Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VII

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VII

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VII với nội dung chủ thể của tội phạm giúp sinh viên hiểu rõ về các cá nhân hoặc pháp nhân có năng lực chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi phạm tội. Chương học phân tích các điều kiện xác định chủ thể tội phạm, như độ tuổi, năng lực trách nhiệm pháp lý, và các trường hợp đặc biệt liên quan. Qua đó, người học sẽ có cái nhìn toàn diện về vai trò của chủ thể trong cấu thành tội phạm và quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VII

    Chương 7: Chủ thể của tội phạm

    I. Khái niệm chủ thể của tội phạm

    – Chủ thể của tội phạm là con người:

    + có năng lực TNHS

    + đạt độ tuổi luật hình sự quy định

    – Các đối tượng khác cũng có thể gây thiệt hại lớn cho XH như pháp nhân, người điên, trẻ em dưới 14 tuổi, súc vật, vật nuôi nhưng không bị coi là chủ thể của tội phạm

    Lý do:

    + vì luật hình sự VN không nhằm mục đích trả thù mà nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội

    + mục đích của cải tạo, giáo dục chỉ đạt được khi người thực hiện hành vi nguy hiểm có những điều kiện nhất định …

    – Chú ý:

    + với pháp nhân, hiện tại chưa có quy định chịu TNHS, nhưng đại diện của pháp nhân vẫn phải chịu trách nhiệm cá nhân

    + với trường hợp súc vật, vật nuôi gây hại cho XH, hoặc được người sử dụng làm phương tiện gây hại cho Xh, thì TNHS quy cho người chủ, người quản lý súc vật

    II. Năng lực TNHS

    1. Khái niệm

    – Là khả năng nhận thức được ý nghĩa XH của hành vi và khả năng điều khiển hành vi của mình theo đòi hỏi của XH

    – Năng lực TNHS là năng lực vốn có của con người, chỉ hình thành qua sự phát triển của con người về tự nhiên và XH, và hoàn thiện qua quá trình giáo dục và tự giáo dục

    Chú ý: năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi có thể không có, hay bị loại trừ nếu con người bị mắc bệnh tâm thần

    2. Tình trạng không có năng lực TNHS

    Điều 13

    – Một người được coi là tình trạng không có năng lực TNHS khi thỏa mãn 2 dấu hiệu:

    + dấu hiệu y học: mắc bệnh tâm thần, hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần

    + dấu hiệu tâm lý nhưng có ý nghĩa về mặt pháp lý: người không nhận thức được ý nghĩa hành vi của mình, hoặc không thực hiện được hành vi theo đòi hỏi của XH

    – Mối quan hệ giữa 2 dấu hiệu là mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả:

    + dấu hiệu y học là nguyên nhân

    + dấu hiệu tâm lý là kết quả

    – Vấn đề năng lực TNHS hạn chế :

    + điều kiện là khi mắc bệnh tâm thần, bệnh khác nhưng không đến mức làm mất năng lực nhận thức hay mất năng lực điều khiển hành vi

    + Người bị năng lực TNHS hạn chế vẫn bị quy lỗi, vẫn phải chịu TNHS, nhưng được giảm nhẹ tội

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VII
    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VII

    3. Năng lực TNHS và tình trạng say rượu

    Điều 14 : Người phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu TNHS

    – Say rượu thông thường : người phạm tội có lỗi với tình trạng say (vì trước khi uống rượu đã nhận thức được khả năng gây ra lỗi) nên vẫn phải chịu TNHS với tội đã thực hiện khi say

    – Say rượu bệnh lý : là chứng loạn tâm thần cấp tính lâm thời, là hiện tượng rất hiếm gặp, thường xuất hiện trên cơ sở đói, mệt hoặc do tiền sử chấn thương, khi đó :

    + người say rượu bệnh lý không có lỗi

    + không phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm đã thực hiện

    III. Tuổi chịu TNHS

    Điều 12 :

    – Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.

    – Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    – Người chưa đủ 14 tuổi được coi là không có năng lực TNHS nên không phải chịu TNHS

    IV. Chủ thể đặc biệt của tội phạm

    – Là người mà ngoài những dấu hiệu cần thiết của chủ thể của tội phạm còn phải có thêm những dấu hiệu riêng khác nữa và chỉ có những người có dấu hiệu riêng này mới thực hiện được những tội phạm mà CTTP đó phản ánh.

    – Các dấu hiệu đó có thể là : quốc tịch (đối với tội phản quốc, chỉ có người có quốc tịch VN mới mắc tội phản quốc), độ tuổi, giới tính, có chức vụ quyền hạn, có quan hệ họ hàng thân thích …

    V. Vấn đề nhân thân người phạm tội

    – Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn TNHS của họ.

    Những đặc điểm đó là : tuổi, nghề nghiệp, trình độ, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh, đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức PL, tôn giáo, tiền án, tiền sự, …

    – Ý nghĩa :

    + là dấu hiệu định tội

    + là dấu hiệu định khung tội phạm

    + là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VI

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VI

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VI tập trung vào nội dung mặt khách quan của tội phạm, giúp sinh viên hiểu rõ các yếu tố bên ngoài cấu thành tội phạm, bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả, và hoàn cảnh phạm tội. Chương học cung cấp nền tảng phân tích cụ thể về cách nhận diện và đánh giá hành vi phạm tội trong thực tiễn, từ đó giúp người học nắm vững kỹ năng áp dụng các quy định pháp luật hình sự một cách chính xác và hiệu quả.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VI

    Chương 6: Mặt khách quan của tội phạm

    I. Khái niệm

    – Là toàn bộ những diễn biến, biểu hiện bên ngoài của tội phạm

    II. Các dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm

    1. Hành vi khách quan của tội phạm

    – Là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan, những biểu hiện này nhằm đạt những mục đích nhất định.

    Như vậy, Hành vi khách quan của tội phạm phải được:

    + ý thức con người kiểm soát

    + ý chí con người điều khiển

    Do vậy, biểu hiện của những người bị tâm thần và mất năng lực hành vi thì không được coi là tội phạm. Hoặc các biểu hiện không phải do ý chí của con người, hay bị cưỡng bức về thân thể thì cũng không bị coi là tội phạm.

    VD: người tâm thần bị nnất năng lực hành vi thì giết người, đốt nhà hàng xóm, … cũng không bị coi là tội phạm, không bị truy cứu TNHS

    – Đặc điểm của hành vi khách quan cả tội phạm:

    + hành vi khách quan có tính nguy hiểm cho XH: đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại do XH.

    + là hành vi có ý thức và có ý chí: họ biết họ thực hiện hành vi tội phạm vì mục đích gì. Trường hợp cưỡng bức về tinh thần vẫn có thể bị truy cứu TNHS tùy vào mức độ bị cưỡng bức.

    VD: A là cán bộ quản giáo tù nhân, A đang dẫn tù nhân đi lao động, trên đường đi A bị đồng bọn của tù nhân phục kích và gí súng vào đầu, yêu cầu A phải thả tù nhân, A buộc phải thả tù nhân ==> A bị cưỡng bức tinh thần và không bị truy cứu TNHS

    VD: vẫn VD trên, nhưng đồng bọn của tù nhân không gí súng vào đầu A mà chỉ đến nói với A rằng “tôi có đầy đủ băng ghi âm, ghi hình việc ông nhận 500 triệu đồng để thả đồng bọn của tôi”, nếu A về và tìm cách thả tù nhân ==> A vẫn bị truy cứu TNHS vì tuy A bị cưỡng bức về tinh thần nhưng chưa đến mức không thể lựa chọn hành động khác.

    + Là hành vi trái PL hình sự: tức là được luật hình sự quy định là tội phạm.

    Tại sao chỉ riêng luật Hình sự thì tính trái PL hình sự lại là các hành vi được quy định trong luật hình sự ?

    Vì đặc điểm của luật hình sự là tính chất “cấm chỉ”, tức là nhà làm luật đưa ra các quy định để cấm công dân thực hiện những hành vi gây nguy hiểm cho XH

    2. Hình thức thể hiện của hành vi khách quan

    – Bao gồm 2 hình thức:

    + hành động phạm tội: làm việc mà luật hình sự cấm

    + không hành động phạm tội: không làm việc mà luật hình sự buộc phải làm, do đó gây ra thiệt hại cho XH. Ở hình thức này cần xác định 2 vấn đề:

    • Phải có nghĩa vụ hành động
    • Phải có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ đó: cần đánh giá cả yếu tố khách quan và chủ quan

    – Một số tội phạm có thể được thực hiện bằng cả 2 hình thức, VD giết người có thể bằng hành động đâm, chém, bắt, … hoặc không hành động bằng cách bỏ đói

    3. Các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan

    Căn cứ vào các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan, ta chia thành:

    – Hành vi khách quan có tính ghép, gọi là Tội ghép: là hành vi khách quan của 1 tội được cấu trúc từ nhiều hành vi thực tế khác nhau, cùng xảy ra trong 1 thời điểm, xâm hại đến nhiều khách thể khác nhau.

    VD tội hiếp dâm (điều 111) là tội ghép, được cấu thành từ 2 hành vi là dùng vũ lực khống chế (xâm hại đến khách thể là quyền bất khả xâm phạm về thân thể con người) và giao cấu trái ý muốn (xâm hại đến khách thể là nhân phẩm, danh dự của con người), khi truy tố chỉ truy tố thành 1 tội là hiếp dâm, không truy tố thành 2 tội. Trường hợp nếu có hậu quả là thương tích xảy ra thì đó là tình tiết tăng nặng (không truy tố thành tội khác).

    – Hành vi khách quan có tính kéo dài: là loại hành vi khách quan mà thời điểm hoàn thành tội phạm đến thời điểm kết thúc là 1 khoảng thời gian, và không gián đoạn.

    VD: tội tàng trữ vũ khí, ma túy trái phép. Từ thời điểm tàng trữ đến khi bị phát hiện luôn có khoảng thời gian, 1 ngày, 1 tháng, hay 1 năm, …

    – Tội có tính liên tục (tội liên tục): hành vi khách quan được lặp đi lặp lại nhiều lần, cùng tính chất, nhưng ngắt quãng về thời gian. Khi đó sẽ tổng hợp toàn bộ hành vi phạm tội để truy tố và xác định 1 lần phạm tội.

    VD: thủ quỹ thường xuyên lấy trộm tiền quỹ cơ quan, mỗi lần lấy một số tiền. Khi đó sẽ tính tổng tất cả số tiền bị lấy trộm để quy tội

    Chú ý: tội có tình liên tục khác với phạm tội nhiều lần. VD: A nhận hối lộ, tham ô nhiều lần, thì mỗi lần nhận hối lộ hay tham ô là 1 lần phạm tội.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VI
    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương VI

    II. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội

    – Là thiệt hại cho các quan hệ XH là khách thể của tội phạm

    – Biểu hiện: qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ XH ==> coi đây là hậu quả trong thực tiễn

    – Một số hình thức của hậu quả nguy hiểm cho XH:

    + thiệt hại về vật chất

    + thiệt hại về thể chất

    + thiệt hại về tinh thần

    + các biến đổi khác

    III. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trong luật hình sự

    – Một người chỉ phải chịu TNHS nếu hành vi của họ đóng vai trò là nguyên nhân gây ra hậu quả nguy hiểm cho XH, có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp

    – Điều kiện để xem xét 1 hành vi đóng vai trò là nguyên nhân:

    + hành vi đó phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian

    + hành vi đóng vai trò là nguyên nhân phải là khả năng thực tế gây ra hậu quả: tức là hành vi mang tính quy luật, tất yếu, bản thân hành vi đã chứa mầm mống gây ra hậu quả. VD chĩa súng vào người khác dù súng không có đạn vẫn bị coi là hành động nguy hiểm cho XH. VD: uống rượu rồi lái xe ngay bị coi là hành vi nguy hiểm cho XH mặc dù có thể không gây nguy hiểm

    + hậu quả xảy ra là sự hiện thực hóa của hành vi đóng vai trò là nguyên nhân

    – Cần phân biệt hành vi với vai trò là nguyên nhân với vai trò là điều kiện: Hành vi là điều kiện không chứa đựng mầm mống, không chứa đựng cơ sở làm phát sinh tội phạm mà nó có thể tác động để hậu quả xảy ra nhanh hơn / chậm hơn, quy mô nhỏ hơn / lớn hơn, … Và người có hành vi đóng vai trò là điều kiện không phải chịu TNHS về hậu quả mà hành vi đóng vai trò là nguyên nhân gây ra.

    VD: bà A lẫn chiếm vỉa hè để bán nước, khách ngồi ngay trên vỉa hè uống nước. Ông B uống rượu say điều khiển ô tô lao lên vỉa hè làm khách ngồi uống nước chết. Ông B lý luận là ông ấy sai khi điều khiển ô tô lao lên vỉa hè, nhưng nếu bà A không vi phạm lấn chiếm vỉa hè thì sẽ không có người ngồi ở đó, ô tô của ông B sẽ chỉ lao vào tường / cây, không thể gây chết người, nên chết người là do lỗi của bà A. Bà A không chịu, nói đã bán nước ở đó nhiều năm mà không ai bị làm sao, lỗi là do ông B lao ô tô lên làm chết người.

    ==> sẽ truy tội cho ai ?

    VD: A lái ô tô khách đi qua phà, phà có quy định khi ô tô xuống phà thì khách phải xuống hết đi bộ, chỉ lái xe được điều khiển ô tô xuống phà. Hôm đó có 3 phụ nữ vì ngại xuống đi bộ nên đã cho tiền người kiểm soát an toàn là B ở phà để khỏi phải xuống đi bộ. Khi ô tô xuống mép phà thì bị sóng to đánh, ô tô lao xuống sông, người lái xe mở cửa ra và thoát, còn 3 phụ nữ trên ô tô bị chết đuối.

    ==> truy tố tội của A và B thế nào

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương V

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương V

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương V tập trung vào nội dung khách thể của tội phạm, giải thích rõ các đối tượng mà hành vi phạm tội xâm phạm, bao gồm quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Chương học giúp sinh viên hiểu sâu về vai trò của khách thể trong việc xác định tội phạm và trách nhiệm hình sự, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa khách thể và các yếu tố khác trong cấu thành tội phạm. Qua đó, người học có thể áp dụng kiến thức này vào việc phân tích các vụ án thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương V

    Chương 5 : Khách thể của tội phạm

    I. Khách thể của tội phạm

    1. Khái niệm

    – Là những quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại

    – Có 3 nhóm khách thể (Điều 8)

    + những quan hệ XH thuộc an ninh quốc gia : độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

    + những quan hệ XH liên quan đến con người, tập thể : quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân

    + những quan hệ XH liên quan đến những vấn đề khác

    2. Ý nghĩa của khách thể

    – Khách thể của tôi phạm là 1 trong 4 yếu tố CTTP, nếu không có sự xâm hại khách thể thì không có tội phạm

    ==> tội phạm là hành vi chống đối XH, đi ngược lại lợi ích của XH

    – Là căn cứ để nhận thức nhiệm vụ của luật hình sự

    – Là cơ sở để hệ thống hóa các tội phạm trong bộ luật hình sự

    – Để đánh giá tính chất nguy hiểm cho XH của hành vi

    Chú ý : …

    3. Các loại khách thể của tội phạm

    – Khách thể chung : là tổng hợp các quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ

    + cho thấy phạm vi các quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ, và chính sách hình sự của NN

    + bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều xâm hại đến khách thể chung

    + được xác định tại điều 1 và điều 8 luật Hình sự

    – Khách thể loại của tội phạm : là 1 nhóm quan hệ XH cùng tính chất được 1 nhóm quy phạm PL hình sự bảo vệ

    + cho thấy tính chất nguy hiểm của tôi phạm được quy định trong 1 chương của Bộ luật Hình sự

    + là cơ sở để hệ thống hóa các quy phạm …

    + bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều xâm hại đến khách thể loại, xâm hại đến nhiều quan hệ XH trong các loại quan hệ XH nhất định

    – Khách thể trực tiếp của tội phạm : là quan hệ XH cụ thể bị loại tội phạm cụ thể xâm hại

    + có thể đồng nhất khách thể loại và khách thể trực tiếp như trong các tội về xâm hại trí tuệ, …

    + thông qua việc xâm hại đến khách thể trực tiếp mà qua đó, hành vi …

    + 1 hành vi nguy hiểm cho XH có thể xâm hại nhiều quan hệ XH, nhưng không có nghĩa tất cả các quan hệ XH ấy là khách thể trực tiếp

    + tội phạm có thể có 1 hoặc nhiều khách thể trực tiếp

    + việc xác định đúng khách thể trực tiếp là căn cứ để gộp, tách những loại tội phạm cụ thể vào 1 hoặc nhiều tội danh và xếp chúng vào từng chương của Bộ luật hình sự

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương V
    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương V

    II. Đối tượng tác động của tội phạm

    VD : với hành vi phạm tội giết người thì :

    + khách thể là …

    1. Khái niệm

    – Là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ.

    2. Một số loại đối tượng tác động của tội phạm

    – Con người có thể là đối tượng tác động của tội phạm

    – Các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ XH có thể là đối tượng tác động của tội phạm. VD các công trình quốc gia, …

    – Hoạt động bình thường của chủ thể. VD hành vi đưa hối lộ làm biến đổi hành vi của chủ thể

    – Phân biệt đối tượng tác động của tội phạm với khách thể và với công cụ, phương tiện phạm tội.

    – Ý nghĩa của đối tượng tác động của tội phạm :

    + có ý nghĩa định tội (trong 1 số trường hợp)

    + có khi được phản ánh là tình tiết định khung hình phạt

    + có khi là tình tiết đánh giá mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi

    Câu hỏi tình huống :

    A lừa đảo chiếm đoạt tài sản xủa B trị giá 300 triệu đồng, hành vi của A được quy định tại điểm a, điều 139, A bị tòa xử 7 năm tù. Hãy xác định :

    (1) Căn cứ vào quy định phân loại tội phạm tại khoản 3 điều 8 luật hình sự, hãy xác định loại tội mà A phạm tội trong tình huống trên thuộc loại tội gì

    (2) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có CTTP vật chất hay hình thức, tại sao ?

    (3) Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, tăng nặng, hay giảm nhẹ ?

    (4) Nêu khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong tình huống trên.

    (5) Nếu A 15 tuổi thì việc xử lý A như trên là đúng hay sai ?

    (6) Giả sử A là công dân VN thực hiện hành vi phạm tội trên ở nước ngoài, thì A có phải chịu trách nhiệm hình sự tại VN theo luật hình sự VN không ?

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương IV

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương IV

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương IV đi sâu vào nội dung cấu thành tội phạm, cung cấp cho sinh viên kiến thức chi tiết về các yếu tố pháp lý tạo nên một tội phạm, bao gồm chủ thể, khách thể, mặt chủ quan và mặt khách quan của hành vi phạm tội. Chương học giúp người học nắm vững cách phân tích và xác định cấu thành tội phạm trong các tình huống thực tế, từ đó hiểu rõ hơn về quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các quy định pháp luật một cách chính xác.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương IV

    Chương 4: Cấu thành tội phạm

    I. Các yếu tố của cấu thành tội phạm

    Cấu trúc của tội phạm gồm:

    + khách thể của tội phạm

    + mặt khách quan của tội phạm

    + chủ thể của tội phạm

    + mặt chủ quan của tội phạm

    Đây là 4 yếu tố cấu thành tội phạm, chỉ cần 1 yếu tố không thỏa mãn thì không cấu thành tội phạm

    1. Khách thể của tội phạm

    – là quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại

    – Không có sự xâm hại đến khách thể thì không có tội phạm

    2. Mặt khách quan của tội phạm

    – là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quuan của tội phạm, bao gồm:

    + hành vi nguy hiểm cho XH

    + hậu quả nguy hiểm cho XH

    – Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

    – Đây là yếu tố quan trọng nhất của cấu thành tội phạm

    3. Mặt chủ quan của tội phạm

    – là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm, bao gồm:

    + lỗi của người phạm tội

    + động cơ phạm tội

    + mục đích phạm tội

    4. Chủ thể của tội phạm

    – là người thực hiện hành vi phạm tội. Điều kiện để trở thành chủ thể của tội phạm:

    + đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    + có năng lực trách nhiệm hình sự

    II. Cấu thành tội phạm

    VD: với tội giết người, mỗi vụ việc giết người đều có các đặc điểm riêng, như:

    + chủ thể: bất kỳ ai

    + thủ đoạn: đâm, chém, bắt, đầu độc, dìm chết, …

    + công cụ: dao, súng, dây, …

    + thời gian:

    + hậu quả: chết, thương tích, tâm thần, cố tật, …

    Tuy nhiên vẫn có những đặc điểm chung:

    + đều là hành vi trái PL

    + người phạm tội muốn tước đoạt sinh mạng của người khác

    + có lỗi cố ý

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương IV
    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương IV

    1. Khái niệm cấu thành tội phạm

    – là tổng hợp những dấu hiệu chung đặc trưng cho 1 tội phạm cụ thể quy định trong luật hình sự

    – Quan hệ giữa tội phạm và cấu thành tội phạm :

    + tội phạm là hành vi, cấu thành tội phạm là …

    + tội phạm là hiện tượng XH, có biểu hiện rất đa dạng ; cấu thành tội phạm là khái niệm pháp lý phản ánh tội phạm

    – Chú ý :

    + tội phạm là hiện tượng, CTTP là lý thuyết phản ánh hiện tượng đó trong luật

    + mối quan hệ giữa tội phạm và CTTP là mối quan hệ giữa hiện tượng và khái niệm

    + cần phân biệt tội phạm và CTTP

    2. Đặc điểm của cấu thành tội phạm

    a. Các dấu hiệu trong CTTP đều do luật định

    – Tội phạm được quy định trong luật hình sự bằng cách mô tả những dấu hiệu của CTTP

    – Không được thêm, bớt dấu hiệu của CTTP

    b. Các dấu hiệu trong CTTP có tính đặc trưng

    – CTTP vừa có tính khái quát, vừa phản ánh, do vậy phải sử dụng những dấu hiệu đặc trưng để mô tả

    c. Các dấu hiệu trong CTTP có tính bắt buộc

    – Vì nó là điều kiện cần để khẳng định hành vi nào là hành vi phạm tội

    – Nếu ở CTTP thiếu 1 dấu hiệu nào đó thì không phạm tội đó

    Chú ý : không thể có 2 CTTP giống hệt nhau

    VD : cùng là hành vi dùng vũ lực :

    + dùng vũ lực + chiếm đoạt tài sản = tội cướp tài sản

    + dùng vũ lực + giao cấu trái ý muốn = tội hiếp dâm

    Lưu ý :

    3. Phân loại cấu thành tội phạm

    a. Theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được CTTP phản ánh :

    – Cấu thành tội phạm cơ bản :

    + là CTTP chỉ bao gồm các dấu hiệu định tội

    + được quy định ngay trong điều luật cơ bản của tội đó

    – Cấu thành tội phạm tăng nặng :

    + là CTTP ngoài những dấu hiệu định tội còn có những dấu hiệu khác làm tăng đáng kể hành vi nguy hiểm cho XH (thường được quy định tại các khoản 2, 3, 4 của điều luật)

    + CTTP tăng nặng = CTTP cơ bản + tình tiết tăng nặng định khung

    – Cấu thành tội phạm giảm nhẹ :

    + là CTTP ngoài những dấu hiệu định tội còn có những dấu hiệu khác làm giảm nhẹ đáng kể hành vi nguy hiểm cho XH

    + CTTP giảm nhẹ = CTTP cơ bản + tình tiết giảm nhẹ định khung

    Chú ý : mỗi tội phạm phải có 1 CTTP cơ bản, ngoài ra có thể có 1 hoặc nhiều CTTP tăng nặng hoặc giảm nhẹ

    b. Theo đặc điểm cấu trúc :

    – CTTP vật chất :

    + là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan, là hành vi nguy hiểm cho XH, hậu quả nguy hiểm cho XH, và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP cơ bản

    VD : khoản 1 điều 104 đến 109

    – CTTP hình thức :

    + là CTTP chỉ có 1 dấu hiệu của mặt khách quan, là hành vi nguy hiểm cho XH, được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP cơ bản

    VD : khoản 1 điều 111 đến 115

    – CTTP cắt xén :

    + trong CTTP cắt xén, dấu hiệu hành vi chỉ những hoạt động nhằm hành vi phạm tội

    VD : tội lật đổ chính quyền

    4. Ý nghĩa của cấu thành tội phạm

    – Là cơ sở của TNHS

    – Là căn cứ pháp lý của việc định tội

    – Là căn cứ pháp lý để định khung hình phạt

    Chương 5 : Khách thể của tội phạm

    I. Khách thể của tội phạm

    1. Khái niệm

    – Là những quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại

    – Có 3 nhóm khách thể (Điều 8)

    + những quan hệ XH thuộc an ninh quốc gia : độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

    + những quan hệ XH liên quan đến con người, tập thể : quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân

    + những quan hệ XH liên quan đến những vấn đề khác

    2. Ý nghĩa của khách thể

    – Khách thể của tôi phạm là 1 trong 4 yếu tố CTTP, nếu không có sự xâm hại khách thể thì không có tội phạm

    ==> tội phạm là hành vi chống đối XH, đi ngược lại lợi ích của XH

    – Là căn cứ để nhận thức nhiệm vụ của luật hình sự

    – Là cơ sở để hệ thống hóa các tội phạm trong bộ luật hình sự

    – Để đánh giá tính chất nguy hiểm cho XH của hành vi

    Chú ý : …

    3. Các loại khách thể của tội phạm

    – Khách thể chung : là tổng hợp các quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ

    + cho thấy phạm vi các quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ, và chính sách hình sự của NN

    + bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều xâm hại đến khách thể chung

    + được xác định tại điều 1 và điều 8 luật Hình sự

    – Khách thể loại của tội phạm : là 1 nhóm quan hệ XH cùng tính chất được 1 nhóm quy phạm PL hình sự bảo vệ

    + cho thấy tính chất nguy hiểm của tôi phạm được quy định trong 1 chương của Bộ luật Hình sự

    + là cơ sở để hệ thống hóa các quy phạm …

    + bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều xâm hại đến khách thể loại, xâm hại đến nhiều quan hệ XH trong các loại quan hệ XH nhất định

    – Khách thể trực tiếp của tội phạm : là quan hệ XH cụ thể bị loại tội phạm cụ thể xâm hại

    + có thể đồng nhất khách thể loại và khách thể trực tiếp như trong các tội về xâm hại trí tuệ, …

    + thông qua việc xâm hại đến khách thể trực tiếp mà qua đó, hành vi …

    + 1 hành vi nguy hiểm cho XH có thể xâm hại nhiều quan hệ XH, nhưng không có nghĩa tất cả các quan hệ XH ấy là khách thể trực tiếp

    + tội phạm có thể có 1 hoặc nhiều khách thể trực tiếp

    + việc xác định đúng khách thể trực tiếp là căn cứ để gộp, tách những loại tội phạm cụ thể vào 1 hoặc nhiều tội danh và xếp chúng vào từng chương của Bộ luật hình sự

    II. Đối tượng tác động của tội phạm

    VD : với hành vi phạm tội giết người thì :

    + khách thể là …

    1. Khái niệm

    – Là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ.

    2. Một số loại đối tượng tác động của tội phạm

    – Con người có thể là đối tượng tác động của tội phạm

    – Các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ XH có thể là đối tượng tác động của tội phạm. VD các công trình quốc gia, …

    – Hoạt động bình thường của chủ thể. VD hành vi đưa hối lộ làm biến đổi hành vi của chủ thể

    – Phân biệt đối tượng tác động của tội phạm với khách thể và với công cụ, phương tiện phạm tội.

    – Ý nghĩa của đối tượng tác động của tội phạm :

    + có ý nghĩa định tội (trong 1 số trường hợp)

    + có khi được phản ánh là tình tiết định khung hình phạt

    + có khi là tình tiết đánh giá mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi

    Câu hỏi tình huống :

    A lừa đảo chiếm đoạt tài sản xủa B trị giá 300 triệu đồng, hành vi của A được quy định tại điểm a, điều 139, A bị tòa xử 7 năm tù. Hãy xác định :

    (1) Căn cứ vào quy định phân loại tội phạm tại khoản 3 điều 8 luật hình sự, hãy xác định loại tội mà A phạm tội trong tình huống trên thuộc loại tội gì

    (2) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có CTTP vật chất hay hình thức, tại sao ?

    (3) Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP cơ bản, tăng nặng, hay giảm nhẹ ?

    (4) Nêu khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong tình huống trên.

    (5) Nếu A 15 tuổi thì việc xử lý A như trên là đúng hay sai ?

    (6) Giả sử A là công dân VN thực hiện hành vi phạm tội trên ở nước ngoài, thì A có phải chịu trách nhiệm hình sự tại VN theo luật hình sự VN không ?

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Hình sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương III

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương III

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương III tập trung vào nội dung tội phạm, giúp sinh viên hiểu rõ khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội phạm và phân loại các hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Chương học cũng giải thích cách nhận diện hành vi cấu thành tội phạm, từ đó cung cấp nền tảng để phân tích, áp dụng các quy định pháp luật trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Người học sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về bản chất của tội phạm và cách hệ thống pháp luật xử lý các hành vi phạm tội.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương III

    Chương 3: Tội phạm

    I. Khái niệm tội phạm

    1. Định nghĩa (Điều 8)

    Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho XH, có lỗi, được quy định trong bộ luật hình sự, và phải chịu hình phạt.

    Khoản 1 Điều 8: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    2. Các dấu hiệu của tội phạm

    Tội phạm theo luật hình sự VN chỉ có thể là hành vi của con người. Vì chỉ bằng hành vi con người tác động vào thế giới khách quan và cũng chỉ có hành vi mới có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho XH

    Theo nguyên tắc hành vi thì tư tưởng của con người không phải là tội phạm

    Hành vi tội phạm phân biệt với hành vi không phải là tội phạm qua  dấu hiệu sau:

    • Tính nguy hiểm cho XH
    • Tính có lỗi
    • Tính trái PL hình sự (được quy định trong luật hình sự)
    • Tính phải chịu hình phạt

    Trong đó:

    • Tính nguy hiểm cho XH va tính có lỗi là dấu hiệu nội dung của tội phạm
    • Tính trái PL hình sự là dấu hiệu hình thức của tội phạm
    • Tính phải chịu hình phạt dấu hiệu về hậu quả pháp lý của tội phạm

    a. Tính nguy hiểm cho XH

    Tính nguy hiểm cho XH là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, vì nó quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm

    Nguy hiểm cho XH có nghĩa là tội phạm gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho những quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ.

    Những quan hệ XH được luật hình sự bảo vệ gồm (quy định tại Khoản 1 Điều 1):

    • Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,
    • Quyền làm chủ của nhân dân,
    • Bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc,
    • Bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
    • Quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,
    • Bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội;

    Những tình tiết làm căn cứ nhận thức, đánh giá tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, gồm:

    • Tính chất của quan hệ XH bị xâm hại
    • Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho các quan hệ XH
    • Nhân thân người có hành vi phạm tội
    • Hoàn cảnh chính trị – XH tại nơi và khi xảy ra tội phạm
    • Động cơ, mục đích của người phạm tội
    • Tính chất và mức độ lỗi
    • Tính chất của hành vi khách quan: phương pháp, thủ đoạn, công cụ

    b. Tính có lỗi:

    Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho XH mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện dưới dạng cố ý hay vô ý

    Bản chất của lỗi thể hiện ở chỗ chủ thể đã tự mình lựa chọn và quyết định lựa chọn xử sự nguy hại cho XH trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của XH.

    Căn cứ vào tính có lỗi cho thấy:

    • Luật hình sự VN không chấp nhận việc quy tội khách quan
    • Mục đích của việc áp dụng hình phạt là để cải tạo, giáo dục người phạm tội (chứ không phải để trả thù)

    c. Tính trái PL hình sự

    Hành vi nguy hiểm cho XH bị coi là tội phạm nếu hành vi đó được quy định trong bộ luật hình sự (Điều 8), còn gọi là tính trái PL hình sự.

    VD với luật hình sự hiện nay (từ 1999) thì hành vi mua bán, chiếm đoạt mô, tạng người không bị xử lý hình sự (mà chỉ bị xử phạt hành chính)

    Việc khẳng định tính trái PL hình sự là dấu hiệu của tội phạm, là sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế XHCN

    Là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhấtLà động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi luật hình sự cho phù hợp với tình hình kinh tế XH từng thời kỳ

    Là cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền dân chủ của công dân không bị xâm phạm bởi sự xử lý tùy tiện của cơ quan tố tụng, của nhà chức trách

    Mối quan hệ giữa dấu hiệu (3) với dấu hiệu (1) là mối quan hệ giữa hình thức và nội dung:

    • Dấu hiệu “tính nguy hiểm cho XH” là nội dung
    • Dấu hiệu “tính trái PL hình sự” là hình thức thể hiện của nội dung đó

    d. Tính phải chịu hình phạt

    Thể hiện ở chỗ do có tính nguy hiểm cho XH nên bất cứ tội phạm nào cũng bị đe dọa áp dụng hình phạt

    Tính phải chịu hình phạt …

    Trong thực tế không phải người phạm tội nào cũng phải chịu hình phạt, đó là quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp nhất định

    3. Phân loại tội phạm

    Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho XH của hành vi được quy định trong luật hình sự, tội phạm được phân thành:

    • Tội phạm ít nghiêm trọng
    • Tội phạm nghiêm trọng
    • Tội phạm rất nghiêm trọng
    • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương III
    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương III

    a. Tội phạm ít nghiêm trọng

    Gây nguy hại không lớn cho XH

    Mức cao nhất là 3 năm tù

    b. Tội phạm nghiêm trọng

    Gây nguy hại lớn cho XH

    Mức cao nhất là 7 năm tù

    c. Tội phạm rất nghiêm trọng

    Gây nguy hại rất lớn cho XH

    Mức cao nhất là 15 năm tù

    d. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

    Gây nguy hại đặc biệt lớn cho XH

    Mức cao nhất là chung thân, tử hình

    Chú ý:

    • Không được căn cứ vào hình phạt do tòa án đã tuyên để phân loại tội phạm (để xác định loại tội) mà phải căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt do bộ luật hình sự quy định đối với loại tội đó
    • 1 tội danh có thể chỉ có 1 khung hình phạt nhưng cũng có thể có nhiều khung hình phạt. Do vậy khi xác định tội phạm phải căn cứ vào mức cao nhất của từng khung hình phạt do luật hình sự quy định cho tội danh đó

    Câu hỏi: A phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 138) và bị tòa tuyên 30 tháng tù. Hỏi A phạm tội nhóm nào.

    Trả lời: Không được căn cứ vào bản án tòa tuyên, vì tội của A có thể thuộc nhóm 1 là ít nghiêm trọng (tối đa 3 năm, theo khoản 1 điều 138) hoặc nhóm 2 là nghiêm trọng (từ 2 đến 7 năm tù, theo khoản 2 điều 138)

    4. Tội phạm và các hành vi vi phạm PL khác

    Tội phạmVi phạm PL khác
    Giống nhau:–          Đều nguy hiểm cho XH
    Nội dung pháp lý– Nguy hiểm đáng kể– Được quy địch trong luật Hình sự– Nguy hiểm không đáng kể– Được quy định trong văn bản các ngành luật khác (như luật Hành chính, dân sự, …)
    Hậu quả pháp lýXử lý bằng hình phạtXử lý bằng biện pháp cưỡng chế NN, không bằng hình phạt

    Tiêu chuẩn phân biệt tội phạm và các vi phạm khác:

    • Đối với các nhà làm luật: tính nguy hiểm đáng kể cho XH của hành vi (để ghi vào luật Hình sự)
    • Đối với nhà giải thích PL hình sự: tính nguy hiểm đáng kể cho XH của hành vi
    • Đối với nhà áp dụng luật: là dấu hiệu được quy định trong luật hình sự hay không

    Chú ý:

    Có những hành vi nguy hiểm cho XH luôn là tội phạm mà không thể là vi phạm, như giết người, hiếp dâm, chống nhân loại, …

    Để phân biệt tội phạm và vi phạm phải căn cứ vào :

    • Tính chất và mức độ thiệt hại
    • Tính chất của phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội
    • Tính chất của động cơ
    • Mức độ lỗi
    • Nhân thân người phạm tội

    Có những hành vi nguy hiểm giống tội phạm về mặt hình thức nhưng không là tội phạm

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học luật Hình sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương I

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương I

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương I giới thiệu khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Chương học cung cấp cho sinh viên cái nhìn tổng quan về bản chất của luật hình sự, các nhiệm vụ bảo vệ trật tự xã hội, quyền lợi công dân, và các nguyên tắc quan trọng như nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo. Qua đó, người học sẽ nắm vững kiến thức nền tảng để hiểu rõ hơn về vai trò và chức năng của luật hình sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương I

    Chương 1: Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc

    I. Khái niệm luật hình sự

    1. Định nghĩa

    Là ngành luật độc lập gồm hệ thống các quy phạm PL do NN ban hành, quy định hành vi nguy hiểm cho XH là tội phạm và hình phạt đối với tội phạm đó.

    2. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự

    Là quan hệ XH phát sinh giữa NN và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm

    3. Phương pháp điều chỉnh

    Là phương pháp mệnh lệnh – phục tùng, nghĩa là NN buộc người phạm tội phải chấp nhận hình phạt, và người phạm tội phải chấp hành NN dùng quyền lực để bắt buộc người phạm tội phải chấp hành.

    Đối với những công dân khác, luật hình sự điều chỉnh hành vi bằng cách cấm đoán: cấm thực hiện hành vi nguy hiểm cho XH mà luật hình sự cho là tội phạm.

    Ngoài ra, luật hình sự còn cho phép hành vi phòng vệ chính đáng, để bảo vệ lợi ích của XH và chính họ.

    II. Nhiệm vụ của luật hình sự

    Theo Điều 1 Bộ luật Hình sự:

    Luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ XH, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, lợi ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, …

    Có nhiệm vụ giáo dục mọi người ý thức tuân thủ PL, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

    Có nhiệm vụ chống hành vi phạm tội

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương I

    III. Các nguyên tắc của luật Hình sự

    Là các tư tưởng chỉ đạo của ngành luật về xây dựng và áp dụng luật hình sự trong đó đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

    Các nguyên tắc:

    Nguyên tắc pháp chế

    Nguyên tắc bình đẳng trước PL

    Nguyên tắc nhân đạo

    Nguyên tắc hành vi

    Nguyên tắc có lỗi

    Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt

    1. Nguyên tắc pháp chế

    Những hành vi bị coi là phạm tội phải được quy định thành tội danh cụ thể trong luật Hình sự ==> để đảo bảo nhân dân không bị xử lý hình sự một cách tùy tiện (Điều 2, Điều 8)

    Các hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội phải được quy định trong luaath hình sự tương ứng với mỗi tội danh, phù hợp với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội (Điều 26)

    Các căn cứ quy định hình phạt đối với người phạm tội phải được quy định thống nhất trong luật Hình sự (Điều 45)

    Việc truy cứu TNHS phải tuân theo các quy định của luật Hình sự.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương II

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương II

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương II với nội dung Nguồn của luật hình sự Việt Nam giúp sinh viên nắm rõ các văn bản pháp lý là nền tảng của hệ thống luật hình sự, bao gồm Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, các điều ước quốc tế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chương học cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ sở pháp lý của luật hình sự, từ đó hỗ trợ người học hiểu sâu hơn về cách áp dụng và giải thích các quy định pháp luật trong thực tế.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương II

    Chương II. Nguồn của luật hình sự Việt Nam

    I. Khái niệm

    Theo lý luận chung về PL, nguồn của PL là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm PL.

    Tuy nhiên, hiện nay VN không coi tập quán pháp và tiền lệ pháp là nguồn của PL.

    Nguồn của luật hình sự VN hiện nay chỉ có duy nhất Bộ luật Hình sự do Quốc hội ban hành.

    II. Hiệu lực của luật hình sự – Những nguyên tắc chung

    1. Hiệu lực về thời gian (Điều 7)

    Văn bản luật hình sự có hiệu lực để truy cứu TNHS đối với hành vi phạm tội thực hiện sau khi văn bản PL đó được ban hành và có hiệu lực thi hành. Theo nguyên tắc này, văn bản luật hình sự không có hiệu lực trở về trước (tức là không có hiệu lực hồi tố)

    Văn bản luật hình sự không có hiệu lực trở về trước trong các trường hợp:

    • Quy định tội mới
    • Quy định nội dung không có lợi cho người bị áp dụng

    Ngược lại, nếu việc áp dụng luật mới mà có lợi cho người bị áp dụng thì luật hình sự có hiệu lực trở về trước.

    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương II
    Bài giảng môn học Luật hình sự 1 chương IIBài giảng môn học Luật hình sự 1 chương II

    2. Hiệu lực về không gian

    Có 4 nguyên tắc:

    Theo nguyên tắc lãnh thổ: văn bản luật hình sự có hiệu lực đối với mọi hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ quốc gia, dù người phạm tội là bất kỳ ai: công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch

    Tội phạm được coi là trên lãnh thổ quốc gia khi: tội phạm bắt đầu, đang diễn ra, hoặc kết thúc trên lãnh thổ quốc gia đó

    Theo nguyên tắc quốc tịch: văn bản luật hình sự có hiệu lực đối với người phạm tội là công dân quốc gia đó, dù người đó ở trong hay ở ngoài lãnh thổ quốc gia

    Theo nguyên tắc phổ cập: văn bản PL luật hình sự có hiệu lực đối với công dân quốc gia khác phạm tội ngoài  lãnh thổ quốc gia ban hành luật hình sự đó trong trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà VN ký kết, hoặc tham gia.

    Theo nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc gia: văn bản luật hình sự có hiệu lực đối với công dân quốc gia khác phạm tội ngoài lãnh thổ quốc gia ban hành luật hình sự nếu tội phạm đó đe dọa nghiêm trọng an ninh quốc gia.

    III. Bộ luật hình sự Việt Nam: hiệu lực và cấu tạo

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XIII

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XIII

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XIII đi sâu vào nội dung thừa kế theo pháp luật, cung cấp cho sinh viên kiến thức về các quy định liên quan đến phân chia di sản khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ. Chương học này giúp người học hiểu rõ thứ tự hàng thừa kế, quyền và nghĩa vụ của các thừa kế viên, từ đó trang bị kỹ năng phân tích và áp dụng luật thừa kế vào thực tiễn một cách chính xác và hiệu quả.

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XIII

    Thừa kế theo pháp luật

    1. Khái niệm

    Là việc phân chia di sản của người chết cho người sống theo 1 trật tự nhất định theo hàng diện thừa kế và 1 số trường hợp đặc biệt khác. PL công nhận và bảo hộ quyền của những người thừa kế.

    Thừa kế theo PL được phát sinh theo các căn cứ:

    • Hôn nhân
    • Huyết thống
    • Nuôi dưỡng
    • Do luật định

    Như vậy thừa kế theo PL là việc chia di sản theo 1 trình tự do luật định, còn thừa kế theo di chúc là chia di sản theo ý chí của người chết đã lập di chúc.

    Trong trường hợp người chết không lập di chúc, hoặc di chúc không hợp pháp thì sẽ chia di sản theo PL.

    a. Thừa kế theo quan hệ hôn nhân

    Do hoàn cảnh lịch sử của VN, vấn đề hôn nhân rất phức tạp, đất nước mới thống nhất từ 1975, trước đó 1 người có thể có nhiều vợ / chồng, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn không có, giấy ly hôn không có ; vấn đề phong tục tập quán, kết hôn khi chưa đủ tuổi, kết hôn không cần đăng ký kết hôn ==> có công nhận vợ chồng không ?; hay vấn đề vợ chồng đã ly hôn theo PL, sau đó quay lại sống với nhau, thậm chí có con (nhưng không đăng ký khai sinh cho con) ==> có coi là vợ chồng để chia tài sản khi vợ / chồng chết.

    Phải căn cứ vào quy định của PL theo từng thời kỳ để xem xét cho tình huống cụ thể. VD trước năm 1960 (theo luật của Pháp), có quy định anh em ruột phải là những người cùng cha và cùng mẹ, người cùng cha khác mẹ hay cùng mẹ khác cha không được coi là anh ruột

    BLDS 2015 phần Thừa kế có 2 thay đổi so với BLDS 2005:

    Di chúc chung của vợ chồng thì ai chết trước sẽ chia di sản của người đó trước (quay trở lại luật dân sự 1995)

    Để tránh trường hợp người chồng / vợ sau đó rất lâu mới chết ==> con cái, người thân phải chờ rất lâu mới được hưởng thừa kế, hoặc trường hợp tái hôn với người khác, sẽ rất phức tạp với các tài sản

    Thời hiệu kiện quyền đòi thừa kế là 30 năm (thay cho 10 năm)

    b. Thừa kế theo quan hệ nuôi dưỡng

    Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa con nuôi đối với cha mẹ nuôi, hoặc giữa cha dượng / mẹ kế với con riêng của vợ / chồng

    c. Thừa kế theo quan hệ huyết thống

    Theo hàng dọc từ chết trên xuống : ông – cha – cháu ; hoặc từ dưới lên : cháu – cha – ông

    d. Thừa kế do luật quy định

    Áp dụng trong các trường hợp đặc biệt :

    Sinh con bằng thụ tinh nhân tạo mà tinh trùng / trứng không phải của vợ / chồng (tức là giám định ADN không phải huyết thống) thì người con đó được PL coi là con đẻ của vợ chồng, và có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như đối với con sinh ra theo phương pháp thông thường, vẫn được hưởng thừa kế như con đẻ thông thường

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XIII
    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XIII

    2. Các trường hợp thừa kế theo PL

    Điều 675: các trường hợp thừa kế theo PL gồm :

    Không có di chúc

    Di chúc vô hiệu toàn bộ hoặc 1 phần

    • Vô hiệu: tức là di chúc không hợp pháp
    • Nếu di chúc chỉ vô hiệu 1 phần thì phần đó sẽ chia theo PL, các phần khác vẫn chia theo di chúc

    Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc không có hiệu lực 1 phần

    Không có hiệu lực : tức là di chúc không thể thực hiện được (VD tài sản để chia theo di chúc không còn ; hay người nhận thừa kế chết trước thời điểm mở thừa kế ; hay có người không nhận thừa kế ; hoặc có người bị truất quyền thừa kế theo Điều 643)

    3. Hàng thừa kế

    Có 3 hàng thừa kế:

    • Hàng 1 : cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi
    • Hàng 2 : ông bà nội ngoại, anh chị em ruột, cháu của ông bà nội ngoại
    • Hàng 3 : cụ nội ngoại, bác, chú, cô, cậu ruột, cháu gọi bằng bác, chắt gọi bằng cụ

    Chú ý: con nuôi toàn phần  ><  con nuôi bán phần

    • Toàn phần: không còn quan hệ với bố mẹ đẻ, không được hưởng thừa kế từ bố mẹ đẻ
    • Bán phần: còn quan hệ với bố mẹ đẻ, vẫn được hưởng thừa kế từ bố mẹ đẻ (tức là sẽ nhận thừa kế của cả bố mẹ đẻ và bố mẹ nuôi)

    Con nuôi bán phần vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ thừa kế với bố mẹ đẻ và họ hàng ruột thịt theo PL, đồng thời được hưởng thừa kế của bố mẹ nuôi, nhưng không có quan hệ thừa kế với anh chị em nuôi, ông bà chú bác nuôi,…

    Con riêng của vợ, chồng sẽ được hưởng thừa kế ở hàng thứ 1, 2 hoặc 3 tùy vào từng tình huống cụ thể. VD đối với vợ chồng không có con chung thì con riêng sẽ ở hàng thừa kế thứ 1

    4. Thừa kế của con riêng, cha dượng, mẹ kế (Điều 679)

    Con riêng được nhận thừa kế của cha dượng, mẹ kế nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, đối xử như con đẻ thì được thừa kế ở hàng thứ nhất.

    Trường hợp nếu không có con đẻ thì con riêng đương nhiên ở hàng thừa kế thứ nhất.

    5. Thừa kế thế vị

    Khi cha, mẹ chết trước hoặc chết cùng với ông bà nội, ngoại thì các cháu sẽ được thế vị.

    Nếu cháu chết trước hoặc cùng ông bà nội ngoại thì chắt sẽ thế vị.

    Các cháu sẽ nhận được phần thừa kế bằng phần của cha mẹ, ông bà nhận

    Quyền và nghĩa vụ thừa kế thế vị giống với thừa kế bình thường

    Thanh toán và phân chia di sản

    1. Thanh toán từ di sản (Điều 683)

    Ưu tiên thanh toán:

    • Mai táng phí: lấy từ di sản của người chết, tính chi phí hợp lý theo tập quán
    • Tiền cấp dưỡng còn thiếu

    2. Phân chia theo PL (Điều 685)

    Có 2 cách:

    Phân chia theo hiện vật: vẫn phải tính giá trị các hiện vật để chia

    Phân chia theo tỷ lệ: bán (phát mại) tài sản, rồi chia cho những người thừa kế. Áp dụng khi có tranh chấp không thể chia theo hiện vật.

    3. Chia theo di chúc (Điều 684)

    Nếu di chúc chia theo tỷ lệ 1/2, 1/3 thì nghĩa vụ cũng chia theo tỷ lệ tương ứng. Hoặc trả nợ trước rồi chia theo di chúc

    Nếu di chúc chia theo hiện vật: vật nào còn thì chia, tính giá trị phần + (hoa lợi, lợi tức) mỗi người hưởng – phần nghĩa vụ tương ứng

    Thờ cúng: trừ các nghĩa vụ còn lại, tính thờ cúng không được vượt quá 1 phần thừa kế

    4. Hạn chế phân chia di sản

    Theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, nhưng không được vượt quá thời hiệu phân chia di sản

    Do di chúc chỉ định sau 1 thời gian mới được chia, nhưng không được vượt quá thời hiệu phân chia di sản

    Di sản là tư liệu sản xuất chủ yếu của vợ / chồng thì chỉ được chia theo 3 năm

    Di chúc chung của vợ chồng: chia khi người sau cùng chết

    Nếu có thai nhi thì dành ra 1 phần cho thai nhi, nếu thai nhi sống thì chuyển cho thai nhi, nếu thai nhi chết thì chia tiếp

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Dân sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dan-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XII

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XII

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XII tập trung vào nội dung quan trọng của thừa kế theo di chúc. Đây là chương học giúp sinh viên hiểu rõ các quy định pháp luật về quyền lập di chúc, hiệu lực của di chúc, và cách thức phân chia di sản thừa kế. Qua đó, người học sẽ nắm vững các kiến thức nền tảng để áp dụng vào các bài tập và tình huống thực tế liên quan đến luật thừa kế.

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XII

    Chương XII: Thừa kế theo di chúc

    1. Khái niệm thừa kế theo di chúc và di chúc

    a. Khái niệm thừa kế theo di chúc

    Là việc thừa kế di sản của người chết trên cơ sở dịch chuyển di sản của người chết sang cho những người còn sống theo ý chí của người đó thể hiện trong di chúc.

    b. Di chúc

    Là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

    Đặc điểm:

    • Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc
    • Di chúc phải chứa đựng nội dung liên quan đến phân chia di sản

    Chú ý: phân biệt di huấn với di chúc:

    • Di huấn: là lời răn dạy của người chết để lại cho con cháu, họ hàng, không nhằm chia tài sản
    • Di chúc: bắt buộc phải có nội dung phân chia tài sản

    Chú ý: nói “di chúc của bác Hồ” mặc dù trong bản “di chúc” đó không hề có nội dung phân chia tài sản là cách nói ước lệ.

    Phân loại di chúc:

    • Do 1 người lập
    • Do 2 người lập: chỉ chấp nhập trường hợp duy nhất là vợ chồng cùng lập

    2. Điều kiện có hiệu lực của di chúc

    (1) Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự

    Người đã thành niên: từ đủ 18 tuổi, trừ trường hợp ngưới đó bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng làm chủ nhận thức và hành vi

    Từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi: được lập di chúc nếu có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ (khoản 2 điều 647). Chú ý: đồng ý ở đây là việc cho lập / không cho lập, còn nội dung vẫn do người lập di chúc quyết định. Và chỉ cần hoặc cha, hoặc mẹ đồng ý là đủ, không cần cả bố và mẹ cùng đồng ý.

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XII
    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XII

    (2) Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện

    Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép

    Tình huống: A có 2 con gái, A tằng tựu với bồ và bồ sinh được 1 con trai là T, A lập di chúc để lại tài sản cho T, sau khi A chết thì phát hiện ra T không phải là con của A. Trường hợp này T có được nhận di sản không ?

    Trả lời: nếu A biết T không phải con mình mà vẫn di chúc để lại thừa kế cho T thì T vẫn được nhận di sản. Còn nếu A không biết T không phải con mình, tức là A bị lừa, A nghĩ rằng để lại tài sản cho con mình nhưng đó không phải là con mình ==> T không được nhận di chúc.

    (3) Nội dung, mục đích của di chúc không trái PL, đạo đức XH

    VD:

    Lập di chúc để lại toàn bộ di sản của mình cho một tổ chức phản động ==> di chúc vô hiệu (trái PL)

    Lập di chúc nói yêu cầu người con trai phải bỏ vợ thì sẽ được nhận di sản, nếu không sẽ chuyển hết cho tổ chức từ thiện ==> di chúc vô hiệu (trái đạo đức XH)

    (4) Hình thức của di chúc không trái quy định của PL, có 2 hình thức di chúc

    Di chúc miệng (Điều 651)

    • Phải bị cái chết đe dọa tức thì mà không thể lập di chúc bằng văn bản
    • Phải có ít nhất 2 người làm chứng ghi chép lại
    • Phải công chứng, chứng thực bản ghi chép đó trong vòng 5 ngày

    Câu hỏi: vì sao hình thức của di chúc phải chặt chẽ như vậy, hơn cả hợp đồng ?

    Trả lời: vì với hợp đồng là của những người còn sống lập nên, nên hoàn toàn có thể hỏi lại để làm rõ, còn với di chúc, nhất là di chúc miệng của người cận kề cái chết thì không thể hỏi lại được ==> cần phải chặt chẽ để tránh tranh chấp sau này.

    Câu hỏi: một người cận kề cái chết, lập di chúc miệng xong, nhưng không chết, hỏi di chúc miệng đó (đã được công chứng, chứng thực) có còn hiệu lực không ?

    Trả lời: Nếu sau 3 tháng người đó vẫn sống minh mẫn sáng suốt, thì di chúc miệng đó vô hiệu. Trường hợp sống được nhưng trong tình trạng sống thực vật, không biết gì hết thì di chúc miệng đó vẫn có hiệu lực

    Di chúc bằng văn bản có 4 loại: (Điều 650)

    • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
    • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
    • Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực
    • Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực

    Điều kiện của người làm chứng:

    Điều 654: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

    (1) Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

    (2) Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

    (3) Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.

    3. Quyền và hạn chế quyền của người lập di chúc

    a. Quyền của người lập di chúc

    Quyền chỉ định người thừa kế

    Truất quyền hưởng di sản thừa kế của người thừa kế

    Phân định di sản thừa kế

    Dành 1 phần di sản để thờ cúng, di tặng

    Giao nghĩa vụ cho người thừa kế

    Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

    Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

    Chú ý: tước quyền thừa kế   ><   truất quyền thừa kế

    + tước quyền thừa kế: do PL quy định tại Điều 643

    + truất quyền thừa kế: do ý chí của người viết di chúc, người viết di chúc không cần phải nêu lý do trong di chúc về việc truất quyền thừa kế (nếu viết lý do cũng không vấn đề gì)

    Câu hỏi: ông A có 1 tỷ, khi chết lập di chúc để lại toàn bộ cho con trai là C, đồng thời yêu cầu con trai trả khoản nợ 3 tỷ cho A, hỏi ông A có được quyền lập di chúc đó hay không ?

    Trả lời: di chúc giao nghĩa vụ cho người thừa kế là hoàn toàn hợp pháp, còn việc người con trai trả nợ được bao nhiêu hoàn toàn do ý chí của người con trai, theo PL quy định anh ta chỉ phải chịu trách nhiệm 1 tỷ, nhưng nếu trả hơn cũng không sao.

    Câu hỏi: di chúc của 2 vợ chồng thì việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ thực hiện như thế nào ?

    Trả lời: A và vợ là B cùng lập di chúc để lại toàn bộ tài sản 600 triệu cho C là con, khi muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ thì cần sự đồng ý của cả A và B. Trường hợp A chết trước mà B muốn sửa di chúc, ví dụ không muốn cho C nhận di sản, thì B chỉ được quyền sửa trong phạm vi tài sản của mình, ở đây là 300 triệu, B chỉ có thể sửa di chúc không cho C nhận 300 triệu là phần di sản của mình, còn khoản 300 triệu của A thì C vẫn được nhận, B không thể can thiệp vào quyền của A đã ghi trong di chúc.

    b. Hạn chế quyền của người lập di chúc (Điều 669)

    Những người sau đây luôn được hưởng ít nhất 2/3 một suất thừa kế theo luật trong trường hợp họ không được hưởng hoặc được hưởng ít hơn 2/3:

    • Bố mẹ
    • Vợ chồng
    • Con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động

    Công thức tính 2/3 một suất thừa kế theo điều 669:

    ((2/3) x [tổng di sản thừa kế]) / [nhân suất]

    Nhân suất trừ những người sau đây:

    • Người chết trước hoặc người chết cùng thời điểm nhưng không có người thừa kế thế vị
    • Người không được hưởng di sản thừa kế theo Điều 643
    • Người từ chối nhận di sản thừa kế

    VD: A có vợ là B, các con C, D, E, F, H ; A có bố mẹ là A1 và A2 ; A có bồ là M và có con chung là N.

    C chết trước A, C có con là C1 và C2 ; D không được hưởng thừa kế theo điều 643 ; E từ chối không nhận di sản của A ; F đã thành niên, còn H lúc đó 8 tuổi

    A nghi ngờ H không phải con mình nên lập di chúc truất quyền thừa kế của B, của H

    Di sản của A là 2100 triệu

    Hỏi: B và H có được hưởng di sản không ?

    Trả lời: B và H có được hưởng di sản theo Điều 669, cụ thể ở đây di sản được chia cho A1, A2, B, (C1 và C2), F, H, N ; do C chết nên không được nhận di sản mà chuyển suất của C sang người thừa kế thế vị của C, ở đây là C1 và C2 sẽ cùng được hưởng di sản của C. Như vậy số nhân suất thừa kế của A là 7, và mỗi suất thừa kế của A sẽ là [2100 / 7] = 300 triệu, B và H mỗi người được nhận (2/3) x 300 = 200 triệu

    VD: A có vợ B, có 1 con là C, A để lại 600 triệu, A lập di chúc truất quyền hưởng di sản của B.

    Theo điều 669, B vẫn được hưởng (2/3) x [600 / 2] = 200 triệu

    Khi đó, C được nhận 600 – 200 = 400 triệu

    4. Hiệu lực pháp luật của di chúc

    Di chúc phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế

    Chú ý: thời điểm mở thừa kế là thời điểm người viết di chúc chết, còn thời điểm công bố di chúc có thể sau đó (có thể sau nhiều tháng)

    Như vậy di chúc phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm người viết di chúc chết

    Câu hỏi: Di chúc hợp pháp và di chúc phát sinh hiệu lực có đồng nhất không ?

    Trả lời: Không đồng nhất.

    VD: A di chúc để lại toàn bộ tài sản cho con là B và C, nhưng B chết trước A, B chưa có vợ con, C lại là người giết A. Khi đó C không được hưởng di chúc theo điều 643, di chúc của A là hợp pháp nhưng không thể có hiệu lực.

    VD: A di chúc để lại cho con là C ngôi nhà, nhưng ngôi nhà bị lũ cuốn đi mất. Đó cũng là trường hợp di chúc hợp pháp nhưng không thể phát sinh hiệu lực.

    Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc 1 phần trong các trường hợp (khoản 2 điều 667):

    • Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc
    • Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.

    –Di chúc không có hiệu lực PL, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

    Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực PL.

    Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực PL

    Tình huống: A viết di chúc khi con dâu đang mang thai, trong đó có nội dung “Nếu con dâu sinh con trai thì được hưởng toàn bộ tài sản, nếu sinh con gái thì được hưởng 1/2 tài sản của A”. Khi A chết rồi, cô con dâu sinh đôi 1 trai 1 gái. Hỏi chia tài sản thế nào ?

    Trả lời: Nếu di chúc có nội dung không lý giải được thì coi như không có di chúc và sẽ chia theo PL

    5. Di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng

    Điều 670: Di sản dùng vào việc thờ cúng

    Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

    Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

    Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo PL

    Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.

    Điều 671: Di tặng

    Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.

    Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.

    VD: A có di sản 400 triệu và 1 chiếc nhẫn kim cương trị giá 200 triệu, tuy nhiên A nợ 300 triệu, A lập di chúc để lại cho 2 con là C và D toàn bộ số tiền, riêng chiếc nhẫn kim cương di tặng cho vợ là B.

    Khi đó C và D phải chịu nghĩa vụ tài sản thay cho A, tức là mỗi người phải bỏ ra (300 / 2 = 150 triệu) để trả nợ, do đó chỉ còn nhận 200 – 150 = 50 triệu.

    Trường hợp số nợ của A lên đến 500 triệu, C và D đã dùng toàn bộ tiền thừa kế là 400 triệu vẫn không đủ trả nợ, khi đó bắt buộc B phải bán chiếc nhẫn kim cương để bù vào 100 triệu còn thiếu.

    • Chú ý: 
      Nghĩa vụ tài sản do người thừa kế thực hiện trước, nếu không đủ mới tính đến người được di tặng.
    • Một người vừa có thể được thừa kế, vừa có thể được di tặng, nhưng khi đó trong di chúc phải ghi rõ phần nào là thừa kế, phần nào là di tặng để còn thực hiện nghĩa vụ tài sản (nếu có)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Dân sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dan-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XI

    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XI

    Bài giảng môn học Luật Dân sự 1 chương XI với nội dung về bảo vệ quyền sở hữu và các quy định khác về quyền thừa kế mang đến cho sinh viên những kiến thức quan trọng về việc bảo vệ tài sản và quyền thừa kế theo pháp luật. Nội dung bài giảng sẽ làm rõ các quy định liên quan đến quyền thừa kế, quyền lập di chúc, từ chối thừa kế, cũng như các biện pháp pháp lý bảo vệ quyền lợi của người thừa kế. Qua đó, sinh viên có thể hiểu rõ và vận dụng các quy định pháp luật để bảo vệ quyền sở hữu và quyền thừa kế của mình.

    Quyền thừa kế

    I. Một số vấn đề lý luận

    1. Khái niệm

    Là sự dịch chuyển của người chết sang người sống theo ý chí của người chết hoặc theo quy định của PL

    2. Mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền thừa kế

    Một cá nhân khi chết có tài sản thì sẽ xuất hiện quan hệ thừa kế, nếu không có tài sản thì không có quan hệ thừa kế.

    3. Quan hệ thừa kế

    Là quan hệ XH giữa người với người được quy phạm PL thừa kế điều chỉnh

    Có 3 loại quan hệ thừa kế :

    • Quan hệ giữa người để lại tài sản và người thừa kế: quan hệ này không được chấp nhận vì người chết không thể là chủ thể của bất kỳ quan hệ nào
    • Quan hệ giữa những người được hưởng thừa kế: nếu chỉ 1 người thừa kế duy nhất thì không phát sinh quan hệ này ==> bác bỏ loại quan hệ này
    • Quan hệ giữa những người thừa kế với những chủ thể khác trong XH: tức là quan hệ sở hữu tài sản, là 1 loại vật quyền, hiện nay đây đang là quan điểm được chấp nhận rộng rãi. VD: ông A chết để lại tài sản cho con là B và C, khi đó B và C được sở hữu tài sản của A và tất cả các chủ thể khác phải tôn trọng quyền sở hữu này của B và C

    4. Các nguyên tắc thừa kế

    Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế của cá nhân (Điều 632): Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

    Cơ sở: từ Hiến pháp: mọi công dân đều bình đẳng trước PL

    Nội dung:

    • bình đẳng thể hiện ở chỗ mọi cá nhân có tài sản đều có quyền định đoạt tài sản của mình cho ai đó
    • bình đẳng trong việc nhận di sản: những người thừa kế luôn bình đẳng với nhau trong việc nhận di sản thừa kế (Điều 676, khoản 2)

    Ý nghĩa: đảm bảo quyền bình đẳng cho những người để lại di sản cũng như của những người nhận thừa kế, và đảm bảo sự phù hợp của các quy phạm PL dân sự với các quy phạm PL khác

    II. Những quy định chung về thừa kế

    1. Thời điểm và địa điểm mở thừa kế

    a. Thời điểm mở thừa kế 

    Khái niệm: (khoản 1 điều 633) Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này

    Ý nghĩa của thời điểm mở thừa kế :

    • Là thời điểm xác định chính xác người thừa kế: xác định đầy đủ những người có huyết thống để hưởng quyền thừa kế (VD con riêng không công khai, đến khi chết mới xuất hiện), hoặc người thừa kế được ghi trong di chúc
    • Là thời điểm xác định chính xác di sản thừa kế còn bao nhiêu: xác định tài sản còn lại để cho thừa kế
    • Là thời điểm xác định chính xác còn thời hạn từ chối nhận di sản hay không
    • Là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế: từ thời điểm mở thừa kế, người nhận thừa kế có quyền và nghĩa vụ về tài sản thừa kế
    • Là thời điểm phát sinh hiệu lực PL của di chúc
    • Là thời điểm xác định thời hiệu khởi kiện còn hay đã hết
    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XI
    Bài giảng môn học Luật dân sự 1 chương XI

    b. Địa điểm mở thừa kế

    Khái niệm (khoản 2 điều 633) : Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản.

    Ý nghĩa của địa điểm mở thừa kế:

    • Là nơi để xác định tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ thùa kế đó khi có tranh chấp xảy ra
    • Là nơi thực hiện việc quản lý di sản
    • Là căn cứ để xác định cơ quan có thẩm quyền quản lý di sản của người chết trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý, kiểm kê di sản trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn việc phân tán tài sản hoặc chiếm đoạt các tài sản trong khối di sản
    • Là nơi thực hiện các thể thức liên quan đến di sản như khai báo, thống kê các tài sản thuộc di sản người chết, dù tài sản được để lại ở nhiều nơi khác nhau nhưng đều phải khai báo, thống kê tại nơi có địa điểm mở thừa kế
    • Là nơi thực hiện thủ tục từ chối nhận di sản của người thừa kế

    2. Người thừa kế

    – Là những người có quyền hưởng di sản thừa kế do người chết để lại.

      Chú ý: người được nhận di tặng >< người thừa kế

    Người được nhận di tặng là người được nhận tài sản sau khi người đó chết. Một người có thể vừa được nhận di tặng, vừa được nhận thừa kế

    Người thừa kế theo di chúc: là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mà người chết ghi trong di chúc

    Người thừa kế theo PL: chỉ có thể là cá nhân, phải có quan hệ với người chết:

    • Quan hệ hôn nhân: vợ, chồng
    • Quan hệ huyết thống: cha mẹ đẻ, con đẻ, anh chị em ruột, ông bà, các cụ, cô dì chú bác cậu ruột của người chết, cháu của người chết mà người chết là ông bà, cô dì chú bác, cậu, chắt của người chết mà ngươiì chết là các cụ
    • Quan hệ nuôi dưỡng: cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi

    Điều kiện của người thừa kế (Điều 635)

    • Cá nhân: phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế, hoặc phải thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết (sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày người chồng chết) và sinh ra còn sống (sống được ít nhất 24 tiếng sau khi sinh). Chú ý: nếu đứa trẻ được sinh ra và sống đủ 24h mới chết thì bắt buộc phải làm cả thủ tục khai sinh và khai tử cho đứa trẻ.
    • Pháp nhân: phải còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế

    Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế :

    Quyền:

    • Người thừa kế có quyền nhận / từ chối nhận di sản

    Muốn từ chối nhận di sản cần 04 điều kiện :

    • Từ chối nhận trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế
    • Từ chối phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực
    • Phải thông báo cho những người thừa kế khác
    • Việc từ chối không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình với người khác. VD: A chết để lại di sản cho B và C là con, B đang có khoản nợ, B định từ chối nhận di sản để khỏi phải trả nợ, trường hợp này tòa bắt buộc B phải nhận di sản và trả nợ
    • Người thừa kế có quyền nhường quyền nhận di sản của mình cho người khác: phải nêu rõ trong văn bản nhường di sản là nhường cho ai. Nhường quyền nhận di sản không bị giới hạn thời gian, miễn là trước thời điểm chia di sản.
    • Người thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu công nhận quyền thừa kế của mình hay của người khác, hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác

    Nghĩa vụ: khi nhận di sản thì phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, nghĩa vụ đó tương ứng với phần di sản được nhận và không vượt quá phần di sản được nhận. VD ông A để lại di sản cho B 60 triệu, cho C 40 triệu, A còn nợ 10 triệu, A không nêu rõ ai trả nợ thì khi đó B và C có nghĩa vụ trả nợ 10 triệu của A và theo tỷ lệ 6/4, tức là B trả 6 triệu, C trả 4 triệu.

    Trường hợp người nhận thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:

    • Một trong số những người thừa kế được chỉ định thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, thì những người khác không phải thực hiện nghĩa vụ. VD: A để lại di chúc nêu rõ cho B 60 triệu, cho C 40 triệu và B trả nợ 10 triệu, khi đó C không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản
    • Đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (không quá 3 năm kể từ khi người chết)

    3. Di sản và di sản thừa kế

    Di sản là toàn bộ tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết để lại, được xác định bằng: tài sản riêng + phần tài sản trong khối tài sản chung

    VD: A có vợ là B, có con là C, D, E ; A tằng tịu với Q và có con là K, H; A chết

    • A có tài sản riêng do bố mẹ để lại trị giá 100 triệu
    • A và B có tài sản chung là 600 triệu
    • A và Q có tài sản chung là 200 triệu

    Xác định di sản của A:

    • Tài sản chung của A và vợ là B trong thời kỳ hôn nhân = 600 + [200 / 2] = 700 triệu
    • Di sản của A = 100 + [700 / 2] = 450 triệu

    Như vậy, tài sản chung của vợ chồng hoặc sống chung như vợ chồng nếu không ghi rõ trong di chúc thì sẽ chia đôi cho vợ / chồng

    Di sản thừa kế = di sản – nghĩa vụ

    Điều 683: Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

    (1) Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng

    (2) Tiền cấp dưỡng còn thiếu

    (3) Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ

    (4) Tiền công lao động

    (5) Tiền bồi thường thiệt hại

    (6) Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước

    (7) Tiền phạt

    (8) Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác

    (9) Chi phí cho việc bảo quản di sản

    (10) Các chi phí khác.

    Về tiền phúng viếng:

    • Không phải di sản của người chết
    • Cũng không phải của người sống
    • Theo phong tục VN thì đây là tiền dùng để lo hương hỏa cho người chết
    • Nếu có tranh chấp đưa ra tòa thì không có luật điều chỉnh, sẽ giải quyết theo tập quán của từng địa phương

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Dân sự 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dan-su-1?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.