Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Tội phạm học chương II

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương II

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương II tập trung vào Lịch sử ra đời và phát triển của Tội phạm học, là phần kiến thức cơ bản giúp sinh viên hiểu rõ về quá trình hình thành và phát triển của lĩnh vực nghiên cứu tội phạm. Chương này sẽ cung cấp những thông tin quan trọng về sự phát triển của Tội phạm học từ những nền tảng lý thuyết sơ khai cho đến khi trở thành một ngành khoa học xã hội độc lập, nghiên cứu về nguyên nhân, hậu quả của tội phạm, cũng như các biện pháp phòng ngừa và xử lý tội phạm trong xã hội hiện đại.

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương II

    Chương 2: Lịch sử ra đời và phát triển của Tội phạm học

    I. Trường phái tội phạm học cổ điển

    – Thời gian tồn tại: từ 1700 đến 1880

    – Học giả tiêu biểu:

    + Cesare Beccaria: được coi là ông tổ của tội phạm học cổ điển, với tác phẩm kinh điển “Tội phạm và hình phạt” năm 1764

    + Jeremy Bentham: học trò của Cesare Beccaria, với tác phẩm nổi tiếng “Lời giới thiệu tới các nguyên tắc của đạo đức và luật pháp” năm 1798

    1. Nội dung chính

    – Khoảng thế kỷ 18, ở châu Âu xuất hiện “thời kỳ khai sáng”. Đây là giai đoạn của Triết học, chi phối hầu hết tri thức của nhân loại.

    – Theo quan điểm của triết học thì nguyên nhân của tội phạm là do tự do ý chí và suy nghĩ lý trí.

    Quan điểm này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, thể hiện ở yếu tố “có lỗi” “lỗi cố ý” trong PL hình sự.

    2. Nguyên nhân của tội phạm theo quan điểm của các học giả tội phạm học cổ điển

    a. Cesare Beccaria

    – Cesare Beccaria cũng thừa nhận và khẳng định suy cho cùng nguyên nhân của tội phạm là do các yếu tố thuộc về cá nhân. Năm 1764, Cesare Beccaria xuất bản cuốn sách: “Tội phạm và hình phạt”, trong đó có nhiều quan điểm tiến bộ, ông cũng đề cao vai trò phòng ngừa tội phạm của hình phạt.

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương II
    Bài giảng môn học Tội phạm học chương II

    – Theo Cesare Beccaria, hình phạt là phương tiện để phòng ngừa tội phạm hiệu quả, cách tốt nhất để phòng ngừa tội phạm là luật phải được quy định đơn giản và rõ ràng, khen thưởng người có đạo đức tốt và cải thiện nền giáo dục, bên cạnh đó cần cải thiện hệ thống tư pháp hình sự theo hướng nhân đạo.

    Cesare Beccaria đưa ra nhiều quan điểm tiến bộ:

    + không có bất kỳ ai được đứng trên luật pháp, kể cả giới quý tộc và những nhà lãnh đạo

    + đồng thời mọi người đều bình đẳng, nên việc người này quyết định tước đoạt mạng sống của người khác là vô lý, nên Cesare Beccaria đề nghị bỏ án tử hình

    + phòng ngừa tội phạm tốt hơn là trừng trị tội phạm

    + khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào hành vi phạm tội chứ không được căn cứ vào chủ thể phạm tội

    + thẩm phán là người áp dụng PL chứ không phải là người ban hành PL (rất phù hợp với quan điểm của hệ thống Civil Law, nhưng lại trái với quan điểm của Common law)

    + khi quyết định hình phạt phải dựa trên “niềm vui thích” và “sự đau khổ”: khi 1 người thực hiện hành vi phạm tội vui thích như thế nào, thì khi họ phải chịu hình phạt họ sẽ phải chịu đau khổ tương ứng như vậy

    ==> đến tận ngày nay tư tưởng của Cesare Beccaria vẫn được nhiều quốc gia tuân theo để xây dựng hệ thống tư pháp dân chủ và hiệu quả

    b. Jeremy Bentham

    – Theo Jeremy Bentham thì nguyên nhân của tội phạm cũng là do tự do ý chí và suy nghĩ lý trí. Tên tuổi của ông gắn liền với “thuyết vị lợi” (thuyết thực dụng): trước khi thực hiện hành vi phạm tội, con người bao giờ cũng cân nhắc giữa cái được và cái mất, nếu cái được nhiều hơn cái mất thì họ sẽ thực hiện hành vi, ngược lại nếu cái được ít hơn cái mất thì họ sẽ không thực hiện hành vi ==> do đó hình phạt phải tương ứng với hành vi phạm tội và đây là biện pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả

    – Jeremy Bentham đề ra 3 giải pháp phòng ngừa tội phạm:

    + cải cách lại hệ thống nhà tù: xây dựng nhà thù theo kiến trúc “hình xoáy ốc”, theo đó người quản tù đứng ở vị trí trung tâm của “xoáy ốc” để quan sát mọi hành vi của tù nhân (bị coi là vi phạm nhân quyền vì ngay cả tù nhân cũng vẫn còn 1 số quyền con người)

    + xăm trổ lên người phạm tội: để ngăn ngừa nguy cơ người phạm tội tái phạm (tuy nhiên lại bị coi là vi phạm nhân quyền)

    + xây dựng đội cảnh sát tuần tra: biện pháp này được sử dụng rộng rãi trên thế giới đến tận ngày nay

    II. Trường phái tội phạm học thực chứng

    – Thời gian tồn tại: chia làm 2 giai đoạn

    + 1880 – 1930: giai đoạn đầu

    + 1930 – nay: thời kỳ hiện tại

    – Học giả tiêu biểu:

    + Cesare Lombroso: cha đẻ của tội phạm học thực chứng, với tác phẩm “Người phạm tội”

    + Enrico Ferri, Raffaele Garofalo, Buckman Goring, …

    1. Nội dung chính

    – Từ nửa cuối thế kỷ 19, triết học không còn giữ vai trò độc tôn, nhiều ngành khoa học mới xuất hiện, trong đó nổi lên là sự xuất hiện của chủ nghĩa thực chứng: muốn tìm hiểu 1 sự vật, hiện tượng hoặc tìm ra quy luật cần phải sử dụng phương pháp khoa học.

    – Theo chủ nghĩa thực chứng, con người không phải hoàn toàn được tự do lựa chọn thực hiện hành vi phạm tội, nói cách khác có những nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của họ dẫn đến hành vi phạm tội của họ. Nhiều nhà khoa học đã ứng dụng thành tựu của các ngành khoa học khác để nghiên cứu về con người phạm tội, từ đó giải thích nguyên nhân của tội phạm, như ứng dụng các thành tựu của sinh vật học, tâm lý học, xã hội học, …

    2. Nguyên nhân của tội phạm theo quan điểm của các nhà tội phạm học thực chứng

    a. Các thuyết sinh học quyết định

    – Cesare Lombroso:

    + Là người đầu tiên kết hợp giữa chủ nghĩa thực chứng và nghiên cứu về sinh học của Darwin về nguồn gốc loài người để giải thích nguyên nhân của tội phạm. Ông cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do các yếu tố sinh học quyết định. Năm 1876, ông xuất bản cuốn sách “Người phạm tội”, trong đó đưa ra khái niệm “người phạm tội bẩm sinh” hay người mắc bệnh “lại giống”.

    + Cesare Lombroso đã thay thế quan niệm của tội phạm học cổ điển (cho rằng tự do ý chí, sự lựa chọn của cá nhân là nguyên nhân của tội phạm) bằng quan điểm cho rằng nguồn gốc phát sinh tội phạm bắt nguồn từ nguyên nhân loại cơ thể. Theo đó ông đã phát triển tội phạm học theo hướng mới, giải thích nguyên nhân của tội phạm thông qua nghiên cứu và thí nghiệm, đó chính là trường tội phạm học thực chứng. Cụ thể ông đã sử dụng rộng rãi các biện pháp và phương pháp thống kê trong việc xử lý các dữ liệu về nhân chủng học, xã hội, kinh tế.

    + Bằng cách nghiên cứu hộp sọ, diện mạo khuôn mặt, hình dáng của những người tù (còn sống hoặc đã chết), Cesare Lombroso cho rằng có thể đoán biết họ có phải là người phạm tội bẩm sinh hay không, tức là có đồng thời 5 đặc điểm (cả nam và nữ):

    • Miệng rộng, hàm răng khỏe, trán dốc, ngắn (là những đặc điểm của loài ăn thịt sống)
    • Xương gò má nhô cao, mũi bẹt
    • Tai hình dáng quai xách (tai vểnh)
    • Mũi diều hâu, môi to dày, mắt gian xảo, lông mày rậm
    • Không nhạy cảm với đau đớn, cánh tay dài hơn cẳng chân (giống loài khỉ)

    + Cesare Lombroso cho rằng người phạm tội có đặc điểm giống với tổ tiên của loài người hơn là công dân bình thường, đó là những dấu hiệu của bệnh “lại giống”, tức là quay trở lại với giống nòi của mình (loài khỉ, vượn người), có những đặc điểm nổi bật của loài người ở giai đoạn phát triển thấp, trước khi họ trở thành người.

    + Để phòng ngừa tội phạm, Cesare Lombroso cho rằng cần biệt lập những người phạm tội bẩm sinh khỏi xã hội mà không cần chờ đến lúc họ phạm tội. Tuy nhiên ông ủng hộ quan điểm cần đối xử nhân đạo với người phạm tội và phản đối việc áp dụng án tử hình đối với người phạm tội.

    – Ernst Kretschmer, William Sheldon: đưa ra trường phái “kiểu cơ thể”, theo đó kiểu “to, khỏe, lực lưỡng” có nguy cơ phạm tội cao hơn so với 2 kiểu “gày gò, ốm yếu, vai hẹp” và “cao trung bình, mũm mĩm, cổ to, mặt rộng”

    – Richard Louis Dugdale, Henry Goddard: đưa ra Thuyết phạm tội do thừa kế, theo đó người phạm tội là do kế thừa “gen xấu” từ thế hệ trước. Cơ sở là sự nghiên cứu của 1 số dòng họ có tỷ lệ người phạm tội nhiều hơn so với các dòng học khác.

    + thuyết “phạm tội do thừa kế” dẫn tới sự hình thành và phát triển của phong trào “ưu sinh”, là phong trào sinh sản có điều khiển để cải tạo chất lượng nòi giống. Theo đó để phòng ngừa tội phạm thì phải không để cho gen xấu từ thế hệ trước truyền sang thế hệ sau, tức là “triệt sản” đối với người phạm tội. Phong trào ưu sinh phát triển và lan rộng khắp nước Mỹ từ những năm 1920 đến trước thế chiến II. Sau đó phong trào này lan sang châu Âu, là đỉnh điểm là khi phát xít Đức lợi dụng triệt để để tàn sát người Do Thái và người tàn tật.

    – Patricia Jacobs: đưa ra Thuyết nhiễm sắc thể, theo đó người phạm tội là do có kiểu nhiễm sắc thể bất thường

    a. Các thuyết tâm lý quyết định

    – Gabriel Tarde: đưa ra Thuyết bắt chước, theo đó nguyên nhân của tội phạm là do 1 người đã bắt chước hành vi phạm tội của người khác mà người đó có cơ hội quan sát. Có 3 loại bắt chước:

    + những người có địa vị ngang bằng nhau và có tần số tiếp xúc thường xuyên với nhau thì có xu hướng bắt chước nhau (cá nhân bắt chước những người khác cân xứng với mức độ và tần số tiếp xúc của họ). VD bạn bè thường có xu hướng bắt chước nhau

    + người ở tầng lớp dưới thường bắt chước người ở tầng lớp cao hơn. VD trẻ con bắt chước người lớn, học sinh bắt chước thầy cô, người nông thôn bắt chước người thành thị

    ==> ngày nay vẫn còn giá trị: ở việc coi trọng giáo dục, coi trọng việc “làm gương” của cha mẹ, thầy cô

    + nếu có nhiều khuynh hướng, khuôn mẫu khác nhau thì con người sẽ chọn cái chiếm ưu thế hơn

    ==> ngày nay vẫn còn giá trị: tác động của phương tiện truyền thông, mạng xã hội, phim ảnh đến giới trẻ

    – Sigmund Freud: thuyết phân tâm học, cho rằng tồn tại năng lực tình dục thúc đẩy hành vi của con người. Năng lực tình dục đó được gọi là libido, trong libido có 2 lực lượng đối chọi nhau là bản năng sống (eros-hướng tới hoạt động) và bản năng chết (thanatos-hướng tới hoạt động tự hủy diệt). Ông đưa ra khái niệm bản năng, bản ngã, siêu bản ngã:

    + bản năng tượng trưng cho phần vô thức và chống đối xã hội của cá nhân

    + bản ngã tượng trưng cho cho phần ý thức và ý chí của cá nhân

    + siêu bản ngã biểu hiện cho phần giá trị văn hóa với chức năng như là lương tâm cá nhân

    Theo Freud, hành vi tội phạm diễn ra khi ở 1 cá nhân, phần bản năng lấn át bản ngã trong khi siêu bản ngã hoạt động kém hiệu quả

    b. Thuyết xã hội quyết định

    – Emile Durkkeim: thuyết rối loạn tổ chức xã hội, theo đó hành vi phạm tội không phải do các yếu tố thuộc về cá nhân mà là do các yếu tố thuộc về môi trường, về xã hội, cụ thể là do sự rối loạn, vô tổ chức của xã hội, do sự phân công lao động xã hội không hợp lý. Quan điểm của Emile Durkkeim:

    + tội phạm là tồn tại tất yếu của xã hội: tức là tội phạm không thể biến mất, chỉ có thể hạn chế, đẩy lùi tội phạm; nếu tội phạm biến mất thì xã hội cũng tiêu vong

    + tội phạm là thước đo cho sự phát triển của xã hội: VD trước đây chưa hề có khái niệm về “tội phạm công nghệ cao”, chỉ đến khi khoa học phát triển thì mới xuất hiện loại tội phạm này. Chính về vậy quan sát tội phạm có thể đánh giá được mức độ phát triển của xã hội đó.

    – Edwin Sutherland: đưa ra thuyết học lại từ xã hội, theo đó hành vi phạm tội là do sự “học lại” hành vi của một nhóm xã hội (khác với thuyết bắt chước là sự “học hỏi” từ 1 cá nhân khác)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Tội phạm học chương IV

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương IV

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương IV cung cấp kiến thức về Nguyên nhân của tội phạm, một chủ đề trọng tâm trong nghiên cứu tội phạm học. Chương này giải thích các yếu tố xã hội, tâm lý, kinh tế, và văn hóa có thể dẫn đến hành vi phạm tội. Sinh viên sẽ được tìm hiểu về những lý thuyết và mô hình giải thích nguyên nhân tội phạm, từ yếu tố cá nhân đến tác động từ môi trường sống và các yếu tố xã hội vĩ mô.

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương IV

    Chương 4: Nguyên nhân của tội phạm

    I. Khái niệm

    – Là tổng hợp các nhân tố mà trong sự tác động qua lại giữa chúng dẫn tới việc thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội.

    Chú ý: khác với chương II khi nghiên cứu các học thuyết về nguyên nhân của tội phạm là do các nhân tố đơn lẻ, còn ở chương IV coi nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp của tất cả các nhân tố

    – Các nhân tố gồm:

    + thuộc về cá nhân người phạm tội

    + thuộc về môi trường, xã hội

    + tình huống cụ thể

    – Nhân tố môi trường, xã hội:

    + môi trường xã hội vĩ mô: là môi trường lớn, không trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của cá nhân, như đường lối chính sách, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, tuyên truyền phổ biến PL

    + môi trường xã hội vi mô: là các tiểu môi trường, trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách cá nhân, như môi trường gia đình, trường lớp, nơi làm việc, khu dân cư, các đoàn hội mà cá nhân tham gia

    VD: 1 đứa trẻ sinh ra trong gia đình mà bị bố mẹ ngược đãi, hay dùng bạo lực thì khi lớn lên sẽ có khuynh hướng chống đối xã hội

    – Khi phân tích về vai trò của môi trường xã hội không thuận lợi đối với sự hình thành nhân cách người phạm tội, người ta chia làm 3 giai đoạn:

    + Giai đoạn 1: hình thành khuynh hướng chống đối xã hội của cá nhân

    + Giai đoạn 2: hình thành quyết định phạm tội

    + Giai đoạn 3: thực hiện hành vi phạm tội

    II. Tình huống cụ thể

    1. Khái niệm

    – Tình huống cụ thể là toàn bộ những cơ hội, hoàn cảnh có ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện hành vi phạm tội.

    – Trong một số trường hợp phạm tội nhất định, tình huống cụ thể đóng vai trò như 1 nguyên nhân phát sinh tội phạm.

    2. Phân loại tình huống cụ thể

    – Căn cứ vào mức độ phức tạp của tình huống và khả năng giải quyết của chủ thể:

    + tình huống căng thẳng, phức tạp kéo dài được chủ thể cảm nhận bế tắc, không lối thoát. Ví dụ A và B là 2 vợ chồng, A thường xuyên đánh đập chị B, 1 lần sau khi bị chồng đánh, chị B đã dùng dao đâm chết chồng ==> trong trường hợp này chị A được coi đã lâm vào “tình huống căng thẳng, kéo dài, không lối thoát”

    + tình huống diễn ra nhanh chóng, chớp nhoáng. Ví dụ A và B là 2 vợ chồng, không hề có mâu thuẫn nào, nhưng trong 1 lần anh A chứng kiến chị B ngoại tình với anh C trong nhà mình, và anh A đã dùng dao đâm chết anh C ==> anh A đã lâm vào “tình huống nhanh chóng, chớp nhoáng”

    + tình huống dễ dàng, thuận lợi. Ví dụ chủ xe máy đỗ xe trên vỉa hè vào cửa hàng mua đồ nhưng lại quên không rút chìa khóa xe; hoặc chủ nhà đi vắng mà quên không khóa cửa

    – Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện của tình huống:

    + tình huống do con người tạo ra: Ví dụ anh A lập ra Công ty nhưng thực chất để che đậy cho việc chiếm đoạt tài sản

    + tình huống do tự nhiên tạo ra: ví dụ lợi dụng nhà hàng xóm bị hỏa hoạn do chậm điện liên sang “hôi của”

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương IV
    Bài giảng môn học Tội phạm học chương IV

    3. Vai trò của tình huống cụ thể trong cơ chế của hành vi phạm tội

    – Trong 1 số trường hợp, tình huống cụ thể đóng vai trò là 1 nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội

    – Trong 1 số trường hợp khác, tình huống cụ thể chỉ đóng vai trò tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội (trước đó đã có sẵn động cơ) dễ dàng, nhanh chóng thức hiện hành vi phạm tội.

    III. Nạn nhân của tội phạm

    – Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hai gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác.

    – Hai loại nạn nhân:

    + nạn nhân trực tiếp

    + nạn nhân gián tiếp: người sống phụ thuộc vào nạn nhân trực tiếp, VD con nhỏ, cha mẹ già

    – Trong 1 số trường hợp, vai trò của nạn nhân là nguyên nhân phát sinh tội phạm hoặc là nguyên nhân thúc đẩy tội phạm được thực hiện. VD chủ tài sản để tài sản hớ hênh, cô gái ăn mặc lẳng lơ đi vào nơi vắng vẻ

    – Một số trường hợp phát sinh tội phạm có liên quan đến nạn nhân:

    + nạn nhân thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế. VD nạn buôn người, lừa đảo người lao động xuất ngoại

    + nạn nhân phô trương tài sản, hoặc mất cảnh giác, sơ hở trong bảo vệ tài sản

    + nạn nhân hám lợi, phản trắc, bội bạc

    + khả năng tự bảo vệ của nạn nhân còn hạn chế

    + sự dễ dãi hoặc quá tự tin với an ninh của bản thân

    + nạn nhân có lối sống vô đạo đức hoặc có hành vi trái PL

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Tội phạm học chương V

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương V

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương V tập trung vào Dự báo tội phạm và phòng ngừa tội phạm, là hai nội dung quan trọng trong việc xây dựng chính sách hình sự và an ninh xã hội. Chương này sẽ cung cấp cho sinh viên các phương pháp, kỹ thuật để dự đoán xu hướng và mô hình tội phạm trong tương lai, từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm phòng ngừa và giảm thiểu tội phạm.

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương V

    Chương 5: Dự báo tôi phạm và phòng ngừa tội phạm

    I. Khái niệm

    – Dự báo tội phạm là toàn bộ những hoạt động phân tích, đánh giá và đưa ra phán đoán về tội phạm sẽ xảy ra trong tương lai trên 1 địa bàn nhất định.

    – Phân loại dự báo tội phạm:

    + căn cứ theo thời gian sự báo:

    • Dự báo tội phạm ngắn hạn
    • Dự báo tội phạm trung hạn
    • Dự báo tội phạm dài hạn

    Chú ý: việc quy định thời gian thế nào là ngắn hạn, trung hạn, dài hạn là theo từng chủ thể và theo mục đích của nghiên cứu, không có quy định cụ thể.

    + căn cứ theo đối tượng:

    • Dự báo tình hình tội phạm
    • Dự báo tội phạm cá biệt: trên cơ sở nghiên cứu những vụ án có cùng tính chất, cùng đặc điểm xảy ra nhưng thủ phạm chưa bị bắt, và cơ quan điều tra có cơ sở để cho rằng những vụ án đó có cùng chủ thể phạm tội, VD vụ án giết người hàng loạt, trộm cắp hàng loạt, cướp hàng loạt … cơ quan điều tra nghiên cứu để tìm ra các quy luật, qua đó thực hiện “đón lõng” tội phạm
    Bài giảng môn học Tội phạm học chương V
    Bài giảng môn học Tội phạm học chương V

    II. Cơ sở khoa học của việc dự báo tội phạm

    – Đồng thời phải dựa trên các căn cứ sau:

    + số liệu chính xác về tình hình tội phạm đã xảy ra trên địa bàn cần dự báo trong 1 khoảng thời gian đủ dài

    + các tài liệu và số liệu minh họa về nguyên nhân của tội phạm

    + sự thay đổi của PL, đặc biệt của PL hình sự

    + các hiện tượng của đời sống xã hội, đặc biệt là các hiện tượng tiêu cực

    + hiệu quả của công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

    + ý thức PL của công dân

    + sự tuyên truyền, phổ biến PL

    + xu thế hội nhập trên toàn cầu

    III. Phương pháp dự báo tội phạm

    – Có nhiều phương pháp khác nhau, trong đó thường sử dụng 3 nhóm phương pháp:

    + phương pháp ngoại suy

    + phương pháp mô hình hóa

    + phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia

    Phòng ngừa tội phạm
    I. Khái niệm
    – Khái niệm: là việc áp dụng tổng thể các biện pháp kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, … do các chủ thể phòng ngừa tội phạm tiến hành nhằm ngăn ngừa, hạn chế tội phạm.

    Ngăn ngừa, hạn chế về:

    • số lượng vụ phạm tội
    • mức độ phạm tội
    • hậu quả phạm tội

    – Chủ thể của hoạt động phòng ngừa tội phạm: là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội. Nói cách khác là trách nhiệm của cộng đồng.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương II

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương II

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương II: Cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự cung cấp kiến thức chi tiết về vai trò, nhiệm vụ của các cơ quan như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và những người tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, bài giảng còn phân tích quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, luật sư, người làm chứng. Đây là tài liệu quan trọng giúp người học hiểu rõ quy trình tố tụng và mối quan hệ giữa các chủ thể trong hệ thống pháp luật hình sự.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương II

    Chương 2: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự

    I. Cơ quan tiến hành tố tụng

    Gồm : Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án

    1. Cơ quan điều tra

    – Chủ yếu ở 2 nơi:

    + CQĐT trong công an

    + CQĐT trong quân đội

    Ngoài ra còn có CQĐT của VKSNDTC chỉ điều tra tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của cơ quan tư pháp

    a. CQĐT trong Công an nhân dân

    + cơ quan cảnh sát điều tra: cấp huyện, cấp tỉnh, cấp bộ

    + cơ quan an ninh điều tra: cấp tỉnh, cấp bộ (chỉ điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại hòa bình, tội phạm chiến tranh ==> là các tội nặng, phức tạp nên không có ở cấp huyện)

    b. CQĐT trong quân đội nhân dân

    + CQĐT hình sự bộ Quốc phòng

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương II
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương II

    + cơ quan an ninh điều tra bộ Quốc phòng

    c. CQĐT của VKSNDTC

    + CQĐT của VKSNDTC

    + CQĐT VKS quân sự TW

    2. Viện kiểm sát

    + VKSNDTC

    + VKS cấp cao: chỉ có ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh

    + VKS cấp tỉnh

    + VKS cấp huyện

    3. Tòa án

    + TANDTC

    + Tòa án cấp cao: chỉ có ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh

    + Tòa án cấp tỉnh

    + Tòa án cấp huyện

    II. Người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng

    1. Người tiến hành tố tụng

    – Cơ quan điều tra:

    + thủ trưởng / phó thủ trưởng

    + điều tra viên

    + cán bộ điều tra (mới bổ sung theo Luật TTHS 2015)

    – Viện kiểm sát:

    + viện trưởng / phó viện trưởng

    + kiểm sát viên

    + kiểm tra viên (mới bổ sung theo Luật TTHS 2015)

    – Tòa án:

    + chánh án / phó chánh án

    + thẩm phán

    + hội thẩm

    + thẩm tra viên (mới bổ sung theo Luật TTHS 2015)

    + thư ký tòa án

    2. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng

    a. Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng (Điều 42)

    Có 3 trường hợp:

    + họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo

    + họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó

    + có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

    b. Quyền đề nghị thay đổi người thực hành tố tụng (Điều 43)

    Khi phát hiện người tiến hành tố tụng thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Điều 42 mà họ không từ chối tham gia tố tụng, thì có quyền đề nghị thay đổi. Người có quyền đề nghị thay đổi gồm:

    + kiểm sát viên

    + bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ

    + người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự

    Chú ý: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

    III. Người tham gia tố tụng

    Gồm 3 nhóm:

    + người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

    + người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự

    + người tham gia tố tụng khác

    1. Người tham gia tố tụng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án

    – Có 7 loại: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

    a. Người bị tạm giữ (Điều 48)

    – Gồm 5 trường hợp:

    + người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp: phát hiện thấy tội phạm, cần bắt ngay để ngăn chặn chạy trốn

    + phạm tội quả tang: “bắt tận tay, day tận trán”, tức là đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện, thực hiện xong tội phạm thì bị phát hiện, và bị đuổi bắt ngay sau khi thực hiện tội phạm. Bất cứ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang (mà không cần lệnh bắt)

    + người bị bắt theo quyết định truy nã

    + người phạm tội tự thú

    + người phạm tội đầu thú

    – Quyền của người bị tạm giữ: Điều 48, khoản 2

    – Nghĩa vụ của người bị tạm giữ: theo Luật tạm giữ, tạm giam

    b. Bị can (Điều 49)

    – Là người đã bị khởi tố về hình sự: khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can (khoản 1 Điều 126).

    c. Bị cáo (Điều 50)

    – Là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử

    d. Người bị hại (Điều 51)

    – Là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra.

    Theo Luật TTHS 2003 thì người bị hại phải là con người tự nhiên; còn trong Luật TTHS 2015 thì mở rộng người bị hại gồm cả cơ quan, tổ chức

    e. Nguyên đơn dân sự (Điều 52)

    – Là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại

    Cá nhân là nguyên đơn trong trường hợp họ không phải là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm. Ví dụ: A giết B thì B là người bị hại, B là con 1 có bố mẹ già yếu, bố mẹ B yêu cầu A phải cấp dưỡng, khi đó bố mẹ của B là nguyên đơn với tư cách là cá nhân.

    Chú ý: nguyên đơn dân sự chỉ được quyền kháng cáo về bồi thường thiệt hại, không được kháng cáo về hình phạt dành cho bị đơn (như đối với người bị hại). Đây là bất cập dành cho nguyên đơn là tổ chức. Đến luật TTHS 2015 đã thay đổi, gộp Người bị hại và Nguyên đơn dân sự thành Bị hại.

    f. Bị đơn dân sự (Điều 53)

    – Là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

    VD: con chưa thành niên phạm tội, thì bố mẹ là bị đơn dân sự và phải bồi thường; lái xe cho cơ quan gây tai nạn thì cơ quan là bị đơn dân sự và phải bồi thường

    g. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 54)

    – Là người có quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.

    Chú ý: đây là 2 tư cách được quy định trong 1 điều luật, có người chỉ có quyền lợi liên quan đến vụ án, có người chỉ có nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có người có cả quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

    VD: A cho B mượn xe máy, B dùng xe máy đó đi cướp giật, khi đó A là người có quyền lợi liên quan đến vụ án (với điều kiện A không biết B dùng để đi cướp giật)

    VD: A trộm cắp chiếc nhẫn vàng và tặng cho B, khi đó B là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án (B sẽ phải trả lại chiếc nhẫn cho người bị mất)

    VD: A trộm chiếc nhẫn vàng và bán cho tiệm vàng, khi đó chủ tiệm vàng là người vừa có quyền lợi, vừa có nghĩa vụ liên quan đến vụ án: có nghĩa vụ phải trả lại chiếc nhẫn vàng, có quyền đòi lại tiền đã trả cho A để mua chiếc nhẫn đó

    Chú ý: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

    2. Người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự

    a. Người bào chữa

    – Là người được cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội

    – Người bào chữa có thể là (Điều 56):

    + luật sư: chú ý: luật sư nếu bảo vệ cho người bị đơn thì được gọi là người bào chữa; còn nếu bảo vệ cho người bị hại thì được gọi là người bảo vệ

    + bào chữa viên nhân dân: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình, VD hội phụ nữ cử người bảo vệ cho thành viên của mình, hội nông dân, …

    + người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

    – Những người không được bào chữa (Điều 56):

    + người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó

    + người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó

    + người tham gia tố tụng trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, hoặc người phiên dịch

    – Người bào chữa do người bị tạm giam, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn (luật TTHS 2015 quy định người thân thích của bị can, bị cáo cũng có quyền mời người bào chữa). Trong những trường hợp sau thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa (NN sẽ trả tiền thù lao):

    + bị can, bị cáo về tội mà theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự (đến luật TTHS quy định hạ xuống mức hình phạt từ 20 năm tù trở lên)

    + bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần

    – Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa (Điều 58)

    – Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong cùng 1 vụ án hình sự với điều kiện quyền và lợi ích của họ không đối lập với nhau

    – Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho 1 người bị tạm giam, bị can, bị cáo

    b. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự

    – Là người được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

    – Quyền và nghĩa vụ (Điều 59)

    3. Những người tham gia tố tụng khác

    a. Người làm chứng

    – Là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án, được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo về những vụ việc cần xác minh trong vụ án

    – Quyền và nghĩa vụ (Điều 55)

    – Những người không được làm chứng:

    + người bào chữa cho bị can, bị cáo

    + người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

    Chú ý: người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất những vẫn có khả năng nhận thức thì vẫn có thể trở thành người làm chứng, VD người mù vẫn có thể làm chứng để khai báo những gì nghe được, người điếc vẫn có thể làm chứng để khai báo những gì nhìn thấy được

    b. Người giám định

    – Là những người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu theo quy định của PL

    – Quyền và nghĩa vụ (Điều 60)

    c. Người phiên dịch

    – Là người biết ngôn ngữ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu tham gia tố tụng trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt

    – Quyền và nghĩa vụ (Điều 61)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương III

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương III

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương III: Chứng cứ và chứng minh cung cấp kiến thức nền tảng về các quy định pháp luật liên quan đến việc thu thập, đánh giá chứng cứ và quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự. Nội dung tập trung giải thích khái niệm chứng cứ, các loại chứng cứ, phương thức thu thập, cùng vai trò của chứng minh trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Đây là tài liệu cần thiết, giúp sinh viên và người học hiểu rõ quy trình xử lý chứng cứ và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn pháp lý.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương III

    Chương 3: Chứng cứ và chứng minh

    I. Chứng cứ trong tố tụng hình sự

    1. Cơ sở lý luận của chứng cứ trong tố tụng hình sự

    – Là lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng

    – Xuất phát từ sự thừa nhận khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quan

    2. Khái niệm về chứng cứ

    – Chứng cứ trong tố tụng hình sự là những thông tin, tài liệu có thật, có liên quan đến vụ án, được cơ quan có thẩm quyền dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cùng như những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án

    3. Các thuộc tính của chứng cứ

    – Tính khách quan: những thông tin, tài liệu, đồ vật được dùng làm chứng cứ phải có thật và phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án đã xảy ra

    – Tính liên quan: những thông tin, tài liệu, đồ vật được sử dụng phải là những cơ sở để xác định sự tồn tại hay không tồn tại vấn đề nào đó của đối tượng chứng minh mà trước hết là những vấn đề cần phải chứng minh quy định tại Điều 63.

    – Tính hợp pháp:

    + những thông tin, tài liệu, đồ vật này phải được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo quy định của PL. Ví dụ: mớm cung, dụ cung, nhục hình, … thì không được công nhận

    + những thông tin, tài liệu, đồ vật này phải được xác định bằng những nguồn chứng cứ được quy định tại Khoản 2 Điều 64, cụ thể gồm 4 nguồn như sau:

    • Vật chứng;
    • Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
    • Kết luận giám định;
    • Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

    4. Đối tượng chứng minh và nghĩa vụ chứng minh

    a. Đối tượng chứng minh

    – Là tổng hợp tất cả những vấn đề cần được xác định và làm rõ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

    – Đối tượng chứng minh (Điều 63):

    • Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội
    • Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội
    • Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo
    • Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

    – Ngoài ra còn có thể có các đối tượng cần chứng minh khác tùy từng trường hợp cụ thể.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương III
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương III

    VD đối tượng chứng minh đối với vụ án người chưa thành niên thì ngoài 4 đối tượng cần chứng minh quy định trong điều 63 thì còn cần chứng minh thêm:

    + độ tuổi, trình độ (mức độ phát triển về thể chất, tinh thần, khả năng nhận thức về hành vi của người phạm tội)

    + điều kiện sinh sống và giáo dục. VD nếu bố mẹ có tiền án, tiền sự thì sẽ không thể giao cho bố mẹ giáo dục được

    + có đồng phạm, bị xúi giục hay không, …

    b. Nghĩa vụ chứng minh

    – Cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh vụ án

    – Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình có tội

    Câu hỏi: Tại sao tòa án lại có nghĩa vụ chứng minh trong khi luật quy định tòa án là cơ quan xét xử ?

    Trả lời: Tòa án chứng minh để làm rõ sự thật khách quan của vụ việc chứ không phải để buộc tội, tòa án chứng minh để xem VKS có buộc tội đúng không chứ không phải chứng minh để buộc tội bị can, bị cáo

    Câu hỏi: Tại sao luật không quy định bị can, bị cáo phải có nghĩ vụ chứng minh, trong khi về lý thuyết họ là người hiểu rõ nhất hành vi của mình ?

    Trả lời: Không thể yêu cầu 1 người tự buộc tội mình vì không ai muốn phải chịu hình phạt, ngoài ra còn có lý do:

    + họ không đủ khả năng (tức là hiểu biết luật pháp) để buộc tội mình

    + theo nguyên tắc người buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh

    III. Nguồn chứng cứ

    – Là hình thức tồn tại của chứng cứ, là nơi rút ra chứng cứ, hoặc nơi chứa đựng chứng cứ

    – Nguồn chứng cứ được quy định tại Khoản 2 Điều 64, cụ thể gồm 4 nguồn như sau:

    • Vật chứng
    • Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
    • Kết luận giám định
    • Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

    1. Vật chứng (Điều 74)

    – Vật chứng là những vật thể mà dựa vào đó cơ quan có thẩm quyền xác định những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án.

    – Có thể chia vật chứng làm nhiều loại:

    + vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội. VD con dao để đâm người, chiếc xe máy để cướp giật trên đường

    + vật mang dấu vết của tội phạm. VD dấu vân tay trên cửa, vết máu trên tường

    + vật là đối tượng của tội phạm: là vật thể mà người phạm tội tác động vào, VD dí dao vào người để cướp xe

    + vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội. VD tài sản do phạm tội mà có

    – Vật chứng có giá trị bất biến theo thời gian, mang tính hoàn toàn khách quan, nên được coi là nguồn chứng cứ quan trọng nhất ==> Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản.

    – Thu thập và bảo quản vật chứng (Điều 75): thường được thu thập trong giai đoạn điều tra, thông qua các hoạt động như khám xét (khám người, khám chỗ ở, nơi làm việc, …), khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, hoặc thông qua hoạt động lấy lời khai bị can

    – Xử lý vật chứng (Điều 76):

    + thẩm quyền quyết định xử lý:

    • Cơ quan điều tra: nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra
    • Viện kiểm sát: nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố
    • Tòa án hoặc Hội đồng xét xử: ở giai đoạn xét xử

    + hướng xử lý vật chứng:

    • Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;
    • Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;
    • Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;
    • Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;
    • Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

    2. Lời khai của người tham gia tố tụng

    – Lời khai của người tham gia tố tụng phản ánh những dấu vết phi vật thể của vụ án, được thể diện dưới dạng văn bản

    a. Lời khai của người làm chứng (Điều 67)

    – Người làm chứng là người biết những tình tiết của vụ án được cơ quan tố tụng triệu tập đến để lấy lời khai

    – Chú ý khi lấy lời khai:

    + làm rõ quan hệ của người làm chứng với những người tham gia tố tụng khác

    + tình trạng thể chất, tinh thần của người làm chứng vào thời điểm xảy ra vụ án: vì thường họ lâm vào tình trạng hoảng loạn, hoảng hốt khi chứng kiến vụ án (nhất là với những vụ án nghiêm trọng như giết người)

    + cần xem xét các yếu tố khách quan, chủ quan có thể ảnh hưởng đến nhận thức của người làm chứng: ví dụ như ánh sáng, âm thanh, màu sắc, … ảnh hưởng đến nhận thức ==> nhằm tránh tình trạng “hoang báo” của người làm chứng

    – Lời khai của người làm chứng chỉ được dùng làm chứng cứ khi họ nói rõ vì sao biết được tình tiết đó

    b. Lời khai của người bị hại (Điều 68)

    – Người bị hại thường có tâm lý bị kích động, có xu hướng phóng đại hành vi phạm tội, phóng đại thiệt hại

    – Chú ý: lời khai của người bị hại chỉ được dùng làm chứng cứ khi họ nói rõ vì sao biết được tình tiết đó

    – Lời khai của người bị hại phải phù hợp với những chứng cứ khác thì mới được coi là chứng cứ

    c. Lời khai của bị can, bị cáo (Điều 72)

    – Lời khai của bị can là lời trình bày của người bị khởi tố hình sự; lời khai của bị cáo là lời trình bày của người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử

    – Lời khai của bị can được thu thập bằng hoạt động hỏi cung, lời khai của bị cáo được thu thập bằng hoạt động xét hỏi tại phiên tòa

    – Đặc điểm:

    + lời khai của bị can, bị cáo là lời trình bày của người trực tiếp thực hiện tội phạm, họ là người hiểu biết nhất về hành vi của mình

    + nếu bị can, bị cáo thành khẩn khai báo sẽ giúp rất nhiều cho việc xét xử vụ án một cách chính xác, nhanh chóng

    + bị can, bị cáo dùng lời khai của mình làm phương tiện để bảo vệ quyền gỡ tội của mình

    + tâm lý chung của bị can, bị cáo thường là chối tội, đổ lỗi cho người khác hoặc cho hoàn cảnh khách quan

    Chú ý: khai báo là quyền của bị  can, bị cáo (bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình có tội), nếu bị can, bị cáo thành khẩn khai báo thì sẽ là tình tiết giảm nhẹ, nhưng nếu ngoan cố không khai báo hoặc chối tội thì đó không phải là hình thức tăng nặng

    – Nội dung:

    + Lời khai của bị can, bị cáo chỉ được dùng làm chứng cứ khi nó phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án

    + Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội

    – Ý nghĩa: khác với trong luật thời phong kiến coi lời khai của bị can, bị cáo là chứng cứ quan trọng nhất để buộc tội, việc quy định như trên sẽ tránh được được lạm dụng quyền lực của cơ quan tố tụng để ép bị can, bị cáo phải nhận tội (tức là sử dụng những dụng những biện pháp trái PL để có được lời khai theo quan điểm của cơ quan tố tụng, có thể sai so với thực tế) ==> dẫn đến oan sai. VD trong thời hiện nay là vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, vụ ông Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận là minh chứng rõ nhất cho việc lạm dụng quyền lực dẫn đến oan sai

    3. Kết luận giám định (Điều 73)

    – Là sản phẩm của hoạt động chuyên môn của người giám định thể hiện trong văn bản kết quả giám định (của cá nhân hoặc hội đồng giám định) theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng

    – Người giám định chỉ được đưa ra kết luận giám định về những vấn đề thuộc về chuyên môn của họ, không được đưa ra kết luận ngoài phạm vi chuyên môn

    – Đặc điểm của kết luận giám định:

    + là nguồn chứng cứ quan trọng vì nó được đưa ra dựa trên kiến thức của người có chuyên môn khoa học

    + tuy nhiên, đây là nguồn có thể thay thế được (vì đều là do con người làm), có thể yêu cầu giám định bổ sung, giám định khác nếu có căn cứ để thấy người thực hiện giám định không khách quan, hoặc thuộc người không được giám định vụ án, hoặc nghi ngờ về năng lực giám định

    4. Biên bản hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án (Điều 77, 78)

    – Biên bản về hoạt động điều tra:

    + biên bản bắt người, khám xét

    + biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi

    + biên bản đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra

    – Biên bản về hoạt động xét xử:

    + biên bản phiên tòa

    + biên bản nghị án

    – Biên bản về các hoạt động tố tụng khác tiến hành theo quy định của Luật TTHS: ví dụ Biên bản thu giữ vật chứng, Biên bản thu giữ đồ vật khi khám xét, Biên bản kê biên tài sản, …

    – Tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp: ví dụ Hóa đơn, chứng từ do người tố giác cung cấp

    Chú ý: Luật TTHS 2015 bổ sung thêm 2 nguồn chứng cứ mới là :

    + dữ liệu điện tử, phương tiện điện tử: như tin nhắn (SMS), thư điện tử (email), máy vi tính tính, điện thoại

    + những tài liệu được chuyển giao trong công tác phòng chống tội phạm quốc tế: VN là thành viên của Interpol, đã ký nhiều Hiệp định hỗ trợ tư pháp với nhiều quốc gia ==> những tài liệu mà nước bạn cung cấp, chia sẻ cũng là nguồn chứng cứ (nhất là với tội phạm xuyên quốc gia)

    IV. Phân loại chứng cứ

    – Mục đích của phân loại chứng cứ: phân loại chứng cứ không nhằm xác định giá trị chứng minh của từng loại chứng cứ, mà giúp việc nghiên cứu về chứng cứ khoa học hơn, khách quan hơn, từ đó giúp cho người thu thập chứng cứ đúng đắn ngay từ đầu

    1. Chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp

    a. Chứng cứ trực tiếp

    – Khái niệm: là chứng cứ giúp xác định ngay những tình tiết này hay tình tiết khác của đối tượng chứng minh

    – Đặc điểm: nếu đứng độc lập thì cũng đủ giúp ta đưa ra kết luận về vấn đề cần chứng minh mà không cần phải đặt trong mối quan hệ với những những chứng cứ khác

    – Ví dụ: lời khai của người trực tiếp thực hiện tội phạm, lời khai của người làm chứng trực tiếp nhìn thấy hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại trực tiếp chứng kiến hành vi phạm tội xảy ra đến với mình

    b. Chứng cứ gián tiếp

    – Khái niệm: là chứng cứ không giúp chỉ rõ ngay vấn đề cần chứng minh nhưng nếu kết hợp với các tài liệu khác có thể giúp chỉ rõ tình tiết này hay tình tiết khác của đối tượng cần chứng minh

    VD: khi có vụ án mạng, thu được tại hiện trường con dao có vệt máu và dấu vân tay, khi đó con dao là vật chứng, nhưng dấu vân tay trên con dao có phải là của người phạm tội hay không thì chưa thể xác định được

    – Đặc điểm: nếu đứng độc lập thì chứng cứ này không đủ để chứng minh vấn đề cần làm rõ, nó chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong quan hệ với những chứng cứ, tài liệu khác

    2. Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép lại, thuật lại

    a. Chứng cứ gốc

    – Là chứng cứ được rút ra từ nơi xuất xứ đầu tiên của nó mà không qua bất kỳ khâu trung gian nào

    VD: giấy tờ, văn bản gốc; người trực tiếp nhìn thấy hành vi phạm tội trình báo

    – Đặc điểm: tính chính xác cao

    b. Chứng cứ sao chép lại, thuật lại

    – Là chứng cứ có liên quan đến nguồn đầu tiên của nó nhưng đã qua 1 hay nhiều khâu trung gian

    VD: giấy tờ, văn bảo sao chụp lại; người được người khác kể cho biết tình tiết vụ án đến trình báo

    – Đặc điểm: tính chính xác không đảm bảo ==> khi tìm được chứng cứ sao chép lại, thuật lại thì cần tìm chứng cứ gốc để xác nhận lại

    3. Chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội

    a. Chứng cứ buộc tội

    – Là chứng cứ xác định tội phạm, lỗi của người thực hiện tội phạm và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

    – Đặc điểm: thường được rút ra từ lời khai của bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại (tức là từ bản thân người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội hoặc từ người khác buộc tội họ)

    b. Chứng cứ gỡ tội

    – Là chứng cứ xác định không có tội phạm hoặc xác định tình tiết giảm nhẹ của bị can, bị cáo

    VD: chứng cứ để chứng minh bị can, bị cáo lâm vào tình thế phải phòng vệ chính đáng, hoặc lâm vào tình thế bất ngờ (đang lái xe thì có người trong ngõ lao vọt ra)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I: Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự cung cấp nền tảng lý thuyết vững chắc cho người học. Nội dung giải thích chi tiết khái niệm Luật tố tụng hình sự, nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, và các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc pháp chế, công bằng, đảm bảo quyền bào chữa. Đây là tài liệu hữu ích, giúp sinh viên hiểu sâu về hệ thống pháp luật hình sự và vai trò của tố tụng trong bảo vệ công lý.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I

    Chương 1: Khái niệm Luật tố tụng hình sự, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự

    I. Khái quát về luật tố tụng hình sự

    1. Khái niệm

    – Theo Hiến pháp 2013: Tòa án là cơ quan xét xử thực hiện chức năng tư pháp. Như vậy cơ quan xét xử duy nhất của VN là tòa án.

    – Khái niệm tố tụng hình sự rộng hơn so với khái niệm xét xử, vì tố tụng bao gồm cả các giai đoạn trước khi xét xử như điều tra, gồm cả các giai đoạn sau khi xét xử như thi hành án

    – Khái niệm: luật Tố tụng hình sự là 1 ngành luật độc lập trong hệ thống PL, tổng hợp các quy phạm PL điều chỉnh các quan hệ XH phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

    – Các giai đoạn tố tụng:

    khởi tố vụ án hình sự: cơ quan có thẩm quyền xác định vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không để quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không. Chú ý: dù có khởi tố hay không cũng đều phải ra Quyết định, vì khi người dân báo tin cho cơ quan có thẩm quyền về vụ việc, thì cơ quan có thẩm quyền phải có trách nhiệm thông báo lại cho người dân về quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    Nếu ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ chuyển sang giai đoạn điều tra. Nếu ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự thì người dân có quyền khiếu nại. VD người dân báo tin có đối tượng trộm cắp tài sản, cơ quan có thẩm quyền xác định giá trị của tài sản bị trộm cắp dưới 2 triệu đồng nên ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự

    điều tra vụ án hình sự: cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá để xác định tội phạm; sau khi đã có đủ căn cứ xác định người phạm tội thì cơ quan điều tra gửi hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát cùng Quyết định khởi tố bị can. Chú ý: khởi tố bị can là 1 bước trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự chứ không phải là 1 giai đoạn của tố tụng hình sự. Nếu cơ quan điều tra thấy không đủ căn cứ để cấu thành tội phạm thì ra Quyết định đình chỉ điều tra vụ án

    truy tố: Viện kiểm sát kiểm tra hồ sơ vụ án, nếu thấy chưa đủ chứng cứ thì có thể ra Quyết định đình chỉ vụ án, hoặc gửi trả lại hồ sơ cho Cơ quan điều tra để bổ sung chứng cứ; nếu thấy đã đủ chứng cứ thì chuyển sang Tòa án để tiến hành xét xử sở thẩm

    xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: là xét xử ở tòa án cấp thứ nhất (chú ý: không phải là xét xử lần đầu, vì có những vụ án nhiều lần đưa ra xét xử), có thể là tòa cấp huyện (với tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng) hoặc tòa cấp tỉnh (với tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng)

    xét xử phúc thẩm vụ án hình sự: nếu sau khi xét xử sơ thẩm mà VKS không đồng ý với bản án của tòa án thì có quyền kháng nghị; nếu đương sự không đồng ý với bản án thì có quyền kháng cáo; kháng nghị và kháng cáo được gửi lên tòa án cấp trên để xét xử phúc thẩm (tức là xét xử lần nữa); sau khi xét xử phúc thẩm thì bản án có hiệu lực PL ngay

    thi hành án hình sự: hiện nay có nhiều quan điểm về việc thi hành án hình sự là 1 giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự hay chỉ là hoạt động hành chính tư pháp. (vì đã có luật Thi hành án riêng; chủ thể của giai đoạn thi hành án có thể là chủ thể hành chính, như với trường hợp được hưởng án treo thì sẽ giao cho UBND cấp xã quản lý)

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương I

    + thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm: (chú ý: đây không phải là 1 cấp xét xử)

    • Giám đốc thẩm: là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Ví dụ: A say rượu đánh B, B bỏ chạy, một thời gian sau phát hiện thấy bộ hài cốt, A nhận tội giết B và bị xử tù, B ở tù được 1 thời gian thì B trở về ==> giám đốc thẩm vì đã vi phạm nghiêm trọng PL tố tụng, chỉ coi lời khai của A mà không thực hiện giám định hài cốt (PL quy định: không được coi lời khai của bị can, bị cáo làm chứng cứ buộc tội duy nhất; lời khai của bị can, bị cáo chỉ có giá trị buộc tội khi phù hợp với những chứng cứ thu được)
    • Tái thẩm: được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó

    – Các căn cứ để xác định các giai đoạn tố tụng:

    + nhiệm vụ: mỗi giai đoạn có nhiệm vụ riêng

    + hành vi tố tụng: mỗi giai đoạn tiến hành công việc tố tụng khác nhau

    + phạm vi chủ thể: ví dụ Tòa án chỉ tham gia vào giai đoạn xét xử, không tham gia vào giai đoạn điều tra hay truy tố

    + văn bản tố tụng: ví dụ ở giai đoạn truy tố có Bản cáo trạng, giai đoạn xét xử có Bản án

    2. Đối tượng và phương pháp điều chỉnh luật tố tụng hình sự

    – Đối tượng điều chỉnh: Là những quan hệ XH phát sinh giữa các chủ thể khác nhau trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

    – Phương pháp điều chỉnh: 2 phương pháp đặc trưng:

    + phương pháp quyền uy: điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng.

    VD triệu tập bị can đến phiên tòa, nếu bị can không đến thì sẽ bị áp giải, nếu bỏ trốn thì sẽ bị truy nã.

    VD luật TTHS 2015 quy định người làm chứng nếu không đến phiên tòa thì sẽ bị dẫn giải (để tránh phiên tòa bị hoãn)

    + phương pháp phối hợp và chế ước: phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với nhau, tức là phối hợp giữa CQĐT, VKS, Tòa án để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, và nếu 1 cơ quan làm sai thì cơ quan khác có quyền phát hiện, đề nghị sửa chữa hoặc tự mình sửa chữa.

    Ví dụ: CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án mà VKS thấy sai thì VKS có thể ra Quyết định hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án của CQĐT; hoặc CQĐT ra quyết định khởi tố bị can không đúng thì VKS có quyền không phê chuẩn

    Câu hỏi: tại sao khi CQĐT ra quyết định sai thì VKS có thể hủy quyết định đó, còn khi tòa án ra bản án sai thì VKS chỉ được quyền kháng nghị mà không có quyền hủy bản án ?

    Trả lời: vì nguyên tắc của Tòa án là xét xử độc lập, chỉ tuân theo PL, bản án của tòa án là nhân danh nước CHXHCN Việt Nam, do đó VKS chỉ có quyền kháng nghị đối với bản án mà không có quyền hủy bản án

    3. Quan hệ PL tố tụng hình sự

    – Là quan hệ do các quy phạm PL tố tụng hình sự điều chỉnh, phát sinh trong quá trình tố tụng, trong đó quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được PL quy định và được PL bảo đảm thực hiện

    VD: bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình

    – Đặc điểm của quan hệ PL tố tụng hình sự:

    + mang tính quyền lực NN: vì 1 trong các bên của quan hệ luôn là cơ quan quyền lực NN

    + có quan hệ mật thiết với quan hệ PL hình sự: chỉ khi có quan hệ PL hình sự thì mới phát sinh quan hệ PL tố tụng hình sự. VD có vi phạm PL hình sự (tức là có phạm tội hình sự) thì mới bắt đầu quá trình tố tụng hình sự

    + có liên quan mật thiết với các hoạt động tố tụng mà trong đó chúng phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt:

    VD khi ra quyết định khởi tố bị can thì sẽ phát sinh quan hệ PL tố tụng hình sự giữa cơ quan điều tra với bị can

    VD đã khởi tố bị can về tội trộm cắp nhưng điều tra tài sản trộm cắp dưới 2 triệu thì chuyển sang xử lý hành chính ==> thay đổi quan hệ PL tố tụng hình sự

    VD khi ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án do không đủ cấu thành tội phạm thì chấm dứt quan hệ PL tố tụng hình sự

    + có 1 số chủ thể đặc biệt mà quyền hạn và trách nhiệm có liên quan chặt chẽ với nhau, gồm: CQĐT, VKS, tòa án. VD: nếu CQĐT không đề nghị truy tố thì VKS chưa thể lập cáo trạng; VKS không truy tố thì tòa án không được xét xử; Tòa án không được xét xử những hành vi không được VKS truy tố

    II. Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

    1. Khái niệm

    – Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS là những phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc 1 số hoạt động của TTHS được PL ghi nhận

    – Ví dụ:

    + nguyên tắc pháp chế: chi phối mọi giai đoạn của TTHS

    + nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số: chỉ áp dụng trong giai đoạn xét xử

    + nguyên tắc suy đoán vô tội: không có trong giai đoạn thi hành án

    – Phân loại:

    + các nguyên tắc đặc thù: chỉ có trong PL TTHS

    + các nguyên tắc khác: có trong PL TTHS và các văn bản PL khác

    2. Các nguyên tắc đặc thù

    a. Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 9 Luật TTHS 2003, Điều 31 Hiến pháp 2013)

    – Suy đoán: là đoán điều chưa biết căn cứ vào những điều đã biết và giả định

    – Suy đoán vô tội: là phán đoán, kết luận sự vô tội của 1 người trên cơ sở phân tích những thông tin và những giả định

    – Nguyên tắc suy đoán vô tội: là định hướng cơ bản mang tính xuất phát điểm đảm bảo cho người bị buộc tội được coi là không có tội khi lỗi của họ chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực PL

    – Nội dung nguyên tắc:

    + người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực PL

    + trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình có tội

    + mọi hoài nghi về tội của người bị buộc tội nếu chưa được làm sáng rõ theo trình tự thủ tục quy định của PL thì phải xử lý theo hướng có lợi cho họ

    – Ý nghĩa của nguyên tắc:

    + ý nghĩa pháp lý: góp phần hạn chế oan sai, là cơ sở để tuyên bố vô tội, trong quá trình điều tra thì bị can được đối xử người bình thường chứ không bị đối xử như tội phạm

    + ý nghĩa xã hội

    + ý nghĩa nhân đạo và dân chủ

    b. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10)

    – Là định hướng cơ bản thể hiện quan điểm của NN, theo đó cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định những tình tiết có thật của vụ án thông qua việc thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ.

    – Nội dung:

    + CQĐT, VKS và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

    + Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.

    + Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

    c. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11)

    – Người bị tạm giữ, bị can bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

    Người có quyền tự bào chữa: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Luật TTHS 2015 bổ sung thêm người bị bắt và người bị bắt khẩn cấp)

    Người “khác” có quyền bào chữa: luật sư, người đại diện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân (Luật TTHS 2015 bỏ sung thêm trợ trúp viên pháp lý)

    – CQĐT, VKS, tòa án có trách nhiệm đảm bảo quyền được bào chữa với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

    d. Nguyên tắc thực hành quyền công tố và kiểm soát việc tuân theo PL trong TTHS (Điều 23)

    – Đây là 2 chức năng đặc trưng của VKS

    – Nội dung:

    + VKS quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà án.

    + VKS kiểm sát việc tuân theo PL trong TTHS, có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm PL của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này.

    – Ý nghĩa:

    + nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời;

    + việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng PL, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

    e. Nguyên tắc trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự (Điều 13)

    – Là nguyên tắc của luật TTHS, theo đó cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện có dấu hiệu của tội phạm và áp dụng các biện pháp theo quy định giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

    3. Các nguyên tắc khác

    a. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN (Điều 3)

    – Yêu cầu các chủ thể tham gia TTHS phải chấp hành nghiêm chỉnh PL:

    + cơ quan, người tiến hành tố tụng

    + người tham gia tố tụng

    + cơ quan, tổ chức và công dân tham gia TTHS

    – Yêu cầu đặt ra để thực hiện nguyên tắc:

    + PL phải phù hợp với thực tiễn, yêu cầu của xã hội đòi hỏi

    + Phải tuyên truyền, phổ biến PL đến từng người tham gia tố tụng, đến đông đảo người dân

    + Các cơ quan tiến hành tố tụng phải gương mẫu chấp hành PL

    b. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước PL (Điều 5)

    c. Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo PL (Điều 16)

    d. Nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18)

    e. Thực hiện chế độ 2 cấp xét xử (Điều 20)

    f. Đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án

    – Chủ thể bình đẳng:

    + kiểm sát viên

    + bị cáo, người đại diện hợp pháp

    + người bào chữa

    + người bị hại

    + nguyên đơn dân sự (với luật TTHS 2015 thì chuyển thành Người bị hại)

    + bị đơn dân sự

    + người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

    + người bảo vệ quyền lợi của đương sự

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương IV

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương IV

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương IV: Biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cưỡng chế khác cung cấp kiến thức chi tiết về các biện pháp pháp lý nhằm bảo đảm quá trình tố tụng diễn ra đúng quy định và hiệu quả. Nội dung tập trung giải thích khái niệm, mục đích, điều kiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, cũng như các biện pháp cưỡng chế khác như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Đây là tài liệu quan trọng giúp người học hiểu rõ các quy định pháp luật và ứng dụng thực tiễn trong giải quyết vụ án hình sự.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương IV

    Chương 4: Biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cưỡng chế khác

    I. Khái niệm biện pháp ngăn chặn

    – Ngăn chặn là 1 trong 3 biện pháp cưỡng chế trong TTHS

    – Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh PL hoặc có hành động cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

    1. Các căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn

    – Khi có 1 trong 4 căn cứ sau:

    + để kịp thời ngăn chặn tội phạm

    + khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn sẽ việc điều tra, truy tố, xét xử

    + khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội. VD sau khi phạm tội có hành vi đe dọa nhân chứng

    + để đảm bảo thi hành án. VD đối tượng được tại ngoại, tòa lại tuyên cần giam giữ ==> tòa có thể bắt giam ngay tại tòa

    III. Những biện pháp ngăn chặn cụ thể

    Có 06 biện pháp ngăn chặn:

    1. Bắt người

    – Là biện pháp ngăn chặn trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang thì áp dụng đối với người chưa phạm tội hình sự nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh PL, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử

    – Các trường hợp bắt người:

    a. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80)

    – Là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử, và thi hành án

    – Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

    + trong giai đoạn điều tra: thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT

    + trong giai đoạn truy tố: viện trưởng, phó viện trưởng VKS

    + trong giai đoạn xét xử: có 2 nhóm

    • Chánh án, phó chánh án tòa án các cấp
    • Hội đồng xét xử

    – Thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

    + phải có lệnh của người có thẩm quyền. Chú ý: nếu là lệnh của Thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT thì phải được VKS cùng cấp phê chuẩn

    + cán bộ thi hành lệnh bắt phải đọc lệnh, giải thích quyền với nghĩa vụ cho người bị bắt

    + phải lập biên bản (Điều 84)

    + phải có đại diện chính quyền và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến, mục đích là để tránh bắt nhầm người. Chú ý: người láng giềng thường là trưởng thôn, bí thư chi bộ, tổ trưởng dân phố

    + không được bắt vào ban đêm trừ trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang. Chú ý: ban đêm là từ 22h hôm trước đến 6h hôm sau

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương IV
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương IV

    b. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81)

    – Là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở điều tra, khám phá tội phạm.

    Chú ý: như vậy nếu người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng thì sẽ không được bắt khẩn cấp. Lý do vì theo quy định của Luật hình sự thì người chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, chỉ có chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự

    – Có 3 trường hợp bắt khẩn cấp:

    + Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

    + Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn

    + Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

    – Thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

    + thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT các cấp

    + người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương

    + người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới

    + người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng

    – Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp khác với thủ tục bắt người thông thường ở điểm:

    + phải có lệnh nhưng không cần có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành

    + sau khi bắt phải báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản cùng các tài liệu liên quan để xét phê chuẩn

    + có thể tiến hành bất cứ lúc nào, không kể ngày đêm

    Chú ý: trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu VKS quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.

    c. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82)

    – Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt

    – Các trường hợp bắt người phạm tội quả tang:

    + đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện

    + ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện

    + đang bị đuổi bắt ngay sau khi thực hiện tội phạm

    – Bắt người đang bị truy nã được hiểu là biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc đang thi hành án phạt tù

    – Thẩm quyền và thủ tục bắt người phạm tội quả tang:

    + bất cứ người nào cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang mà không cần lệnh

    + sau khi bắt người thì phải giải ngay đến cơ quan công an, VKS hoặc UBND nơi gần nhất

    + các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt tới cơ quan điều tra có thẩm quyền

    2. Tạm giữ (Điều 86)

    – Là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan và những người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú, hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã

    – Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ:

    + những người có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp bắt người khẩn cấp

    + chỉ huy trưởng và cảnh sát biển

    – Thủ tục tạm giữ:

    + phải có lệnh

    + trong thời hạn 12h kể từ khi ra lệnh tạm giữ, lệnh phải được gửi cho VKS cùng cấp

    + VKS ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ nếu lệnh đó không đúng PL (ví dụ: người không có đủ thẩm quyền ký lệnh, không rơi vào trường hợp khẩn cấp hay phạm tội quả tang, không phải đang bị truy nã, không phải do đầu thú hay tự thú)

    Chú ý: thực tế có việc”lách luật” bằng cách CQĐT gửi Giấy triệu tập người lân CQĐT rồi bắt giữ luôn, không cần có lệnh ==> gọi là “giữ người biến tướng”

    – Đối tượng bị tạm giữ:

    + bị can, bị cáo (nếu họ bị bắt theo lệnh truy nã hoặc trường hợp đầu thú)

    – Thời hạn tạm giữ (Điều 87):

    + không quá 3 ngày kể từ khi CQĐT nhận người bị bắt

    + trường hợp cần thiết có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày

    + trường hợp đặc biệt có thể gia hạn tiếp nhưng chỉ được tối đa 3 ngày

    ==> tạm giữ tối đa 9 ngày

    3. Tạm giam

    – Là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do CQĐT, VKS, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm mà có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, hoặc có thể sẽ tiếp tục phạm tội

    – Các trường hợp tạm giam (Điều 88) có thể được áp dụng:

    + Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;

    + Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

    – Thẩm quyền: những người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì có quyền ra lệnh tạm giam.

    – Thủ tục tạm giam:

    + phải có lệnh tạm giam của người có thẩm quyền

    + phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết.

    – Thể hiện tính nhân đạo, luật quy định không được tạm giam đối với các trường hợp bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhưng:

    + đang có thai

    + đang nuôi con dưới 36 tháng (con đẻ hoặc con nuôi)

    + là người già yếu (trên 60 tuổi, thường xuyên ốm yếu)

    + người bị bệnh nặng: ung thư giai đoạn cuối, viêm gan cổ chướng, …

    Tuy nhiên trừ các trường hợp sau:

    + bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã

    + đã được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử

    + phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia

    4. Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 91)

    – Là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do CQĐT, VKS, tòa án áp dụng nhằm buộc bị can, bị cáo không được đi khỏi nơi cư trú của mình mà phải có mặt theo Giấy triệu tập

    – Đối tượng: bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có thái độ khai báo thành khẩn, và có đủ cơ sở để cho rằng họ sẽ không bỏ trốn hoặc cản trở điều tra

    – Thủ tục:

    + bị can, bị cáo phải làm Giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình, cam kết phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập

    + phải có lệnh

    + lệnh phải được trao cho bị can, bị cáo

    + phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền cấp nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền cấp xã để quản lý, theo dõi họ. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó.

    + nếu bị can, bị cáo vi phạm thì sẽ bị áp dụng các biện ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn

    – Thẩm quyền ra lệnh:

    + những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam (khoản 1 Điều 80)

    + thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa

    5. Bảo lĩnh (Điều 92)

    – Là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam trong TTHS, do CQĐT, VKS, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân, tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, và đảm bảo sự có mặt của họ theo quyết định triệu tập

    – Đối tượng: bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có thái độ khai báo thành khẩn; hoặc bị can, bị cáo ốm đau, bệnh tật

    – Thủ tục:

    + cá nhân nhận bảo lĩnh ít nhất phải có 2 người và là người thân thích của bị can, bị cáo (phải là người đã thành niên, có uy tín đối với bị can, bị cáo)

    + tổ chức có thể đứng ra bảo lĩnh cho thành viên của tổ chức mình

    + cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và được thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc nhận bảo lĩnh

    + nếu vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì sẽ người bảo lĩnh sẽ bị tước quyền bảo lĩnh, và bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn

    – Thẩm quyền ra quyết định:

    + những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam (khoản 1 Điều 80)

    + thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa

    6. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo (Điều 93)

    – Là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam trong TTHS do CQĐT, VKS, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo để đảm bảo sự có mặt của họ theo Giấy triệu tập.

    – Điều kiện áp dụng:

    + bị can, bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, ăn năn, hối cải

    + có khả năng về tài chính

    + có căn cứ xác định sau khi tại ngoại họ sẽ có mặt theo Giấy triệu tập và không tiêu hủy hay che dấu chứng cứ của hành vi phạm tội hay có những hành vi khác cản trở điều tra

    – Thẩm quyền ra quyết định:

    + những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam (khoản 1 Điều 80)

    + thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa

    – Không áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo với bị can, bị cáo:

    + phạm 1 trong các tội quy định tại Chương 11 và Chương 24 Bộ luật Hình sự (là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội chống lại loài người, tội phạm chiến tranh)

    + phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

    + phạm tội rất nghiêm trọng như cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; tội phạm về ma túy, tham nhũng; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; cướp tài sản

    + bị tam giam trong trường hợp bị bắt do truy nã

    + phạm tôi có tính chất chuyên nghiệp: như buôn bán ma túy

    + là người tổ chức trong trường hợp phạm tội có tổ chức

    + hành vi phạm tội gây dư luận xấu trong nhân dân

    – Mức tiền hoặc tài sản đặt:

    + với tội ít nghiêm trọng: 30 triệu

    + với tội nghiêm trọng: 80 triệu

    + với tội rất nghiêm trọng: 200 triệu

    Chú ý: mức tiền đặt có thể thấp hơn nhưng không được ít hơn ½ so với quy định đối với bị can, bị cáo thuộc hộ nghèo, khó khăn kinh tế, người chưa thành niên

    – Thủ tục: phải lập biên bản ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản

    – Trường hợp bị can, bị cáo đã được CQĐT, VKS, Toà án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị sung quỹ Nhà nước và trong trường hợp này bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

    – Trường hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc tài sản đã đặt

    IV. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn (Điều 94)

    1. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn

    – Là việc CQĐT, VKS, tòa án quy định không tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.

    Chú ý: đối với biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn thì việc hủy bỏ cũng phải do VKS quyết định

    – Các trường hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn:

    + khi vụ án bị đình chỉ

    + khi thấy không còn cần thiết: ví dụ kết thúc điều tra

    2. Thay thế biện pháp ngăn chặn

    – Là việc cơ quan có thẩm quyền quy định áp dụng 1 biện pháp ngăn chặn khác thay thế cho biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng.

    VD: đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú thì thấy bị can có dấu hiệu bỏ trốn, khi đó sẽ thay thế bằng Tạm giam

    Chú ý: đối với biện pháp ngăn chặn do VKS phê chuẩn thì việc thay thế cũng phải do VKS quyết định

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương III

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương III

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương III: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng dân sự mang đến cái nhìn tổng quan và chi tiết về các chủ thể trong quá trình tố tụng dân sự. Nội dung tập trung phân tích vai trò, nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát; quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; cùng với đó là quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng. Đây là tài liệu thiết yếu hỗ trợ sinh viên và người học nắm vững quy trình tố tụng dân sự một cách bài bản.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương III

    Chương 3: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng dân sự

    I. Khái niệm cơ quan tiến hành tố tụng dân sự

    1. Khái niệm

    – (Điều 46): là cơ quan NN thực hiện quyền lực NN trong việc giải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc tuân theo PL trong TTDS

    – Đặc điểm của cơ quan tiến hành TTDS:

    + có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VVDS hoặc kiểm sát hoạt động TTDS

    + hoạt động chủ động và độc lập

    + quyết định của cơ quan THTTDS có giá trị buộc các chủ thể khác phải chấp hành

    – Thành phần:

    + tòa án

    + VKS

    2. Nhiệm vụ, quyền hạn của CQTHTTDS

    a. Nhiệm vụ, quyền hạn của tòa án

    – Thụ lý và lập hồ sơ VVDS (khác với TT hình sự là CQĐT lập hồ sơ)

    – Tiến hành kiểm tra, công khai tài liệu và hòa giải VVDS

    – Tổ chức Phiên tòa (với VADS), hay Phiên họp (với việc dân sự) để giải quyết vụ việc

    – Ra các quyết định giải quyết VVDS

    – Giải quyết các khiếu nại, tố cáo, xử lý hành vi cản trở việc thực thi PL trong quá trình TT

    – Bồi thường thiệt hại do các hành vi trái PL trong quá trình TT gây ra (NN bồi thường cho đương sự)

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương III
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương III

    b. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS

    – Kiểm sát việc giải quyết VVDS của tòa án

    – Kiểm sát việc tham gia TT của những người tham gia TT

    – Thu thập tài liệu, chứng cứ để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

    – Tham gia Phiên tòa, Phiên họp: đại diện VKS sẽ phát biểu tại phiên tòa, phiên họp về việc tuân theo PL của tòa án và của những người tham gia

    – Yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị bản án, quyết định của tòa án

    II. Người tiến hành tố tụng dân sự

    1. Khái niệm người THTTDS

    – Là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THTTDS trong việc giải quyết VVDS hoặc kiểm sát việc tuân theo PL trong TTDS

    – Đặc điểm:

    + là công chức NN, thuộc biên chế của CQTHTT, trừ hội thẩm nhân dân (có thể là công chức hoặc không)

    + là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CQTHTT trong phạm vi PL quy định

    + hoạt động chủ động, độc lập và có ý nghĩa quyết định

    – Thành phần (Điều 46):

    + Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án

    + Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.

    – Nhiệm vụ và quyền hạn của người THTTDS:

    + Chánh án tòa án: là người đứng đầu tòa án, tổ chức và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của tòa án. Chánh án là người được bổ nhiệm trong các thẩm phán.

    + Thẩm phán: là người có đủ các tiêu chuẩn theo quy định của PL và được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử

    + Hội thẩm nhân dân: là người được HĐND cùng cấp bầu ra để xét xử các vụ án theo phân công của Chánh án tòa án nơi được bầu. Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia các tòa án sơ cấp. Hội thẩm nhân dân của quyền ngang thẩm phán trong xét xử.

    + Thư ký tòa án: là người lập các biên bản tố tụng và các công việc khác. Là người có trình độ cử nhân Luật trở lên, được tòa án tuyển dụng, được đào tạo nghiệp vụ thư ký và bổ nhiệm vào ngạch Thư ký

    + Thẩm tra viên: phải là thư ký tòa từ 3 năm trở lên, được đào tạo nghiệm vụ thẩm tra, và được bổ nhiệm vào ngạch thẩm tra viên

    + Viện trưởng VKS: là người đứng đầu VKS, tổ chức và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của VKS

    + Kiểm sát viên: là người được bổ nhiệm theo quy định của PL để thực hiện chức năng thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

    + Kiểm tra viên: là người được bổ nhiệm theo quy định của PL để giúp kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, và thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công

    2. Nhiệm vụ, quyền hạn của người THTTDS

    a. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án tòa án (Điều 47)

    – Tổ chức công tác giải quyết VVDS thuộc thẩm quyền của Tòa án; bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo PL

    – Quyết định phân công Thẩm phán thụ lý VVDS, Thẩm phán giải quyết VVDS, Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử VADS; quyết định phân công Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với VVDS

    – Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa

    – Ra quyết định và tiến hành hoạt động TTDS

    – Giải quyết khiếu nại, tố cáo

    – Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, QĐ đã có hiệu lực PL của Tòa án, hoặc kiến nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, QĐ đã có hiệu lực PL của Tòa án

    – Kiến nghị CQNN có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ VBQPPL nếu phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, VBQPPL của CQNN cấp trên

    – Xử lý hành vi cản trở hoạt động TTDS theo quy định của PL

    – Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của PL

    b. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán (Điều 48)

    – Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý VVDS

    – Lập hồ sơ VVDS.

    – Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết VVDS

    – Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

    – Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết VVDS, quyết định tiếp tục đưa VVDS ra giải quyết.

    – Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của PL về trợ giúp pháp lý.

    – Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

    – Quyết định đưa VADS ra xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết.

    – Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên họp.

    – Chủ tọa hoặc tham gia xét xử VADS, giải quyết việc dân sự.

    – Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt động tố tụng

    – Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị CQNN có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, VBQPPL của CQNN cấp trên

    – Xử lý hành vi cản trở hoạt động TTDS theo quy định của PL.

    – Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải quyết VVDS.

    c. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội thẩm nhân dân (Điều 49)

    – Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa.

    – Đề nghị Chánh án Tòa án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền.

    – Tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự.

    – Tiến hành các hoạt động tố tụng và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.

    d. Nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký tòa án (Điều 51)

    – Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa.

    – Phổ biến nội quy phiên tòa.

    – Kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa.

    – Ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người tham gia tố tụng.

    – Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ luật này.

    e. Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm tra viên (Điều 50)

    – Thẩm tra hồ sơ VVDS mà bản án, QĐ của Tòa án đã có hiệu lực PL cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

    – Kết luận về việc thẩm tra, báo cáo kết quả thẩm tra, đề xuất phương án giải quyết VVDS với Chánh án Tòa án

    – Thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan đến VVDS

    – Hỗ trợ Thẩm phán thực hiện hoạt động tố tụng

    – Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ luật này.

    f. Nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng VKS (Điều 57)

    – Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo PL trong TTDS

    – Quyết định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo PL trong TTDS, tham gia phiên tòa xét xử VADS, phiên họp giải quyết việc dân sự, và thông báo cho Tòa án; quyết định phân công Kiểm tra viên tiến hành tố tụng đối với VVDS

    – Quyết định thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

    – Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, QĐ của Tòa án

    – Yêu cầu, kiến nghị theo quy định của Bộ luật này;

    – Giải quyết khiếu nại, tố cáo

    – Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của PL

    g. Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên (Điều 58)

    – Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

    – Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết VVDS.

    – Nghiên cứu hồ sơ vụ việc; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết VVDS; thu thập tài liệu, chứng cứ.

    – Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết vụ việc

    – Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án.

    – Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các hoạt động tố tụng.

    – Đề nghị Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm PL.

    – Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm PL

    – Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn TTDS khác thuộc thẩm quyền của VKS

    h. Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm tra viên (Điều 59)

    – Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, báo cáo kết quả với Kiểm sát viên.

    – Lập hồ sơ kiểm sát VVDS theo phân công của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát.

    – Giúp Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự.

    3. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng dân sự

    a. Căn cứ thay đổi người THTTDS

    – Căn cứ thay đổi chung (Điều 52): Người THTTDS phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

    + Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự.

    + Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc đó.

    + Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

    – Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân: Điều 53

    – Thay đổi Thư ký tòa án, Thẩm tra viên: Điều 54

    – Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên: Điều 60

    b. Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người THTT (Điều 55, 56, 61, 62)

    – Trước khi mở phiên tòa, phiên họp:

    + việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án, Thẩm tra viên do Chánh án Tòa án quyết định hoặc Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định (trong trường hợp người từ chối, bị yêu cầu thay đổi là Chánh án tòa án)

    + việc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên do Viện trưởng VKS hoặc Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp quyết định (trường hợp người từ chối, bị yêu cầu thay đổi là Viện trưởng VKS)

    – Tại phiên tòa, phiên họp:

    + tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án, Thẩm tra viên, Kiểm sát viên, và Kiểm tra viên do Hội đồng xét xử quyết định

    + tại phiên họp, việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký tòa án, phiên họp do Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định hoặc Chánh án quyết định (trường hợp việc dân sự do 1 thẩm phán giải quyết)

    – Thủ tục thay đổi:

    + trước khi mở phiên tòa, phiên họp, nếu người từ chối THTT hoặc có yêu cầu thay đổi người THTT thì phải làm Biên bản nêu rõ lý do và căn cứ từ chối hoặc yêu cầu thay đổi

    + tại phiên tòa, phiên họp, người từ chối THTT hoặc có yêu cầu thay đổi người THTT thì phải trình bày lý do, căn cứ để yêu cầu thay đổi, và sẽ được ghi vào Biên bản phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ nghị án và đưa ra quyết định

    III. Người tham gia tố tụng dân sự

    1. Khái niệm người tham gia TTDS

    – Là người tham gia vào VVDS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác hoặc hỗ trợ cơ quan THTT trong việc giải quyết VVDS

    – Đặc điểm của người tham gia THTTDS:

    + đa dạng, có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức

    + mục đích tham gia TTDS là khác nhau

    + hoạt động chịu sự chi phối bởi CQTHTT và người THTT

    – Thành phần: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định

    2. Đương sự trong vụ việc dân sự (Điều 68 – 74)

    a. Khái niệm (Điều 68)

    – Đương sự trong VVDS là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của NN thuộc lĩnh vực mình phụ trách

    – Đặc điểm:

    + là người tham gia tố tụng chủ yếu

    + có quyền, nghĩa vụ liên quan đến VVDS

    + hoạt động của họ có thể làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ việc tố tụng

    – Thành phần:

    + đương sự trong VADS: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

    + đương sự trong việc dân sự: người yêu cầu và người có liên quan

    – Nguyên đơn: là người tham gia tố tụng khởi kiện VADS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích NN, hoặc được người khác khởi kiện VADS để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

    Đặc điểm:

    + người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ

    + là người đã khởi kiện hoặc được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

    + hoạt động của họ mang tính chủ động, có thể làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ việc tố tụng

    – Bị đơn: là người tham gia tố tụng để trả lời về việc kiện do bị nguyên đơn hoặc bị cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện vì cho rằng họ đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

    Đặc điểm:

    + người trả lời về việc kiện

    + có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

    + hoạt động của họ mang tính bị động

    – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS: là người tham gia tố tụng vào VADS đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

    Đặc điểm:

    + là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS

    + họ tham gia vào vụ án khi vụ án đó đã xuất hiện nguyên đơn và bị đơn

    + việc tham gia có của có thể do họ tự yêu cầu, hoặc do đương sự khác yêu cầu, hoặc do tòa án yêu cầu

    – Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: là người tham gia tố tụng đưa ra yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự

    Đặc điểm:

    + việc tham gia tố tụng chủ động như nguyên đơn trong VADS nhưng phạm vi yêu cầu của họ có giới hạn

    + là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc dân sự và đã yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận 1 sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động

    + hoạt động của họ mang tính chủ động, có thể làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ việc tố tụng

    – Người có liên quan trong việc dân sự: là người tham gia tố tụng vào việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc trả lời về những vấn đề liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của họ

    Đặc điểm:

    + có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc dân sự

    + tham gia tố tụng theo yêu cầu của họ, của đương sự khác, hoặc của tòa án

    b. Năng lực chủ thể của đương sự (Điều 69)

    – Năng lực PL TTDS của đương sự: là khả năng PL quy định cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có các quyền và nghĩa vụ TTDS

    Đặc điểm:

    + là điều kiện cần để 1 chủ thể tham gia quan hệ PL TTDS và có mối quan hệ với năng lực PL dân sự

    + đối với cá nhân: xuất hiện khi sinh ra và mất đi khi chết

    + đối với cơ quan, tổ chức: xuất hiện khi thành lập, được công nhận và mất đi khi chấm dứt hoạt động

    + mọi chủ thể có năng lực PL TTDS như nhau và không bị hạn chế hoặc bị tước đoạt

    – Năng lực hành vi TTDS của đương sự: là khả năng bằng hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia TTDS

    Đặc điểm:

    + biểu hiện khả năng nội tại của đương sự trong việc tham gia TTDS

    + là điều kiện đủ để cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia quan hệ PL TTDS và có mối quan hệ với năng lực hành vi dân sự

    + được PL quy định theo độ tuổi:

    • Chưa đủ 6 tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự: không có năng lực hành vi TTDS
    • Từ đủ 6-15 tuổi: việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện
    • Từ đủ 15-18 tuổi: việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện, hoặc tự mình tham gia tố tụng trong 2 trường hợp:
      • đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động, hoặc
      • giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình

    thì được tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp này, Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Đối với những việc khác, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

    • Từ đủ 18 tuổi: có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác

    c. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự (Điều 70-74)

    3. Người đại diện của đương sự (Điều 85-90)

    – Là cá nhân hoặc pháp nhân thay mặt đương sự tham gia tố tụng, thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án

    – Thành phần:

    + người đại diện theo PL: là người theo quy định của PL thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

    + người đại diện theo ủy quyền: là người được đương sự ủy quyền thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

    + người đại diện do tòa án chỉ định: là người được tòa án chỉ định tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

    – Người không được đại diện cho đương sự (Điều 87)

    + người không có năng lực hành vi TTDS

    + Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện

    + Nếu họ đang là người đại diện theo PL trong TTDS cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc.

    + Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong TTDS, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo PL

    – Quyền và nghĩa vụ của người đại diện (Điều 86):

    + Người đại diện theo PL trong TTDS thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện.

    + Người đại diện theo ủy quyền trong TTDS thực hiện quyền, nghĩa vụ TTDS của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền.

    – Chấm dứt đại diện (Điều 89): theo quy định của luật Dân sự, cụ thể:

    + đại diện theo PL của cá nhân chấm dứt:

    • Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục
    • Người được đại diện chết
    • Các trường hợp khác do PL quy định

    + đại diện theo ủy quyền của cá nhân chấm dứt:

    • Thời hạn theo ủy quyền của cá nhân chấm dứt: thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc được ủy quyền đã hoàn thành
    • Người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền
    • Người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, bị tòa án tuyên bố mất / hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị tuyên bố mất tích hoặc đã chết

    – Chấm dứt đại diện của pháp nhân:

    + đại diện theo PL của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt

    + dại diện theo uỷ quyền của pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

    • Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành
    • Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ quyền
    • Pháp nhân chấm dứt hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết

    – Hậu quả pháp lý của chấm dứt đại diện (Điều 90):

    + Trường hợp chấm dứt đại diện theo PL mà người được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự thì người đó tự mình tham gia TTDS hoặc ủy quyền cho người khác tham gia TTDS

    + Trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng

    4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 75-76)

    – Là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

    – Gồm:

    + luật sư, trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý

    + đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao động theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn

    + công dân VN có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích hoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, VKS và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.

    – Một người có thể bảo vệ cho nhiều đương sự trong cùng 1 vụ án nếu quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không đối lập nhau

    – Nhiều người có thể cùng bảo vệ cho 1 đương sự trong vụ án

    – Quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 76):

    + Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình TTDS.

    + Thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

    + Tham gia việc hòa giải, phiên họp, phiên tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét.

    + Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác.

    + Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự.

    5. Người làm chứng trong tố tụng dân sự (Điều 77, 78)

    – Là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng.

    Chú ý: người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.

    – Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng:

    + Cung cấp toàn bộ thông tin, tài liệu, đồ vật mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc.

    + Khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ việc.

    + Được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình.

    + Được nghỉ việc trong thời gian Tòa án triệu tập hoặc lấy lời khai, nếu làm việc trong cơ quan, tổ chức.

    + Được thanh toán các khoản chi phí có liên quan theo quy định của pháp luật.

    + Yêu cầu Tòa án đã triệu tập, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; khiếu nại hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng.

    + Bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật do khai báo sai sự thật gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác.

    + Phải có mặt tại Tòa án, phiên tòa, phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án nếu việc lấy lời khai của người làm chứng phải thực hiện công khai tại Tòa án, phiên tòa, phiên họp; trường hợp người làm chứng không đến phiên tòa, phiên họp mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ cản trở việc xét xử, giải quyết thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự có thể ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.

    + Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên.

    6. Người giám định trong tố tụng dân sự (Điều 79, 80)

    – Là người tham gia tố tụng có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn cần thiết về lĩnh vực có đối tượng cần giám định mà tòa án trưng cầu giám định hoặc được đương sự yêu cầu giám định để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự

    – Việc tham gia TTDS của người giám định:

    + do tòa án trưng cầu, hoặc

    + do đương sự yêu cầu

    – Quyền và nghĩa vụ của người giám định:

    + Được đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết cho việc giám định

    + Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định

    + Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trình bày, giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định một cách trung thực, có căn cứ, khách quan

    + Phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về việc không thể giám định được do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn, tài liệu cung cấp phục vụ cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng được

    + Phải bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả lại Tòa án cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về việc không thể giám định được

    + Không được tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ Thẩm phán quyết định trưng cầu giám định

    + Được thanh toán các chi phí có liên quan theo quy định của pháp luật;

    + Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng dân sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-dan-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương IV

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương IV

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương IV: Chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự cung cấp kiến thức cốt lõi về các quy định pháp luật liên quan đến việc chứng minh và thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự. Nội dung tập trung giải thích khái niệm, vai trò của chứng cứ, nguyên tắc chứng minh và trách nhiệm chứng minh của các bên trong vụ án. Đây là tài liệu quan trọng giúp sinh viên nắm vững kỹ năng và phương pháp xử lý chứng cứ, phục vụ hiệu quả cho học tập và thực tiễn pháp lý.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương IV

    Chương 4: Chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự

    I. Chứng minh trong tố tụng dân sự

    1. Khái niệm và ý nghĩa của chứng minh

    – Hiện nay có các quan điểm sau về Chứng minh trong TTDS:

    + Quan điểm 1: chứng minh là làm rõ được tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan đến VVDS, không kể nó có mỗi quan hệ như thế nào đối với VVDS

    + Quan điểm 2: chứng minh là làm rõ những tình tiết, sự kiện mà quan hệ PL nội dung giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó

    + Quan điểm 3: chứng minh là làm rõ những tình tiết, sự kiện mà quan hệ PL nội dung giữa các bên đương sự phụ thuộc vào nó và chỉ ra các căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận (dựa vào Điều 6: Đương sự có quyền và nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp)

    – Theo nghĩa rộng: chứng minh trong TTDS là quá trình hoạt động của các chủ thể TTDS trong việc làm rõ tất cả các vấn đề liên quan đến VVDS, trên cơ sở đó tòa án ra phán quyết về việc giải quyết VVDS

    – Theo nghĩa hẹp, chứng minh trong TTDS là hoạt động của chủ thể TTDS trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu, và đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của VVDS.

    – Chứng minh bao gồm:

    + chứng cứ

    + lý lẽ và lập luận

    + quy định của PL

       Chú ý: xác định chứng cứ là vấn đề phức tạp nhất của chứng minh trong TTDS (so với lý lẽ, lập luận và quy định của PL) vì chứng cứ là những thứ đã qua trong quá khứ và cần xác minh lại. Tuy nhiên ở VN thì nhiều khi việc tìm quy phạm PL để áp dụng còn khó khăn hơn do sự chồng chéo, hỗn độn của PL. Chánh án TANDTC Trịnh Hồng Dương đã từng phát biểu trước Quốc hội khi được chất vấn Tại sao vụ án giống nhau mà tòa án này xử thế này, tòa án khác lại xử thế khác: Án dân sự xử thế nào cũng được.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương IV
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương IV

    2. Nghĩa vụ chứng minh (Điều 91)

    – Các quan điểm:

    + Quan điểm 1: các chủ thể tham gia vào hoạt động chứng minh trong đó đương sự, người đại diện, cơ quan, tổ chức khởi kiện có nghĩa vụ chứng minh; tòa án, VKS có trách nhiệm chứng minh; các chủ thể khác như người làm chứng, người giám định chỉ tham gia hỗ trợ

    + Quan điểm 2: đương sự, người đại diện, người bảo vệ, tòa án, VKS có nghĩa vụ chứng minh

    a. Đương sự

    – Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:

    + Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

    + Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.

    Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động

    + Các trường hợp PL có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.

    – Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

    Câu hỏi: khẳng định sau Đúng/Sai:

    (1) Mọi đương sự đều có nghĩa vụ chứng minh

    (2) Mọi đương sự đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu đều phải có nghĩa vụ chứng minh

    Trả lời:

    (1) Sai. Vì chỉ có đương sự đưa ra yêu cầu và đương sự phản đối yêu cầu mới phải chứng minh, còn đương sự không đưa ra yêu cầu cũng như không phản đối yêu cầu sẽ không phải chứng minh. VD: A có 3 người con là B C và D; A chết, di sản để lại cho 3 con, B và C tranh chấp với nhau, D không có tranh chấp; B khởi kiện C ra tòa, khi đó các đương sự gồm: B là nguyên đơn, C là bị đơn, C là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; tại tòa thì chỉ có B và C phải chứng minh, còn D không phải chứng minh điều gì.

    (2) Sai. Vì có các trường hợp đương sự đưa ra yêu cầu không phải chứng minh được quy định trong Điều 91.

    b. Người đại diện

    – Có nghĩa vụ chứng minh như đương sự mà họ đại diện

    c. Cơ quan, cá nhân, tổ chức khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích của NN, lợi ích công cộng

    – Phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

    d. Tòa án và Viện kiểm sát

    – Tòa án: chứng minh cho phán quyết của mình là có căn cứ và hợp pháp

    – Viện kiểm sát: chứng minh cho kháng nghị của mình là có căn cứ là hợp pháp (Điều 279, khoản 3)

    3. Đối tượng chứng minh

    – Khái niệm: Là tổng hợp các tình tiết, sự kiện phải được xác định nhằm giải quyết đúng đắn VVDS

    – Xác định đối tượng chứng minh:

    + dựa vào yêu cầu của các đương sự

    + dựa vào quy phạm PL nội dung

    Ví dụ: vụ án kiện đòi ly hôn

    + yêu cầu của đương sự là Yêu cầu ly hôn, sẽ cần các định:

    • Hôn nhân phải hợp pháp (thì mới ly hôn được): phải xuất trình Giấy đăng ký kết hôn, hoặc các giấy tờ khác có thông tin chứng minh quan hệ hôn nhân như sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của các con (có ghi thông tin bố mẹ), xác nhận của người thân, …
    • Căn cứ để yêu cầu ly hôn: bạo lực gia đình, hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng

    + tìm quy phạm PL nội dung:

    • Tòa sẽ đồng ý cho ly hôn nếu đương sự chứng minh được là nạn nhân của bạo lực gia đình, hoặc vợ/chồng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, … dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
    • Nếu vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng sẽ không thể ly hôn

    Ví dụ: vụ án kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

    + yêu cầu của đương sự là Đòi bồi thường thiệt hại, do đó cần xác định các yếu tố của yêu cầu bồi thường ngoài hợp đồng:

    • Có thiệt hại thực tế xảy ra
    • Có hành vi vi phạm PL
    • Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm PL và thiệt hại
    • Có lỗi

    + xác định quy phạm PL nội dung: như chủ thể phải có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, …

    4. Những tình tiết, sự kiện không cần chứng minh (Điều 92)

    – Là những tình tiết, sự kiện:

    + Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận

    + Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật

    + Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.

    – Nếu 1 bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh

    5. Phương tiện chứng minh (Điều 94)

    – Là công cụ pháp lý được các chủ thể chứng minh sử dụng để làm rõ về các tình tiết, sự kiện của VVDS

    VD: bản hợp đồng, tệp ghi âm, ghi hình

    – Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

    + Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.

    + Vật chứng.

    + Lời khai của đương sự.

    + Lời khai của người làm chứng.

    + Kết luận giám định.

    + Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.

    + Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.

    + Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.

    + Văn bản công chứng, chứng thực.

    + Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

    6. Hoạt động chứng minh

    – Gồm 4 nội dung:

    + cung cấp

    + thu thập

    + đánh giá, sử dụng

    +

    a. Cung cấp chứng cứ

    – Là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa ra cho tòa án các chứng cứ của VVDS

    – Thời hạn cung cấp chứng cứ: khoản 4 Điều 96, 287, 330

    – Đương sự cung cấp chứng cứ có nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự khác (khoản 5 Điều 96)

    – Hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ: khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96

    b. Thu thập chứng cứ

    – Chủ thể thu thập chứng cứ:

    + cá nhân, cơ quan, tổ chức

    +

    – Cá nhân, cơ quan, tổ chức thu thập chứng cứ:

    + được thực hiện bằng biện pháp quy định tại khoản 1 Điều 97

    + biện pháp này được thực hiện khi khởi kiện, yêu cầu hay tòa án đã thụ lý ?

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng dân sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-dan-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương II

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương II

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương II: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cung cấp kiến thức chi tiết về cách xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nội dung tập trung phân tích thẩm quyền theo loại việc, lãnh thổ và cấp xét xử, giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự. Đây là tài liệu quan trọng hỗ trợ học tập và nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực luật tố tụng dân sự.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương II

    Chương 2: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân

    I. Khái niệm, ý nghĩa thẩm quyền dân sự của tòa án

    – Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết và ra phán quyết đối với VVDS

    – Thẩm quyền được chia thành:

    + theo loại việc

    + theo cấp

    + theo lãnh thổ

    – Thẩm quyền sơ thẩm theo loại việc:

    + xác định những vụ việc theo thủ tục TTDS

    + phân định giữa những thẩm quyền của tòa án đối với những loại việc theo thủ tục TTDS với những loại việc thuộc thẩm quyền của tòa án nhưng theo thủ tục TT hình sự hoặc TT hành chính và phân biệt thẩm quyền với các cơ quan, tổ chức khác (như UBND, …)

    + có 4 loại việc:

    • dân sự ==> tương ứng với Tòa dân sự
    • hôn nhân gia đình ==> tương ứng với Tòa gia đình và người chưa thành niên
    • kinh doanh thương mại ==> tương ứng với Tòa kinh tế
    • lao động ==> tương ứng với Tòa lao động

    – Thẩm quyền sơ thẩm theo cấp: phân định thẩm quyền của tòa sơ thẩm cấp huyện và cấp tỉnh đối với từng VVDS

    – Thẩm quyền sơ thẩm theo lãnh thổ: phân định thẩm quyền giữa các tòa án cùng cấp (theo địa phương)

    II. Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của tòa án theo loại việc

    1. Cơ sở lý luận

    – Dựa vào tính chất của quan hệ PL nội dung có tranh chấp mà tòa án cần phải giải quyết

    – Các quan hệ PL về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động đều là những quan hệ PL có cùng tính chất: đều là quan hệ nhân thân hoặc quan hệ tài sản giữa các chủ thể, tức là tranh chấp về quyền lợi tư, không liên quan đến quyền lợi của NN (như trong hình sự hay hành chính)

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương II
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng dân sự chương II

    2. Các quy định của PL về thẩm quyền theo loại việc

    – Các quy định trong Luật TTDS quy định theo hướng liệt kê các vụ việc tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục TTDS

    – Thẩm quyền thuộc 4 lĩnh vực:

    + dân sự: Điều 26, 27

    + hôn nhân gia đình: Điều 28, 29

    + kinh doanh thương mại: Điều 30, 31

    + lao động: Điều 32, 33

    Ngoài ra, thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức được quy định trong Điều 34

    Câu hỏi: Mọi tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ đều là tranh chấp dân sự ?

    Trả lời: Sai. Theo khoản 4 Điều 26 Luật TTDS 2015 thì tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ là tranh chấp dân sự, trừ trường hợp tranh chấp đó là giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thì sẽ thuộc về tranh chấp kinh doanh thương mại (khoản 2 Điều 30)

    Câu hỏi: Mọi tranh chấp về kinh doanh thương mại đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS ?

    Trả lời: Sai. Ví dụ tranh chấp liên quan đến phá sản doanh nghiệp, thì sẽ vẫn do tòa án giải quyết, nhưng theo thủ tục của Luật phá sản chứ không phải theo thủ tục TTDS

    III. Phân định thẩm quyền giữa các tòa án

    1. Phân định thẩm quyền theo cấp

    – Cơ sở phân định:

    + dựa vào tính đơn giản hay phức tạp của vụ việc

    + dựa vào năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ tòa án (xu thế hiện nay là mở rộng quyền cho tòa án cấp huyện)

    – Quy định của PL về thẩm quyền các cấp (Điều 33, 34):

    Tòa án cấp huyệnTòa án cấp tỉnh
    – Dân sự– Hôn nhân gia đìnhHầu hết các tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân gia đình, dân sựVới tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nhưng ở các huyện biên giới thì vẫn do tòa án cấp huyện giải quyếtKhoản 7 Điều 26 Với tranh chấp, yêu cầu về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì sẽ do tòa án cấp tỉnh giải quyết
    – Kinh doanh thương mại– Lao độngKhoản 1 Điều 30Khoản 1 Điều 31Điều 32Khoản 1 Điều 33Khoản 2-5 Điều 30Khoản 2-6 Điều 31 Khoản 2-5 Điều 33

    Chú ý:

    + vụ việc thuộc thẩm quyền cấp huyện nhưng nếu có 1 bên đương sự ở nước ngoài, hoặc liên quan đến tài sản ở nước ngoài thì sẽ do tòa án cấp tỉnh giải quyết

    + tòa án cấp tỉnh có quyền lấy vụ việc cấp huyện lên để giải quyết nếu thấy cần thiết hoặc do tòa cấp huyện đề nghị

    + ở cấp huyện: có tòa dân sự (giải quyết cả dân sự, kinh doanh thương mại, và lao động), tòa hôn nhân gia đình

    + ở cấp tỉnh: có đủ 4 tòa

    2. Phân định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ

    – Cơ sở phân định:

    + để bảo đảm quyền phòng vệ của bị đơn: vì bị đơn là người bị động, lại chưa chắc đã có lỗi (tức là chưa chức nguyên đơn đã đúng) ==> phân định thẩm quyền tòa án sao cho thuận tiện cho bị đơn (thường sẽ là tòa án nơi bị đơn thường trú, đặt trụ sở)

    + trong 1 số trường hợp, PL ưu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án trong việc giải quyết vụ án: ví dụ tranh chấp về bất động sản thì sẽ do tòa án nơi có bất động sản giải quyết (vì thường sẽ phải đến tận nơi có bất động sản để xem xét)

    + dựa trên quyền tự định đoạt của đương sự: các đương sự có thể thỏa thuận để chọn tòa thích hợp

    – Quy định của luật TTDS:

    + Điều 39: nguyên tắc phân định theo quy định của PL

    + Điều 40: ngoại lệ của những nguyên tắc tại Điều 39

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng dân sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-dan-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.