cơ quan hành chính NN cấp trên với cơ quan hành chính NN cấp dưới theo hệ thống dọc (VD giữa chính phủ với UBND tỉnh) hoặc với cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh (VD giữa bộ tư pháp và sở tư pháp)

    (2) Giữa cơ quan hành chính NN có thẩm quyền chung với cơ quan NN có thẩm quyền chuyên môn cùng cấp (VD giữa chính phủ với bộ) hoặc với cơ quan chuyên môn trực thuộc nó (VD giữa UBND tỉnh và sở)

    (3) Giữa cơ quan hành chính NN có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương với cơ quan hành chính NN có thẩm quyền chung ở cấp tỉnh nhằm thực hiện chức năng theo PL (VD giữa bộ với UBND tỉnh)

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương II
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương II

    (4) Giữa những cơ quan hành chính NN có thẩm quyền chuyên môn ở TƯ (VD giữa bộ tài chính với bộ tư pháp trong việc quản lý ngân sách NN)

    (5) Giữa cơ quan hành chính NN ở địa phương với các đơn vị trực thuộc TƯ tại địa phương (VD giữa UBND quận Đống Đa với Trường Đại học Luật)

    (6) Giữa cơ quan hành chính NN với các đơn vị cơ sở trực thuộc (VD giữa bộ tư pháp với trường đại học luật)

    (7) Giữa cơ quan hành chính NN với các tổ chức kinh tế tư nhân (VD giữa UBND với doanh nghiệp)

    (8) Giữa cơ quan hành chính NN với các tổ chức XH (VD giữa chính phủ với Mặt trận tổ quốc)

    (9) Giữa cơ quan hành chính NN với công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch (VD UBND xã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho công dân)

    Câu hỏi: Mọi quan hệ XH có cơ quan hành chính NN là chủ thể tham gia đều là quan hệ PL hành chính, Đúng hay Sai, vì sao.

    Trả lời: Sai, ví dụ UBND thuê doanh nghiệp xây dựng trụ sở thì đó là quan hệ dân sự

    + Nhóm 2: gồm những quan hệ XH được hình thành trong quá trình các cơ quan NN thực hiện hoạt động quản lý hành chính nội bộ. Đặc trưng là quan hệ giữa thủ trưởng với nhân viên. VD: thủ trưởng cơ quan ký quyết định thành lập hội đồng khen thưởng kỷ luật trong đơn vị

    + Nhóm 3: nhóm các quan hệ XH giữa các cá nhân, tổ chức được NN trao quyền thực hiện hoạt động quản lý hành chính NN trong một số trường hợp cụ thể. VD: trên máy bay, cơ trưởng có quyền ra lệnh bắt giữ hành khách vi phạm an toàn bay, tuy nhiên cơ trưởng không có quyền phạt hành chính.

    Câu hỏi: cảnh sát giao thông phạt vi phạm giao thông thuộc nhóm mấy ?

    Trả lời: Đây là quan hệ thuộc nhóm 1, vì cảnh sát giao thông thuộc cơ quan hành chính NN là công an xã / quận và đang thực hiện chức năng của mình

    2. Phương pháp điều chỉnh

    – Phương pháp điều chỉnh của luật Hành chính là phương pháp mệnh lệnh được hình thành từ quan hệ quyền lực phục tùng giữa 1 bên chủ thể được nhân danh NN để thực hiện quyền lực NN trong lĩnh vực hành pháp được ra những mệnh lệnh có tính chất bắt buộc thi hành đối với bên kia.

    ==> hiểu ngắn gọn là phương pháp “mệnh lệnh – phục tùng” hay có thể gọi là phương pháp “bất bình đẳng về quyền lực NN” (tức là 1 bên buộc phải tuân theo)

    Trường hợp nhân viên nhận thấy quyết định của thủ trưởng có thể gây hậu quả xấu thì phải báo cáo thủ trưởng (chú ý báo cáo bằng văn bản), nếu thủ trưởng vẫn kiên quyết cho thực hiện thì người nhân viên vẫn bắt buộc phải thực hiện. Khi đó nếu hậu quả xấu xảy ra thì trách nhiệm thuộc về thủ trưởng, nhân viên không bị quy trách nhiệm. Ngược lại nếu nhân viên không báo cáo thủ trưởng về nguy cơ hậu quả xấu thì sẽ bị quy trách nhiệm liên đới cùng với thủ trưởng (là người chịu trách nhiệm chính)

    – Trường hợp người bị áp đặt mệnh lệnh hành chính mà không thi hành thì sẽ bị NN dùng quyền lực cưỡng chế (công an, quân đội). Trường hợp mệnh lệnh hành chính sai, không hợp lý thì người bị áp dụng có quyền khiếu nại, tố cáo lên cơ quan có thẩm quyền.

    Câu hỏi: Vì sao phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là quyền lực – phục tùng?

    Trả lời: Vì đối tượng điều chỉnh là quan hệ quản lý, mà điều kiện để thực hiện của quản lý là phải có quyền lực, quyền uy.
    – Ngành luật Hành chính là ngành luật độc lập, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng biệt:

    + đối tượng điều chỉnh: quan hệ XH phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính NN

    + phương pháp điều chỉnh: mệnh lệnh – phục tùng

    3. Nguồn của luật Hành chính

    – Nguồn của Luật Hành chính là các văn bản quy phạm PL do các chủ thể có thẩm quyền ban hành, mà nội dung có chứa các quy phạm PL hành chính

    – Ai có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm PL luật Hành chính ?

    ==> Tất cả các cơ quan tổ chức NN có quyền ban hành văn bản quy phạm PL (xem Luật ban hành văn bản quy phạm PL): quốc hội, UBTV quốc hội, chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, UBND, TAND tối cao, VKSND tối cao, …

    Chú ý: Nghị quyết của Đảng không phải là nguồn của luật Hành chính, vì Đảng không phải là bộ phận của NN, không đại diện sử dụng quyền lực NN

    Dấu hiệu của văn bản là nguồn của luật Hành chính:

    • Là văn bản quy phạm PL
    • Nội dung có quy phạm hành chính
    • Do NN ban hành

    VD: hiến pháp, các luật, nghị định, thông tư, …

    Đặc điểm của nguồn luật Hành chính:

    • Số lượng rất lớn
    • Do rất nhiều cơ quan, chủ thể ban hành
    • Nội dung phong phú

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương VII

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VII

    Bài giảng môn học Luật Hành chính chương VII cung cấp kiến thức quan trọng về các biện pháp cưỡng chế hành chính và xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước. Nội dung chương tập trung vào việc phân tích các hình thức cưỡng chế, quyền hạn của cơ quan hành chính, và quy trình áp dụng biện pháp xử lý vi phạm. Đây là tài liệu không thể thiếu giúp sinh viên và người học nắm bắt được các quy định về quyền và nghĩa vụ trong quản lý hành chính, từ đó củng cố kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật hành chính.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VII

    Chương VII : Quyết định hành chính

    I. Khái niệm quyết định hành chính

    1. Khái niệm quyết định hành chính

    Ví dụ: khi tham gia giao thông:

    • Hiệu lệnh của cảnh sát giao thông: không phải quyết định hành chính, vì không là văn bản
    • Biên bản phạt vi phạm hành chính: không là quyết định hành chính, chỉ là giấy ghi nhận hành vi vi phạm
    • Nghị định hướng dẫn thực hiện : là quyết định hành chính quy phạm
    • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính : là quyết định hành chính áp dụng / quyết định hành chính cá biệt
    • Bằng tốt nghiệp đại học: không là quyết định hành chính, là giấy tờ có giá trị pháp lý
    • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: không là quyết định hành chính, là giấy tờ có giá trị pháp lý

    Hai quan điểm về quyết định hành chính:

    • Quan điểm thứ nhất cho rằng Quyết định hành chính là tất cả những gì thể hiện tính quyền lực NN trong quản lý hành chính NN buộc các đối tượng quản lý phải tuân thủ. Tức là không chỉ ở hình thức văn bản mới là quyết định hành chính, mà còn có thể ở hành vi như lời nói, hiệu lệnh (bằng tay), … cũng được coi là quyết định hành chính.
    • Quan điểm thứ 2 cho rằng Quyết định hành chính phải là văn bản, các hành vi chỉ là hỗ trợ cho việc thực hiện quyết định hành chính. Đây hiện đang là quan điểm của PL thực định ở VN, luật Tố tụng hành chính chia thành 2 dạng là Quyết định hành chính và Hành vi hành chính.

    Định nghĩa: Quyết định hành chính là quyết định PL do các chủ thể quản lý hành chính NN ban hành theo trình tự, hình thức do PL quy định, nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp quản lý hoặc đặt ra các quy tắc xử sự hay các mệnh lệnh PL để giải quyết công việc cụ thể phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính NN

    2. Đặc điểm quyết định hành chính

    Quyết định hành chính có các đặc điểm chung với các quyết định PL khác:

    • Mang tính quyền lực NN: được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền, có tính bắt buộc thi hành
    • Tính pháp lý: việc ban hành phải theo trình tự thủ tục nhất định

    Quyết định hành chính có đặc điểm riêng:

    Có tính dưới luật: có giá trị pháp lý thấp hơn VB luật

    VD: luật, pháp lệnh: không phải quyết định hành chính

    Nghị định, thông tư: là quyết định hành chính quy phạm

    Do chủ thể quản lý hành chính ban hành.

    Chú ý: trường hợp Thẩm phán khi đang xét xử có thể ra Quyết định xử phạt hành chính đối với người gây rối tại phiên tòa, khi đó Thẩm phán ra Quyết định xử phạt hành chính với vai trò quản lý hành chính, không phải với vai trò tư pháp

    Nội dung, mục đích của quyết định hành chính nhằm thực hiện quyết định quản lý hành chính

    Chú ý: bản án, cáo trạng không phải quyết định hành chính, vì thuộc tư pháp

    Được ban hành theo thủ tục hành chính

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VII
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương VII

    Câu hỏi: Các khẳng định sau là Đúng / Sai, tại sao ?

    Tất cả các văn bản PL là nguồn của luật hành chính đều là Quyết định hành chính

    Sai.

    Văn bản PL là nguồn của luật hành chính có thể là Quyết định hành chính

    Đúng. VD: Nghị định, thông tư của chứa đựng quy phạm PL hành chính là nguồn của luật Hành chính, đồng thời là quyết định hành chính quy phạm.

    3. Phân loại quyết định hành chính

    Gồm 3 loại:

    Quyết định chủ đạo: đề ra chủ trương, định hướng. VD văn bản về chủ trương cải cách hành chính của Chính phủ, văn bản phát triển Hà Nội đến năm 2030, …

    Quyết định quy phạm: xác định các khuôn mẫu xử sự của hành vi (hay đặt ra quy phạm PL hành chính),

    VD: nghị định, thông tư

    Quyết định quy phạm cũng đồng thời là nguồn của luật Hành chính

    Quyết định áp dụng, hay quyết định cá biệt: VD quyết định xử phạt hành chính đối với cá nhân cụ thể, quyết định nâng lương, …

    Chú ý: Giấy phép lái xe, Bằng cử nhân, … không là quyết định hành chính, đây là các giấy tờ có giá trị do NN ban hành. Tuy nhiên kèm theo nó là văn bản Quyết định công nhận học viên đạt tiêu chuẩn được cấp giấy phép lái xe, hay văn bản Quyết định công nhận sinh viên đạt tiêu chuẩn cấp bằng cử nhân thì là các Quyết định hành chính (thuộc loại Quyết định áp dụng)

    Bản quy hoạch đô thị không phải là quyết định hành chính, tuy nhiên văn bản Quyết định phê duyệt bản quy hoạch đó là quyết định hành chính (thuộc loại Quyết định chủ đạo)

    II. Phân biệt quyết định hành chính với quyết định khác

    Ở đây là phân biệt Quyết định hành chính với quyết định thuộc tư pháp, lập pháp

     QĐ hành chínhQĐ tư phápQĐ lập pháp
    1. Theo chủ thể ban hànhChính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ, UBNDTòa ánQuốc hội
    2. Tiêu chí về mục đích ban hành
    3. Tiêu chí về thủ tục ban hành
    4. Tiêu chí về hình thức, tên gọi
    5. Tính chất pháp lý của văn bản

    III. Yêu cầu đối với quyết định hành chính

    Gồm 3 khía cạnh:

    • Tính chính trị: phải phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của đảng
    • Tính hợp pháp: không trái với hiến pháp và PL, cả về nội dung và hình thức
    • Tính hợp lý: để không gây ra hậu quả tiêu cực. Chú ý: 1 quyết định hành chính hợp pháp chưa chắc đã hợp lý

    Yêu cầu về kỹ thuật lập quy: cần rõ ràng, hiểu theo 1 nghĩa

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương IV

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IV

    Bài giảng môn học Luật Hành chính chương IV mang đến cái nhìn sâu sắc về các nguyên tắc và chế độ quản lý hành chính nhà nước. Chương này tập trung vào việc phân tích cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan hành chính, cùng với quy trình xử lý vi phạm hành chính. Đây là tài liệu quan trọng giúp sinh viên và người học hiểu rõ hơn về cách thức vận hành của hệ thống hành chính, từ đó nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực pháp luật hành chính.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IV

    Chương IV : Nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước

    I. Khái niệm, bản chất, hệ thống các nguyên tắc

    1. Định nghĩa

    Nguyên tắc là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ bản chất của NN, của chế độ được quy định trong văn bản PL, là cơ sở định hướng cho hoạt động quản lý hành chính NN.

    Vì sao cần nguyên tắc ? Vì

    • Nếu không có nguyên tắc thì rất có thể hoạt động quản lý hành chính NN sẽ lệch hướng về mặt chính trị, VD sẽ không theo con đường XHCN mà bị lệch theo con đường TBCN.
    • Nguyên tắc còn là cơ sở để các cơ quan trong hệ thống kiểm soát được hoạt động của các chủ thể quản lý hành chính nói chung là hợp pháp hay không hợp pháp
    • Là cơ sở để đánh giá hoạt động quản lý hành chính NN có hiệu quả hay không có hiệu quả

    2. Bản chất

    Các nguyên tắc mang bản chất giai cấp nhà nước: ở VN là “nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân, vì dân”

    Hệ thống các nguyên tắc:

    Nhóm nguyên tắc hành chính, chính trị, gồm 5 nguyên tắc:

    • Đảng lãnh đạo
    • Tập trung dân chủ
    • Pháp chế XHCN
    • Nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý NN
    • Bình đẳng giữa các dân tộc

    Nhóm nguyên tắc tổ chức – kỹ thuật

    • Đảm bảo sự kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý theo địa phương
    • Nguyên tắc kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý theo chức năng và phối hợp quản lý liên ngành

    Thảo luận về các nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính VN

    1. Nguyên tắc đảng lãnh đạo

    Cơ sở pháp lý: Hiến pháp (Điều 4), luật

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IV
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương IV

    Cơ sở thực tiễn

    Biểu hiện sự lãnh đạo của đảng với NN

    2. Nguyên tắc tập trung dân chủ

    3. Nguyên tắc pháp chế XHCN

    – Pháp chế: là tuân thủ PL một cách triệt để, tuyệt đối, không ngoại lệ

    Câu hỏi:

    (1) Thế nào là thủ tục hành chính ? Trình bày quan điểm về thủ tục hành chính.

    (2) Cơ cấu của thủ tục hành chính. Phân biệt chủ thể thực hiện và chủ thể tham gia.

    (3) Các loại thủ tục hành chính.

    (4) Các giai đoạn của thủ tục hành chính

    (5) Yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay.

    Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức, điều kiện và thời gian tiến hành hay thực hiện một hoạt động quản lý hành chính NN do PL hành chính VN quy định.

    Chủ thể của thủ tục hành chính:

    • Chủ thể tiến hành thủ tục hành chính: là chủ thể mang quyền lực NN trong lĩnh vực hành pháp, nói ngắn gọn là chủ thể quản lý hành chính NN
    • Chủ thể tham gia vào thủ tục hành chính: tất cả những ai phải cần thực hiện những hành vi pháp lý để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

    Khách thể của thủ tục hành chính (nói chung): là trật tự quản lý hành chính NN, tức là duy trì một trật tự để đảm bảo cho các cá nhân tổ chức thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình.

    VD: với việc đi đổi CMT (chẳng hạn CMT đã hết hạn), thì khách thể là sự trật tự trong việc quản lý công dân; hay việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì khách thể là sự trật tự trong việc quản lý hành chính NN về đất đai

    Vấn đề cải cách hành chính: hành chính bao gồm 5 yếu tố

    • Thể chế hành chính: quy định của PL về hành chính
    • Bộ máy hành chính: là các thiết chế để thực hiện quyền hành pháp
    • Nhân lực: đội ngũ cán bộ công chức
    • Tài chính công: thu chi có hiệu quả
    • Cơ chế phối hợp hoạt động: sự phối hợp các thiết chế, các cơ quan trong hoạt động liên quan đến hành chính

    Yêu cầu về cải cách hành chính là yêu cầu cải cách về 5 yếu tố trên

    Chú ý: nếu nói “Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính” thì chỉ nói về các biện pháp cải cách riêng thủ tục hành chính.

    Nói ngắn gọn, yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính là tính hiệu quả của thủ tục hành chính.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương V

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương V

    Bài giảng môn học Luật Hành chính chương V cung cấp kiến thức chi tiết về cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước, quản lý hành chính, và các quy định pháp luật liên quan. Thông qua chương này, sinh viên sẽ nắm bắt được các nguyên tắc, quy trình xử lý hành chính cũng như vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền hành pháp. Đây là tài liệu quan trọng giúp bổ trợ và nâng cao hiểu biết cho những ai đang theo học hoặc quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hành chính.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương V

    Chương IV: Hình thức và phương pháp quản lý hành chính nhà nước

    I. Hình thức quản lý hành chính Nhà nước

    1. Khái niệm và phân loại

    a. Khái niệm

    – Là những biểu hiện bên ngoài của những hành động cụ thể cùng loại do các chủ thể quản lý hành chính NN tiến hành để hoàn thành những nhiệm vụ đặt ra.

    Câu hỏi:

    (1) Chính phủ trình dự án luật trước Quốc hội

    (2) Chánh án tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định đình chỉ vụ án hành chính vì người khởi kiện chết

    (3) Ban chấp hành công đoàn trường đại học X ra quyết định khai trừ công đoàn viên N

    (4) Cảnh sát giao thông lập biên bản về hành vi vượt đèn đỏ

    Trong 4 việc trên, đâu là hình thức quản lý hành chính NN ?

    Trả lời:

    (1) Không phải, đây là quan hệ phát sinh trong lĩnh vực lập pháp

    (2) Không phải, đây là quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tư pháp

    (3) Không phải, đây là quan hệ nội bộ của tổ chức XH, không phải hoạt động quản lý hành chính NN

    (4) Phải, cảnh sát giao thông là chủ thể được NN trao quyền quản lý hành chính NN trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, và việc lập biên bản vi phạm làm phát sinh quan hệ giữa cảnh sát giao thông và người vi phạm, đây là quan hệ quản lý hành chính NN trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ

    Một hành động là quản lý hành chính cần đáp ứng cả 2 điều kiện sau:

    • Chủ thể tiến hành hoạt động đó phải là chủ thể được trao quyền quản lý hành chính NN
    • Tính chất mối quan hệ phát sinh trong hoạt động đó phải thuộc lĩnh vực quản lý hành chính NN

    Hình thức ban hành văn bản quy phạm PL hành chính:

    • Chính phủ ==> Nghị định
    • Bộ ==> Thông tư
    • UBND ==> Quyết định

    Hình thức ban hành văn bản áp dụng quy phạm PL hành chính:

    • Chỉ thị
    • Quyết định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính, quyết định buộc thôi việc, quyết định tuyển dụng, …

    b. Phân loại

    Có 5 nhóm hình thức quản lý hành chính:

    – Ban hành văn bản quy phạm PL hành chính

    – Ban hành văn bản áp dụng quy phạm PL hành chính

    – Thực hiện các hoạt động pháp lý khác

    – Các hoạt động tổ chức trực tiếp

    – Các hoạt động mang tính tổ chức – kỹ thuật

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương V
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương V

    2. Các hình thức quản lý hành chính nhà nước

    Vì sao cần biết các hình thức quản lý hành chính NN ? Vì:

    • Đối với đối tượng bị quản lý hành chính: để nhận diện nếu là hình thức quản lý hành chính NN thì phải chấp hành, nếu không phải thì có thể lựa chọn xử sự cho phù hợp (không nhất thiết phải chấp hành)
    • Đối với chủ thể quản lý hành chính: để lựa chọn hình thức phù hợp với đối tượng quản lý (với đối tượng là số ít thì sẽ ban hành văn bản quản lý hành chính là áp dụng, với đối tượng là nhiều người thì ban hành văn bản quy phạm)
    • Để lựa chọn hình thức quản lý cho phù hợp với quy định của PL, vì có những hình thức mà có thể áp dụng cho đối tượng này nhưng không thể áp dụng cho đối tượng khác, VD như cảnh sát giao thông chỉ có thẩm quyền ban hành văn bản áp dụng PL chứ không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm PL

    a. Hình thức ban hành văn bản quy phạm PL hành chính

    Đây là hình thức cơ bản, quan trọng nhất. Vì sao ?

    • Vì để quản lý thì cần phải có những quy tắc, nên việc ban hành các văn bản quy phạm PL là việc đầu tiên cần thực hiện của mỗi NN
    • Là nền tảng để có thể tiến hành các hoạt động PL khác. VD muốn áp dụng xử phạt vi phạm giao thông thì cần phải có quy phạm về vi phạm giao thông, hay muốn tổ chức thực hiện an toàn giao thông thì cần phải có quy phạm quy định về an toàn giao thông
    • Giúp cho việc đưa các quy định của luật liên quan đến hành chính vào đời sống bằng cách cụ thể hóa và chi tiết hóa. VD đã có luật do Quốc hội ban hành, chính chủ ra Nghị định, Bộ ra thông tư để cụ thể và chi tiết hóa việc áp dụng luật, rồi đến địa phương lại ra Quyết định để áp dụng theo đặc thù của địa phương mình

    Yêu cầu của hình thức ban hành văn bản quy phạm PL:

    Phải được tiến hành đúng thẩm quyền về nội dung và hình thức

    • Đúng thẩm quyền về nội dung: cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực nào thì chỉ được ban hành quy phạm PL trong lĩnh vực đó. Trường hợp cần thiết có thể ban hành văn bản quy phạm PL liên ngành, VD Thông tư liên tịch giữa Bộ Lao động Thương binh và XH với Bộ tài chính về chế độ tiền lương đối với người lao động
    • Đúng thẩm quyền về hình thức: tên gọi phải đúng hình thức văn bản (chính phủ ==> nghị định, bộ ==> thông tư, UBND ==> quyết định)

    Phải đảm bảo: (Luật ban hành văn bản quy phạm PL 2015)

    • Đúng thẩm quyền
    • Đúng trình tự thủ tục ban hành
    • Đúng kỹ thuật pháp lý: VD ngôn ngữ phổ thông (không dùng từ địa phương), trong sáng, rõ ràng, súc tích, đơn nghĩa

    b. Hoạt động ban hành văn bản áp dụng PL hành chính

    – Đây là hoạt động phổ biến và chủ yếu. Vì sao ?

    Xuất phát từ hoạt động chấp hành và điều hành:

    + chấp hành: đúng với quy định của cơ quan quyền lực NN và đúng với quy định của cơ quan NN cấp trên

    + điều hành: tổ chức thực hiện để nhằm:

    + thực hiện thẩm quyền của chủ thể quản lý

    + đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của đối tượng quản lý

    ==> để phát triển đời sống XH

    + tính phổ biến: được tiến hành bởi rất nhiều chủ thể khác nhau

    + tính chủ yếu: diễn ra thường xuyên, liên tục với số lượng lớn

    – 2 loại văn bản áp dụng PL:

    + văn bản áp dụng chấp hành: dùng phần quy định của quy phạm đó để ban hành, VD quyết định tuyển dụng

    + văn bản áp dụng bảo vệ: dùng phần chế tài của quy phạm để ban hành, VD quyết định xử phạt vi phạm

    Yêu cầu:

    + đúng thẩm quyền: chủ thể nào được quyền giải quyết công việc đó thì mới được ban hành văn bản. VD cùng là xử phạt vi phạm an toàn giao thông, nếu số tiền phạt trên 200.000 thì không thuộc thẩm quyền của chiến sỹ cảnh sát giao thông mà thuộc thẩm quyền của đội trưởng đội cảnh sát (chiến sỹ cảnh sát chỉ được lập biên bản vi phạm, rồi chuyển lên cho đội trưởng ra quyết định xử phạt)

    + đúng thủ tục ban hành: thường gồm 3 bước:

    (1) Xác định vấn đề cần giải quyết

    (2) Lựa chọn quy phạm cần áp dụng

    (3) Ban hành văn bản áp dụng

    + đảm bảo sự phù hợp của quy phạm PL được lựa chọn với mệnh lệnh đặt ra trong quyết định

    Lưu ý:

    Hoạt động ban hành văn bản quy phạm PL hay Hoạt động ban hành văn bản án dụng quy phạm PL được gọi chung là hoạt động ban hành văn bản PL, tức là:

    • Có tính quyền lực NN
    • Sản phẩm tạo ra là văn bản PL

    Biểu hiện của quyền lực NN:

    • Chủ thể của hoạt động do NN tiến hành
    • Thủ tục do PL quy định
    • Có tính bắt buộc phải thi hành
    • Được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của NN

    c. Hoạt động mang tính pháp lý khác

    Bất kỳ hoạt động nào được NN quy định đều mang tính pháp lý

    Đây là hoạt động có tính pháp lý (vì được NN quy định) nhưng không phải là hoạt động ban hành ra văn bản PL như 2 nhóm hoạt động nêu trên, có đặc điểm:

    • Kết quả của hoạt động ở nhóm này không có sản phẩm là văn bản PL
    • + các hoạt động ở nhóm này có thể có tính quyền lực NN, hoặc có thể không có tính quyền lực NN

    VD: lập biên bản vi phạm, cấp bằng tốt nghiệp / giấy phép lái xe, …

    Đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, …

    Áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn

    Hoạt động công chứng …

    d. Các hoạt động tổ chức trực tiếp

    – Nhằm triển khai các quy định về quản lý hành chính, VD: tổ chức các cuộc họp trong các cơ quan đơn vị, tổ chức phong trào thi đua, họp tổ dân phố, …

    e. Các hoạt động mang tính tổ chức – kỹ thuật

    – Dùng các biện pháp kỹ thuật trong hoạt động quản lý hành chính, VD: dùng hệ thống đèn tín hiệu giao thông thay cho cảnh sát giao thông, lắp camera để giám sát tốc độ, hoặc ứng dụng các hệ thống phần mềm để quản lý công văn văn bản, quản lý hồ sơ nhân sự, …

    II. Phương pháp quản lý hành chính nhà nước

    1. Khái niệm, bản chất

    Khái niệm: phương pháp quản lý hành chính là cách thức mà chủ thể quản lý hành chính NN sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý. Phương pháp quản lý hành chính thể hiện mối liên hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý. VD mối quan hệ gần gũi hoặc xa cách, mềm dẻo hoặc cứng rắn, nguyên tắc…

    Bản chất: các phương pháp quản lý hành chính phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp của NN (bản chất của NN VN là “pháp quyền XHCN, của dân, do dân, vì dân”)

    Phân loại phương pháp quản lý hành chính NN:

    • Phương pháp thuyết phục: vì bản chất lợi ích của NN với nhân dân là thống nhất, nên đây là phương áp được ưu tiên số 1
    • Phương pháp hành chính (mệnh lệnh)
    • Phương pháp cưỡng chế
    • Phương pháp kinh tế

    Yêu cầu của các phương pháp quản lý hành chính NN:

    • Phù hợp với bản chất của NN
    • Phù hợp với điều kiện kinh tế XH của quốc gia
    • Phải có tính toàn diện: để phù hợp với nhiều đối tượng đa dạng trong thực tế, phù hợp với từng thời kỳ của đất nước (VD trong thời chiến thì ưu tiên phương pháp mệnh lệnh, trong thời phát triển kinh tế thì ưu tiên phương pháp kinh tế, …)
    • Phải đảm bảo tính thống nhất: giúp cho việc hỗ trợ lẫn nhau giữa các phương pháp, việc sử dụng các phương pháp phải kết hợp với nhau một cách hài hòa

    2. Các phương pháp quản lý

    a. Phương pháp thuyết phục

    Là việc sử dụng hàng loạt các hoạt động như tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn, chứng minh, trình bày, … để nhằm đạt đến sự tự giác tuân thủ PL của đối tượng quản lý ==> mục đích là đạt đến sự tự giác

    Thuyết phục mang bản chất giai cấp của NN XHCN: vì trong quản lý của NN XHCN, phương pháp thuyết phục là phương pháp được ưu tiên hàng đầu

    Biểu hiện của phương pháp thuyết phục: 3 cấp độ:

    • Thông qua việc tuyên truyền, phổ biến về các quy định của NN trong quản lý hành chính NN nhằm để cho đối tượng quản lý hiểu được, nhận biết được mệnh lệnh quản lý của chủ thể quản lý, từ đó biết và chấp hành
    • Thông qua việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng về chính sách PL của NN trong quản lý hành chính NN, phương pháp này không chỉ áp dụng với đối tượng quản lý mà còn áp dụng với chủ thể quản lý để nâng cao hiểu biết, nhận thức và hình thành ý thức PL trong cả cán bộ quản lý NN và quần chúng
    • Tổ chức các phong trào thi đua và nêu gương điển hình , từ đó nhân rộng để trở thành nét văn hóa pháp lý

    b. Phương pháp cưỡng chế

    Là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của NN do các cơ quan NN hoặc người có thẩm quyền tiến hành nhằm buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định hay hạn chế về quyền, về tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc là hạn chế về tự do thân thể của cá nhân.

    Phương pháp cưỡng chế mang bản chất giải cấp của NN, trong NN XHCN, phương pháp này để tác động đến đối tượng phản động, phản cách mạng, với quần chúng thì chỉ áp dụng khi phương pháp thuyết phục không có kết quả

    Việc áp dụng phương pháp cưỡng chế phải hài hòa với phương pháp thuyết phục

    Việc sử dụng cưỡng chế phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của PL, vì phương pháp cưỡng chế là sử dụng bạo lực nên có nguy cơ gây ra các tổn hại về vật chất hoặc tinh thần cho đối tượng quản lý.

    Ngay cả khi thực hiện cưỡng chế, cũng phải sử dụng phương pháp thuyết phục

    Trong trường hợp phải áp dụng phương pháp cưỡng chế thì lựa chọn biện pháp có khả năng gây ra thiệt hại thấp nhất cho đối tượng bị cưỡng chế

    Các loại cưỡng chế: có 4 loại:

    • Cưỡng chế hình sự
    • Cưỡng chế dân sự
    • Cưỡng chế hành chính
    • Cưỡng chế kỷ luật

    (1) Cưỡng chế hình sự: là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của NN đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm PL theo quy định của bộ luật hình sự được coi là tội phạm, khi đó tòa án sẽ áp dụng bằng 1 bản án.

    (2) Cưỡng chế dân sự: áp dụng với cá nhân, tổ chức vi phạm PL dân sự, gây thiệt hại về vật chất hay tinh thần. Cơ chế giải quyết thông thường theo thương lượng, nếu không thương lượng được thì tòa án sẽ xét xử, thông thường sẽ là bồi thường về vật chất (VD quy ra tiền) hoặc tinh thần (VD xin lỗi công khai)

    (3) Cưỡng chế hành chính: là cưỡng chế NN do các cơ quan, cán bộ có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, hoặc nhằm ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm hành chính xảy ra, hoặc để hạn chế, khắc phục những thiệt hại do thiên tai, địch họa, dịch bệnh, … gây ra, hoặc vì lý do an ninh quốc phòng.

    Điểm khác biệt của cưỡng chế hành chính so với các phương pháp cưỡng chế khác là nó được thực hiện khi có hay không có hành vi vi phạm. VD: kiểm tra hành chính về kê khai nhân khẩu, kiểm tra hành chính về phương tiện giao thông (ngay cả khi không vi phạm), kiểm tra y tế bắt buộc (đối với nhà hàng, quán ăn, …), mục đích để phòng ngừa nguy cơ vi phạm xảy ra. VD: trưng dụng tài sản công dân vì lý do an ninh quốc phòng trong thời chiến.

    Các biện pháp cưỡng chế hành chính:

    (a) Xử phạt vi phạm hành chính: áp dụng với chủ thể có hành vi vi phạm hành chính

    • Áp dụng các hình thức áp dụng xử phạt: cảnh cáo phạt tiền, tước quyền (quyền sử dụng giấy phép chứng chỉ hành nghề), tịch thu (phương tiện vi phạm), trục xuất (người nước ngoài), …
    • Bắt buộc khắc phục hậu quả: buộc tháo dỡ phần công trình xây dựng trái phép, buộc khắc phục tình trạng thay đổi do vi phạm hành chính gây ra, buộc đình chỉ hành vi gây ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh, tiêu hủy văn hóa phẩm độc hại, vật phẩm có hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, buộc đưa ra khỏi VN, buộc tái xuất hàng hóa, buộc cải chính thông tin, …

    (b) Áp dụng các biện pháp bắt buộc khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra: (chú ý: đây là biện pháp khác với biện pháp xử phạt hành chính) áp dụng trong trường hợp thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết, nên chỉ bắt buộc khắc phục hậu quả

    (c) Nhóm các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính: áp dụng khi đã có quyết định xử phạt nhưng đối tượng vi phạm không thực hiện, nên phải cưỡng chế thi hành. Gồm các biện pháp như: khấu trừ một phần tiền lương, một phần thu nhập hợp pháp, khấu trừ tiền từ tài khoản ngân hàng (đối với doanh nghiệp), kê biên phần tài sản tương ứng với số tiền cần nộp phạt để bán đấu giá, các biện pháp do chính phủ quy định để thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả (như tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành như thế nào, thuê nhân công thế nào, thuê phương tiện thế nào, …)

    (d) Nhóm các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử lý hành chính: nhằm ngăn chặn vi phạm xảy ra và đảm bảo cho quyết định xử lý hành chính được thi hành. Gồm các biện pháp như: khám người, khám nơi cất giấu tang vật hoặc phương tiện, khám phương tiện, tạm giữ hành chính, biện pháp quản lý người nước ngoài trong thời gian chờ trục xuất, quản lý đối với trẻ vị thành niên trong thời gian tại trại giáo dưỡng, truy tìm đối tượng bị xử phạt hành chính mà bỏ trốn (VD bỏ trốn khỏi trại giáo dưỡng, trại giáo dục)

    (e) Nhóm biện pháp xử lý hành chính: gồm các biện pháp

    • Giáo dục tại xã, phường, thị trấn: do chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định
    • Đưa vào cơ sở giáo dục: đối với người trưởng thành vi phạm
    • Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
    • Đưa vào trường giáo dưỡng: đối với trẻ vị thành niên vi phạm

    (3 biện pháp sau là do Tòa án cấp huyện ra quyết định)

    (f) Nhóm các biện pháp phòng ngừa hành chính: để phòng ngừa vi phạm có thể xảy ra, hay để hạn chế thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, địch họa, hay vì lý do an ninh quốc phòng. VD cách ly để tránh lây lan dịch bệnh, cấm tàu thuyền ra khơi khi sắp có bão, hoặc trưng dụng, trưng mua tài sản (Pháp lệnh trưng dụng, trưng mua tài sản 2008), thù hồi đất vì lý do an ninh quốc phòng, …

    (4) Cưỡng chế kỷ luật: là biện pháp cưỡng chế của NN áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm kỷ luật, thông thường do thủ trưởng / người đứng đầu cơ quan áp dụng, gồm cưỡng chế kỷ luật hành chính (buộc thôi việc), kỷ luật lao động (giảm bậc lương, phụ cấp, …)

    c. Phương pháp kinh tế

    – Dùng đòn bẩy kinh tế trong quá trình quản lý, đây là các biện pháp khuyến khích đối tượng quản lý tham gia cùng với NN trong việc xây dựng và phát triển đất nước. VD ưu đãi thuế với những lĩnh vực NN muốn khuyến khích như giáo dục, văn hóa

    Câu hỏi:

    Hãy phân tích mối quan hệ giữa hình thức quản lý hành chính và phương pháp quản lý hành chính.

    Hãy phân tích mối quan hệ giữa phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế.

    Trả lời:

    Mối quan hệ giữa hình thức quản lý hành chính và phương pháp quản lý hành chính là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của hoạt động quản lý hành chính NN:

    • 1 nội dung có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức: VD phương pháp cưỡng chế có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như Ban hành văn bản quy phạm PL, ban hành văn bản áp dụng PL, và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quyết định xử phạt
    • 1 hình thức có thể là sự phản ánh của nhiều nội dung: VD trong 1 quyết định xử phạt của cơ quan NN có thể vừa có phần thuyết phục (trách nhiệm tuyên truyền phổ biến của cơ quan NN), vừa có phần kinh tế (quy định khen thưởng đối với người có thành tích tốt trong việc đấu tranh chống vi phạm), vừa có phần cưỡng chế

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương I

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương I

    Bạn đang tìm kiếm bài giảng môn học Luật Hành chính chương I? Chương I của Luật Hành chính đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp những kiến thức cơ bản và nền tảng về khái niệm, đối tượng điều chỉnh, và nguyên tắc cơ bản của ngành luật này. Bài giảng giúp sinh viên nắm vững các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, từ đó hiểu rõ hơn về cách thức quản lý hành chính nhà nước. Hãy cùng khám phá chi tiết nội dung chương I để chuẩn bị tốt cho môn học này.

    Bài giảng môn học Luật hành chính

    Vấn đề 1: Luật hành chính – Ngành luật trong hệ thống PL VN

    Tiếp cận Luật hành chính dưới 3 góc độ:

    • Là 1 ngành luật: đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh
    • Là 1 ngành khóa học pháp lý: đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
    • Là 1 môn học trong chương trình đào tạo luật: nhiệm vụ của môn học, làm cách nào để thực hiện nhiệm vụ đó.

    VD:

    • Luật hiến pháp là ngành luật về tổ chức bộ máy NN và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
    • Luật dân sự là ngành luật về quyền tài sản và quyền nhân thân.
    • Luật hình sự là ngành luật về tội phạm và hình phạt

    Luật hành chính là ngành luật về quản lý hành chính NN.

    I. Quản lý hành chính nhà nước

    1. Quản lý xã hội

    a. Khái niệm:

    ĐN: quản lý là sự điều khiển chỉ đạo đối với 1 hệ thống hay 1 quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay những nguyên tắc tương ứng, để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý, nhằm đạt được mục đích đã đề ra.

    Nói ngắn gọn, quản lý là hoạt động tác động và điều chỉnh.

    Nguồn gốc của quản lý: khi con người có hoạt động lao động chung thì khi đó có quản lý. Tức là khi con người xuất hiện và lao động chung (cùng sắn bắn, hái lượm) đã có hoạt động quản lý. Ngược lại, ngay trong thời hiện tại, khi đã có NN, nếu con người không lao động chung, tức là hoạt động 1 mình thì cũng không có hoạt động quản lý, VD như Robinson trên hoang đảo.

    b. Đặc điểm của quản lý:

    Quản lý là hoạt động của con người, nó phát sinh và phát triển cùng với XH loài người

    Hoạt động quản lý trong thời kỳ, XH nào sẽ phản ánh bản chất của thời kỳ, XH đó. Tức là hoạt động quản lý gắn với bản chất XH. VD với NN bóc lột như NN chủ nô, phong kiến thì kiểu quản lý cũng là bóc lột, dùng phương pháp cưỡng chế, bạo lực là chủ yếu; với NN dân chủ như XHCN thì kiểu quản lý cũng dân chủ, phương pháp thuyết phục là ưu tiên hành đầu.

    Quản lý muốn thực hiện được phải dựa trên cơ sở:

    • Tổ chức: là sự phân công, phân nhiệm vị trí chức trách của từng cá nhân trong tập thể, là sự liên kết phối hợp hoạt động của các cá nhân để nhằm đạt được mục đích mà người quản lý đề ra.
    • Quyền uy: là khả năng áp đặt ý chí của người này đối với người khác. Quyền uy trong XH có NN được thực hiện bởi chủ thể nhân danh NN gọi là quyền lực NN. Quyền lực NN là khả năng áp đặt ý chí của NN – ý chí của giai cấp thống trị lên toàn XH.

    Để có quyền uy thì:

    • Chủ thể phải có khả năng ra mệnh lệnh
    • Có sự phục tùng của đối tượng quản lý

    Chấp hành cưỡng chế: cưỡng chế là sự bắt buộc về mặt vật chất hoặc tinh thần, pháp lý hay đạo lý, kinh tế hoặc phi kinh tế, để nhằm buộc đối tượng quản lý phải phục tùng mệnh lệnh của chủ thể quản lý. VD NN ra quy định về giao thông, đồng thời ra quy định về xử phạt vi phạm giao thông. Lực lượng thực hiện chức năng cưỡng chế của NN là công an, quân đội, nhà tù.

    3 cơ sở trên là các điều kiện cần và đủ để hoạt động quản lý có hiệu quả trên thực tế.

    c. Cơ cấu của quản lý:

    Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý, nhằm mục tiêu là khách thể quản lý.

    Chủ thể quản lý: là các cá nhân hay tổ chức có quyền uy.

    • V+ với cá nhân: quyền uy được hình thành có thể do có uy tín (như tù trưởng), có tài sản (như chủ tư bản) , có quan hệ huyết thống (như cha mẹ trong gia đình, hoặc trong một số NN quân chủ), và được NN trao quyền
    • Với tổ chức: quyền uy của tổ chức có thể do các thành viên của tổ chức trao (do bầu cử), hoặc do NN trao quyền

    Khách thể quản lý: là trật tự quản lý XH (trật tự là khuôn mẫu chuẩn mực, có tính bắt buộc cho các đối tượng có liên quan). Được thể hiện trong các quy phạm XH như quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm PL.

    Khái niệm khách thể: là mục tiêu của các bên cùng hướng đến trong 1 quan hệ.

    VD: cảnh sát giao thông phạt người vi phạm giao thông, khách thể ở đây là trật tự an toàn giao thông, đây là khách thể được NN quy định trước, đối tượng bị phạt sẽ được răn đe, được giáo dục để không tiếp tục vi phạm

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương I
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương I

    2. Quản lý nhà nước

    a. Khái niệm

    Quản lý nhà nước là 1 bộ phận của quản lý XH.

    ĐN: quản lý NN là hoạt động của NN trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp để nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của NN.

    b. Đặc điểm

    Quản lý NN cũng có đầy đủ 3 đặc điểm của quản lý XH như đã nêu trên, tuy nhiên quản lý NN khác với quản lý XH ở các khía cạnh:

    • Quản lý NN do NN thực hiện: NN tồn tại thông qua các cơ quan NN và các chủ thể được NN trao quyền,  NN sử dụng các biện pháp kinh tế để đảm bảo hiệu quả quản lý của mình hơn các quản lý XH khác, NN là chủ thể quản lý có khả năng tạo ra chế độ dân chủ rộng rãi, thu hút các đối tượng XH tham gia vào công tác quản lý
    • NN sử dụng công cụ, phương tiện chủ yếu là PL để quản lý: chỉ NN mới có quyền ban hành và sử dụng PL, các chủ thể khác trừ khi được NN trao quyền thì không được sử dụng PL của NN

    c. Cơ cấu

    Cơ cấu của quản lý NN tương tự như quản lý XH

    Chủ thể của quản lý NN là các cá nhân và tổ chức được NN trao quyền (hay mang quyền lực NN). NN trao quyền theo 2 cách:

    • Bằng văn bản quy phạm PL: VD luật tổ chức chính phủ, luật tổ chức UBND, HĐND, …
    • Bằng văn bản PL cá biệt: VD bổ nhiệm ông A làm thẩm phán, bổ nhiệm bà B làm kiểm sát viên

    Các chủ thể được NN trao quyền:

    • Các cơ quan NN
    • Các cá nhân được NN trao quyền: đội ngũ cán bộ, công chức
    • Các tổ chức XH được NN trao quyền: chỉ trong một số trường hợp nhất định

    Khách thể của quản lý NN là trật tự quản lý NN, được xác lập trên 3 lĩnh vực cơ bản:

    • Trật tự quản lý NN trên lĩnh vực lập pháp
    • Trật tự quản lý NN trên lĩnh vực hành pháp
    • Trật tự quản lý NN trên lĩnh vực tư pháp

    Các trật tự này được phản ánh trong các quy phạm PL

    3. Quản lý hành chính NN

    a. Khái niệm

    ĐN: quản lý hành chính NN là 1 hình thức quản lý hoạt động của NN được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi cơ quan hành chính NN, có nội dung là việc chấp hành hiến pháp và PL, nhằm tổ chức 1 cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, XH và hành chính của đất nước

    Nói cách khác, quản lý hành chính NN là hoạt động chấp hành – điều hành của NN.

    b. Đặc điểm

    Là hoạt động có tính chấp hành – điều hành:

    • Chấp hành: là việc thực hiện đúng các văn bản PL của cơ quan quyền lực NN (VD chính phủ phải thực hiện đúng văn bản của Quốc hội, UBND phải thực hiện đúng văn bản của HĐND cùng cấp), bên cạnh đó chấp hành còn thể hiện ở việc thực hiện đúng các văn bản của cơ quan NN cấp trên (VD UBND cấp xã phải thực hiện đúng văn bản của UBND cấp huyện, UBND cấp huyện phải thực hiện đúng văn bản của UBND cấp tỉnh, UBND cấp tỉnh phải thực hiện đúng văn bản của chính phủ và thủ tướng chính phủ)
    • Điều hành: là việc chỉ đạo các đối tượng thuộc quyền trong quá trình quản lý. Tức là đã có văn bản rồi thì phải tổ chức thực hiện văn bản đó, đã có mệnh lệnh của cấp trên thì phải triển khai để nhân viên cấp dưới thực hiện trong thực tế

    Chấp hành và điều hành có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể xem nhẹ yếu tố nào. Vì trong quá trình quản lý, nếu chỉ chấp hành mà không điều hành thì hoạt động quản lý sẽ không được triển khai sâu rộng vào trong thực tiễn, ngược lại nếu chỉ điều hành mà không chấp hành thì thì sự chỉ đạo điều hành có thể tùy tiện, thậm chí trái PL.

    Câu hỏi: Vì sao chấp hành – điều hành là đặc trưng của quản lý hành chính NN ? So với hoạt động quản lý NN khác như hoạt động lập pháp, tư pháp có khác nhau không ?

    Trả lời: 

    • Hoạt động lập pháp là hoạt động ban hành, sửa đổi các luật do quốc hội thực hiện, sau khi có luật thì giao cho cơ quan hành pháp tổ chức thực hiện, do đó hoạt động lập pháp có tính chấp hành là chủ yếu, vai trò điều hành của hoạt động lập pháp rất mờ nhạt.
    • Hoạt động tư pháp là hoạt động giải quyết các tranh chấp pháp lý và được tiến hành bởi cơ quan tòa án, tham gia vào hoạt động tư pháp còn có viện kiểm sát và các cơ quan bổ trợ tư pháp. Viện kiểm sát đóng 2 vai trò: đối với án hình sự thì viện kiểm sát đóng vai trò công tố, còn đối với án phi hình sự thì viện kiểm sát đóng vai trò kiểm tra giám sát hoạt động xét xử của tòa án. Ngoài ra VKS còn đóng vai trò giám sát việc thi hành án. Như vậy hoạt động tư pháp không có tính điều hành, (vì tòa xét xử xong là tuyên án và giao cho cơ quan thi hành án) mà có tính chấp hành bảo vệ (tức là bảo vệ các quan hệ XH được PL quy định).

    Như vậy có thể thấy chỉ có hoạt động quản lý hành chính mới có đầy đủ tính chấp hành – điều hành, nên tính chấp hành – điều hành là đặc trưng của quản lý hành chính NN.

    Chú ý: Hoạt động lập pháp >< hoạt động ban hành văn bản PL

    • Hoạt động lập pháp: là hoạt động ban hành, sửa đổi các luật, chỉ có quốc hội mới có quyền lập pháp, và phải thực hiện theo thủ tục trình tự được quy định chặt chẽ
    • Hoạt động ban hành văn bản PL: là việc ban hành, sửa đổi các luật và các văn bản dưới luật (như nghị định, thông tư, quyết định, …), ngoài quốc hội còn có các cơ quan NN như chính phủ, bộ, UBND, tham gia vào hoạt động ban hành PL

    Hoạt động quản lý hành chính NN là hoạt động có tính chủ động sáng tạo cao

    Hoạt động quản lý hành chính NN là hoạt động có tính khoa học

    Hoạt động quản lý hành chính NN là hoạt động có tính chính trị rõ nét

    Hoạt động quản lý hành chính NN là hoạt động được đảm bảo về phương tiện tổ chức bộ máy to lớn

    c. Cơ cấu

    Chủ thể của quản lý hành chính NN là các cá nhân và tổ chức được NN trao quyền để thực hiện quản lý hành chính NN. Gồm:

    • Các cơ quan NN: chủ yếu là các cơ quan hành chính NN
    • Các cá nhân, tổ chức được NN trao quyền quản lý hành chính

    Chú ý: cần phân biệt người được giao quyền hành chính với người giao quyền lập pháp và tư pháp. VD đại biểu Quốc hội chỉ có quyền lập pháp, không thể có quyền ra quyết định xử phạt hành chính; ngược lại người cảnh sát giao thông có quyền ra quyết định xử phạt vi phạm giao thông nhưng không thể có quyền lập pháp như đại biểu quốc hội. Chú ý: với trường hợp của thẩm phán là người có quyền tư pháp, không có quyền hành chính, tuy nhiên trong trường hợp thẩm phán đang điều hành phiên tòa, nếu có người gây mất trật tự phiên tòa thì thẩm phán có quyền xử phạt hành chính người đó về tội gây rối tại phiên tòa, khi đó thẩm phán vừa có quyền về tư pháp, vừa có quyền về hành pháp.

    Khách thể quản lý hành chính NN là trật tự quản lý hành chính NN. VD trật tự quản lý trên lĩnh vực giao thông, lĩnh vực văn hóa, … Khách thể của quản lý hành chính NN được phản ánh trong các quy pháp PL hành chính.

    Chú ý: quản lý NN theo nghĩa hẹp là quản lý hành chính NN, còn quản lý NN theo nghĩa rộng là quản lý NN trên 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vì quản lý hành chính NN bao trùm các lĩnh vực của đời sống XH, nên khi nói đến hoạt động quản lý NN thường nghĩ ngay đến hoạt động quản lý hành chính NN

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hành chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hành chính chương III

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương III

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương III tập trung vào hệ thống các nguồn luật và quy chế pháp lý của hành chính nhà nước. Chương này cung cấp những kiến thức chuyên sâu về quy phạm pháp luật hành chính, văn bản quy phạm pháp luật, và các văn bản hành chính cá biệt. Sinh viên sẽ được tìm hiểu kỹ lưỡng về thẩm quyền ban hành, hình thức văn bản, cũng như các quy trình pháp lý liên quan. Đây là nội dung quan trọng giúp người học nắm rõ hệ thống pháp luật hành chính, phục vụ cho việc nghiên cứu và áp dụng thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương III

    Chương III: Quy phạm và quan hệ pháp luật hành chính

    I. Quy phạm PL hành chính

    1. Khái niệm

    ĐN: quy phạm PL hành chính là 1 dạng cụ thể của quy phạm PL, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ XH phát sinh trong quá trình quản lý hành chính theo phương pháp mệnh lệnh – phục tùng

    Đặc điểm của quy phạm PL luật Hành chính:

    Đặc điểm chung (chính là các đặc điểm của quy phạm PL):

    • Là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung
    • Do NN ban hành
    • Được NN đảm bảo thực hiện

    Đặc điểm riêng: (trong Giáo trình là đặc điểm của Hệ thống quy phạm PL Hành chính)

    • Điều chỉnh quan hệ XH phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính NN
    • Điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh – phục tùng
    • Điều chỉnh bằng xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý hành chính NN

    I. Quy phạm PL hành chính

    2. Thực hiện quy phạm PL hành chính

    Các hình thức thực hiện quy phạm PL hành chính được chia thành 2 loại:

    • Chấp hành quy phạm PL hành chính: là nghĩa vụ của cá nhân và tổ chức phải thực hiện những hành vi mà PL yêu cầu hoặc không thực hiện những hành vi mà PL cấm.
    • Áp dụng quy phạm PL hành chính: là việc chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào PL hiện hành để giải quyết những công việc cụ thể phát sinh trong quản lý hành chính NN.

    II. Quan hệ pháp luật hành chính

    1. Khái niệm quan hệ PL hành chính

    ĐN: là những quan hệ XH phát sinh trong quản lý hành chính NN được điều chỉnh bởi các quy phạm PL hành chính giữa các chủ thể mang quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định của PL hành chính

    Đặc điểm:

    Quan hệ PL hành chính có thể phát sinh do yêu cầu hợp pháp của bất kỳ chủ thể nào: tức là không chỉ chủ thể quản lý (tức là NN) yêu cầu mà đối tượng quản lý (tức là người dân) cũng có thể yêu cầu chủ thể quản lý phải đáp ứng các nhu cầu của mình. VD yêu cầu cấp giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    Quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính của các chủ thể tham gia quan hệ PL hành chính luôn gắn với hoạt động chấp hành – điều hành

    Một bên chủ thể trong quan hệ PL hành chính phải là chủ thể được sử dụng quyền lực NN trong lĩnh vực hành pháp

    Bài giảng môn học Luật hành chính chương III
    Bài giảng môn học Luật hành chính chương III

    Tranh chấp phát sinh trong quan hệ PL hành chính được giải quyết bằng thủ tục hành chính hoặc bằng tố tụng hành chính: tranh chấp hành chính là sự mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ

    Chủ thể tham gia quan hệ PL hành chính vi phạm yêu cầu của PL hành chính phải chịu trách nhiệm pháp lý trước NN.

    2. Chủ thể của quan hệ PL hành chính

    ĐN: là các cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể tham gia vào các quan hệ PL hành chính, mang quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định của PL hành chính

    Điều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ PL hành chính:

    Phải có năng lực chủ thể: là khả năng mà cá nhân, tổ chức được NN cho phép, thừa nhận tham gia vào các quan hệ hành chính, bao gồm 2 yếu tố:

    • Năng lực PL hành chính: là khả năng NN cho phép cá nhân, tổ chức được hưởng các quyền và nghĩa vụ nhất định trong lĩnh vực hành chính NN. Mọi người đều có năng lực PL hành chính từ khi ra đời cho đến khi chết. VD khi mới ra đời trẻ em đã có quyền được khai sinh, có quyền được nhận quốc tịch, ngay cả người mắc bệnh tâm thần cũng vẫn có năng lực PL hành chính, đó là quyền công nhân như quyền cư trú, quyền tự do đi lại, … Với tổ chức thì có năng lực PL hành chính khi được thành lập (được NN thừa nhận) và kết thúc khi giải thể.
    • Năng lực hành vi hành chính: là khả năng thực tế của cá nhân được NN thừa nhận với khả năng đó thì họ có thể tự mình hưởng quyền và tự mình gánh vác nghĩa vụ. Năng lực hành vi là yếu tố động, phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau tùy thuộc vào tính chất của từng quan hệ PL. Các yếu tố tác động đến năng lực hành vi hành chính: độ tuổi, nhận thức, các điều kiện khác như năng lực, trình độ, chuyên môn. VD: 1 người đủ 21 tuổi, không bị mất năng lực hành vi, nếu muốn mở một phòng khám y khoa thì phải có bằng cấp là bác sỹ y khoa được NN công nhận.

    II. Quan hệ pháp luật hành chính

    4. Cơ sở làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL hành chính

    Điều kiện phát sinh thay đổi chất dứt 1 quan hệ PL luật hành chính cụ thể:

    Có quy phạm PL luật hành chính: để quan hệ XH trở thành quan hệ hành chính

    Có sự kiện pháp lý hành chính: là những sự kiện thực tế mà khi xảy ra PL hành chính gắn nó với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hành chính. Có 2 dạng:

    • sự kiện khách quan (sự kiện phi ý chí / sự biến pháp lý): xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người, VD thiên tai, dịch bệnh, sự cố kỹ thuật, …
    • hành vi của con người (sự kiện ý chí): hành động / không hành động (hợp pháp / không hợp pháp)

    Chú ý: 1 sự kiện có thể làm cơ sở phát sinh nhiều quan hệ, VD sự chết của 1 người có thể là cơ sở phát sinh quan hệ dân sự (như thừa kế, hôn nhân chấm dứt), hay quan hệ hành chính (phải có giấy chứng tử cjủa UBND cấp xã)

    Năng lực của chủ thể tham gia: người không có năng lực hành vi như tâm thần, khuyết tật trí tuệ, … không phát sinh quan hệ hành chính

    Vì sao một quan hệ pháp lý hành chính phát sinh phải có đủ 3 điều kiện nêu trên ?

    Phải có quy phạm PL luật hành chính: để làm căn cứ thiết lập mối quan hệ pháp lý hành chính

    Phải có sự kiện pháp lý hành chính: vì nếu không có sự kiện thực tế xảy ra thì quy phạm PL luật nhành chính chỉ là giả thiết

    Chủ thể phải có năng lực hành vi: để chịu trách nhiệm theo quy định

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hiến pháp: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hanh-chinh-viet-nam?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Triết học Mác Lê Nin chương III

    Bài giảng môn học Triết học Mác Lê Nin chương III

    Bài giảng môn học Triết học Mác Lê Nin chương III giúp sinh viên nắm bắt sâu sắc về chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý thuyết về hình thái kinh tế – xã hội và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự phát triển của lịch sử. Nội dung này cung cấp nền tảng để hiểu rõ mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, cũng như các quy luật khách quan chi phối sự vận động của xã hội.

    Bài giảng môn học Triết học Mác Lê Nin chương III

    Chương III của Triết học Mác – Lênin thường xoay quanh Chủ nghĩa Duy vật lịch sử. Dưới đây là nội dung cơ bản của chương này:

    1. Lý luận hình thái kinh tế – xã hội

    • Khái niệm hình thái kinh tế – xã hội: Hình thái kinh tế – xã hội là một hệ thống xã hội cụ thể, bao gồm ba mặt cơ bản: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
    • Các yếu tố cơ bản:
      • Lực lượng sản xuất: Là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội, bao gồm công cụ sản xuất và con người.
      • Quan hệ sản xuất: Là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất.
      • Kiến trúc thượng tầng: Bao gồm các thể chế, tư tưởng, luật pháp, chính trị, văn hóa, tôn giáo…
    Bài giảng môn học Triết học Mác Lê Nin chương III
    Bài giảng môn học Triết học Mác Lê Nin chương III

    2. Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử

    • Quần chúng nhân dân: Là lực lượng chính trong việc sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần. Họ đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lịch sử.
    • Vai trò của cá nhân: Cá nhân có thể ảnh hưởng đến lịch sử, nhưng phải hoạt động trong những điều kiện khách quan và cụ thể.

    3. Sự vận động và phát triển của lịch sử xã hội

    • Quy luật khách quan của lịch sử: Các sự kiện lịch sử phát triển theo những quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người.
    • Mâu thuẫn và sự phát triển xã hội: Xã hội luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, và chính sự đấu tranh này thúc đẩy xã hội phát triển.

    Chương III giúp sinh viên hiểu rõ về quá trình vận động và phát triển của xã hội loài người dưới góc độ lịch sử, từ đó nhận thức được vai trò của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng trong sự phát triển đó.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng ôn tập môn Triết học Mác Lê Nin: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-triet-hoc-mac—le-nin?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.