Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương I

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương I

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương I: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản giúp sinh viên nắm vững nền tảng lý thuyết về Luật Tố tụng dân sự Việt Nam. Nội dung tập trung vào việc định nghĩa luật tố tụng dân sự, phân tích vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật, và giải thích chi tiết các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc bình đẳng, quyền tranh tụng, và nguyên tắc đảm bảo xét xử công bằng. Đây là tài liệu hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực pháp lý.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương I

    Chương 1: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự Việt Nam

    I. Khái niệm luật tố tụng dân sự

    1. Khái niệm

    – Là 1 ngành luật trong hệ thống PL VN, bao gồm hệ thống quy phạm PL điều chỉnh các quan hệ XH giữa tòa án, VKS, cơ quan thi hành án dân sự, những người tham gia tố tụng, những người liên quan phát sinh trong quá trình tố tụng dân sự (TTDS).

    – [Vụ việc dân sự] = [vụ án dân sự] + [việc dân sự]

    + vụ án dân sự (VADS): là việc tòa án thụ lý để giải quyết tranh chấp dân sự, VD tranh chấp về đất đai, tài sản

    + việc dân sự: là việc tòa án thụ lý để xử lý các yêu cầu dân sự, VD yêu cầu tòa án xác nhận người thân mất tích, yêu cầu tòa án công nhận quan hệ huyết thống

    Tại sao phải phân chia là vụ án dân sự và việc dân sự ?

    Vì thủ tục tố tụng đối với mỗi loại là khác nhau.

    – Quá trình tố tụng dân sự:

    + khởi kiện

    + hòa giải

    + xét xử sơ thẩm

    + phúc thẩm

    + giám đốc thẩm

    + tái thẩm

    Chú ý: theo quy định của Luật TTDS 2015 thì [thi hành án] cũng là 1 giai đoạn của quá trình TTDS, nhưng với môn học TTDS thì quá trình tố tụng sẽ kết thúc tại tòa án, việc thi hành án là nội dung của môn học khác.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương I
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương I

    2. Đối tượng điều chỉnh của luật TTDS

    – Quan hệ giữa các cơ quan tiến hành TTDS với nhau: gồm tòa án, VKS

    Chú ý: nếu theo quan điểm của Luật TTDS thì [thi hành án] cũng là 1 giai đoạn của quá trình TTDS nên cơ quan tiến hành tố tụng sẽ có thêm Cơ quan thi hành án dân sự.

    – Quan hệ giữa cơ quan tiến hành TTDS với những người tham gia TTDS.

    Những người tham gia TTDS gồm:

    + đương sự: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan

    + người đại diện của đương sự

    + người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (chú ý: không được nhầm lẫn với “người bào chữa” ntrong TT hình sự)

    + người làm chứng

    + người giám định

    + người định giá, thẩm định giá tài sản

    + người phiên dịch

    – Quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, những người tham gia TTDS với những người liên quan.

    Ví dụ: A khởi kiện ly hôn B, tài sản của A và B là ngôi nhà xây trên đất của C và D. Khi đó:

    + A là nguyên đơn

    + B là bị đơn

    + C, D là người có quyền và nghĩa vụ liên quan

    + UBND địa phương nơi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người liên quan

    3. Phương pháp điều chỉnh

    – Phương pháp mệnh lệnh: tòa án có quyền ra các bản án, quyết định buộc các chủ thể khác phải thực hiện

    – Phương pháp tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự

    II. Quan hệ pháp luật TTDS

    1. Khái niệm

    – Là quan hệ XH giữa tòa án, VKS, cơ quan thi hành án dân sự, những người tham gia tố tụng và những người liên quan phát sinh trong quá trình TTDS và được các quy phạm PL TTDS điều chỉnh

    – Đặc điểm:

    + tòa án là chủ thể đặc biệt của quan hệ PL TTDS: tính đặc biệt của tòa án thể hiện ở:

    • Tòa án có quyền ra Quyết định, bản án bắt buộc các chủ thể khác phải thực hiện
    • Tất cả các quan hệ PL TTDS đều xoay quanh tòa án.

    VD: A cho B vay tiền, đây là quan hệ PL dân sự, chỉ xoay quanh A và B, không liên quan đến các chủ thể khác; nếu đến hạn mà B không trả được A thì A sẽ khởi kiện B ra tòa án, khi đó sẽ phát sinh mối quan hệ giữa A với tòa án, tòa án sẽ gọi B đến và sẽ làm phát sinh quan hệ giữa B và tòa án, nếu hợp đồng đồng vay không phải bằng tiếng Việt thì sẽ phát sinh quan hệ giữa tòa án với người phiên dịch, nếu A và B có tranh chấp về chữ ký trong hợp đồng vay thì sẽ phát sinh quan hệ giữa tòa án với người giám định, …

    + quan hệ PL TTDS phát sinh trong quá trình TTDS và do luật TTDS điều chỉnh.

    VD: A kiện B ra tòa, trong quá trình tố tụng A ủy quyền cho C, khi đó quan hệ giữa A và C không phải là quan hệ PL TTDS (mặc dù quan hệ giữa A và C phát sinh trong quá trình TTDS nhưng quan hệ giữa A và C được điều chỉnh bằng hợp đồng ủy quyền giữa A và C và đây là quan hệ dân sự, được điều chỉnh bằng PL dân sự). Chú ý: quan hệ giữa B với C vẫn là quan hệ TTDS, quan hệ giữa tòa án với C cũng là quan hệ TTDS

    + quan hệ PL TTDS phát sinh, tồn tại trong 1 thể thống nhất.

    VD: A kiện B ra tòa, nếu chỉ có A ra tòa án thì vụ án không thể giải quyết, tòa án sẽ phải gọi B, người đại diện, người làm chứng, … đến tòa để giải quyết ==> tạo thành 1 thể thống nhất, không thể tách riêng từng bộ phận

    Lưu ý: cần nắm rõ 3 đặc điểm này để phân biệt quan hệ PL dân sự và quan hệ PL TTDS

    2. Thành phần của quan hệ PL TTDS

    – Chủ thể:

    + Cơ quan tiến hành tố tụng

    + Người tham gia tố tụng

    – Khách thể: là việc giải quyết quan hệ PL nội dung tranh chấp giữa các đương sự hay quan hệ PL nội dung chứa đựng những sự kiện pháp lý mà tòa án có nhiệm vụ xác định.

    Trong thực tế, khách thể biểu hiện bằng tên của vụ án, hay bản án. VD: vụ án tranh chấp quyền thừa kế (thì ở đây “tranh chấp quyền thừa kế” là khách thể).

    Lưu ý: Trong TTDS thì việc xác định khách thể của quan hệ PL TTDS, hay nói cách khác xác định tên của vụ việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó quan trọng như việc định tội trong TT hình sự, nếu xác định sai sẽ dẫn đến áp dụng quy phạm PL sai.

    VD: A kiện đòi B 100 triệu ==> xác định  khách thể ?

    Trả lời: dữ kiện chưa đủ để xác định khách thể, có thể có các trường hợp:

    + nếu 100 triệu là số tiền B vay của A thì khách thể là Tranh chấp về hợp đồng vay

    + nếu 100 triệu là số tiền B phải trả cho A vì B đã gây thiệt hại cho A thì khách thể là Tranh chấp về bồi thường thiệt hại

    + nếu 100 triệu là số tiền B còn thiếu A khi A chuyển nhượng đất cho B thì khách thể là Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    + nếu 100 triệu là số tiền thừa kế lẽ ra A được hưởng nhưng B giữ không chuyển cho A thì khách thể là Tranh chấp về thừa kế

    – Nội dung: gồm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ PL TTDS

    III. Các nguyên tắc cơ bản của luật TTDS

    – Ý nghĩa của các nguyên tắc của luật TTDS:

    + các quy phạm PL trong luật TTDS không được trái với các nguyên tắc này

    + trong hoạt động TTDS thì mọi hành động của các chủ thể không được trái với các nguyên tắc này, hay nói cách khác những nguyên tắc này là kim chỉ nam cho mọi hành động của các chủ thể trong quá trình tố tụng

    – Có thể chia làm 2 nhóm nguyên tắc:

    + nhóm nguyên tắc chung: gồm các nguyên tắc cũng có trong luật tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, …

    + nhóm nguyên tắc đặc trưng: chỉ có trong PL TTDS, gồm các Điều 4, 5, 6, 8, 10

    1. Nguyên tắc tuân thủ PL trong TTDS (Điều 3)

    – Bảo đảm mọi hoạt động tố tụng của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự phải tuân thủ triệt để PL TTDS

    Pháp luật TTDS gồm có:

    + luật TTDS

    + các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC

    – Mọi hành vi vi phạm PL đều bị xử lý theo quy định của PL.

    Thực tế: hiện nay ở các Tòa án có quy định bất thành văn: nếu trong nhiệm kỳ (5 năm) mà tổng số án mà 1 thẩm phán xét xử bị hủy hoặc phải sửa do lỗi chủ quan trên tổng số án đã xét xử vượt quá 1.16% thì sẽ không được tái nhiệm (2 vụ sửa = 1 vụ hủy)

    ==> tòa án rất cẩn thận với quy trình tố tụng (rất ít sai sót về thủ tục tố tụng)

    2. Nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 4)

    – Các cá nhân, cơ quan, tổ chức do luật TTDS quy định có quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác

    – Tòa án không được từ chối giải quyết VVDS vì lý do chưa có luật để áp dụng: đây là nguyên tắc đột phá của PL tố tụng

    ==> mục đích để bảo vệ quyền con người theo thông lệ quốc tế. Tư tưởng chung là “trong mọi trường hợp, tòa án phải đứng ra để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

    ==> là 1 bước để tiến tới áp dụng án lệ

    3. Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5)

    – Các đương sự có quyền tự quyết định việc khởi kiện, yêu cầu hay không khởi kiện, yêu cầu tòa án giải quyết VVDS

    – Ngoại lệ: ví dụ như việc xác định cha/mẹ cho con thì ngoài người con, cha/mẹ yêu cầu thì người thân, hoặc cơ quan đoàn thể (như Hội phụ nữ, Cơ quan bảo vệ trẻ em, …) cũng có quyền yêu cầu tòa án xác minh để đảm bảo lợi ích đứa trẻ.

    Ví dụ đứa trẻ (dưới 14 tuổi) bị bạo hành, vì chưa đủ năng lực hành vi nên cơ quan đoàn thể có quyền yêu cầu tòa án can thiệp để bảo vệ đứa trẻ

    – Đương sự có quyền tự quyết định việc khởi kiện ai, về vấn đề gì, có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, có quyền thỏa thuận về giải quyết VVDS, có quyền kháng cáo bản án, quyết định của tòa án.

    VD: Xác định bị đơn trong quan hệ vay có bảo lãnh: A vay tiền ngân hàng, B dùng tài sản của mình để bảo lãnh cho A, đến hạn A không trả được, ngân hàng sẽ kiện ai ?

    Trả lời: trong trường hợp này thì việc kiện ai, về vấn đề gì là quyền tự định đoạt của ngân hàng, ví dụ:

    + nếu ngân hàng khởi kiện tranh chấp về hợp đồng vay ==> ngân hàng sẽ kiện A, còn B sẽ tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

    + nếu A bỏ trốn, mà B từ chối nghĩa vụ bảo lãnh ==> ngân hàng sẽ kiện B về tranh chấp hợp đồng bảo lãnh

    – Mọi hành vi định đoạt của đương sự phải tự nguyện, không vi phạm điều PL cấm và trái đạo đức XH

    – Tòa án chỉ xem xét, giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp do PL quy định

    VD: khi chia đất thừa kế, dù các bên có thỏa thuận chia mảnh đất như thế nào thì Tòa án cũng sẽ yêu cầu người nhận được phần đất bên ngoài sẽ phải dành 1 phần đất làm lối đi cho người nhận phần đất bên trong (quyền địa dịch),

    VD: A và B có con là C 6 tuổi, A và B xin ly hôn, không yêu cầu chia tài sản và quyền nuôi con ==> Tòa án vẫn can thiệp để bảo đảm quyền và lợi ích cho C

    4. Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS (Điều 6)

    – Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho những yêu cầu và phản đối của mình. Cơ quan tổ chức khởi kiện cũng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh.

    ==> do đó, ai là người đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu thì người đó có nghĩa vụ phải chứng minh

    Câu hỏi: tại sao trong hình sự thì đương sự không có nghĩa vụ phải chứng minh như đối với dân sự ?

    Trả lời: Vì trong hình sự là NN buộc tội đương sự phạm tội (tức là gây nguy hiểm cho xã hội) ==> NN phải đưa ra chứng cứ và chứng minh. Còn trong dân sự thì các đương sự tranh chấp với nhau, tòa án chỉ là nơi phân xử dựa trên chứng cứ và chứng minh của các bên. (“Việc dân sự cốt ở hai bên”)

    – Đương sự có nghĩa vụ chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

    Ví dụ hậu quả: chịu án phí, bồi thường thiệt hại về tinh thần, uy tín cho bên bị khởi kiện, …

    – Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do luật TTDS quy định

    5. Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 7)

    – Cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu trữ, quản lý chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án.

    – Trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ.

    6. Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của đương sự (Điều 8)

    – Mọi công dân đều bình đẳng trước PL, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp.

    – Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác.

    – Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

    7. Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 9)

    – Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

    – Quyền bảo vệ của đương sự được bảo đảm trong mọi VVDS và trong mọi giai đoạn TTHS

    – Quyền bảo vệ của đương sự gắn liền với trách nhiệm của tòa án bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền đó

    8. Nguyên tắc hòa giải trong TTDS (Điều 10)

    – Hòa giải được áp dụng đối với hầu hết VVDS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp không hòa giải được hoặc không được hòa giải.

    Chú ý phân biệt:

    + không được hòa giải: tức là PL cấm hòa giải (có sự vi phạm PL, ví dụ A mua USD ngoài “chợ đen”, xảy ra tranh chấp, trường hợp này sẽ không được hòa giải vì việc mua bán USD ngoài “chợ đen” là vi phạm PL)

    + không hòa giải được: PL cho hòa giải nhưng không hòa giải được. Ví dụ tranh chấp ly hôn giữa A và B nhưng A đang chấp hành hình phạt tù, khi đó mặc dù luật quy định được phép hòa giải nhưng không thể thực hiện việc hòa giải (do không thể đảm bảo A ra khỏi tù có chạy trốn hay không)

    + hòa giải không được: hay hòa giải không thành

    – Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về giải quyết VVDS

    – Tòa án có trách nhiệm đảm bảo việc hòa giải đúng quy định của PL, tự nguyện, không vi phạm điều PL cấm và không trái đạo đức XH

    9. Nguyên tắc hội thẩm nhân dân tham gia xét xử VADS (Điều 11)

    – Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm VADS, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.

    Chú ý: Hội thẩm nhân dân không tham gia giải quyết việc dân sự

    – Khi tham gia xét xử, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán

    10. Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử VADS, thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo PL (Điều 12)

    – Khi xét xử VADS, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập (với các yếu tố bên ngoài và bên trong)

    + độc lập với các yếu tố bên ngoài là:

    • Độc lập với các cơ quan lãnh đạo của đảng
    • Độc lập với VKS: lưu ý: trong dân sự, tòa án độc lập tuyệt đối với VKS (VKS chỉ thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ PL của tòa án và các chủ thể khác), khác với trong hình sự là độc lập tương đối (quy định Tòa án không được xét xử vượt quá mức cao nhất mà VKS đề nghị, nếu tòa án xét xử vượt quá mức này thì phải gửi lại hồ sơ về VKS và CQĐT)
    • Độc lập với các phương tiện thông tin đại chúng
    • Độc lập với bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào

    + độc lập với các yếu tố bên trong là:

    • Tòa án cấp dưới độc lập với Tòa án cấp trên và với TANDTC
    • Các thành viên trong Hội đồng xét xử độc lập với nhau

    – Khi xét xử VADS, thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo PL (PL tố tụng và PL nội dung)

    – Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, việc giải quyết việc dân sự của thẩm phán dưới bất kỳ hình thức nào.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng dân sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-dan-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Lao động chương IX

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương IX

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương IX: Đình công và giải quyết đình công mang đến cái nhìn toàn diện về một trong những biện pháp phản đối phổ biến của người lao động trong trường hợp quyền lợi của họ bị xâm phạm. Chương này sẽ giúp bạn hiểu rõ về các điều kiện, quy trình và quy định pháp lý liên quan đến đình công, đồng thời chỉ ra các hình thức giải quyết đình công một cách hợp pháp và hiệu quả.

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương IX

    Chương 9: Đình công và giải quyết đình công

    Văn bản pháp luật:

    + Chương 14 Bộ luật Lao động 2012

    + Nghị định 41/2013 về doanh nghiệm cấm đình công

    + Nghị định 95/2013 về xử phạt vi phạm trong luật lao động (trong đó có đình công)

    I. Đình công

    1. Khái quát về đình công

    a. Khái niệm (khoản 1 Điều 209)

    – Đình công một là hình thức đấu tranh kinh tế xã hội, là một cách phản ứng của tập thể lao động khi có bất đồng với NSDLĐ.

    – Khái niệm: Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động.

    Chú ý: ở châu Á, VN là 1 trong những nước đầu tiên đưa đình công vào luật quốc gia (từ bộ luật lao động 1994) và được quốc tế đánh giá cao. Khái niệm về đình công mà VN đưa ra cũng tương đồng với thế giới.

    – Phân biệt đình công với các khái niệm:

    + lãn công: người lao động nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc lơ là, cầm chừng, chiếu lệ đối phó… không tuân thủ kỷ luật, không sử dụng hết thời gian, công suất máy móc. Lãn công không phải là quyền của NLĐ, NLĐ thực hiện lãn công một cách tự phát, không có tổ chức và điều hành bởi bất kỳ ai, NSDLĐ có thể xử lí kỉ luật lao động đối với các lao động lãn công vì đó cũng là 1 trong những biểu hiện của các hình thức vi phạm kỉ luật lao động

    + bãi công

    + ngừng việc tập thể

    + biểu tình

    b. Dấu hiệu nhận biết đình công

    – Là sự ngừng việc tạm thời và triệt để của nhiều NLĐ

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương IX
    Bài giảng môn học Luật Lao động chương IX

    + “tạm thời”: luật không quy định là bao lâu, tuy nhiên khi đình công thì công đoàn (hoặc đại diện khác của NLĐ) phải thông báo cho NSDLĐ và cơ quan chức năng về thời điểm bắt đầu đình công và dự kiến sẽ đình công bao lâu. (lịch sử đình công ở VN chưa có cuộc đình công nào kéo dài quá 1 tuần)

    ==> một người, hay 1 số người tự ý bỏ việc một thời gian thì không phải là đình công

    + “triệt để”: là ngừng việc hoàn toàn (khác với lãn công, VD xưởng sản xuất có 100 người, thì 10 người ngừng làm việc, 90 người còn lại vẫn làm việc bình thường, sau đó đe dọa nếu không đáp ứng yêu cầu thì sẽ tăng số người ngừng làm việc)

    – Phải có sự tự nguyện của NLĐ: NLĐ phải tự nguyện tham gia, mọi sự lôi kéo, bắt buộc đình công đều trái PL

    Chú ý: ở VN có sự lôi kéo, cưỡng bức đình công (thường do “vô sản lưu manh” (theo C.Mac) thực hiện), thậm chí đe dọa chủ doanh nghiệp, một nguyên nhân là luật VN chưa hình sự hóa đình công trái luật.

    – Luôn có tính tập thể: tập thể lao động là tập hợp có tổ chức của NLĐ cùng làm việc cho 1 NSDLĐ hoặc trong 1 bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của NSDLĐ. (Điều 3 khoản 3).

    Như vậy có thể đình công của toàn bộ NLĐ trong doanh nghiệp, hoặc của NLĐ trong 1 xưởng sản xuất, 1 chi nhánh.

    ==> số NLĐ chỉ là thiểu số người lao động trong doanh nghiệp vẫn có thể đình công. VD doanh nghiệp có 5 xưởng sản xuất, mỗi xưởng có 200 người, 1 xưởng đình công, mặc dù chỉ chiếm 1/5 tổng số NLĐ trong doanh nghiệp nhưng vẫn được coi là đình công.

    – Phải có tính tổ chức: thể hiện ở trình tự, thủ tục mà 1 cuộc đình công phải tuân theo, người lãnh đạo đình công là công đoàn.

    Chú ý: ở VN chỉ có duy nhất 1 công đoàn, nhưng ở các nước có rất nhiều công đoàn, người lao động có thể lựa chọn công đoàn phù hợp để tham gia

    Chú ý: 1 nghịch lý là thực tế ở VN dù tất cả các cuộc đình công đều không do công đoàn lãnh đạo nhưng lại có tính tổ chức rất cao.

    – Mục đích của đình công: là nhằm đạt được những yêu sách về lợi ích mà người đình công quan tâm. (khoản 2 Điều 209: Việc đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và sau thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 206 của Bộ luật này) ==> tức là chỉ được đình công vì lợi ích, không được đình công về quyền. (rất nhiều nước phản đối điều này, nhất là những nhà đầu tư vào lĩnh vực sản xuất tại VN)

    Chú ý: ở VN cũng như trên thế giới, 1 cuộc đình công được coi là hợp pháp khi nó yêu sách lợi ích cho NLĐ, sẽ là bất hợp pháp nếu yêu sách ngoài quan hệ lao động, ví dụ như yêu sách về chính trị.

    Chú ý: cuộc đình công (tự phát) gần đây về việc sửa Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội của 3000 công nhân nhà máy Pouyue (tại tp HCM) có yêu sách về quyền (cụ thể là phản đối PL về chính sách hưởng BHXH 1 lần) chứ không phải về lợi ích, về luật là bất hợp pháp. Tuy nhiên thủ tướng (Nguyễn Tấn Dũng) lại đăng đàn chấp thuận yêu sách này ==> hậu quả sẽ rất lớn vì NLĐ sẽ coi thường luật pháp, sẽ tiếp tục đình công tự phát theo ý mình

    2. Các quy định về đình công theo PL VN

    – Quy định về đối tượng được phép đình công: NLĐ làm việc theo hình thức HĐLĐ trong các doanh nghiệp không thuộc danh mục cấm đình công.

    Như vậy:

    + cán bộ, công chức, viên chức không được phép đình công vì không làm việc theo hình thức HĐLĐ

    + NLĐ dù làm việc theo HĐLĐ nhưng không làm việc trong doanh nghiệp (như làm việc cho UBND, trường học, bệnh viện công) thì cũng không được đình công

    + doanh nghiệp phải là không thuộc doanh nghiệp cấm đình công (theo Nghị định 41/2015: Đơn vị sử dụng lao động không được đình công là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc bộ phận của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có thuê mướn, sử dụng lao động theo quy định của pháp luật lao động, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân mà việc đình công có thể đe dọa đến an ninh, quốc phòng, sức khỏe, trật tự công cộng, bao gồm:

    1. a) Sản xuất điện có công suất lớn, truyền tải điện và điều độ hệ thống điện quốc gia;
    2. b) Thăm dò và khai thác dầu khí; sản xuất, cung cấp khí, gas;
    3. c) Bảo đảm an toàn hàng không, an toàn hàng hải;
    4. d) Cung cấp hạ tầng mạng viễn thông; dịch vụ bưu chính phục vụ các cơ quan nhà nước;

    đ) Cung cấp nước sạch, thoát nước, vệ sinh môi trường ở các thành phố trực thuộc Trung ương;

    1. e) Trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng.)

    – Quy định về thời điểm có quyền đình công: khoản 2 Điều 209: Việc đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và sau thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 206 của Bộ luật này (tức là sau khi giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài lao động không thành công)

    Lưu ý: ở VN thì:

    + các cuộc đình công đều không qua giải quyết của Hội đồng trọng tài mà đình công luôn

    + không thể phân biệt được đình công về quyền hay vì lợi ích, hoặc quyền là lợi ích đan xen nhau ==> dự thảo Luật lao động mới đang xem xét bỏ quy định chỉ được đình công về lợi ích, cho phép đình công cả về quyền và lợi ích cho phù hợp với thế giới.

    – Quy định về người lãnh đạo đình công: Điều 210:

       + Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo.

       + Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động

    Chú ý: đây là 1 quy định mà ILO đánh giá rất cao về hình thức pháp lý, tuy nhiên thực tế lại trái ngược hoàn toàn. Lý do là ở nơi không có công đoàn cơ sở thì tập thể lao động sẽ phải lập ra 1 Ban đại diện, và khi đã có Ban đại diện rồi thì sẽ trực tiếp lãnh đạo đình công chứ không phải thông qua tổ chức công đoàn cấp trên nữa.

    – Thủ tục chuẩn bị đình công: Điều 212, 213

    Chú ý: thủ tục đình công ở VN là rất nhanh, gọn so với các nước, tổng thời gian chỉ trong vòng 1 tuần, trong khi với các nước ASEAN khác tối thiểu là 2 tuần, với các nước châu Âu phải ít nhất 2 tháng

    – Tiến hành đình công: chỉ được tiến hành đình công sau khi đã thực hiện xong các thủ tục quy định trong luật (không có quy định trong luật về việc sẽ tiến hành đình công như thế nào)

    – Những hành vi bị cấm thực hiện trước, trong và sau đình công: Điều 219

    + Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc.

    + Dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động.

    + Xâm phạm trật tự, an toàn công cộng.

    Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công. ==> đây là 1 quy định của ILO, không phân biệt đình công hợp pháp hay bất hợp pháp, giới chủ đang yêu cầu có thể xử lý kỷ luật đối với trường hợp đình công bất hợp pháp.

    + Trù dập, trả thù người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công.

    + Lợi dụng đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

    – Những trường hợp đình công bất hợp pháp (Điều 215):

    + Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ==> không được đình công về quyền

    + Tổ chức cho những người lao động không cùng làm việc cho một người sử dụng lao động đình công ==> không được đình công “góp”

    + Khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của Bộ luật này. ==> tức là chưa qua hòa giải, qua giải quyết tại Hội đồng trọng tài

    + Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định. ==> theo Nghị định 41/2013

    + Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công.

    – Doanh nghiệp không được đình công: (Nghị định 41/2013) cả ILO và luật pháp các nước đều thừa nhận đình công là quyền của người lao động, nhưng trong phạm vi nhất định sẽ không được đình công, đó là nếu đình công ảnh hưởng đến quốc kế dân sinh.

    – Xử lý đình công không đúng trình tự thủ tục và bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp (Điều 222, 233): khi 1 cuộc đình công được kết luận là bất hợp pháp thì người lãnh đạo đình công có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ.

    II. Giải quyết đình công

    1. Một số vấn đề chung về giải quyết đình công

    – Khái niệm: là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm xác định tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của cuộc đình công trên cơ sở các quy định của PL.

    Chú ý: giải quyết đình công chỉ là xác định tính hợp pháp của cuộc đình công chứ không giải quyết yêu sách của cuộc đình công

    Chú ý: thẩm quyền giải quyết đình công là của Tòa án, tuy nhiên thực tế ở VN chưa có bất kỳ cuộc đình công nào ra tòa án, mà ở các thành phố lớn, có đông công nhân đều có 1 cơ quan (không có trong luật) là Tổ công tác giải quyết đình công, do 1 Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm tổ trưởng, thành phần gồm đại diện công đoàn, công an, các sở, … có nhiệm vụ (gần như thay cho tòa án) giải quyết các cuộc đình công. Quy trình làm việc của Tổ công tác này hoàn toàn tự phát (do không có luật quy định), tuy nhiên thực tế lại rất hiệu quả.

    2. Quy định hiện hành của PL về giải quyết đình công

    (Chú ý: sử dụng Luật tố tụng dân sự 2015, không dùng phần này trong Luật lao động 2012 vì đã lạc hậu)

    – Chủ thể có quyền yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công:

    + công đoàn cơ sở, hoặc công đoàn cấp trên cơ sở (với nơi không có công đoàn cơ sở)

    + NSDLĐ

    – Thẩm quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình công: tòa án cấp tỉnh nơi xảy ra đình công

    3. Chuẩn bị giải quyết đình công

    (xem trong Luật tố tụng dân sự 2015)

    4. Thủ tục giải quyết đình công

    (xem trong Luật tố tụng dân sự 2015)

    5. Khiếu nại về tính hợp pháp của cuộc đình công

    Mời bạn xem thêm:

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật lao động: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-lao-dong?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VII

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VII

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VII sẽ tập trung vào các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế (TMQT) giữa các thương nhân, một vấn đề quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Chương VII sẽ giới thiệu những phương thức phổ biến như thương lượng, hòa giải, trọng tài và kiện tụng tại tòa án, cùng với những ưu nhược điểm của từng phương thức. Sinh viên sẽ được tìm hiểu về quy trình và các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, cũng như các quy định pháp lý liên quan để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VII

    Chương 7: Các phương thức giải quyết tranh chấp TMQT giữa các thương nhân

    – Về cơ bản có 4 phương thức:

    + thương lượng

    + hòa giải / trung gian

    + trọng tài

    + tòa án

    1. Thương lượng

    – Khái niệm: là phương thức mà theo đó các bên cùng nhau đàm phán để giải quyết tranh chấp mà không cần có sự tham gia của bên thứ 3

    – Đặc điểm:

    + có thể sử dụng thương lượng vào bất kỳ giai đoạn nào thích hợp

    + kết quả của thương lượng có thể được ghi nhận bằng văn bản với tính chất như 1 thỏa thuận hợp pháp về giải quyết tranh chấp đã phát sinh

    + thương lượng có thể dưới bất kỳ hình thức nào, có thể dưới dạng ngôn ngữ hoặc ngầm hiểu, công khai hoặc không công khai, trực tiếp hoặc thông qua các trung gian, bằng lời nói hoặc văn bản hoặc qua thư từ, email

    – Nội dung: thương lượng không phải đơn giản chỉ là các bên “ngồi” lại với nhau để tự thỏa thuận, mà thường có chiến lược thương lượng cụ thể. Có 4 chiến lược cơ bản của thương lượng:

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VII
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VII

    + mặc cả quan điểm

    + xin đặc ân trước và ghi nợ

    + cách tiếp cận kiểu “con gà”

    + vòng tuần hoàn của giá trị dựa trên cơ chế “giải quyết vấn đề”

    a. Mặc cả quan điểm

    – Đây là chiến lược thương thượng phổ biến nhất, theo đó thì:

    + Một bên đưa ra quan điểm từ thấp / cao

    + Bên kia đáp lại bằng 1 yêu cầu từ cao / thấp

    + Cho đến khi 2 bên cùng nhận thấy thỏa mãn là thương lượng thành công

    – VD: A vi phạm hợp đồng với B, tranh chấp xảy ra. Khi đó A chủ động đề nghị bồi thường, ví dụ 1 triệu USD. B muốn mức bồi thường cao hơn, B đưa ra yêu cầu đòi bồi thường 3 triệu USD. Trong quá trình đàm phán, A nâng dần mức bồi thường, còn B cũng giảm dần yêu cầu đòi bồi thường. Cuối cùng 2 bên thống nhất mức bồi thường của A là 2.2 triệu USD.

    b. Xin đặc ân trước và ghi nợ

    – Thường được áp dụng khi 2 bên đã có quá trình quan hệ thương mại nhất định (tức là đã có mối quan hệ thân thiết với nhau)

    – Nội dụng: đưa ra sự thỏa thuận về 1 kết quả có lợi cho bên kia trước với mục đích đổi lại 1 sự đền đáp trong tương lai.

    – VD: A và B là đối tác thương mại nhiều năm với nhau, khi xảy ra tranh chấp, ví dụ A giao thiếu hàng cho B, thì A có thể lợi dụng sự “thân thiết” để “xin đặc ân” của B để B sẽ không kiện đòi bồi thường, đổi lại trong những chuyến hàng sau A sẽ đưa ra những điều khoản có lợi cho B, ví dụ giảm giá, miễn phí vận chuyển, miễn phí bảo hiểm, …

    c. Cách tiếp cận kiểu “con gà”

    – Đây là cách thương lượng tập trung vào những cách thức thay thế – những biện pháp thay thế của bên nào tốt hơn và bên nào có thể làm cho bên kia bất lợi nhiều hơn.

    – Thường áp dụng khi 1 bên “mạnh hơn”, bên kia “yếu hơn”.

    – VD: A là thương nhân có thực lực tài chính mạnh, có 1 đối tác thương mại là B có thực lực tài chính yếu hơn và B phụ thuộc khá nhiều vào đơn hàng với A. Tranh chấp xảy ra, khi đó A có thể sử dụng lợi thế của mình để “ép” B phải chấp nhận những điều khoản có lợi cho A (và đương nhiên là bất lợi cho B), tuy nhiên A cũng sẽ chỉ “ép” B đến mức vẫn đảm bảo B vẫn có lợi trong thương mại với A.

    d. Vòng tuần hoàn của giá trị dựa trên cơ chế “giải quyết vấn đề”

    – Cách tiếp cận dựa trên cơ chế “giải quyết vấn đề” là việc tiếp cận bằng cách tập trung vào lợi ích của các bên, tìm cách tối đa hóa lợi ích chung và không đưa ra cam kết nào cho đến khi kết thúc thương lượng.

    – Thường áp dụng khi các bên đã có mối quan hệ thương mại với nhau.

    – Ưu điểm của thương lượng:

    + đơn giản

    + không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền phức

    + ít tốn kém: không phải chi trả cho bên thứ 3

    + không làm phương hại đến quan hệ hợp tác giữa các bên: mâu thuẫn không bị đẩy đến mức “gay gắt” như khi đưa ra trọng tài hay tòa án

    + giữ được các bí mật kinh doanh: đây là ưu điểm quan trọng nhất

    – Nhược điểm của thương lượng: kết quả của thương lượng chỉ mang tính khuyến nghị với các bên, do đó thì:

    + hiệu quả của hình thức thương lượng phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí của các bên

    + trong trường hợp các bên có thỏa thuận được về việc giải quyết tranh chấp thì kết quả vẫn có thể bị 1 hoặc cả 2 bên xem xét lại

    + việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có cơ chế pháp lý bảo đảm

    VD: thực tế xảy ra trường hợp 1 bên lợi dụng thương lượng để kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, để họ có đủ thời gian thực hiện việc khác, nên ngay cả khi 2 bên đã thống nhất kết quả thương lượng thì 1 bên vẫn có thể không thực hiện cam kết đã thương lượng ==> gây bất lợi cho bên kia.

    2. Hòa giải / Trung gian

    – Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua vai trò của bên thứ 3, theo đó bên thứ 3 hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên trong việc tìm kiếm giải pháp nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên.

    Đặc điểm của hòa giải:

    + bên hòa giải không đưa ra bất kỳ quyết định nào mà chỉ hỗ trợ các bên tìm ra giải pháp hoặc đề nghị các giải pháp và thuyết phục các bên lựa chọn

    + hình thức hòa giải do 1 tổ chức hoặc cá nhân bất kỳ tiến hành, tổ chức / cá nhân này do các bên thống nhất lựa chọn

    – Trung gian là hình thức can thiệp của bên thứ 3, với sự chấp thuận của các bên liên quan trong tranh chấp. Chức năng của người trung gian là đưa ra giải pháp cho tranh chấp với mong muốn được các bên chấp thuận. Người trung gian sẽ là 1 cá nhân trung lập, với kiến thức chuyên sâu liên quan đến lĩnh vực tranh chấp.

    – So sánh sự khác nhau giữa phương thức hòa giải và phương thức trung gian:

     Hòa giảiTrung gian
    Cách làmBên hòa giải không đưa ra bất kỳ quyết định nào mà chỉ hỗ trợ các bên tìm ra giải pháp chung được cả 2 bên đồng ýBên trung gian sẽ là người đưa ra giải pháp cho tranh chấp, với mong muốn được các bên chấp thuận
    Mục đíchChủ yếu tìm cách thu hẹp sự bất đồng quan điểm giữa các bênĐưa ra giải pháp, thuyết phục các bên đồng ý

    – Ưu điểm:

    + linh hoạt, tiết kiệm thời gian: không phải tuân theo các thủ tục tố tụng của trọng tài hay tòa án

    + có sự tham gia của người thứ 3 trong quá trình giải quyết tranh chấp, người thứ 3 là trung gian / hòa giải, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp ==> người thứ 3 dung hòa lợi ích của 2 bên

    + đảm bảo tính bí mật, sự hợp tác giữa các bên

    – Nhược điểm: giống với thương lượng thì kết quả của hòa giải, trung gian vẫn chỉ mang tính khuyến nghị với các bên, do đó thì:

    + kết quả hòa giải vẫn phụ thuộc vào thiện chí của các bên và sự tự nguyện thi hành của mỗi bên

    + thường chỉ có hiệu quả khi áp dụng trong các trường hợp mà tranh chấp chủ yếu xoay quanh vấn đề sự kiện hơn là pháp lý

    + chi phí tốn kém hơn thương lượng

    3. Giải quyết tranh chấp TMQT bằng tòa án

    – Khái niệm: là phương thức giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng tại tòa án, gắn liền với quyền lực NN

    – Ưu điểm:

    + phán quyết của tòa án được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của NN

    + nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của tòa án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với PL

    + chi phí thấp hơn trọng tài

    – Nhược điểm:

    + thủ tục phức tạp, tốn thời gian: do đó không phù hợp với thương mại hàng hóa dễ hư hỏng (như nông sản)

    + không đảm bảo được tính bí mật: nguyên tắc xét xử của tòa án là xét xử công khai, hoặc có xét xử kín thì toàn bộ thông tin cũng phải công khai với Hội đồng xét xử (gồm các thẩm phán, bồi thẩm đoàn, …)

    – Vấn đề chọn tòa án để giải quyết tranh chấp:

    + quyền lựa chọn tòa án để xét xử tranh chấp trước hết thuộc về nguyên đơn

    + lựa chọn tòa án có thẩm quyền xét xử các tranh chấp TMQT theo quy định PL VN

    + vấn đề liệu tòa án của 1 nước có quyền xét xử đối với vụ kiện hay không, sẽ được xác định phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước này tham gia, hoặc quy tắc tư pháp quốc tế của nước đó (tức là theo quy phạm xung đột)

    – Vấn đề chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp:

    + luật áp dụng gồm: các điều ước quốc tế có liên quan, các quy định PL quốc gia có liên quan

    + PL VN điều chỉnh giải quyết tranh chấp TMQT bao gồm các quy định trong luật Tố tụng dân sự, luật Trọng tài thương mại, luật Thương mại, luật Đầu tư và các văn bản dưới luật liên quan

    – Thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài:

    + khái niệm: là việc quốc gia này thi hành bản án, quyết định của tòa án quốc gia khác trên lãnh thổ quốc gia mình

    + ý nghĩa:

    • Bảo vệ quyền lợi của thương nhân trong và ngoài nước
    • Góp phần hoàn thiện quá trình tố tụng dân sự quốc tế

    + điều kiện: về nguyên tắc thì bản án, quyết định của tòa án nước ngoài không có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia nước khác. Do đó nếu muốn được thi hành tại nước ngoài thì phải tuân theo 1 thủ tục pháp lý chính thức tại tòa án nước sở tại để bản án, quyết định của tòa án nước ngoài được công nhận là có hiệu lực trên lãnh thổ nước sở tại

    4. Giải quyết tranh chấp TMQT bằng trọng tài

    – Đây là phương pháp giải quyết tranh chấp được sử dụng phổ biến nhất.

    – Khái niệm: Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động TMQT do các bên thỏa thuận và thống nhất, theo đó tranh chấp sẽ được giao cho người thứ 3 là các trọng tài viên để họ xét xử và ra quyết định cuối cùng

    Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm (không thể kháng cáo, kháng nghị) và có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên

    – Ưu điểm của giải quyết tranh chấp TMQT bằng trọng tài:

    + các quyết định và phán quyết của trọng tài là chung thẩm và có thể được tòa án trong nước công nhận và cho thi hành theo quy định

    + phương thức này mang lại cho các bên quyền tự định đoạt và sự kiểm soát đối với quá trình giải quyết tranh chấp

    + thủ tục linh hoạt, nhanh, gọn, bảo đảm được tính bí mật (so với phương thức tòa án)

    – Nhược điểm của giải quyết tranh chấp TMQT bằng trọng tài:

    + trường hợp nếu trọng tài viên ra phán quyết rõ ràng là sai so với PL hoặc theo thực tế thì các bên cũng không được quyền kháng cáo, kháng nghị ==> có thể gây tổn hại đối với 1 bên tranh chấp

    + trọng tài viên không có quyền cưỡng chế thi hành phán quyết trọng tài

    + trong các tranh chấp có nhiều bên tham gia, 1 tổ chức trọng tài thường không có quyền triệu tập tất cả các bên, mặc dù tất cả các bên đều liên quan đến 1 nội dung nào đó của cùng 1 vụ tranh chấp

    – Các hình thức trọng tài:

    + trọng tài thường trực (hay trọng tài quy chế): là hình thức trọng tài được thành lập có tổ chức, có trụ sở cố định, có danh sách trọng tài viên, hoạt động theo điều lệ tổ chức và các quy tắc tố tụng

    + trọng tài vụ việc (ad-hoc): là hình thức trọng tài được thành lập để giải quyết những tranh chấp cụ thể theo sự thỏa thuận của các bên sau khi tranh chấp đã xảy ra và tự gải thể khi giải quyết xong tranh chấp đó

    – Một số quy tắc trọng tài TMQT:

    + quy tắc trọng tài UNCITRAL

    + quy tắc và điều khoản trọng tài ICC và LCIA

    – Thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài: theo Công ước New York 1958 (VN đã là thành viên):

    + Công ước này áp dụng cho việc công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài được tuyên tại lãnh thổ của quốc gia khác với quốc gia nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu và xuất phát từ tranh chấp giữa các bên

    + Công ước cũng được áp dụng cho những phán quyết trọng tài trong nước của quốc gia nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu

    5. Vấn đề chọn trọng tài và chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp

    – Chọn trọng tài

    – Chọn luật áp dụng:

    + luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài

    + luật điều chỉnh tố tụng trọng tài

    + luật điều chỉnh nội dung thực chất của tranh chấp

    + các nguyên tắc của luật quốc tế và các nguyên tắc chung của PL

    + lex mercatoria

    + PL quốc gia của các nước không có liên quan đến các bên

    * So sánh 4 phương thức giải quyết tranh chấp TMQT, gồm:

    Tiêu chíThương lượngHòa giảiTòa ánTrọng tài
    Cách thức giải quyết tranh chấpTrực tiếp giữa các bênThông qua hòa giải viênThông qua thẩm phánThông qua trọng tài viên
    Đảm bảo tính bí mậtTính bí mật tuyệt đốiBí mật tương đối, bí mật hơn so với phương thức tòa ánÍt tính bí mật (tòa thường xét xử công khai)Bí mật tương đối, bí mật hơn so với phương thức tòa án
    Kinh phíÍt tốn kémTốn kém kinh phí
    Khả năng thành côngChưa có bằng chứng để đưa ra nhận xét. Điều này phụ thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước
    Khả năng lựa chọn người giải quyết tranh chấp Có khả năng lựa chọn người giải quyết tranh chấpKhông có khả năng lựa chọn người giải quyết tranh chấpCó khả năng lựa chọn người giải quyết tranh chấp
    Giá trị ràng buộc của phán quyết giải quyết tranh chấpKhuyến nghị– Giá trị pháp lý bắt buộc, bị cưỡng chế thi hành (trong trường hợp không tuân thủ)– Có thể kháng cáo– Giá trị pháp lý bắt buộc– Chung thẩm, không thể kháng cáo
    Khả năng thực thi phán quyết giải quyết tranh chấpPhụ thuộc vào sự tự nguyện của các bênKhả năng thực thi caoKhả năng thực thi phụ thuộc vào tòa án của các nước trong từng trường hợp cụ thể, nhưng thường là không cao

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương IV

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương IV

    “Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương IV” tập trung vào pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư vào các tổ chức kinh tế, một nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật đầu tư. Bài giảng cung cấp kiến thức về các hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư vào tổ chức kinh tế, cùng các quy định pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình đầu tư.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương IV

    Chương 4: Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư vào các tổ chức kinh tế

    I. Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

    1. Khái niệm và đặc điểm

    a. Khái niệm

    – Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế là hình thức đầu tư theo đó NĐT sáng lập và bỏ vốn nhằm thành lập 1 tổ chức kinh tế mới theo quy định của PL

    b. Đặc điểm

    – Về chủ thể: là các nhà đầu tư, cụ thể như sau:

    + đối với hộ kinh doanh: chỉ cá nhân hoặc nhóm người trong đó các cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc 1 hộ gia đình (Điều 66 Nghị định 78/2015)

    + đối với hợp tác xã: cá nhân là công dân VN hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại VN từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hoặc hộ gia đình có đại diện hợp pháp; pháp nhân VN (riêng đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ là cá nhân) (Điều 13.1.a Luật hợp tác xã 2012)

    Chú ý với hợp tác xã:

    • Thành viên góp vốn không quá 20% (nhằm đảm bảo không ai chi phối hoàn toàn hợp tác xã)
    • Không phải mọi nhà đầu tư đều có thể góp vốn
    • Được chia lợi nhuận dựa trên xem xét sự đóng góp + mức độ sử dụng sản phẩm của hợp tác xã

    + đối với doanh nghiệp: tổ chức, cá nhân không phân biệt quốc tịch có quyền thành lập doanh nghiệp, trừ các trường hợp cơ quan NN, đơn vị vũ trang, cán bộ công chức viên chức, người chưa thành niên, người đang chấp hành hình phạt tù, … (Điều 18.2 Luật doanh nghiệp 2014)

    – Về mục đích: nhà đầu tư mong muốn cùng hoạt động kinh doanh thông qua 1 tổ chức chung (có thể có tư cách pháp nhân hoặc không, ví dụ hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Lưu ý: trên thế giới thì mô hình Công ty hợp danh cũng không có tư cách pháp nhân, nhưng ở VN lại quy định là có tư cách pháp nhân)

    Chú ý: nhà đầu tư có thể không phải là thương nhân

    – Về nội dung: nhà đầu tư phải thực hiện 2 hoạt động:

    + có ý tưởng sáng lập (quyết định dự án đầu tư)

    + bỏ vốn

    – Về hệ quả pháp lý: thành lập được các mô hình tổ chức kinh tế, gồm Hộ kinh doanh, Hợp tác xã, doanh nghiệp, trong đó có sự phân chia về:

    + quyền sở hữu: tỷ lệ vốn góp

    + quyền quản lý

    + quyền hưởng lợi nhuận

    + nghĩa vụ chịu rủi ro

    Việc quy định các quyền và nghĩa vụ trên được nêu trong Điều lệ của tổ chức, NN không can thiệp. Hiện tại PL chỉ quy định 1 số trường hợp đặc biệt như:

    + với mô hình doanh nghiệp NN (là doanh nghiệp 100% vốn NN) là Công ty TNHH 1 thành viên, nếu điều lệ không quy định thì người đại diện theo PL sẽ là Chủ tịch Công ty (là người được NN ủy quyền để quản lý vốn NN) hoặc Hội đồng thành viên (là tập thể được NN ủy quyền)

    + với mô hình công ty cổ phần, nếu Điều lệ không quy định thì người đại diện theo PL là Chủ tịch HĐQT hoặc Giám đốc / Tổng Giám đốc

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương IV
    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương IV

    2. Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ

    – Khái niệm vốn điều lệ:

    + theo Luật doanh nghiệp 2014: Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.

    + theo Luật hợp tác xã 2012: Vốn điều lệ là tổng số vốn do thành viên, hợp tác xã thành viên góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

    + Chú ý: không đặt ra vấn đề vốn điều lệ với 2 tổ chức kinh tế là hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân (vì chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới bằng tất cả tài sản của mình)

    – Tại sao phải quan tâm tới vấn đề sở hữu vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế ?

    Vì PL VN có sự kiểm soát đối với nhà đầu tư nước ngoài bằng việc đặt ra các điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế tại VN, tức là chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tối đa 49, 30, 20, … phần trăm vốn điều lệ, mục đích là bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài phải liên doanh với nhà đầu tư trong nước đối với những lĩnh vực mà NN cho là quan trọng.

    – Điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ: (Điều 22 khoản 3 Luật đầu tư 2014): nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong các tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp:

    + Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của PL về chứng khoán (Nghị định 60/2015)

    Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại công ty đại chúng như sau:

    • Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì thực hiện theo điều ước quốc tế
    • Trường hợp công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh mà PL về đầu tư, PL liên quan có quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài thì thực hiện theo quy định tại PL đó.

    Đối với công ty đại chúng hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài mà chưa có quy định cụ thể về sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa là 49%

    • Trường hợp công ty đại chúng hoạt động đa ngành, nghề, có quy định khác nhau về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài không vượt quá mức thấp nhất trong các ngành, nghề (mà công ty đó hoạt động) có quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác

    Đối với công ty đại chúng không thuộc các trường hợp quy định trên, tỷ lệ sở hữu nước ngoài là không hạn chế, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác

    + Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp NN cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác được thực hiện theo quy định PL về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp NN.

    + Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc 2 trường hợp trên thì thực hiện theo quy định PL có liên quan và điều ước quốc tế mà VN là thành viên

    Lưu ý: nhà đầu tư nước ngoài có quyền sở hữu không hạn chế cổ phiếu không có quyền biểu quyết trong tổ chức kinh tế

    VD: một số trường hợp được PL quy định:

    + không được thành lập tổ chức kinh tế về dịch vụ kiểm toán (chỉ được tham gia góp vốn vào khi tổ chức đó đã thành lập và hoạt động). Chú ý: không hạn chế tỷ lệ góp vốn

    + dịch vụ thuê hoặc cho thuê tàu thuyền không kèm người lái: không quá 70%

    + bệnh viện: không hạn chế, nhưng phải đảm bảo vốn đầu tư tối thiểu 20 triệu USD

    + dịch vụ vận tải hành khách đường sắt: không quá 49%

    3. Thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế

    – Có 3 trường hợp:

    + Quyết định chủ trương đầu tư ==> Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư ==> Thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp : đối với dự án vừa phải xin QĐ chủ trương đầu tư, vừa phải xin GCN ĐKĐT, ví dụ dự án có nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI)

    + Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ==> Thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp : đối với dự án không phải xin QĐ chủ trương đầu tư mà chỉ cần xin GCN ĐKĐT

    + Quyết định chủ trương đầu tư ==> Thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp : đối với dự án yêu cầu phải có Quyết định chủ trương nhưng lại không cần GCN ĐKĐT

     Chú ý: nhà đầu tư có thể thành lập doanh nghiệp trước rồi mới xin QĐ chủ trương và GCN ĐKĐT.

    – Cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đầu tư và thủ tục đăng ký doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài:

    + B1: nhà đầu tư nộp Hồ sơ đăng ký đầu tư + Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Cơ quan đăng ký đầu tư

    + B2: Cơ quan đăng ký đầu tư gửi Hồ sơ Đăng ký thành lập doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh (1 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ)

    + B3: Cơ quan Đăng ký kinh doanh xem xét tính hợp lệ và thông báo ý kiến cho Cơ quan đăng ký đầu tư (2 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ)

    + B4: Cơ quan Đăng ký đầu tư yêu cầu điều chỉnh, bổ sung hồ sơ (nếu có) 1 lần bằng văn bản (trong 5 ngày)

    + B5: Cơ quan Đăng ký đầu tư và Cơ quan Đăng ký kinh doanh phối hợp xử lý hồ sơ và trả kết quả cho nhà đầu tư tại Cơ quan Đăng ký đầu tư.

    II. Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế

    1. Khái niệm, đặc điểm

    – Khái niệm: góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế là hình thức đầu tư mà theo đó nhà đầu tư bỏ vốn để trở thành thành viên, cổ đông của các tổ chức kinh tế đã tồn tại

    – Đặc điểm:

    + các hình thức:

    • Góp vốn vào công ty cổ phần, mua cổ phần từ cổ đông công ty cổ phần
    • Góp vốn vào công ty TNHH, mua cổ phần vốn góp từ thành viên công ty TNHH
    • Góp vốn vào công ty hợp danh, mua phần vốn góp của thành viên hợp danh, thành viên góp vốn
    • Góp vốn vào hợp tác xã, mua phần vốn góp của thành viên hợp tác xã

    + chủ thể:

    • Góp vốn vào hợp tác xã: cá nhân / tổ chức VN, cá nhân nước ngoài cư trú hợp pháp tại VN
    • Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào công ty: cá nhân, tổ chức VN hoặc nước ngoài không thuộc các trường hợp bị cấm góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp tại khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014, cụ thể gồm:
      • Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
      • Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

    + mục đích:

    • Trở thành thành viên, cổ đông của các tổ chức kinh tế (quyền quản lý, hưởng lợi nhuận, chịu rủi ro)
    • Có thể nắm quyền kiểm soát / thâu tóm tổ chức kinh tế (có sẵn, không phải do mình thành lập ra)

    + hệ quả pháp lý:

    • Không thiếp lập 1 tổ chức kinh tế mới
    • Có sự thay đổi về vốn điều lệ, tỷ lệ vốn góp / cổ phần, số lượng / tư cách thành viên / cổ đông của tổ chức kinh tế

    2. Thủ tục đầu tư, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế

    – Nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư, mà chỉ thực hiện thủ tục Đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế trong các trường hợp:

    + tổ chức kinh tế đó hoạt động trong ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài

    + việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài (quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật đầu tư 2014) nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế đó, tức là có 2 trường hợp:

    • Tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài từ dưới 51% lên từ 51% trở lên
    • Tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên trong tổ chức kinh tế (tức là đã có nhà đầu tư nước ngoài sở hữu hơn 51% vốn điều lệ rồi, mà lại có nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục góp vốn thì sẽ phải làm thủ tục Đăng ký góp vốn)

    – Quy trình:

    + B1: Nhà đầu tư nộp Hồ sơ Đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp cho Sở Kế hoạch đầu tư (nơi tổ chức kinh tế đặt trụ sở chính)

    + B2: Sở Kế hoạch đầu tư xem xét việc đáp ứng yêu cầu điều kiện với nhà đầu tư nước ngoài và thông báo cho nhà đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ

    + B3: Sau khi nhận được thông báo về việc đáp ứng điều kiện, tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp thực hiện thủ tục tại Cơ quan Đăng ký kinh doanh theo quy định tại Luật doanh nghiệp 2014

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Đầu tư: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dau-tu?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương III

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương III

    “Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương III” đi sâu vào pháp luật về thủ tục đầu tư, triển khai dự án đầu tư, điều chỉnh và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Nội dung bài giảng hướng dẫn chi tiết quy trình thực hiện thủ tục đầu tư, từ giai đoạn xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đến triển khai dự án theo đúng quy định pháp luật.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương III

    Chương 3: Pháp luật về thủ tục đầu tư, triển khai dự án đầu tư, điều chỉnh và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

    1. Dự án đầu tư

    – Quan niệm về dự án đầu tư (Điều 3): Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.

    Câu hỏi: Tại sao lại chỉ có “trung hạn” hoặc “dài hạn” mà không có “ngắn hạn” ?

    – Đặc điểm:

    + dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất, có thể chia làm 2 loại:

    • Dự án tiền khả thi
    • Dự án khả thi

    + dự án đầu tư được xác định về không gian và thời gian:

    • Không gian: đầu tư trong nước, đầu tư từ VN ra nước ngoài, đầu tư từ nước ngoài vào VN ==> mục đích để quy định thủ tục về giấy phép đầu tư
    • Thời gian: với các dự án tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất thì thời gian thực hiện không quá 70 năm. Với các dự án ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất thì thời hạn tối đa là 50 năm. Trường hợp dự án ở những vùng sâu, vùng xa, khó khăn, … thì có thể kéo dài nhưng không quá 70 năm

    + các dự án đầu tư đều liên quan đến các hình thức đầu tư cụ thể. Có 2 hình thức đầu tư: trực tiếp và gián tiếp:

     Đầu tư trực tiếpĐầu tư gián tiếp
    Về bản chất của quan hệ đầu tưLà việc nhà đầu tư bỏ vốn và trực tiếp quản lý việc đầu tư.VD cử người tham gia điều hành dự án đầu tưNhà đầu tư chỉ bỏ vốn mà không quản lý việc đầu tư.VD các dự án ODA
    Khác biệt về điều kiệnThường không kèm theo điều kiện (vì đều ngang bằng với nhau)Thường kèm theo các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội, thậm chí cả chính trị
    Khác biệt về hưởng lợi íchLợi ích của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả thực hiện dự án đầu tưThường theo sự thỏa thuận giữa nhà đầu tư với chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư
    Về triển khai thực hiện dự án đầu tưĐược thực hiện thông qua các hình thức đầu tư: thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, hợp đồng BCC / PPPChủ yếu theo cam kết

    2. Phân loại dự án đầu tư

    – Mục đích của phân loại dự án đầu tư:

    + để xác định rõ thẩm quyền phê duyệt, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đầu tư và các dự án không phải đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương III
    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương III

    + để nhằm áp dụng và thực hiện các biện pháp ký quỹ, các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng. Ví dụ với dự án đến 300 tỷ thì nhà đầu tư phải ký quỹ đến 3% vốn đầu tư, trên 300 đến 1000 tỷ thì ký quỹ 2% vốn đầu tư, trên 1000 tỷ thì ký quỹ 1% vốn đầu tư

    + để nhằm thực hiện quản lý NN đối với các dự án đầu tư

    + phân loại dự án đầu tư là cơ sở pháp lý và cơ sở kinh tế để giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong hoạt động đầu tư

    –  Phân loại dự án đầu tư theo các tiêu chí:

    + căn cứ vào nguồn vốn đầu tư:

    • Vốn của NN
    • Vốn của tổ chức cá nhân
    • Vốn hỗn hợp NN và tư nhân

    + căn cứ vào tổ chức quản lý:

    • Dự án đầu tư trực tiếp
    • Dự án đầu tư gián tiếp

    + căn cứ vào các hình thức đầu tư: thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, ký kết thực hiện hợp đồng, …

    + căn cứ vào phương thức đầu tư:

    • Đầu tư trong nước
    • Đầu tư từ VN ra nước ngoài
    • Đầu tư từ nước ngoài vào VN

    3. Quy trình thủ tục đầu tư và triển khai dự án đầu tư

    a. Quy trình dự án

    Gồm 3 bước:

    + chuẩn bị đầu tư

    + thực hiện đầu tư

    + kết thúc đầu tư

    b. Thủ tục đầu tư

    – Thẩm quyền của các cơ quan NN đối với dự án đầu tư: thẩm quyền phê duyệt theo 4 mức của dự án đầu tư theo quy định của Luật xây dựng, gồm dự án đầu tư quan trọng của quốc gia, dự án nhóm A, B, C, tương ứng với các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt:

    + Thẩm quyền phê duyệt của Quốc hội

    + Thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng

    + Thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND cấp tỉnh

    – Người có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư:

    + Ban Quản lý dự án có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các dự án đầu tư nằm trong khu kinh tế, công nghiệp, chế xuất

    + Sở Kế hoặc đầu tư có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các dự án nằm ngoài khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất

    Lưu ý: nếu dự án đầu tư thuộc nhiều tỉnh thì thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thuộc cấp Bộ hoặc cơ quan ngang bộ. VD dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai sẽ do Bộ Giao thông cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

    – Các dự án không phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư:

    + các dự án đầu tư trong nước

    + các dự án được quy định tại khoản 2 Điều 23 (dự án có vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài dưới 51% vốn điều lệ)

    Chú ý: Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư không đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Luật đầu tư 2005 nhập 2 giấy trên làm 1, tuy nhiên đến Luật đầu tư 2014 lại tách riêng 2 giấy trên. Lý do là khi nhập 2 giấy trên làm 1, khi doanh nghiệp thay đổi ngành nghề kinh doanh thì lẽ ra chỉ cần thay đổi Giấy Chứng nhận đăng ký kinh doanh thì sẽ phải thay đổi cả Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; hoặc khi dự án đầu tư kết thúc mà doanh nghiệp muốn thực hiện dự án đầu tư khác thì lẽ ra chỉ cần xin Giấy phép đăng ký đầu tư thì theo luật 2005 sẽ phải thay đổi cả Giấy đăng ký kinh doanh.

    – Triển khai dự án đầu tư: xem Nghị định 59 năm 2015

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Đầu tư: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dau-tu?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương II

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương II

    “Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương II” tập trung vào pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn tại Việt Nam. Nội dung bài giảng cung cấp kiến thức về các biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư, các chính sách ưu đãi thuế, đất đai, tín dụng, cùng các hình thức hỗ trợ đầu tư khác như hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng và chuyển giao công nghệ.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương II

    Chương 2: Pháp luật về các biện pháp bảo đảm, ưu đãi và hỗ trợ đầu tư

    I. Bảo đảm đầu tư

    1. Bảo đảm tài sản của nhà đầu tư (Điều 9)

    – Từ 2005, VN cam kết không quốc hữu hóa tài sản hợp pháp của nhà đầu tư, cũng không tịch thu bằng các biện pháp hành chính.

    – Trường hợp NN trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhà đầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản, với nhà đầu tư nước ngoài thì sẽ được thanh toán bằng ngoại tệ (chứ không phải bằng nội tệ).

    2. Các biện pháp bảo đảm trong hoạt động kinh doanh (Điều 10)

    – VN không bắt buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải đảm bảo tỷ lệ nội địa hóa. Tuy nhiên, VN đưa ra các ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài nếu họ đạt tới tỷ lệ nội địa hóa nhất định.

    VD việc áp thuế trong ngành ô tô phụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ nội địa hóa

    – Không bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu

    – Không bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài phải ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ trong nước

    – Không bắt buộc nhà đầu tư nước ngoài phải xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định

    – Đảm bảo nhà đầu tư nước ngoài được đối xử như với nhà đầu tư trong nước về thuế, chính sách, …

    3. Bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư ra nước ngoài (Điều 11)

    – Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với NN theo quy định của PL, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các tài sản sau đây:

    + Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

    + Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh;

    + Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.

    – Kể từ 2003 VN không thu thuế chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài (trước 2003 thu thuế 5%)

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương II
    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương II

    4. Cam kết trong trường hợp thay đổi pháp luật (Điều 13)

    – Khi PL thay đổi, nhà đầu tư có quyền chọn sẽ theo PL mới hay vẫn áp dụng PL cũ cho đến khi kết thúc dự án đầu tư.

    – Chú ý: ưu đãi này không áp dụng trong trường hợp thay đổi quy định của văn bản PL vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ môi trường. Trong trường hợp này, nhà đầu tư được xem xét giải quyết bằng 1 hoặc 1 số biện pháp sau đây:

    + Khấu trừ thiệt hại thực tế của nhà đầu tư vào thu nhập chịu thuế

    + Điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án đầu tư

    + Hỗ trợ nhà đầu tư khắc phục thiệt hại.

    5. Cam kết về giải quyết tranh chấp (Điều 14)

    – Nếu các nhà đầu tư trong nước có tranh chấp với nhau hoặc tranh chấp với cơ quan nhà nước thì sẽ được giải quyết thông qua Trọng tài VN hoặc Tòa án VN

    – Với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà nhà đầu tư nước ngoài có vốn chiếm trên 50% thì khi tranh chấp xảy ra, nhà đầu tư nước có thêm lựa chọ là luật quốc tế (Trọng tài quốc tế, tòa án quốc tế).

    – Với tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan NN có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ VN được giải quyết thông qua Trọng tài VN hoặc Tòa án VN, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà VN là thành viên có quy định khác.
    6. Bảo lãnh của chính phủ (Điều 12)

    – Chính phủ chỉ bảo lãnh cho những dự án quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng, Quốc hội (nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các dự án đầu tư)

    – Các biện pháp bảo đảm: VD bảo đảm về tỷ giá (nếu chênh lệch bất lợi cho nhà đầu tư thì NN sẽ bù cho nhà đầu tư), đảm bảo đủ ngoại tệ cho dự án

    II. Ưu đãi đầu tư

    1. Các hình thức ưu đãi đầu tư (Điều 15)

    – Ưu đãi về đất đai: Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất

    – Ưu đãi về thuế:

    + Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

    + Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư

    – Môi trường: các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường ở VN hiện đang rất thấp so với thế giới, đây cũng là điểm thu hút các nhà đầu tư, tuy nhiên lại rất ảnh hưởng đến môi trường (ví dụ vụ Vedan, Formusa, …)

    – Thủ tục hành chính: so với thế giới thì thủ tục để cấp giấy phép đầu tư của VN thuộc hàng khá thông thoáng. Tuy nhiên môi trường đầu tư của VN còn nhiều hạn chế (như luật pháp chưa ổn định, thị trường chưa minh bạch, cơ quan nhà nước còn những nhiễu doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, …)

    Chú ý: Điểm mới đáng chú ý của Luật đầu tư 2014 là sau khi được chấp nhận chủ trương đầu tư là nhà đầu tư sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ngay (trong 3 ngày làm việc) (khác với Luật đầu tư 2005 tách riêng 2 quá trình này, dẫn tới hiện tượng cơ quan quản lý ra Quyết định Chủ trương đầu tư tràn lan, tuy nhiên khi chưa có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thì nhà đầu tư chưa thể làm gì với dự án).

    Chú ý: Chính phủ có chính sách ưu đãi với nhà đầu tư, đây là chính sách chung của quốc gia. Ngoài ra mỗi tỉnh thành phố lại có thêm những chính sách ưu đãi đầu tư riêng của địa phương mình.

    2. Đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư

    – Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 16

    – Dự án đầu tư tại địa bàn ưu đãi đầu tư: (quy định tại khoản 2 Điều 16)

    + địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn

    + khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

    – Dự án đầu tư có quy mô vốn từ 6.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư

    – Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên

    – Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Đầu tư: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dau-tu?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương I

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương I

    “Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương I” cung cấp cái nhìn tổng quan về những vấn đề chung trong Luật Đầu tư, bao gồm khái niệm, nguyên tắc cơ bản, vai trò của luật đầu tư trong phát triển kinh tế – xã hội. Nội dung bài giảng giúp người học nắm vững các loại hình đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, cùng những quy định pháp lý về môi trường đầu tư tại Việt Nam.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương I

    Chương 1: Những vấn đề chung về Luật đầu tư

    I. Khái quát về đầu tư

    1. Khái niệm đầu tư

    – Khái niệm (khoản 5 Điều 3 luật Đầu tư 2014): Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

    – Chú ý: từ luật đầu tư 2014 đã tách riêng đầu tư kinh doanh và đầu tư công. Khái niệm đầu tư công được nêu trong luật Đầu tư công 2014 (Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.)

                 Trong phạm vi môn học này cũng như phạm vi của Luật đầu tư 2014 chỉ nghiên cứu đầu tư kinh doanh của tư nhân, tức là mục đích chính là để kiếm lợi nhuận (khác với đầu tư công với nhà đầu tư là NN thì mục đích là phi lợi nhuận).

    Câu hỏi: Nhà đầu tư và chủ đầu tư có khác nhau không ?

    Trả lời: Khác nhau:

    + nhà đầu tư là chủ thể được xác định trong Luật Đầu tư 2014. Nhà đầu tư tự bỏ vốn của mình để thực hiện hoạt động kinh doanh.

    + chủ đầu tư là chủ thể quy định trong Luật Đầu tư công 2014, trong đó chủ đầu tư là cơ quan NN hoặc được ủy quyền. Chủ đầu tư thay mặt NN quản lý hoạt động đầu tư công (chứ không tự bỏ vốn của mình như nhà đầu tư)

    2. Đặc điểm

    – Chủ thể: là nhà đầu tư. Nhà đầu tư có thể là tổ chức hay cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Gồm 3 loại:

    + nhà đầu tư trong nước: cá nhân có quốc tịch VN, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông

    + nhà đầu tư nước ngoài: cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo PL nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại VN

    + tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài làm thành viên, cổ đông (thường gọi là các doanh nghiệp FDI)

    Như vậy, nhà đầu tư chủ yếu là thương nhân (vì PL VN quy định thương nhân phải có đăng ký kinh doanh), ngoài ra còn có nhà đầu tư là cá nhân.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương I
    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương I

    Câu hỏi: Tại sao phải phân biệt nhà đầu tư trong nước và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, có phải đã vi phạm luật quốc tế ? (không phân biệt đối xử với công dân, tổ chức nước ngoài)

    Trả lời: mặc dù VN đã cam kết không phân biệt đối xử với công dân, tổ chức nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, tuy nhiên do hiện tại nền kinh tế VN vẫn là nền kinh tế kém phát triển, các nhà đầu tư VN còn rất non trẻ so với các nhà đầu tư nước ngoài, nên NN vẫn có các quy định nhằm bảo hộ nền kinh tế và các nhà đầu tư trong nước. Điều này vẫn phù hợp với thông lệ quốc tế khi nền kinh tế yếu hơn có quyền “chậm mở cửa” cho đến khi bắt kịp với các nước khác. Thực tế tại VN thì các quy định về đầu tư như quy định cấp Giấy chứng nhận đầu tư, … hầu như chỉ dành cho nhà đầu tư có yếu tố nước ngoài.

    – Mục đích: chủ yếu là kinh doanh và lợi nhuận

    – Nội dung của hoạt động đầu tư:

    + lập dự án đầu tư: tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.

    + thực hiện thủ tục đầu tư với NN (nếu có)

    + triển khai dự án đầu tư

    – Kết quả có thể là lợi nhuận hoặc rủi ro. Rủi ro có thể là: không thực hiện được dự án, thực hiện dự án không thành công, thực hiện thành công nhưng không đem lại lợi nhuận như kỳ vọng, …

    3. Phân loại

    – Căn cứ vào mục đích, có thể chia thành:

    + đầu tư phi lợi nhuận: dành ít nhất 51% lợi nhuận để tái đầu tư (doanh nghiệp xã hội)

    + đầu tư kinh doanh: mục đích chính là lợi nhuận

    – Căn cứ vào nguồn vốn:

    + đầu tư trong nước: là đầu tư của các nhà đầu tư VN tại VN

    + đầu tư nước ngoài: đầu tư nước ngoài vào VN, và đầu tư VN ra nước ngoài

    Chú ý: còn có khái niệm đầu tư quốc tế, khác với đầu tư nước ngoài ở góc nhìn đầu tư từ 1 quốc gia, còn đầu tư quốc tế liên quan đến các hiệp định, hiệp ước thương mại giữa các quốc gia

    – Căn cứ tính chất quản lý của nhà đầu tư:

    + đầu tư trực tiếp: bỏ vốn, đồng thời quản lý dự án. Có 3 hình thức:

    • Thành lập tổ chức kinh tế: thường là doanh nghiệp. VD các cổ đông góp vốn thành lập công ty cổ phần và cùng nhau kinh doanh
    • Góp vốn: phần vốn góp đủ lớn để kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp
    • Hợp đồng: hiện VN đang có 2 dạng là:
      • Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BBC): là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.
      • Hợp đồng đối tác công tư (PPP): là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư

    + đầu tư gián tiếp: góp vốn, nhưng không quản lý dự án. Có 2 hình thức:

    • Mua cổ phiếu của công ty chỉ để kiếm lợi nhuận (từ cổ tức hoặc bán lại sau đó), không tham gia quản lý
    • Đầu tư thông qua các quỹ ủy thác đầu tư, các định chế tài chính

    Trong môn học này, chủ yếu nghiên cứu về đầu tư trực tiếp.

    – Căn cứ vào luật đầu tư:

    + đầu tư vào tổ chức kinh tế

    + đầu tư theo hợp đồng

    + đầu tư thực hiện dự án

    II. Khái quát về pháp luật đầu tư

    1. Khái niệm và đặc điểm

    – PL đầu tư là tập hợp, tổng thể các quy phạm PL do NN ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện và quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh.

    Lưu ý: “thừa nhận” ở đây không bao gồm các tập quán đầu tư (như với các ngành luật khác) vì VN hiện không có tập quán đầu tư. Do đó “thừa nhận” ở đây được hiểu là là những quy định của luật pháp quốc tế, được nội luật hóa trong PL đầu tư.

    – Đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh:

    + với quan hệ giữa cơ quan NN và nhà đầu tư ==> phương pháp điều chỉnh là Mệnh lệnh hành chính (chủ yếu trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư)

    + với quan hệ giữa các nhà đầu tư với nhau ==> phương pháp điều chỉnh là Thỏa thuận (VD các nhà đầu tư cùng nhau góp vốn thành lập tổ chức kinh tế, …)

    – Chủ thể của luật đầu tư:

    + nhà đầu tư

    + cơ quan có thẩm quyền: Quốc hội, Chính phủ, các bộ, UBND cấp tỉnh, ban quản lý khu chế xuất, khu kinh tế, …

    – Nội dung cơ bản:

    + quy định về chính sách đầu tư (Điều 5 luật Đầu tư, với tư tưởng chủ đạo là mở rộng quyền tự do kinh doanh để phù hợp với xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới):

    (1) Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm.

    (2) Nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật này và quy định khác của PL có liên quan; được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên khác theo quy định của PL

    (3) NN công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư.

    (4) NN đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế.

    (5) NN tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư kinh doanh mà VN là thành viên

    + quy định về đảm bảo đầu tư, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư

    + quy định về các hình thức đầu tư, thủ tục đầu tư tại VN

    + quy định đầu tư ra nước ngoài

    + quản lý NN về đầu tư

    Chú ý: trong thực tế có những quan hệ đầu tư vừa được điều chỉnh bởi Luật đầu tư 2014, vừa được điều chỉnh bởi Luật đầu tư công 2014, ví dụ quan hệ trong Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), tức là quan hệ giữa những nhà đầu tư với các cơ quan NN có thẩm quyền hợp tác với nhau trên cơ sở hợp đồng.

    2. Nguồn của PL đầu tư và nguyên tắc áp dụng

    – Văn bản PL quốc gia:

    + luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994, sửa đổi 1998

    + luật Đầu tư nước ngoài tại VN 1996, sửa đổi bổ sung 2000

    + luật Đầu tư 2005

    + luật Đầu tư 2014

    + Nghị định 118/2015 về hướng dẫn luật Đầu tư 2014

    – Điều ước quốc tế:

    + các điều ước song phương

    + các điều ước đa phương

    Chú ý: VN hiện chưa có “tập quán về đầu tư” nên không có nguồn là tập quán đầu tư

    – Nguyên tắc áp dụng: (Điều 4 luật Đầu tư)

    (1) Hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ quy định của Luật này và luật khác có liên quan.

    (2) Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trình tự, thủ tục đầu tư kinh doanh theo quy định tại Luật chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật dầu khí.

    (3) Trường hợp điều ước quốc tế mà VN là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

    (4) Đối với hợp đồng trong đó có ít nhất một bên tham gia là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng PL nước ngoài hoặc tập quán đầu tư quốc tế nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của PL VN

    Câu hỏi: Từ các mô tả hoạt động sau, nhận diện các hình thức đầu tư

    (1) Cty Cocacola của Mỹ đầu tư 200 triệu USD vào VN để xây dựng nhà máy sản xuất, chi phí lắp đặt công nghệ, thuê lao động gồm lao động phổ thông và lao động cấp cao (quản lý).

    (2) Cty Việt Thái (sở hữu Highland coffee) mua 100% cổ phần Phở 24 với giá 20 triệu USD, sau đó bán lại 50% cổ phần cho Jollibee của Philipin với giá 2 triệu USD

    (3) Chị Hạnh ký hợp đồng ủy thác đầu tư 5 tỷ cho công ty quản lý quỹ Vietinbank Capital để công ty này thực hiện việc đầu tư vốn vào các công ty

    (4) VNPT ký thỏa thuận hợp tác với Telstra của Úc với tổng mức đầu tư từ Úc là 240 triệu USD với mục đích tạo dựng cơ sở hạ tầng viễn thông, phát triển mạng lưới viễn thông trên cả nước

    (5) Tập đoàn TH của VN ký thỏa thuận với tỉnh Matxcơva của Nga để triển khai dự án chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô công nghiệp với số vốn đầu tư 2.7 tỷ USD

    Trả lời:

    (1) Chủ thể đầu tư: là nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể là công ty Cocacola của Mỹ. Hình thức: đầu tư trực tiếp, có thể theo 1 trong 3 hình thức (thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, hợp đồng)

    (2) Chủ thể đầu tư: công ty Việt Thái của VN, Jollibee của Philipin. Hình thức: đầu tư trực tiếp vào tổ chức kinh tế

    (3) Chủ thể đầu tư: chị Hạnh, với hình thức: đầu tư gián tiếp; Vietinbank Capital với hình thức đầu tư có thể trực tiếp, có thể gián tiếp

    (4) Chủ thể đầu tư: VNPT và Telstra, trong đó Telstra đầu tư theo hình thức hợp đồng BBC

    (5) Chủ thể đầu tư: tập đoàn TH, hình thức là đầu tư ra nước ngoài, và là đầu tư trực tiếp

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Đầu tư: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dau-tu?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tài chính chương X

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương X

    “Bài giảng môn học Luật Tài chính chương X” đi sâu vào pháp luật về thuế thu nhập, bao gồm thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Nội dung bài giảng giải thích rõ ràng về đối tượng chịu thuế, cách tính thu nhập chịu thuế, các mức thuế suất áp dụng, cùng các trường hợp được miễn, giảm thuế theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, bài giảng cũng phân tích vai trò của thuế thu nhập trong việc đảm bảo công bằng xã hội, khuyến khích đầu tư và đóng góp vào nguồn thu ngân sách Nhà nước, mang đến cái nhìn toàn diện và thực tiễn cho người học.

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương X

    Chương 10: Pháp luật thuế thu nhập

    I. Thuế thu nhập cá nhân

    1. Thu nhập từ tiền lương (quan hệ làm công ăn lương)

    – Thu nhập chịu thuế:

    + tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền thù lao

    + các khoản lợi ích vật chất mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động

    – Thu nhập không chịu thuế:

    + lương hưu

    + bảo hiểm có tính chất an sinh như BHXH, BHYT, …

    + tiền thưởng kèm theo các danh hiệu của NN, ví dụ tiền thưởng kèm theo Huân chương lao động, bằng khen

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương X
    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương X

    – Thu nhập tính thuế:

    [Thu nhập tính thuế] = [thu nhập chịu thuế] – [giảm trừ gia cảnh]

    + giảm trừ gia cảnh:

    • Cho chính người nộp thuế: 9 triệu / tháng
    • Cho người phụ thuộc: 3.6 triệu / tháng
    • Không giới hạn số người phụ thuộc
    • Một người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ cho 1 người nộp thuế

    – Thuế thu nhập cá nhân phải nộp:

    [Thuế TNCN] = [Thu nhập tính thuế] x [thuế suất trong biểu thuế lũy tiến từng phần]

    Ví dụ: Hãy tính thuế TNCN của A trong tháng:

    + lương: 15 triệu

    + công ty hỗ trợ tiền thuê nhà: 5 triệu

    + thưởng: 3 triệu

    + A không có người phụ thuộc

    Trả lời:

    + thu nhập chịu thuế: 15 + 5 + 3 = 23 triệu

    + thu nhập tính thuế: 23 – 9 = 14 triệu

    + thuế phải nộp: (5 triệu x 5%) + (5 triệu x 10%) + (4 triệu x 15%) = 250 + 500 + 600 = 1.350

    2. Chuyển nhượng bất động sản

    – Thu nhập chịu thuế: là thu nhập từ bán, chuyển nhượng bất động sản

    – Thu nhập không phải chịu thuế:

    + cá nhân chỉ có 1 bất động sản duy nhất

    + chuyển nhượng giữa ông bà với các cháu, bố mẹ với con cái, bố mẹ chồng với con dâu, bố mẹ vợ với con rể, giữa vợ chồng với nhau, giữa anh chị em ruột với nhau

    – Thu nhập tính thuế: giá bán

    – Thuế phải nộp:

    [Thuế phải nộp] = [thu nhập chịu thuế] x [thuế suất 2%]

    3. Thu nhập từ sổ xố, khuyến mãi, vui chơi có thưởng

    – Thu 10% vào phần vượt trên 10 triệu. VD trúng sổ số 15 triệu thì phải nộp thuế (15tr -10tr) x 10% = 500

    – Thu theo từng lần: được thưởng lần nào thì thu thuế theo lần đó

    4. Thu nhập từ quà tặng

    – Đối tượng: Quà tặng phải bằng hiện vật và phải đăng ký quyền sở hữu. VD quà tặng là nhà đất, xe, …

    5. Thu nhập từ đầu tư

    – Trừ lãi tiền gửi từ các tổ chức tín dụng (tức là lãi suất tiết kiệm không phải nộp thuế)

    II. Thuế thu nhập doanh nghiệp

    Bài tập: Dựa vào các số liệu sau của Công ty A, xác định số thuế GTGT mà công ty phải nộp trong kỳ:

    + Doanh thu từ hoạt động kinh doanh vận tải là 800tr, trong đó 400tr là từ hoạt động vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt trong nội đô

    + Nhập khẩu 2 xe ô tô 4 chỗ, giá nhập khẩu là 200tr / 1 xe

    + Công ty đã bán hết số xe đã nhập có giá thanh toán là 660tr / 1 xe

    + Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa dịch vụ mua trong nước là 30tr

    + Thuế suất GTGT là 10%; thuế nhập khẩu 50%; thuế tiêu thụ đặc biệt 50%

    + Công ty hạch toán chung các hoạt động, chấp hành đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ theo quy định của PL

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tài chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-tai-chinh?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tài chính chương IX

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương IX

    “Bài giảng môn học Luật Tài chính chương IX” tập trung vào pháp luật về thuế giá trị gia tăng (GTGT) – một trong những loại thuế quan trọng nhất trong hệ thống thuế tại Việt Nam. Bài giảng giúp sinh viên hiểu rõ về đối tượng chịu thuế, phương pháp tính thuế, các mức thuế suất áp dụng và vai trò của thuế GTGT trong việc điều tiết kinh tế và tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, nội dung còn phân tích các trường hợp được miễn, giảm thuế và những vấn đề thực tiễn trong quản lý, kê khai và nộp thuế GTGT, mang lại kiến thức toàn diện và thực tế cho người học.

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương IX

    Chương 9: Pháp luật thuế GTGT

    1. Phạm vi áp dụng

    – Người nộp thuế: gồm

    + tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT

    + tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa

    – Đối tượng chịu thuế GTGT: là đa số hàng hóa, dịch vụ

    – Đối tượng không chịu thuế GTGT: hiện nay có 26 loại hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT, gồm:

    + những hàng hóa thuộc chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp:

    • Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất thủy hải sản do tổ chức, cá nhân tự sản xuất, tự bán ra
    • Giống vật nuôi, cây trồng
    • Dịch vụ tưới tiêu nội đồng
    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương IX
    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương IX

    + những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với sự phát triển của cộng đồng

    • Dạy học, dạy nghề, dạy văn hóa
    • Dịch vụ khám chữa bệnh
    • In ấn sách báo chính trị, khoa học, giáo khoa, giáo trình

    + xe buýt nội đô

    + các hàng hóa, dịch vụ đặc thù: vũ khí, dịch vụ tín dụng, các máy móc thiết bị được dùng làm tài sản cố định mà VN chưa sản xuất được

    Bài tập: Các trường hợp dưới đây có nằm trong phạm vi áp dụng của thuế GTGT không:

    (a) Công ty A trồng cà phê, bán hạt cà phê cho công ty B, công ty B lại bán hạt cà phê đó cho Công ty C

    (b) A trồng cà phê, A sản xuất cà phê hòa tan đóng gói để bán

    Trả lời:

    (a) Hạt cà phê là sản phẩm trực tiếp từ việc trồng cà phê, nên A không phải chịu thuế GTGT, B và C phải chịu thuế GTGT do chỉ làm khâu thương mại, mua đi bán lại hạt cà phê

    (b) A vẫn phải chịu thuế GTGT do không phải bán sản phẩm từ trồng cà phê, mà đã sản xuất ra thứ khác với hạt cà phê để bán ra.

    Tương tự như vậy, nếu người nuôi lợn rồi bán nguyên con lợn đó thì không chịu thuế GTGT, còn nếu chế biến con lợn thành giò, chả, thịt hun khói, … thì phải chịu thuế GTGT.

    2. Căn cứ tính thuế

    a. Thuế suất

    – Thuế GTGT có 03 mức thuế suất:

    + mức 5%: áp dụng cho hàng hóa có tính chất tư liệu sản xuất cơ bản

    + mức 10%: là mức thuế phổ biến nhất

    + mức 0%: áp dụng cho tất cả các hàng hóa khi xuất khẩu (nhằm hỗ trợ tính cạnh tranh của hàng hóa VN trên thị trường quốc tế)

    Câu hỏi: So sánh hàng hóa chịu thuế GTGT 0% với hàng hóa không chịu thuế ?

    Trả lời:

    Chịu thuế GTGT 0%Miễn thuế GTGT
    Đối tượng áp dụngTất cả hàng hóa xuất khẩu: tức là hàng hóa qua biên giới, hoặc vào khu chế xuất, xuất khẩu tại chỗ (là trường hợp 2 doanh nghiệp chế xuất không cùng một khu chế xuất khi mua bán nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, thiết bị, vật tư tiêu hao cho nhau).Hình thức thể hiện của xuất khẩu:+ có hợp đồng ngoại thương+ có xác nhận của hải quan về việc hàng đã được xuất khẩu+ thanh toán qua ngân hàngÁp dụng cho 1 số hàng hóa:+ những hàng hóa thuộc chính sách phát triển nông nghiệp:ü  Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất thủy hải sản do tổ chức, cá nhân tự sản xuất, tự bán raü  Giống vật nuôi, cây trồngü  Dịch vụ tưới tiêu nội đồng+ những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với sự phát triển của cộng đồngü  Dạy học, dạy nghề, dạy văn hóaü  Dịch vụ khám chữa bệnhü  In ấn sách báo chính trị, khoa học, giáo khoa, giáo trình+ xe buýt nội đô+ các hàng hóa, dịch vụ đặc thù: vũ khí, dịch vụ tín dụng, các máy móc thiết bị được dùng làm tài sản cố định mà VN chưa sản xuất được
    Thuế đầu ra0Không chịu thuế
    Thuế đầu vàoĐược khấu trừ toàn bộ thuế đầu vào cho toàn bộ hàng hóa xuất khẩu và trên nguyên tắc sẽ được hoàn trả lạiKhông được khấu trừ thuế đầu vào

    2. Giá tính thuế

    – Với hàng hóa thông thường:

    + hàng hóa trong nước sản xuất:

    Giá tính thuế GTGT = Giá bán (không có thuế GTGT) = Doanh thu

    + hàng hóa nhập khẩu:

    Giá tính thuế GTGT = [Giá nhập khẩu] + [thuế nhập khẩu]

    = [Giá nhập khẩu] + [Giá nhập khẩu] x [Thuế suất của hàng hóa nhập khẩu]

    – Với hàng hóa đặc biệt:

    + hàng hóa trong nước sản xuất:

    Giá tính thuế GTGT = Giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt

    + hàng hóa nhập khẩu:

    Giá tính thuế GTGT = [Giá nhập khẩu] + [thuế nhập khẩu] + [thuế tiêu thụ đặc biệt]

    3. Phương pháp tính thuế

    a. Phương pháp khấu trừ

    – Đối tượng áp dụng: là chủ thể kinh doanh

    + chấp hành chế độ hạch toán kế toán

    + có đăng ký thuế: được cấp mã số thuế

    + đăng ký với cơ quan thuế và được cơ quan thuế chấp nhận nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

    + sử dụng hóa đơn GTGT

    – Cách tính thuế:

    Thuế GTGT phải nộp = [thuế GTGT đầu ra] – [thuế GTGT đầu vào]

    = [giá tính thuế] x [thuế suất GTGT] – [tổng thuế GTGT đầu vào]

    – Điều kiện để khấu trừ thuế đầu vào:

    + thuế đầu vào phải được sử dụng để sản xuất hàng hóa chịu thuế. Trong trường hợp vừa sản xuất hàng hóa chịu thuế, vừa sản xuất hàng hóa không chịu thuế, thì phải hạch toán riêng, nếu không hạch toán riêng được thì trừ theo tỷ lệ giữa doanh thu của hàng hóa chịu thuế trên tổng doanh thu.

    + thuế đầu vào phải được thể hiện trên Hóa đơn GTGT hợp pháp

    + nếu hóa đơn có giá trị trên 20 triệu thì phải thanh toán qua ngân hàng

    Bài tập: Công ty A trong kỳ thuế có các hoạt động:

    + xuất khẩu có doanh thu 300

    + doanh thu từ bán hạt cà phê do cơ sở tự trồng là 200

    + doanh thu từ bán hàng nội địa là 500

    Hãy tính thuế GTGT của công ty A trong kỳ, biết rằng:

    • Công ty áp dụng phương pháp tính thuế GTGT khấu trừ, thuế suất là 10%
    • Công ty hạch toán chung đã hoạt động
    • Hóa đơn chứng từ hợp pháp
    • Không có thuế từ kỳ trước chuyển sang
    • Thuế đầu vào được xác định là 40

    Trả lời:

    – Thuế đầu ra gồm các khoản:

    + với hàng xuất khẩu = 300 x 0 = 0

    + với hàng nội địa = 500 x 10% = 50

    Hạt cà phê do cơ sở tự trồng là hàng hóa không chịu thuế GTGT

    ==> Tổng thuế đầu ra là: 0 + 50 = 50

    – Tỷ lệ thuế được khấu trừ = (300 + 500) / (300 + 200 + 500) = 80%

    ==> thuế GTGT được khấu trừ = 40 x 80% = 32

    – Thuế GTGT phải nộp = 50 – 32 = 18

    b. Phương pháp trực tiếp

    Câu hỏi: So sánh phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tài chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-tai-chinh?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tài chính chương VIII

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương VIII

    “Bài giảng môn học Luật Tài chính chương VIII” xoay quanh pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) – loại thuế áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu hoặc có tác động tiêu cực đến xã hội như rượu, bia, thuốc lá, ô tô, xăng dầu. Nội dung bài giảng cung cấp cái nhìn chi tiết về đối tượng chịu thuế, phương pháp tính thuế, vai trò của thuế TTĐB trong điều tiết tiêu dùng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương VIII

    Chương 8: Pháp luật thuế TTDB

    1. Đối tượng chịu thuế

    – Là những mặt hàng mà NN không khuyến khích tiêu dùng, vì:

    + có tác hại chung đến cộng đồng, như rượu, bia, thuốc lá, …

    + những hàng hóa có tính chất xa xỉ, như ô tô, máy bay, du thuyền, …

    + những hàng hóa có tính chất nhạy cảm về mặt xã hội, như dịch vụ massage, karaoke, vũ trường, …

    Nguyên nhân khác là những mặt hàng này thường có doanh thu và lợi nhuận rất cao.

    2. Người nộp thuế

    – Tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu hàng tiêu thụ đặc biệt

    – Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ tiêu thụ đặc biệt

    3. Trường hợp không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

    – Cơ sở sản xuất hàng tiêu thụ đặc biệt để xuất khẩu hoặc ủy quyền xuất khẩu

    – Cơ sở sản xuất bán cho 1 cơ sở sản xuất khác để cơ sở sản xuất này xuất khẩu. Nếu cơ sở xuất khẩu không xuất khẩu được thì sẽ phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

    Chú ý: thực tế các doanh nghiệp thường lợi dụng quy định này để trốn, giảm hoặc hoãn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt (có thể dùng các biện pháp kế toán để hoãn nộp 2-3 năm)

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương VIII
    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương VIII

    4. Căn cứ tính thuế

    – Thuế suất: thường rất cao (so với thuế GTGT tối đa là 10%)

    – Giá tính thuế:

    + với hàng nội địa:

    Giá tính thuế TTĐB = [Giá bán (chưa có thuế GTGT) ] / (1 + thuế suất)

    + với hàng nhập khẩu:

    Giá tính thuế TTĐB = [Giá nhập khẩu] + [Thuế nhập khẩu]

    – Thuế tiêu thụ đặc biệt:

    Thuế TTĐB = [Giá tính thuế TTĐB] x [thuế suất TTĐB]

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tài chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-tai-chinh?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.