Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VI

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VI

    “Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VI” xoay quanh pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư vào các khu kinh tế đặc biệt, một lĩnh vực quan trọng nhằm thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế vùng. Nội dung bài giảng cung cấp kiến thức về các quy định pháp lý đối với khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, bao gồm ưu đãi thuế, đất đai, thủ tục đầu tư, và các chính sách hỗ trợ đặc thù.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VI

    Chương 6: Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư vào các khu kinh tế đặc biệt

    1. Đầu tư vào các khu kinh tế đặc biệt

    – Tài liệu:

    + Nghị định 99/2003 về khu công nghệ cao

    + Nghị định 29/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế

    + Nghị định 164/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008

    + Nghị định 114/2015 sửa đổi, bổ sung Điều 21 Nghị định số 29/2008

    Câu hỏi: Vì sao cần có các khu kinh tế đặc biệt ?

    Trả lời: vì:

    + để thí nghiệm chính sách thu hút đầu tư: tạo môi trường thuận lợi về chính sách, thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư, khuyến khích họ bỏ vốn đầu tư

    + quản lý các doanh nghiệp đầu tư, đặc biệt vấn đề môi trường

    + thu hút các nhà đầu tư vào sản xuất, kinh doanh trong khu kinh tế đặc biệt

    + thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng: các nhà đầu tư sẽ cùng với NN đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, qua đó địa phương cũng được hưởng lợi

    + thu hút lao động: giải quyết vấn đề việc làm

    – Khu công nghiệp: là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, thường được đặt ở những vị trí thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp, có hàng rào phân cách với khu vực bên ngoài và không có dân cư sinh sống

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VI
    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VI

    – Khu chế xuất: là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu. Khu chế xuất có 2 chức năng:

    + là khu vực chuyên môn hóa

    + là khu vực phi thuế quan

    – Khu công nghệ cao: là khu vực kinh tế, kỹ thuật chuyên để nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao. Khu công nghệ cao cũng có thể có hàng rào ngăn cách, bao gồm khu hành chính, khu văn phòng và có thế có cả khu dân cư. (hiện VN có 3 khu công nghệ cao ở Hà Nội, Đà Nẵng, tp HCM).

    – Khu kinh tế: là khu vực có tính trọng điểm quốc gia để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xã hội, giải quyết vấn đề lao động, được thành lập trên cơ sở diện tích đất tự nhiên rộng lớn, có điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý, kinh tế thuận lợi. Khu kinh tế thu hút đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, có thể bao gồm các khu vực sau: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu hành chính, khu đô thị, khu dân cư, …

    – Hiện tại, tất cả các khu kinh tế ở VN đều ở gần cửa khẩu hoặc gần cảng biển.

    – Hạn chế của các khu kinh tế đặc biệt của Việt Nam:

    + chưa “tương thích” với thế giới: các nước trên thế giới thành lập các “đặc khu kinh tế”, coi đặc khu kinh tế là những “phòng thí nghiệm chính sách”, trong đó quốc gia sở tại đưa ra những chính sách đột phá, vô cùng thuận lợi cho các nhà đầu tư. Ví dụ như đặc khu kinh tế Thẩm Quyến, Thượng Hải của Trung Quốc là nơi chính phủ Trung Quốc thí điểm chính sách đấu giá đất, xây dựng thị trường chứng khoán, … và qua đó đã thúc đẩy kinh tế toàn vùng cũng như của toàn đất nước.

    Còn ở VN, chưa chú trọng vấn đề này, hiện VN mới chỉ “dám” đưa ra những chính sách ưu đãi về thuế, về thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư trong các khu kinh tế đặc biệt, chưa có những chính sách đột phá

    + các khu kinh tế đặc biệt của VN thường được coi như 1 công cụ để đưa những địa phương kém phát triển về kinh tế có điều kiện để phát triển, nâng cao trình độ lao động cho dân cư tại đó. Tuy nhiên với những khu vực kém phát triển thì thường có trình độ lao động thấp, tuy rằng giá rẻ, và đây cũng là 1 điểm hạn chế đối với các nhà đầu tư. Dẫn đến 1 hậu quả là VN chỉ thu hút được những nhà đầu tư cần nhân công giá rẻ, công nghệ lạc hậu, và đương nhiên nguy cơ ô nhiễm môi trường rất cao.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Đầu tư: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dau-tu?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VII

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VII

    “Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VII” tập trung vào pháp luật về đầu tư ra nước ngoài, giúp sinh viên hiểu rõ các quy định liên quan đến việc đầu tư của các tổ chức, cá nhân Việt Nam tại các quốc gia khác. Nội dung bài giảng làm rõ các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, cùng các thủ tục pháp lý cần thiết để thực hiện đầu tư ra nước ngoài.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VII

    Chương 7: Pháp luật về đầu tư ra nước ngoài

    Đầu tư ra nước ngoài

    – Tài liệu:

    + Nghị định 83/2015 về đầu tư ra nước ngoài

    + Nghị định 135/2015 về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

    – Chủ thể:

    + trước năm 2015, chỉ có doanh nghiệp mới được đầu tư ra nước ngoài

    + từ năm 2015, chủ thể đầu tư ra nước ngoài là nhà đầu tư (cá nhân, tổ chức), và coi đầu tư ra nước ngoài là 1 quyền của nhà đầu tư VN

    Câu hỏi: Tại sao phải quản lý đầu tư ra nước ngoài ?

    Trả lời: Để tránh việc nhà đầu tư lợi dụng đầu tư ra nước ngoài để “rửa tiền”.

    – Về hình thức đầu tư ra nước ngoài: mọi hình thức đầu tư được công nhận trong nước thì đều có thể được áp dụng khi đầu tư ra nước ngoài

    – Lưu ý: không được đầu tư ra nước ngoài những ngành nghề mà PL VN cấm kinh doanh (để đảm bảo sự đồng nhất trong chính sách đầu tư). Ví dụ hiện PL VN cấm kinh doanh ngành nghề mại dâm, thì dù ở quốc gia khác có cho phép đầu tư ngành nghề mại dâm thì nhà đầu tư VN cũng không được phép đầu tư vào lĩnh vực này tại quốc gia đó.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VII
    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương VII

    – Thủ tục đầu tư ra nước ngoài: gồm 2 bước:

    + thủ tục Quyết định chủ trương đầu tư: do Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định với những dự án lớn, đặc biệt

    + thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài: là thủ tục bắt buộc (khác với đầu tư trong nước là không bắt buộc với mọi dự án đầu tư).

    Chú ý: việc cấp GCN ĐKĐT ra nước ngoài mang tính thẩm định (khác với cấp GCN ĐKĐT trong nước)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Đầu tư: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dau-tu?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương V

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương V

    “Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương V” tập trung vào pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư theo hợp đồng, một hình thức đầu tư phổ biến và linh hoạt trong thực tiễn. Nội dung bài giảng cung cấp kiến thức về các loại hợp đồng đầu tư như hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao (BT), cùng các điều khoản quan trọng liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương V

    Chương 5: Pháp luật điều chỉnh hoạt động tư theo hợp đồng

    I. Đầu tư theo hình thức Hợp tác kinh doanh (BCC)

    1. Khái niệm

    Ví dụ:

    + Ông A có 1 mảnh đất để không

    + Công ty B chuyên về xây dựng có ý định đầu tư xây dựng và triển khai 1 nhà hàng sinh thái

    + Công ty C chuyên kinh doanh nhà hàng muốn mở rộng kinh doanh dựa trên nguồn lực, lợi thế có sẵn

    A, B, C muốn hợp tác với nhau, sẽ có 2 lựa chọn:

    + cùng nhau thành lập 1 tổ chức kinh tế chung, mỗi bên sẽ đưa tài sản của mình vào để cùng kinh doanh

    + cùng nhau kinh doanh trên cơ sở 1 hợp đồng, khi đó tài sản của mỗi bên vẫn do mỗi bên giữ

    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương V
    Bài giảng môn học Luật Đầu tư chương V

    – Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. (khoản 9 Điều 3)

    – Đầu tư theo hình thức BCC là việc các nhà đầu tư cùng thực hiện dự án đầu tư trên cơ sở ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh mà không thành lập tổ chức kinh tế chung.

    2. Đặc điểm

    – Bản chất của đầu tư theo BCC:

    + là hình thức đầu tư trực tiếp

    + phản ánh sự thỏa thuận về việc cùng nhau hợp tác bỏ vốn, quản lý, hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể ký kết

    Chú ý: việc hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro có thể không theo tỷ lệ vốn góp (mà theo thỏa thuận giữa các bên)

    – Chủ thể: các nhà đầu tư

    + số lượng: ít nhất là 2 bên, không hạn chế số lượng tối đa

    + tư cách: cá nhân, tổ chức VN hoặc nước ngoài

    Chú ý: trong 1 số trường hợp đặc biệt, NN quy định chủ thể phía VN là 1 chủ chể bắt buộc. VD trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí (1 dạng của BCC) thì 1 bên trong hợp đồng bắt buộc phải là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam

    + nếu BCC giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau thì sẽ áp dụng các quy định trong Bộ luật Dân sự

    + nếu BCC có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài thì sẽ áp dụng thủ tục cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư theo Điều 37

    – Mục đích: hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân.

    Tuy nhiên cần chú ý tới 3 vấn đề:

    + góp vốn

    + lợi ích (sản phẩm, tiền)

    + rủi ro

    Vì không thành lập pháp nhân nên thông thường các bên sẽ cử người của mình để lập ra Ban điều phối (hoàn toàn do các bên tự thỏa thuận, PL không quy định).

    Chú ý: PL không quy định hình thức của hợp đồng BCC phải bằng văn bản, do đó hoàn toàn có thể thỏa thuận bằng lời nói. PL chỉ có quy định 1 cách gián tiếp khi hợp đồng BCC có nhà đầu tư nước ngoài thì phải được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, trong hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư phải có văn bản hợp đồng BCC

    – Nội dung hợp đồng: hoàn toàn theo sự thỏa thuận các bên, nhưng bao gồm các nội dung chủ yếu sau (Điều 29, khoản 1):

    + Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án

    + Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh

    + Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên

    + Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng

    + Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng

    + Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng

    + Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp

    – Một số hoại hợp đồng BCC trog lĩnh vực đặc thù sẽ phải tuân theo mẫu do NN ban hành (VD trong lĩnh vực dầu khí)

    3. Ưu điểm và hạn chế của hình thức đầu tư theo hợp đồng BCC

    – Ưu điểm:

    + tiết kiệm chi phí thành lập, vận hành, giải thể pháp nhân trong 1 dự án đầu tư

    + hợp tác để khai thác lợi thế của pháp nhân khác

    + chia sẻ rủi ro 1 cách độc lập

    – Hạn chế:

    + việc không có pháp nhân chung dẫn đến việc khó khăn khi giao kết, thực hiện các hợp đồng phục vụ cho dự án (thông thường các bên sẽ thỏa thuận để dùng pháp nhân của 1 bên để ký kết hợp đồng với đối tác)

    + PL không có quy định về quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của các bên trong dự án cũng như trách nhiệm của các bên đối với bên thứ 3 trong quá trình thực hiện dự án BCC

    II. Đầu tư theo hình thức hợp đồng đối tác công tư (PPP)

    – Trước năm 2010, không có quy định về PPP mà chỉ tồn tại BOT, BTO, BT được nêu trong:

    + Luật đầu tư 2005

    + Nghị định 108/2009 về hợp đồng BOT, BTO, BT

    + Nghị định 24/2011 sửa đổi Nghị định 108/2009

    – Đến năm 2010, Thủ tướng ra Quyết định 71/2010 về thí điểm mô hình hợp tác công tư

    – Đến năm 2014, đầu tư theo mô hình PPP chính thức được công nhận, thể hiện trong:

    + Luật Đầu tư 2014

    + Luật Đầu tư công 2014

    + Nghị định 15/2015 hướng dẫn về đầu tư PPP

    – Đầu tư theo hình thức Hợp đồng đối tác công tư (PPP) là việc NN và nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ trên cơ sở hợp đồng dự án

    Như vậy, PPP bao trùm BOT, BTO, BT, và còn bao trùm thêm cả hạng mục cung cấp dịch vụ công

    1. Khái niệm

    – Theo Luật đầu tư công 2014: Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công. (Điều 4 khoản 16)

    – Theo Luật đầu tư 2014: Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi là hợp đồng PPP) là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 27 của Luật này. (Điều 3 khoản 8)

    Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công. (Điều 27)

    – Khái niệm: đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP là hình thức đầu tư trực tiếp mà theo đó NN và nhà đầu tư thỏa thuận về việc NN nhượng quyền thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quyền vận hành, quyền cung cấp dịch vụ cho nhà đầu tư; NN và nhà đầu tư thỏa thuận hợp tác và chia sẻ các quyền, nghĩa vụ, lợi ích, rủi ro trong quá trình thực hiện dự án đầu tư .

    2. Đặc điểm

    – Bản chất của đầu tư theo hợp đồng PPP:

    + là hình thức đầu tư trực tiếp

    + là 1 mối quan hệ đầu tư có yếu tố hốn hợp: công, tư

    + là 1 mối quan hệ hợp tác đầu tư “đặc biệt”

    – Chủ thể:

    + Nhà nước: bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh

    + nhà đầu tư: là các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư (ựa chọn theo hình thức đấu thầu)

    + doanh nghiệp dự án: doanh nghiệp do nhà đầu tư thành lập để thực hiện dự án PPP (chỉ bắt buộc đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B theo phân loại của Luật đầu tư công 2014)

    Chú ý: ở nước ngoài, doanh nghiệp NN không được tham gia vào PPP (vì bản chất của PPP là sử dụng vốn tư nhân, doanh nghiệp NN lại là vốn NN), còn ở VN thì không cấm điều này.

    – Mục đích:

    + lợi ích công: hạ tầng cơ sở công cộng, dịch vụ công

    + lợi ích tư: lợi ích của các nhà đầu tư tham gia vào dự án

    – Lĩnh vực đầu tư: khác với BCC (có thể áp dụng cho mọi lĩnh vực, trừ các lĩnh vực đặc biệt do NN quản lý), PPP chỉ được áp dụng cho 1 số lĩnh vực theo quy định của PL, đó là các dự án xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp trang thiết bị hoặc dịch vụ công. Danh sách cụ thể gồm (khoản 1, Điều 4 Nghị định 15/2015):

    + Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có liên quan

    + Hệ thống chiếu sáng; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; nhà ở xã hội; nhà ở tái định cư; nghĩa trang

    + Nhà máy điện, đường dây tải điện

    + Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước

    + Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí tượng thủy văn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung; ứng dụng công nghệ thông tin

    + Công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

    + Các lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    3. Phân loại hợp đồng đối tác công tư

    a. Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT)

    – Gồm:

    + Build: xây dựng kết cấu hạ tầng

    + Operate: kinh doanh trong thời hạn nhất định

    + Transfer: chuyển giao cho NN

    – Là hợp đồng được ký giữa CQNN có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho CQNN có thẩm quyền.

    – BOT phù hợp với những dự án có khả năng thu hồi tốt như dự án xây cầu, đường

    b. Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO)

    – Gồm:

    + Build: xây dựng kết cấu hạ tầng

    + Transfer: chuyển giao cho NN

    + Operate: kinh doanh trong thời hạn nhất định

    – Là hợp đồng được ký giữa CQNN có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho CQNN có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.

    c. Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT)

    – Gồm:

    + Build: xây dựng kết cấu hạ tầng

    + Transfer: chuyển giao cho NN

    – Là hợp đồng được ký giữa CQNN có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho CQNN có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện Dự án khác (theo các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 14 và Khoản 3 Điều 43 Nghị định 15/2015).

    d. Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Thuê dịch vụ (BTL)

    – Gồm:

    + Build: xây dựng kết cấu hạ tầng

    + Transfer: chuyển giao cho NN

    + Leasing: cho thuê dịch vụ trong thời hạn nhất định

    – Là hợp đồng được ký giữa CQNN có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho CQNN có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; CQNN có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định 15/2015.

    – Khác với BOT, nhà đầu tư được thanh toán từ người dân, với BTL thì NN thu tiền của người dân rồi mới thanh toán cho nhà đầu tư

    – BTL thích hợp với những dự án an sinh xã hội

    e. Hợp đồng Xây dựng – Thuê dịch vụ – Chuyển giao (BLT)

    – Gồm:

    + Build: xây dựng kết cấu hạ tầng

    + Leasing: cho thuê dịch vụ trong thời hạn nhất định

    + Transfer: chuyển giao cho NN

    – Là hợp đồng được ký giữa CQNN có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; CQNN có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định 15/2015; hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho CQNN có thẩm quyền.

    f. Hợp đồng Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh (BOO)

    – Gồm:

    + Build: xây dựng kết cấu hạ tầng

    + Own:

    + Operate: kinh doanh trong thời hạn nhất định

    – Là hợp đồng được ký giữa CQNN có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định.

    g. Hợp đồng Kinh doanh – Quản lý (O&M)

    – Gồm:

    + Operate: kinh doanh trong thời hạn nhất định

    + Manage:

    – Là hợp đồng được ký giữa CQNN có thẩm quyền và nhà đầu tư để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định.

    4. Nội dung

    Theo Nghị định 15/2015

    5. Trình tự thực hiện dự án PPP

    – Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B:

    + B1: Xây dựng và công bố dự án

    + B2: Lựa chọn nhà đầu tư

    + B3: Đàm phán, ký kết thỏa thuận đầu tư

    + B4: Thực hiện thủ tục cấp GCN đăng ký đầu tư

    + B5: Thành lập doanh nghiệp dự án

    + B6: Ký hợp đồng dự án

    + B7: Triển khai dự án

    + B8: Quyết toán, triển khai công trình

    – Dự án nhóm C:

    + B1: Xây dựng và công bố dự án

    + B2: Lựa chọn nhà đầu tư

    + B3: Đàm phán, ký kết hợp đồng dự án

    + B4: Triển khai dự án

    + B5: Quyết toán, chuyển giao công trình

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Đầu tư: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dau-tu?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XII

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XII

    “Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XII” giới thiệu về pháp luật liên quan đến các loại thuế khác trong hệ thống thuế Việt Nam, như thuế tài nguyên, thuế bảo vệ môi trường, thuế xuất nhập khẩu, và thuế tiêu thụ đặc biệt. Nội dung bài giảng giúp người học hiểu rõ đối tượng chịu thuế, cách tính thuế, cùng vai trò của các loại thuế này trong việc điều tiết kinh tế, bảo vệ tài nguyên và môi trường, cũng như tăng cường nguồn thu ngân sách Nhà nước.

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XII

    Chương 12: Pháp luật về các loại thuế khác

    1. Tổng quan về các loại thuế khác

    • Khái niệm: Các loại thuế khác là những khoản thuế không thuộc nhóm thuế đất đai nhưng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu ngân sách Nhà nước.
    • Mục tiêu:
      • Tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách.
      • Điều tiết hành vi kinh tế, xã hội.
      • Hỗ trợ phát triển các ngành, lĩnh vực trọng điểm.

    2. Các loại thuế quan trọng ngoài thuế đất đai

    2.1. Thuế Giá trị gia tăng (GTGT)

    Căn cứ pháp lý: Luật Thuế GTGT (2008, sửa đổi 2016).

    Đối tượng chịu thuế:

    Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam.

    Thuế suất phổ biến:

    0%: Xuất khẩu.

    5%: Các mặt hàng thiết yếu (y tế, giáo dục, nông sản).

    10%: Hàng hóa, dịch vụ thông thường.

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XII.
    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XII.

    2.2. Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN)

    Căn cứ pháp lý: Luật Thuế TNCN (2007, sửa đổi 2012).

    Đối tượng chịu thuế:

    Cá nhân cư trú có thu nhập toàn cầu.

    Cá nhân không cư trú có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

    Biểu thuế:

    Biểu thuế lũy tiến: Áp dụng cho thu nhập từ tiền lương, tiền công (từ 5% đến 35%).

    Biểu thuế cố định: Áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh, đầu tư (1%, 2%, hoặc 5%).

    2.3. Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

    Căn cứ pháp lý: Luật Thuế TNDN (2008, sửa đổi 2013).

    Đối tượng chịu thuế:

    Tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.

    Thuế suất:

    Thuế suất phổ thông: 20%.

    Thuế suất ưu đãi: 10% hoặc 15% (áp dụng cho ngành nghề khuyến khích đầu tư, vùng đặc biệt khó khăn).

    2.4. Thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu

    Căn cứ pháp lý: Luật Thuế Xuất khẩu, Nhập khẩu (2016).

    Đối tượng chịu thuế:

    Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam.

    Mục tiêu:

    Bảo vệ sản xuất trong nước.

    Điều tiết hoạt động thương mại quốc tế.

    2.5. Thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)

    Căn cứ pháp lý: Luật Thuế TTĐB (2008, sửa đổi 2016).

    Đối tượng chịu thuế:

    Hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, môi trường (rượu, bia, thuốc lá, xăng dầu, ô tô, v.v.).

    Mục tiêu:

    Điều tiết tiêu dùng hàng xa xỉ.

    Hạn chế sản phẩm gây hại.

    2.6. Thuế Bảo vệ môi trường

    Căn cứ pháp lý: Luật Thuế Bảo vệ môi trường (2010).

    Đối tượng chịu thuế:

    Hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường (xăng dầu, túi nilon, than, v.v.).

    2.7. Thuế tài nguyên

    Căn cứ pháp lý: Luật Thuế tài nguyên (2009).

    Đối tượng chịu thuế:

    Khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên được khai thác tại Việt Nam.

    Mục tiêu:

    Khuyến khích sử dụng tiết kiệm tài nguyên.

    3. Miễn, giảm thuế

    • Nguyên tắc chung: Được áp dụng cho các trường hợp ưu tiên chính sách hoặc gặp khó khăn bất khả kháng.
    • Đối tượng miễn, giảm phổ biến:
      • Thu nhập từ giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học.
      • Hoạt động tại vùng sâu, vùng xa.
      • Doanh nghiệp khởi nghiệp, ngành nghề ưu tiên.

    4. Quản lý và thu thuế

    • Nguyên tắc quản lý:
      • Minh bạch và công bằng trong quản lý thuế.
      • Ứng dụng công nghệ thông tin để cải tiến quy trình thu thuế.
    • Chế tài xử lý vi phạm:
      • Phạt hành chính khi kê khai sai, chậm nộp.
      • Truy thu thuế và áp dụng lãi suất nộp chậm.
      • Khởi kiện đối với hành vi trốn thuế nghiêm trọng.

    5. Định hướng hoàn thiện hệ thống thuế

    • Đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế.
    • Tăng cường các ưu đãi thuế để thu hút đầu tư.
    • Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng bền vững, hỗ trợ bảo vệ môi trường.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tài chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-tai-chinh?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XI

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XI

    “Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XI” tập trung vào pháp luật về thuế liên quan đến đất đai, một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống tài chính công. Nội dung bài giảng cung cấp kiến thức về các loại thuế như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất và các quy định liên quan. Đồng thời, bài giảng phân tích vai trò của thuế đất đai trong việc quản lý tài nguyên đất, thúc đẩy sử dụng đất hiệu quả và tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XI

    Chương 11: Pháp luật về thuế liên quan đến đất đai

    1. Tổng quan về thuế liên quan đến đất đai

    • Khái niệm: Thuế đất đai là khoản thu bắt buộc do Nhà nước quy định, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất hoặc sở hữu tài sản gắn liền với đất.
    • Mục tiêu:
      • Tạo nguồn thu ngân sách Nhà nước.
      • Điều tiết việc sử dụng đất đai, khuyến khích sử dụng đất hiệu quả.
      • Hạn chế đầu cơ và tích tụ đất không hợp lý.

    2. Các loại thuế liên quan đến đất đai

    2.1. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

    Căn cứ pháp lý: Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (2010).

    Đối tượng chịu thuế:

    Đất ở tại nông thôn và đô thị.

    Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.

    Đất sử dụng cho mục đích khác không thuộc đối tượng miễn thuế.

    Thuế suất:

    Đất ở: 0,03% giá trị đất.

    Đất lấn chiếm: 0,2% giá trị đất.

    2.2. Thuế sử dụng đất nông nghiệp

    • Căn cứ pháp lý: Nghị quyết số 107/2020/QH14 (miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2030).
    • Đối tượng chịu thuế:
      • Đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.
      • Đất rừng sản xuất.

    2.3. Thuế thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất

    • Căn cứ pháp lý: Luật Thuế thu nhập cá nhân (2007, sửa đổi 2012).
    • Đối tượng chịu thuế:
      • Cá nhân, tổ chức có thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
    • Thuế suất:
      • Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: 2% trên giá trị chuyển nhượng.

    2.4. Lệ phí trước bạ đất đai

    Căn cứ pháp lý: Nghị định 10/2022/NĐ-CP.

    Đối tượng chịu lệ phí:

    Tổ chức, cá nhân đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu.

    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XI;
    Bài giảng môn học Luật Tài chính chương XI;

    3. Miễn, giảm thuế đất đai

    • Các trường hợp miễn thuế:
      • Đất sử dụng cho mục đích công ích, quốc phòng, an ninh.
      • Đất thuộc dự án phát triển nông nghiệp, vùng khó khăn.
    • Các trường hợp giảm thuế:
      • Đất bị ảnh hưởng thiên tai, dịch bệnh.
      • Đất sử dụng không đúng kế hoạch do nguyên nhân khách quan.

    4. Quản lý và thu thuế đất đai

    • Nguyên tắc quản lý:
      • Công khai, minh bạch trong xác định nghĩa vụ thuế.
      • Áp dụng đúng mức giá đất theo quy định Nhà nước.
    • Cơ quan thu thuế: Cục Thuế và Chi cục Thuế tại địa phương.
    • Xử lý vi phạm:
      • Phạt hành chính nếu chậm nộp thuế.
      • Thu hồi đất nếu không thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.

    5. Thách thức và định hướng hoàn thiện pháp luật thuế đất đai

    • Thách thức:
      • Xác định giá trị đất không sát thực tế gây thất thu thuế.
      • Hiện tượng đầu cơ, sử dụng đất không hiệu quả.
    • Định hướng:
      • Hoàn thiện hệ thống pháp luật về định giá đất.
      • Tăng cường chế tài xử lý vi phạm thuế đất.
      • Thúc đẩy các chính sách khuyến khích sử dụng đất bền vững.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tài chính: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-tai-chinh?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VII

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VII

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VII về Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cung cấp kiến thức chi tiết về quy trình xét xử, thẩm quyền của tòa án sơ thẩm, và các nguyên tắc đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong tố tụng. Nội dung bài giảng giúp sinh viên nắm rõ các bước tổ chức phiên tòa, từ giai đoạn chuẩn bị đến xét xử và tuyên án. Đây là tài liệu quan trọng, hỗ trợ người học hiểu sâu về thực tiễn xét xử, đồng thời chuẩn bị tốt cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong các vụ án hình sự.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VII

    Chương 7: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

    I. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án các cấp

    – Tòa án cấp huyện và tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử :

    + tội ít nghiêm trọng

    + tội nghiêm trọng

    + tội rất nghiêm trọng

    – Tòa án cấp huyện và tòa án quân sự khu vực không có thẩm quyền xét xử :

    + các tội xâm phạm an ninh quốc gia

    + các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh

    + các tội tại điểm c, khoản 1, Điều 170

    Tại sao ? Vì những tội này có tính chất phức tạp cao, nếu sai lầm sẽ gây hậu quả lớn. Luật TTHS 2015 còn quy định thêm: Tòa án cấp huyện và Tòa án quân sự cấp khu vực không được xét xử các tội phạm thực hiện ngoài lãnh thổ VN

    1. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo vụ việc

    – Tòa án cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử:

    + những tội phạm không thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án cấp huyện và tòa án quân sự cấp khu vực

    + những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp dưới mà tòa án cấp tỉnh lấy lên để xét xử

    + Các tội có tính chất phức tạp, nghiêm trọng, khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án

    + Có đặc điểm riêng về người phạm tội: các tội mà người thực hiện là cán bộ chủ chốt cấp huyện (như Chủ tịch huyện), người có chức sắc cao trong tôn giáo, người có uy tín trong dân tộc thiểu số, điều tra viên, kiểm soát viên nội bộ, … phạm tội

    2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng

    – Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:

    + bị cáo là quân nhân tại ngũ, công nhân quốc phòng, nhân viên quốc phòng, quân nhân sự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu

    + bị cáo không thuộc những đối tượng trên nhưng phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VII,
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VII,

    3. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ (Điều 171, 172)

    – Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

    – Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở VN thì do Tòa án cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án TANDTC ra quyết định giao cho tòa án thành phố Hà Nội hoặc tòa án thành phố HCM xét xử.

    – Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự TW.

    II. Chuẩn bị xét xử

    1. Thời hạn chuẩn bị xét xử (Điều 176)

    – Quy định theo loại tội phạm:

    + tội ít nghiêm trọng: 30 ngày

    + tội nghiêm trọng: 45 ngày

    + tội rất nghiêm trọng: 2 tháng

    + tội đặc biệt nghiêm trọng: 3 tháng

    2. Những quyết định của tòa án trong khi chuẩn bị xét xử

    – Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 179), trong 3 trường hợp:

    + khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được

    + khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác

    + khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

    – Quyết định tạm đình chỉ vụ án (Điều 180), trong 2 trường hợp:

    + khi bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác

    + không biết rõ bị can đang ở đâu

    – Quyết định đình chỉ vụ án (Điều 180), 2 trường hợp:

    + khi có một trong những căn cứ:

    • người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm (khoản 2 Điều 105)
    • người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 107)
    • người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật (khoản 4 Điều 107)
    • đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 5 Điều 107)
    • tội phạm đã được đại xá (khoản 6 Điều 107)
    • người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác (khoản 7 Điều 107)

    + VKS rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án (Điều 181)

    – Quyết định đưa vụ án ra xét xử (Điều 178):

    + căn cứ ra quyết định: khi không có căn cứ để ra 1 trong 3 quyết định đã nêu trên

    + nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử:

    (1) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo

    (2) Tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát áp dụng đối với hành vi của bị cáo

    (3) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa

    (4) Xử công khai hay xử kín

    (5) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết, nếu có

    (6) Họ tên Kiểm sát viên tham gia phiên toà; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết, nếu có

    (7) Họ tên người bào chữa, nếu có

    (8) Họ tên người phiên dịch, nếu có

    (9) Họ tên những người được triệu tập để xét hỏi tại phiên toà

    (10) Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên toà

    ——————–

    Ngày 13/10/2016

    Giảng viên: thầy …

    (tiếp bài trước)

    III. Những quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa

    1. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm (Điều 185)

    – Hội đồng xét xử sơ thẩm = 1 thẩm phán + 2 hội thẩm.

    Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì HĐXX có thể gồm 2 thẩm phán và 3 hội thẩm.

    – Hội thẩm: là người thuộc các tổ chức chính trị xã hội như hội phụ nữ, hội nông dân, trí thức, …

    Chú ý: hội thẩm chỉ có ở cấp sở thẩm (phúc thẩm chỉ có thẩm phán, không có hội thẩm). Lý do: thực tế ở VN thì việc đưa hội thẩm vào HĐXX phần nhiều thể hiện tính dân chủ (ít tính chuyên môn)

    Câu hỏi: tại sao thành phần chuyên môn (thẩm phán) trong Hội đồng xét xử lại ít hơn thành phần phi chuyên môn (hội thẩm) ? Phải chăng nên đảo lại tỷ lệ này để nâng cao chất lượng xử án ?

    Trả lời: Tỷ lệ trong HĐXX này vẫn giữ nguyên từ năm 1945, mang tính chất lịch sử, hiện vẫn chưa có lý giải thỏa đáng. Tuy nhiên có thể giải thích theo hướng để tỷ lệ như vậy để thể hiện tính dân chủ, hoặc để tránh sự “quan liêu” của những “quan tòa”. Hơn nữa, để đề phòng sự sai sót thì nếu không đồng ý với quyết định của phiên tòa sơ thẩm thì có thể kháng cáo, kháng nghị và trong phiên tòa phúc thẩm chỉ có thành phần chuyên môn (tức là chỉ có thẩm phán)

    – Với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì Hội đồng xét xử gồm 2 thẩm phán và 3 hội thẩm.

    – Vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên: trong hội đồng xét xử phải có ít nhất 1 hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ đoàn thanh niên (khoản 1 Điều 307)

    2. Những người cần phải có mặt tại phiên tòa

    – Sự có mặt của Kiểm sát viên (Điều 189): bắt buộc phải có mặt, để thực hiện 2 chức năng:

    + công tố

    + kiểm soát việc tuân theo PL của tòa án

    Với những vụ án phức tạp, đông bị cáo thì có thể có nhiều KSV cùng tham gia

    Nếu KSV vắng mặt, bị thay đổi mà không có KSV dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và báo ngay cho VKS cùng cấp

    – Sự có mặt của bị cáo (Điều 187): có nghĩa vụ phải tham gia, nếu vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì bị áp giải đến phiên tòa, nếu đang bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh. Nếu bị cáo trốn tránh thì hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu CQĐT truy nã bị cáo.

    Mặt khác, sự có mặt của bị cáo cũng là quyền của bản thân họ, vì họ tham gia phiên tòa để tự bảo vệ cho mình trước những buộc tội của bị hại, của các cơ quan tiến hành tố tụng.

    Tòa án có thể xử vắng mặt bị cáo trong 3 trường hợp:

    + bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả

    + bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa: là trường hợp VN và quốc gia đó chưa có Hiệp định tương trợ tư pháp để có thể dẫn độ tội phạm, hoặc nước ngoài từ chối dẫn độ (thường vì lý do chính trị). Hiện nay VN mới ký được Hiệp định tương trợ tư pháp với hơn 20 quốc gia.

    + nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ. (đây là vấn đề gây tranh cãi vì mâu thuẫn với nghĩa vụ của bị cáo là phải tham gia. Đến luật TTHS 2015 đã sửa lại thành: bị cáo có quyền làm đơn xin xét xử vắng mặt, nếu tòa chấp thuận thì sẽ tiến hành xử vắng mặt)

    – Sự có mặt của người bào chữa (Điều 190): có nghĩa vụ tham gia. Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho tòa án. Nếu người bào chữa vắng mặt Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử.

    Chú ý: trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 mà người bào chữa vắng mặt, thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Tức là trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa tại phiên tòa, gồm 2 trường hợp:

    + bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự

    + bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

    Tuy nhiên, nếu bị cáo đồng tình với sự vắng mặt của người bào chữa, hoặc từ chối sự có mặt người bào chữa thì tòa vẫn mở phiên tòa, nhưng sẽ ghi rõ vào Biên bản phiên tòa. Chú ý: nếu bị cáo thuộc diện phải có người đại diện để tham gia phiên tòa thì chỉ khi cả bị cáo và người đại diện cùng đồng thời từ chối người bào chữa thì tòa mới mở phiên tòa, nếu chỉ 1 người đồng ý, người kia không đồng ý thì tòa vẫn bắt buộc phải có người bào chữa thì mới cho mở phiên tòa.

    – Sự có mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ (Điều 191): tùy từng trường hợp mà HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.

    Chú ý: nếu phiên tòa phải có người phiên dịch thì nếu vắng người phiên dịch thì phiên tòa sẽ bị hoãn.

    3. Thời hạn hoãn phiên tòa (Điều 194)

    – Không được quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

    4. Giới hạn của việc xét xử (Điều 196)

    – Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.

    Tòa án không thể xét xử bị cáo về những hành vi chưa bị truy tố hoặc đồng phạm khác chưa bị khởi tố, điều tra, truy tố

    – Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố.

    Tòa án có thể xét xử bị cáo về tội phạm khác bằng hoặc nhẹ hơn tội phạm mà VKS đã truy tố.

    5. Việc rút quyết định truy tố, kết luận về tội nhẹ hơn (Điều 195, 221)

    – Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, KSV có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn, nhưng HĐXX vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án

    – Trong trường hợp KSV rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, HĐXX yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó

    – Trong trường hợp KSV rút toàn bộ quyết định truy tố thì HĐXX vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự luật định. Nếu có căn cứ xá định bị cáo không có tội thì HDDXX tuyên bố bị cáo không có tội; nếu thấy việc rút truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp.

    IV. Trình tự phiên tòa sơ thẩm

    Gồm 4 bước:

    + B1: thủ tục bắt đầu phiên tòa: HĐXX chỉ xem xét những điều kiện để mở phiên tòa

    + B2: xét hỏi tại phiên tòa: sau khi KSV đọc cáo trạng xong

    + B3: tranh tụng tại phiên tòa

    + B4: nghị án và tuyên án

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VI

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VI

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VI tập trung vào nội dung Điều tra – Truy tố, cung cấp kiến thức về quy trình thu thập chứng cứ, thẩm quyền của cơ quan điều tra, và các bước truy tố bị can trước tòa án. Tài liệu này giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của các bên trong giai đoạn điều tra và truy tố, cũng như các nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong tố tụng hình sự. Đây là nguồn tham khảo cần thiết để nắm vững lý thuyết và vận dụng hiệu quả vào thực tiễn pháp lý.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VI

    Chương 6: Điều tra – Truy tố

    I. Khái niệm, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án

    1. Khái niệm

    – Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn TTHS độc lập, trong đó các cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp hợp pháp theo quy định của luật TTHS để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án hình sự

    – Đặc điểm:

    + là giai đoạn độc lập, liền sau giai đoạn khởi tố vụ án và liền trước giai đoạn truy tố

    + cơ quan có thẩm quyền điều tra không chỉ là CQĐT mà còn gồm các cơ quan khác theo quy định của PL

    + các biện pháp hợp pháp: phải là các hoạt động được quy định trong bộ luật TTHS. Chú ý: phân biệt với khái niệm “trinh sát nghiệp vụ” của các trinh sát điều tra (VD đóng giả là tay chơi cờ bạc để xâm nhập vào các sới bạc, đóng giả là người buôn bán ma túy để điều tra đường dây ma túy, …) không được quy định trong luật TTHS, do đó sẽ không được thể hiện trong Hồ sơ vụ án.. Hồ sơ vụ án chỉ thể hiện những biện pháp, những trình tự thủ tục quy định trong luật TTHS.

    + mục tiêu nhằm xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Chú ý: trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cũng có nội dung điều tra, nhưng chỉ dừng lại ở mức xác định có dấu hiệu phạm tội là đã kết thúc giai đoạn khởi tố, còn với giai đoạn Điều tra thì việc điều tra phải làm rõ hành vi tội phạm

    + để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án hình sự: chứ không phải là đã giải quyết được vụ án (vì sẽ còn phải qua giai đoạn truy tố và xét xử)

    2. Nhiệm vụ

    – Xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội

    – Lập hồ sơ vụ án hình sự: 1 vụ án có 1 bộ hồ sơ duy nhất bắt đầu từ khâu khởi tố cho đến khi kết thúc vụ án, hồ sơ sẽ được chuyển qua lần lượt các cơ quan trong quá trình tiến hành tố tụng để theo dõi, bổ sung.

    1. Thẩm quyền điều tra (Điều 110)

    a. Thẩm quyền điều tra của CQĐT

    – CQĐT trong VKSNDTC: có thẩm quyền điều tra đối với 1 số tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp. Cụ thể gồm các nhóm tội:

    + tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

    + tội dù không xâm phạm hoạt động tư pháp nhưng có xuất phát từ hoạt động của cán bộ tư pháp. VD thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong xét xử (ví dụ như Thẩm phán xử vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang)

    – CQĐT trong quân đội: có thẩm quyền điều tra đối với các tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Theo Điều 3 Pháp lệnh Tổ chức tòa án quân sự 2002 thì tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử đối với:

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VI
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương VI

    + vụ án mà bị cáo và quân nhân phạm tội

    + vụ án mà bị cáo là thường dân phạm tội nhưng liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội

    – CQĐT trong công an: có thẩm quyền điều tra đối với những vụ án không thuộc 2 trường hợp trên thì sẽ thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong công án

    – Thẩm quyền theo cấp:

    + CQĐT cấp huyện, CQĐT quân sự khu vực điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện (tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, hoặc rất nghiêm trọng), Toà án quân sự khu vực

    + CQĐT cấp tỉnh, CQĐT quân sự cấp quân khu điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp dưới nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

    + CQĐT cấp trung ương điều tra những vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp tỉnh, CQĐT quân sự cấp quân khu nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra

    – Thẩm quyền theo địa phận: CQĐT có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của CQĐT nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.

    b. Thẩm quyền điều tra của các cơ quan khác (Điều 111)

    – Cơ quan khác gồm: bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, và các cơ quan khác của công an, quân đội

    – Có thẩm quyền điều tra trong 2 trường hợp:

    + Đối với 1 số tội ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, đơn giản thì được tiến hành các hoạt động điều tra. Khi kết thúc điều tra thì phải chuyển cho VKS truy tố trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    + Đối với những vụ án không thuộc trường hợp kể trên thì chỉ được tiến hành hoạt động điều tra ban đầu, sau đó phải chuyển cho CQĐT có thẩm quyền để tiếp tục tiến hành rồi chuyển VKS truy tố

    2. Chuyển vụ án để tiến hành điều tra theo thẩm quyền (Điều 116)

    – Tại sao phải chuyển ?

    Vì khi bắt đầu điều tra sẽ chưa thể xác định được vụ việc có thuộc thẩm quyền điều tra của mình hay không, sau khi đã điều tra nếu phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì sẽ phải chuyển cho CQĐT có thẩm quyền.

    – Thủ tục chuyển:

    + CQĐT đề nghị VKS cùng cấp ra quyết định chuyển

    + VKS cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án (trong thời hạn 3 ngày)

    Chú ý: việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do VKS cấp tỉnh, VKS quân sự cấp quân khu quyết định

    3. Nhập, tách vụ án để tiến hành điều tra (Điều 117)

    – Nhập vụ án:

    + khi bị can phạm nhiều tội

    + khi nhiều bị can cùng phạm 1 tội

    + trong vụ án còn có người khác che dấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm

    Chú ý: không được nhập nhiều vụ án không có liên quan đến nhau

    – Tách vụ án: chỉ được tách vụ án trong những trường hợp thật cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án

    – Thẩm quyền tách, nhập vụ án: CQĐT quyết định tách, nhập, và quyết định nhập, tách phải được gửi cho VKS cùng cấp trong thời hạn 24 giờ

    4. Thời hạn tố tụng trong giai đoạn điều tra

    a. Thời hạn điều tra (Điều 119)

    – Là thời gian từ khi khởi tố vụ án (là thời điểm ra quyết định khởi tố vụ án) đến khi kết thúc điều tra (là thời điểm ra được bản kết luận điều tra để chuyển sang VKS)

    – Mỗi loại tội phạm sẽ có thời hạn điều tra khác nhau:

    + tội ít nghiêm trọng: 2 tháng, có thể gia hạn thêm 1 lần không quá 2 tháng ==> tối đa 4 tháng

    + tội nghiêm trọng: 3 tháng, có thể gia hạn thêm 2 lần, lần thứ nhất không quá 3 tháng và lần thứ hai không quá 2 tháng ==> tối đa 8 tháng

    + tội rất nghiêm trọng: 4 tháng, có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 4 tháng ==> tối đa 12 tháng

    + tội đặc biệt nghiêm trọng: 4 tháng, có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 4 tháng ==> tối đa 16 tháng

    – Chậm nhất 10 ngày trước khi hết hạn điều tra, CQĐT phải có văn bản đề nghị VKS gia hạn điều tra. Việc gia hạn thời hạn điều tra phải do VKS quyết định.

    – Nếu đã hết thời hạn gia hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra.

    b. Thời hạn tạm giam để điều tra (Điều 120)

    – Tạm giam để điều tra tức là biện pháp tạm giam được áp dụng trong giai đoạn điều tra

    – Về nguyên tắc, thời hạn tạm giam để điều tra không thể vượt quá thời hạn điều tra

    – Chú ý: thời hạn tạm giam được tính theo ngày (khác với thời hạn điều tra được tính theo tháng). Lý do tạm giam phải tính theo ngày là vì người bị tạm giam sẽ được trừ đi số ngày bị tạm giữ trước đó. VD nếu người đó đã bị tạm giữ 3 ngày thì khi tạm giam sẽ được trừ đi 3 ngày đó, chẳng hạn nhận quyết định tạm giam 60 ngày thì sẽ được trừ đi 3 ngày tam giữ, và sẽ chỉ còn phải chịu 57 ngày tạm giam.

    Ngoài ra, khi bị tuyên án phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, thì sẽ được trừ đi thời hạn bị tạm giam, tạm giữ

    – Mỗi loại tội phạm sẽ có thời hạn tạm giam khác nhau (xem Điều 120)

    c. Thời hạn điều tra bổ sung, phục hồi điều tra và điều tra lại (Điều 121)

    – Điều tra bổ sung: khi vụ án có tình tiết mới không thể làm rõ ngay tại phiên tòa được, khi đó tòa án sẽ trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung.

    VD vụ án “hoa hậu Phương Nga”, khi xét xử thì Phương Nga đưa ra tình tiết mới mà theo đó nếu đúng sẽ làm thay đổi căn bản vụ án, tại phiên tòa thì tòa án chưa thể làm rõ ngay được nên đã trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung

    Ai có quyền yêu cầu điều tra bổ sung ?

    + VKS có quyền yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung

    + tòa án có quyền yêu cầu VKS điều tra bổ sung, và nếu VKS thấy tự mình không điều tra bổ sung được thì sẽ lại chuyển cho CQĐT để điều tra bổ sung

    Về bản chất, điều tra bổ sung vẫn công nhận những kết quả điều tra trước đó, nhưng bổ sung thêm

    – Điều tra lại: do hội đồng xét xử hoặc hội đồng xét lại bản án quyết định. Ví dụ: trong phiên tòa phúc thẩm, nếu hội đồng xét xử thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa thỏa đáng, có dấu hiệu oan sai, thì có thể tuyên bố hủy bản án sơ thẩm và yêu cầu điều tra lại, khi đó vụ án sẽ quay trở lại giai đoạn Điều tra vụ án (tiếp sau là Truy tố, Xét xử, …). Tương tự, khi xét lại bản án trong phiên tòa giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, thì hội đòng xét xử có thể tuyên bố hủy bản án phúc thẩm và yêu cầu điều tra lại

    – Phục hồi điều tra: trong 1 số trường hợp vụ án có thể bị đình chỉ hoặc tạm đình chỉ, VD bị can mắc bệnh tâm thần, vụ án sẽ bị đình chỉ điều tra để đưa bị can đi chữa bệnh, khi khỏi bệnh thì sẽ phục hồi điều tra

    5. Một số hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra

    a. Hoạt động khởi tố bị can và hỏi cung bị can

    a.1. Khởi tố bị can (Điều 126)

    – Là hình thức pháp lý để xác định 1 người đã thực hiện hành vi phạm tội

    – Kết quả của hoạt động khởi tố bị can là Quyết định khởi tố bị can, phải thể hiện được những nội dung sau:

    + nhân thân bị can: họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình của bị can

    + tội danh: ghi rõ bị khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự

    – Ý nghĩa của quyết định khởi tố bị can:

    + là cơ sở để ra quyết định tạm giam (trước khi khởi tố bị can thì chỉ có thể tạm giữ)

    + là cơ sở để hỏi cung bị can

    – Thẩm quyền khởi tố bị can:

    + CQĐT

    + VKS (khoản 5 Điều 126): nếu phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố thì VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can. Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố thì VKS ra quyết định khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, VKS phải gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra

    a.2. Hỏi cung bị can (Điều 131)

    – Là một biện pháp điều tra nhằm thu thập thông tin từ bị can thông qua việc lấy lời khai. Kết quả của hoạt động hỏi cung bị can là Biên bản hỏi cung bị can

    – Lưu ý:

    + chỉ được hỏi cung bị can sau khi đã có quyết định khởi tố bị can

    + thẩm quyền hỏi cung: điều tra viên, kiểm sát viên

    + không được hỏi cung vào ban đêm (từ 22h – 6h), trừ trường hợp không thể trì hoãn được

    Chú ý: trường hợp bắt đầu hỏi cung lúc 21h kéo dài đến 23h thì có vi phạm ?

    Chú ý: thế nào là trường hợp không thể trì hoãn được ? Luật không quy định

    + trường hợp bị can đang tại ngoại và bị can đang bị tạm giữ, tạm giam thì thủ tục hỏi cung sẽ khác nhau (tụ nghiên cứu)

    + trường hợp bị can chưa thành niên: (tự nghiên cứu)

    + nơi hỏi cung bị can: tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó

    b. Lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Điều 133 – 137)

    – Kết quả của các hoạt động này là Biên bản ghi lời khai

    Chú ý: nếu người làm chứng đã được CQĐT, VKS triệu tập nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc họ vắng mặt gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố thì cơ quan đã triệu tập người làm chứng có thể ra quyết định dẫn giải

    Chú ý: phân biệt áp giải (đối với bị can, bị cáo) và dẫn giải (đối với người làm chứng)

    c. Đối chất và nhận dạng

    c.1. Đối chất (Điều 138)

    – Là hoạt động điều tra được thực hiện trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa 2 hay nhiều người tham gia tố tụng với nhau

    – Chủ thể tiến hành đối chất: điều tra viên

    – Thủ tục đối chất:

    + Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Khi đã nghe những lời khai trong đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.

    + Điều tra viên cũng có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải được ghi vào biên bản.

    + Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai lần trước của họ

    c.2. Nhận dạng (Điều 139)

    – Đối tượng nhận dạng: người, vật, ảnh

    – Thủ tục nhận dạng:

    + Điều tra viên mời người hoặc đưa vật, ảnh cho người làm chứng, người bị hại hoặc bị can nhận dạng.

    + Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được

    + Trong khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu hỏi có tính chất gợi ý

    + Việc tiến hành nhận dạng phải có mặt người chứng kiến

    + lập Biên bản nhận dạng

    – Chú ý: điều tra viên phải đưa ra 3 người, vật, hoặc ảnh có bề ngoài tương tự nhau để nhận dạng. Đối với việc nhận dạng tử thi thì không áp dụng nguyên tắc này. Trong trường hợp đặc biệt có thể cho xác nhận người qua tiếng nói.

    d. Khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản

    d.1. Khám xét

    – Là hoạt động điều tra nhằm thu thập tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện người đang bị truy nã

    – Căn cứ khám xét (Điều 140):

    + khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm:

    • Có căn cứ nhận định ở đó có công cụ, phương tiện phạm tội, tài sản do phạm tội mà có, hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án
    • Khi cần phát hiện người đang bị truy nã

    + khám người: khi có căn cứ để nhận định ở đó có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án

    + khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm: khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án. Chú ý: nếu thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm đang ở chỗ ở, chỗ làm việc của nghi phạm thì đây là khám đồ vật, tài liệu thông thường

    – Thẩm quyền ra lệnh khám xét (Điều 141):

    + những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì có quyền ra lệnh khám xét, và lệnh khám xét phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

    + những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp thì có quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp không thể trì hoãn được. Khi đó thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp.

    – Thủ tục khám người (Điều 142):

    + khi bắt đầu khám người, phải đọc lệnh khám và đưa cho đương sự đọc lệnh khám đó; giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.

    + người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám.

    + Khi khám người thì nam khám nam, nữ khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến. Chú ý: vấn đề đồng tính, chuyển giới thì luật chưa quy định

    + Có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người đồ vật, tài liệu cần thu giữ

    – Thủ tục khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm (Điều 143):

    + phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền cấp xã và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến.

    + không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

    + khi khám chỗ làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Việc khám chỗ làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến.

    + Khi tiến hành khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xong

    d.2. Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện (Điều 144)

    d.3. Tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét (Điều 145)

    d.4. Kê biên tài sản (Điều 146)

    – Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định có thể tịch thu tài sản hoặc phạt tiền cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của PL

    Chú ý: kê biên tài sản thực chất không phải biện pháp điều tra, mà để nhằm phục vụ công tác thi hành án

    e. Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm để điều tra và giám định

    e.1. Khám nghiệm hiện trường (Điều 150)     

    – Là hoạt động điều tra tại nơi xảy ra tội phạm, nơi phát hiện tội phạm, nhằm phát hiện dấu vết, tài liệu, đồ vật liên quan và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án

    – Thủ tục tiến hành khám nghiệm:

    khám nghiệm hiện trường có thể được tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự

    Trong mọi trường hợp, điều tra viên phải thông báo cho VKS cùng cấp biết trước khi thi hành

    + phải có mặt kiểm sát viên và người chứng kiến

    + có thể để bị can, người bị hại, người làm chứng tham dự

    + phải lập biên bản khám nghiệm

    + nếu không thể xem xét ngay được thì đồ vật, tài liệu thu giữ được phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra

    e.2. Khám nghiệm tử thi (Điều 151)

    – Là hoạt động điều tra nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm trên tử thi

    – Trong mọi trường hợp, việc khám nghiệm tử thi phải được thông báo trước cho VKS cùng cấp biết. Kiểm sát viên phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm tử thi.

    e.3. Xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 152)

    – Là hoạt động điều tra nhằm phát hiện trên người bị xem xét thân thể dấu vết của tội phạm hoặc dấu vết khác có ý nghĩa của vụ án.

    VD: dấu vết của tội phạm trên người như vết chém, bị bỏng, ..

    Dấu vết khác có ý nghĩa của vụ án: như vết chàm, bớp, hình xăm … (để giúp nhận dạng người phạm tội hoặc người có liên quan)

    – Việc xem xét thân thể phải do người cùng giới tiến hành và phải có người cùng giới chứng kiến. Trong trường hợp cần thiết thì có bác sĩ tham gia.

    e.4. Thực nghiệm điều tra (Điều 153)

    – Là hoạt động điều tra trong TTHS, được tiến hành bằng cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc mọi tình tiết khác của sự việc nhất định, nhằm xác minh những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án

    e.5. Giám định (Điều 155 – 159)

    – Là hoạt động điều tra trong TTHS được tiến hành thông qua việc sử dụng những kiến thức, phương pháp, phương tiện khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự

    – Thủ tục giám định:

    + CQĐT ra quyết định trưng cầu giám định

    + Điều tra viên, Kiểm sát viên có quyền tham dự giám định, nhưng phải báo trước cho người giám định biết

    + Nếu việc giám định không thể tiến hành theo thời hạn mà cơ quan trưng cầu giám định yêu cầu thì cơ quan giám định hoặc người giám định phải thông báo ngay bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan đã trưng cầu giám định biết

    + Sau khi giám định phải ra Kết luận giám định theo quy định tại Điều 157

    + Cơ quan trưng cầu giám định có thể hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết và có thể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại. Chú ý: nếu giám định lại sẽ phải do người giám định / hội đồng giám định khác tiến hành

    – Theo quy định của luật TTHS, bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:

    + Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao động

    + Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo nếu nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ

    + Tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại nếu có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án

    + Tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án và không có tài liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó

    + Chất độc, chất ma tuý, chất phóng xạ, tiền giả

    6. Tạm đình chỉ điều tra (Điều 160)

    – Là việc tạm dừng điều tra trong 1 khoảng thời gian nhất định khi có các căn cứ theo quy định của PL

    VD: bị can bỏ trốn thì sẽ tạm đình chỉ, chờ đến khi bắt được bị can sẽ tiếp tục điều tra

    – Căn cứ tạm đình chỉ điều tra:

    + Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra.

    + Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì chỉ tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra.

    Chú ý: Nếu không biết bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra

    + Trong trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định mà hết thời hạn điều tra thì tạm đình chỉ điều tra và việc giám định vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.

    + Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

    – Thủ tục tạm đình chỉ điều tra:

    + CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra

    + gửi quyết định cho VKS cùng cấp và thông báo bị can, người bị hại

    7. Kết thúc điều tra (Điều 162)

    – CQĐT sẽ kết thúc việc điều tra bằng 1 trong 2 hình thức sau:

    + đề nghị truy tố: khi có đủ chứng cứ để xác định tội phạm đã xảy ra và bị can là người đã thực hiện hành vi phạm tội, CQĐT làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố gửi sang VKS

    + đình chỉ điều tra: khi có 1 trong các căn cứ sau:

    • (Khoản 2 Điều 105): người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm
    • Điều 107: các căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự (7 căn cứ)
    • (Điều 19 Bộ luật hình sự): tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm
    • (Điều 25 của Bộ luật hình sự): do sự chuyển biến của tình hình, xét thấy hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự
    • (khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự): người chưa thành niên, phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, nếu được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục và xét thấy không cần phải áp dụng hình phạt

    Chú ý: khoản 4 Điều 164: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì VKS phải trả lại hồ sơ vụ án cho CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố. Thời hạn ra quyết định truy tố được thực hiện theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật này.

    Câu hỏi: VKS có quyền truy tố bị can mà CQĐT không đề nghị truy tố không ?

    Trả lời: Có. Vì theo quy định tại khoản 4 Điều 164: khi nhận được quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT, nếu VKS thấy có đủ căn cứ để truy tố thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố.

    8. Phục hồi điều tra (Điều 165)

    – Là việc tiếp tục tiến hành điều tra đối với vụ án hoặc bị can đã bị tạm đình chỉ hay đình chỉ điều tra.

    – Chú ý: Đình chỉ điều tra tức là chấm dứt điều tra, nhưng có 2 trường hợp dù đã đình chỉ điều tra vẫn được phục hồi điều tra khi bị can yêu cầu:

    + không có vụ việc phạm tội xảy ra

    + hành vi không cấu thành tội phạm

    Tại sao bị can lại yêu cầu phục hồi điều tra ? Vì bị can muốn cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định tuyên bố không phạm tội để khôi phục danh dự, uy tín cho mình.

    I. Khái niệm, nhiệm vụ của giai đoạn truy tố

    1. Khái niệm

    – Là 1 giai đoạn của quá trình TTHS trong đó VKS tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm truy tố bị can trước tòa bằng bản cáo trạng hoặc bằng quyết định truy tố hay ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

    2. Những quy định chung về truy tố

    a. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố (Điều 16 Luật tổ chức VKSND 2014)

    – Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.

    – Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết.

    – Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.

    – Quyết định khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong trường hợp phát hiện vụ án còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác chưa được khởi tố, điều tra và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.

    – Quyết định việc tách, nhập vụ án, chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

    – Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn.

    – Quyết định truy tố, không truy tố bị can.

    – Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bị can; quyết định phục hồi vụ án, bị can.

    – Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

    b. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố (Điều 17 Luật tổ chức VKSND 2014)

    – Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.

    – Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.

    – Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

    3. Thẩm quyền truy tố

    Tương tự thẩm quyền điều tra

    4. Thời hạn quyết định việc truy tố (Điều 166)

    – Thời hạn quyết định truy tố theo loại tội:

    + tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng: 20 ngày, có thể gia hạn thêm 10 ngày ==> tối đa 30 ngày

    + tội rất nghiêm trọng: 30 ngày, có thể gia hạn thêm 15 ngày ==> tối đa 45 ngày

    + tội đặc biệt nghiêm trọng: 30 ngày, có thể gia hạn thêm 30 ngày ==> tối đa 60 ngày

    – Kết thúc thời hạn trên (hoặc sớm hơn) , thì VKS phải ra 1 trong 4 quyết định sau:

    + Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng

    + Trả hồ sơ để điều tra bổ sung

    + Đình chỉ vụ án

    + Tạm đình chỉ vụ án

    II. Các quyết định của VKS trong giai đoạn truy tố

    1. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

    – Là biện pháp tố tụng do VKS áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án khi có căn cứ theo quy định của PL, nhằm bảo đảm cho quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ

    – Các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 168)

    + còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà VKS không thể tự mình bổ sung được

    Chứng cứ quan trọng: là chứng cứ xác định 1 trong những vấn đề cần được chứng minh quy định tại Điều 63. Ví dụ: cần khám nghiệm hiện trường để bổ sung chứng cứ thì VKS không thể tự mình khám nghiệm hiện trường (vì không có nghiệp vụ) được mà phải trả về cho CQĐT thực hiện

    Ví dụ: cần hỏi cung bị can thì VKS có thể tự mình thực hiện được (khoản 4 Điều 131) ==> không cần trả hồ sơ

    + khi có căn cứ để khởi tố bị can về 1 tội khác hoặc có người đồng phạm khác

    + có vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng: ví dụ như bức cung, mớm cung, dụ cung, nhục hình; bị cáo là người chưa thành niên mà không có người bào chữa

    2. Quyết định đình chỉ vụ án

    – Là việc VKS quyết định chấm dứt quan hệ tố tụng khi có căn cứ theo quy định của PL

    – Các căn cứ: (tương tự như với Đình chỉ điều tra)

    • (Khoản 2 Điều 105): người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm
    • Điều 107: các căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự (7 căn cứ)
    • (Điều 19 Bộ luật hình sự): tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm
    • (Điều 25 của Bộ luật hình sự): do sự chuyển biến của tình hình, xét thấy hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự
    • (khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự): người chưa thành niên, phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, nếu được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục và xét thấy không cần phải áp dụng hình phạt

    – Chú ý: vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can

    – Thủ tục đình chỉ vụ án (Điều 169)

    – Trường hợp quyết định đình chỉ vụ án của VKS cấp dưới không có căn cứ và trái PL, thì Viện trưởng VKS cấp trên có quyền huỷ bỏ quyết định đó và yêu cầu VKS cấp dưới ra quyết định truy tố

    3. Quyết định tạm đình chỉ vụ án (Điều 169)

    – Là việc VKS quyết định tạm ngừng tiến hành tố tụng trong 1 thời gian nhất định khi có căn cứ theo quy định của PL

    – Các căn cứ:

    + khi bị can trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu, trường hợp này phải yêu cầu CQĐT truy nã bị can

    + khi bị can bị bệnh tâm thần, bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng pháp y

    Chú ý: vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can

    4. Quyết định truy tố bị can

    – Có thể quyết định truy tố bị can:

    + bằng bản cáo trạng: vụ án được giải quyết theo thủ tục bình thường

    + bằng quyết định truy tố: vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn

    – Thủ tục rút gọn: giản lược về thủ tục và rút ngắn về thời gian

    – Khi nào vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn ?

    Đó là khi đáp ứng đủ 4 điều kiện:

    + hành vi phạm tội quả tang,

    + chứng cứ rõ ràng,

    + tội ít nghiêm trọng,

    + người phạm tội có căn cước, lý lịch rõ ràng

    – Cáo trạng: là 1 văn bản pháp lý áp dụng PL trong đó VKS truy tố 1 hoặc nhiều bị can về 1 hoặc nhiều hành vi phạm tội khi có căn cứ cho rằng (các) bị can đó phạm tội, mục đích để đưa (các) bị can ra xét xử

    Chú ý: có 4 thủ tục đặc biệt trong TTHS:

    + thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên

    + thủ tục tố tụng rút gọn

    + thủ tục bắt buộc chữa bệnh

    + thủ tục khiếu nại, tố cáo trong tố tụng

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương V

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương V

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương V về khởi tố vụ án hình sự cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình, thẩm quyền, và các căn cứ pháp lý liên quan đến việc khởi tố. Nội dung bài giảng giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng, các tình huống khởi tố theo yêu cầu người bị hại, và các vấn đề pháp lý quan trọng khác. Đây là tài liệu không thể bỏ qua để nắm vững kiến thức nền tảng về Luật Tố tụng hình sự và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương V

    Chương 5: Khởi tố vụ án hình sự

    I. Khái niệm, nhiệm vụ, ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

    – Khái niệm: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có hay không có các dấu hiệu của tội phạm, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự

    – Khởi tố vụ án hình sự bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận được thông tin từ vụ án (VD có người tố giác, báo tin, tự thú ; hoặc các cơ quan bằng nghiệp vụ của mình phát hiện ra dấu hiệu tội phạm), kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền xem xét các thông tin để kiểm tra có dấu hiệu phạm tội hay không, nếu có thì ra quyết định khởi tố vụ án, nếu không thì ra quyết định không khởi tố vụ án

    – Nhiệm vụ: cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án xác định có hay không có vụ việc phạm tội, có hay không có dấu hiệu tội phạm, để trên cơ sở đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự

    II. Thẩm quyền khởi tố vụ án (Điều 104)

    1. Cơ quan điều tra

    – CQĐT có quyền khởi tố vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan mình

    – Nếu cơ quan nào phát hiện đầu tiên thì phải nhanh chóng ra quyết định khởi tố vụ án

    2. Viện kiểm sát

    – VKS cũng có quyền khởi tố vụ án, nhưng hẹp hơn nhiều so với CQĐT

    – Thẩm quyền khởi tố vụ án của VKS mang tính thụ động, phái sinh:

    + trường hợp 1: CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án, nhưng VKS xét thấy cần phải khởi tố vụ án, nên ra quyết định yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án

    + trường hợp 2: khởi tố vụ án theo yêu cầu của Hội đồng xét xử

    3. Thẩm quyền khởi tố vụ án của tòa án

    – Chỉ có 1 trường hợp Tòa án có quyền ra quyết định khởi tố vụ án: khi đang xét xử vụ án mà Hội đồng xét xử thấy có tội phạm mới thì có thể yêu cầu tòa án khởi tố vụ án. Tức là tòa án ra quyết định khởi tố vụ án :

    + tại phiên tòa, và

    + phát hiện tội phạm mới:

    • Nếu tội phạm mới không liên quan đến vụ án đang xét xử thì có thể yêu cầu VKS khởi tố hoặc tự mình khởi tố vụ án
    • Nếu có liên quan đến vụ án đang xét xử: trả hồ sơ, yêu cầu điều tra bổ sung
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương V
    Bài giảng môn học Luật Tố tụng hình sự chương V

    III. Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại (Điều 105)

    – Chỉ hạn chế trong một số tội:

    – Điều kiện:

    + những tội đó chắc chắn có người bị hại

    + tội phạm thuộc khoản 1 của tội quy định trong BLHS

    – Nếu người bị hại yêu cầu không khởi tố thì vụ án sẽ bị đình chỉ

    – Chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại

    – Có thể yêu cầu rút đơn yêu cầu khởi tố với các điều kiện:

    + phải trước khi mở phiên tòa

    + việc rút phải tự nguyện

    + phải đúng người làm đơn mới được rút đơn

    + không còn có đơn khác (tức là đã rút hết đơn, trong trường hợp người bị hại gửi nhiều đơn)

    IV. Cơ sở, căn cứ khởi tố vụ án

    1. Cơ sở khởi tố vụ án (Điều 100)

    – Tố giác của người dân

    – Tin báo của cơ quan, tổ chức

    – Tin báo trên phương tiện truyền thông

    – Các cơ quan có thẩm quyền tự mình phát hiện tội phạm

    – Người phạm tội tự thú

    Chú ý: đơn thư tố cáo nặc danh thì không đủ căn cứ để khởi tố vụ án, nhưng vẫn phải kiểm tra, xem xét

    2. Căn cứ khởi tố vụ án

    – Phải có sự việc có dấu hiệu tội phạm (tức là có hành vi nguy hiểm cho XH, có lỗi, được quy định trong BLHS, và phải chịu hình phạt)

    V. Trình tự khởi tố vụ án

    Gồm 3 bước chính:

    – Bước 1: Tiếp nhận tố giác, tin báo

    – Bước 2: Kiểm tra, xác minh

    – Bước 3: Ra quyết định khởi tố / không khởi tố vụ án

    Quy định thực hiện trong 20 ngày, trường hợp phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 2 tháng

    Căn cứ không khởi tố vụ án (Điều 107)

    – Không có sự việc phạm tội

    – Hành vi không cấu thành tội phạm

    – Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    – Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật

    – Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

    – Tội phạm đã được đại xá

    – Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Luật Tố tụng hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-to-tung-hinh-su?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Tội phạm học chương I

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương I

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương I cung cấp những kiến thức cơ bản về khái niệm, đối tượng và các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học. Chương này giúp sinh viên hiểu rõ về tội phạm học như một ngành khoa học độc lập, với mục tiêu nghiên cứu các hiện tượng tội phạm, nguyên nhân và hệ quả của chúng trong xã hội. Đồng thời, bài giảng cũng giới thiệu các phương pháp nghiên cứu quan trọng, từ nghiên cứu định tính đến định lượng, giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện về cách thức thu thập và phân tích dữ liệu trong việc nghiên cứu tội phạm.

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương I

    Chương 1: Khái niệm, đối tượng và các phuong pháp nghiên cứu của tội phạm học

    I. Khái niệm tội phạm học

    1. Khái niệm

    – Khoản 1 Điều 8 Luật hình sự 2015: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

       Đặc điểm của tội phạm:

    + là hành vi nguy hiểm cho xã hội

    + được quy định trong Bộ luật hình sự

    + có lỗi

    + phải chịu hình phạt

    Cấu thành tội phạm: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan

    Phân loại tội phạm: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng

    – Tội phạm học là khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương I
    Bài giảng môn học Tội phạm học chương I

    2. Đặc điểm

    – Tội phạm học có các đặc điểm:

    + đối tượng nghiên cứu độc lập: tội phạm hiện thực (tức là tội phạm đã xảy ra trong thực tế), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm

    + là khoa học liên ngành (hay đa ngành): là sử dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau. Với tội phạm học, nó sử dụng các thành tựu của các ngành khoa học khác như: xã hội học, tâm lý học, sinh vật học

    + là khoa học thực nghiệm: là khoa học mà kiến thức của nó thu được từ nghiên cứu thực tế (chứ không phải nghiên cứu lý thuyết), VD nghiên cứu số lượng người phạm tội, nhân thân người phạm tội, đặc điểm sinh học của người phạm tội

    + mục đích: đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm (tức là ngăn ngừa, hạn chế tội phạm cả về số lượng và mức độ nguy hiểm)

    II. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học

    – Tội phạm học nghiên cứu nhiều đối tượng khác nhau:

    + tình hình tội phạm: chính là tội phạm hiện thực, là bức tranh thực tế, toàn cảnh về tội phạm trong xã hội, thường được thể hiện qua 2 con số: thực trạng tội phạm, và diễn biến tội phạm (trong1 khoảng thời gian nhất định). Hai số liệu này đươc lấy từ các nguồn thống kê khác nhau, như của cơ quan công an, cơ quan tòa án, từ các cuộc điều tra xã hội học

    + nguyên nhân của tội phạm

    + nhân thân người phạm tội

    + phòng ngừa tội phạm

    + kiểm soát tội phạm: sự kiểm soát của Chính phủ đối với tội phạm, các thiết chế xã hội như giáo dục gia đình, thiết chế tôn giáo, chuẩn mực xã hội góp phần kiểm soát tội phạm

    + các học thuyết về tội phạm

    + nạn nhân học: nghiên cứu vai trò của nạn nhân trong hành vi phạm tội, như hiểu biết hạn chế của nạn nhân sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm, như nạn nhân quá dễ dãi, quá cả tin … Chú ý có những tội phạm không có nạn nhân hoặc rất khó xác định nạn nhân như tội về ma túy, tội cờ bạc, tôi xâm phạm môi trường, …

    + hình phạt học: nghiên cứu về vai trò của hình phạt: giáo dục, răn đe người phạm tội; đồng thời cũng răn đe người khác có thể có ý định phạm tội

    + các tội phạm chuyên biệt: như tội phạm cổ cồn trắng (tội phạm về chức vụ, tội phạm rửa tiền, …), tội phạm cổ cồn xanh (công nhân, nông dân, người làm lâm ngư nghiệp phạm tội)

    III. Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học

    – Có nhiều phương pháp khác nhau, thường dùng 2 nhóm phương pháp sau:

    + nhóm phương pháp xã hội học: phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thực nghiệm, phương pháp điều tra xã hội học, …

    + nhóm phương pháp thống kê

    – Trong nhóm phương pháp thống kê, chia thành:

    + phương pháp số tuyệt đối: dùng để xác định quy mô, khối lượng của hiện tượng, nghiên cứu tình hình tội phạm. Sử dụng phương pháp số tuyệt đối để xác định thực trạng của tội phạm. VD trên địa bàn tỉnh A từ năm 2010 đến 2015 đã xảy ra 5.670 vụ phạm tội với 2.367 người phạm tội

    + phương pháp số tương đối: sử dụng các công thức toán học

    • Sử dụng phương pháp số tương đối động thái định gốc để xác định diễn biến của tội phạm theo công thức sau:

    Ydb = [Mi / Mo] x 100%

    Trong đó:

    Mi: số vụ hoặc số người phạm tội trong từng năm xác định (động thái, tức là để so sánh số liệu giữa các năm với nhau)

    Mo: số vụ hoặc số người phạm tội trong năm gốc (định gốc, tức là so sánh với 1 năm “gốc”)

    • Sử dụng phương pháp số tương đối để xác định cơ cấu tội phạm theo công thức:

    Ycc = [Mbp / Mtt] x 100%

    Trong đó:

    Mbp: số vụ hoặc số người phạm tội trong từng nhóm, loại tội phạm

    Mtt: tổng số vụ hoặc tổng số người phạm tội

    • Sử dụng số tương đối để xác định hệ số tội phạm (chỉ số tội phạm): hệ số tội phạm là mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư, thường xác định trong 10.000 dân hoặc 100.000 dân

    + phương pháp số trung bình và phương pháp số trung vị

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Tội phạm học chương III

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương III

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương III cung cấp cái nhìn sâu sắc về Tình hình tội phạm, một phần quan trọng trong việc nghiên cứu tội phạm học. Nội dung chương này giúp sinh viên hiểu rõ về sự phát triển và biến động của tội phạm trong xã hội, từ đó nhận diện các xu hướng và đặc điểm của tội phạm ở từng giai đoạn lịch sử, khu vực, cũng như đối với các nhóm xã hội khác nhau.

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương III

    Chương 3: Tình hình tội phạm

    I. Khái niệm

    – Các khái niệm: Tình hình tội phạm, tình trạng phạm tội có nghĩa tương tự nhau, nhưng khái niệm Tình hình tội phạm được sử dụng nhiều hơn.

    “Tình trạng” thường mang nghĩa tiêu cực.

    – Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tình hình tội phạm:

    + Tình hình tội phạm là toàn bộ thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong 1 phạm vi không gian và thời gian xác định (Giáo trình Đại học Luật Hà Nội)

    + Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm, hoặc 1 loại tội phạm) đã xảy ra trong 1 đơn vị thông gian và đơn vị thời gian nhất định (GS TS Nguyễn Ngọc Hòa)

    + Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, trái PL hình sự, mang tính giai cấp, thay đổi theo quá trình lịch sử và được thực hiện trong phạm vi không gian và thời gian nhất định

    – Đặc điểm:

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương III;
    Bài giảng môn học Tội phạm học chương III;

    + dù theo quan điểm nào thì tình hình tội phạm đều có đặc điểm chung là xác định theo không gian và thời gian xác định, tức là đánh giá về tình hình tội phạm phải dựa trên các dữ liệu trong phạm vi và thời điểm nhất định

    + đối tượng của tình hình tội phạm luôn là tội phạm, VD tội trộm cắp, tội tham nhũng, tội phạm ma túy, …

    – Chú ý: Quan niệm thứ 3 (nêu trên) hiện tại đã không còn được sử dụng, vì quan điểm này gây ra sự nhầm lẫn giữa khái niệm tội phạm và tình hình tội phạm. Cụ thể, nếu nói tình hình tội phạm có tính trái PL hình sự là không chính xác, vì trong Bộ luật hình sự không hề có khái niệm “tình hình tội phạm” (mà chỉ có các tội phạm); mặc dù tình hình tội phạm là tổng hợp của các tội phạm, nhưng nó không phải là phép cộng đơn thuần. Hơn nữa việc coi “tình hình tội phạm mang tính giai cấp” là quan điểm đồng nhất tình hình tội phạm với tội phạm, vì chỉ có tội phạm mới có tính giai cấp (tức là tội phạm ở những thời kỳ lịch sử khác nhau sẽ có sự khác nhau, VD ở thời kỳ bao cấp có tội “Làm giả tem phiếu”, nhưng khi hết bao cấp thì tội này không còn nữa)

    II. Các thông số cơ bản của tình hình tội phạm

    – Gồm các thông số:

    + các thông số về lượng, gồm:

    • thực trạng
    • diễn biến

    + các thông số về chất, gồm:

    • cơ cấu
    • tính chất

    1. Thực trạng của tội phạm

    – Gồm 2 phần:

    + thực trạng về mức độ của tội phạm

    + thực trạng về tính chất của tội phạm

    1.1. Thực trạng về mức độ của tội phạm

    – Là toàn bộ số vụ phạm tội và số người phạm tội đã xảy ra xác định trong 1 khoảng thời gian và không gian.

    – Để làm sáng tỏ thực trạng về mức độ của tội phạm, thông thường cần làm rõ 4 nội dung sau:

    + tội phạm rõ

    + tội phạm ẩn

    + hệ số tội phạm (hay Chỉ số tội phạm)

    + thông số về nạn nhân của tội phạm

    a. Tội phạm rõ

    – Là toàn bộ số vụ và số người phạm tội đã xảy ra, đã bị phát hiện và xử lý hình sự. Số liệu thống kê về tội phạm rõ ở VN thường lấy từ 2 nguồn sau:

    + số liệu thống kê của cơ quan công an, cơ quan điều tra, viện kiểm sát

    + số liệu thống kê của tòa án

    b. Tội phạm ẩn

    – Khái niệm: Là toàn bộ những tội phạm đã xảy ra, chưa bị phát hiện, hoặc chưa bị xử lý về hình sự, và vì vậy không có số liệu thống kê.

    Tội phạm ẩn trong tình hình tội phạm được ví như phần chìm của tảng băng. Thông thường, số lượng tội phạm ẩn gấp từ 6-8 lần số lượng tội phạm rõ.

    – Nguyên nhân của tội phạm ẩn: có thể chia làm 4 nhóm:

    + nguyên nhân từ phía người phạm tội: người phạm tội thực hiện tội phạm bằng những thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt để che dấu tội phạm. VD tội phạm công nghệ cao

    + nguyên nhân từ phía nạn nhân của tội phạm: nạn nhân không khai báo do thiếu hiểu biết, do mặc cảm tâm lý (như tội hiếp dâm), do sợ bị trả thù (bị thủ phạm đe dọa), do không tin tưởng cơ quan chức năng có thể xử lý vụ việc (thủ phạm là người có chức quyền)

    + nguyên nhân từ phía người làm chứng: người chứng kiến không khai báo, tố giác tội phạm. Nguyên nhân do nhận thức chưa đúng đắn, ngại phiền hà, hoặc bị đe dọa

    + nguyên nhân từ phía các cơ quan bảo vệ PL: do nhận hối lộ, ý muốn che dấu tội phạm trên địa bàn mình quản lý, hoặc do tâm lý “ngại cấp trên”, VD như xe ô tô của cấp trên gây tai nạn; hoặc vì lý do “nhạy cảm” có sự thay đổi tội danh này bằng tội danh khác, thường thấy ở các tội chống phá chế độ bị thay đổi thành các tội khác như trốn thuế, mục đích để tránh cho nước ngoài đánh giá về nhân quyền

    Chú ý: Trên thực tế, có nhiều trường hợp tội phạm đã xảy ra, đã bị phát hiện và xử lý hình sự, nhưng không có trong thống kê hình sự. Những trường hợp này được coi là tội phạm rõ, do các nguyên nhân sau:

    + bệnh thành tích: VD địa phương mà để xảy ra tội phạm nhiều sẽ bị coi là không đảm bảo an ninh, kém thu hút đầu tư

    + do nguyên tắc thống kê: nguyên tắc thống kê là chỉ thống kê tội danh được áp dụng hình phạt cao nhất. VD phạm nhân A bị kết tội hiếp dâm, cướp tài sản, và giết người, nhưng chỉ thống kê 1 tội danh giết người

    + do thống kê nhầm, thống kê sai (do trình độ cán bộ thống kê hạn chế): VD tội phạm diễn ra vào năm 2010, nhưng đến 2013 với phát hiện ra, và đến năm 2015 với xét xử

    – Phương pháp xác định tội phạm ẩn: có nhiều phương pháp, trong đó thường sử dụng 2 phương pháp:

    + phương pháp điều tra về tội phạm tự tường thuật: cam kết giữ bí mật danh tính người tham gia tự tường thuật, để họ tiết lộ thông tin về tội phạm

    + phương pháp điều tra về nạn nhân của tội phạm: cam kết giữ bí mật danh tính nạn nhân để họ tiết lộ thông tin về tội phạm

    Chú ý: cả 2 phương pháp này đều có tính chính xác tương đối

    – Phân loại tội phạm ẩn: căn cứ vào nguyên nhân của tội phạm ẩn, có 2 loại:

    + tội phạm ẩn khách quan: do các nguyên nhân khác không phải do các cơ quan bảo vệ PL

    + tội phạm ẩn chủ quan: do cơ quan bảo vệ PL

    c. Hệ số tội phạm (Chỉ số tội phạm)

    – Là chỉ số được xác định để tìm hiểu mức độ phổ biến của tội phạm trong 1 địa bàn dân cư và trong 1 khoảng thời gian nhất định.

    – Hệ số tội phạm được tính theo tỷ lệ số vụ phạm tội trên 100.000 dân (hoặc 10.000 dân):

    Hệ số tội phạm = [Số vụ phạm tội] x 100.000 / [Số dân]

    d. Thông số về nạn nhân của tội phạm

    – Nghiên cứu thông số này thường xác định 1 số nội dung sau:

    + số lượng nạn nhân của tội phạm

    + tình huống trở thành nạn nhân của tội phạm

    + đặc điểm nhân thân của nạn nhân của tội phạm: như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh kinh tế, … của nạn nhân

    + mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội

    + …

    1.2. Thực trạng về tính chất của tội phạm

    – Tính chất của tội phạm là những đặc điểm đặc trưng, nổi bật nhất của tình hình tội phạm đó. Tính chất của tội phạm có thể rút ra được trên cơ sở nghiên cứu ơ cấu của tội phạm. Cơ cấu của tội phạm là tỷ trọng, mối tương quan giữa các nhóm, loại tội phạm trong tổng thể tội phạm chung, thống nhất

    – Công thức xác định cơ cấu của tội phạm:

    Ycc = [Mbp / Mtt] x 100%

    Trong đó:

    Mbp: số vụ hoặc số người phạm tội trong từng nhóm, loại tội phạm

    Mtt: tổng số vụ hoặc tổng số người phạm tội

    – Cơ cấu của tội phạm có thể được xác định theo nhiều tiêu chí:

    + theo khách thể của tội phạm: khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp

    Bài giảng môn học Tội phạm học chương III;
    Bài giảng môn học Tội phạm học chương III;

    + theo phân loại tội phạm: tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng

    + theo tội danh

    + theo hình thức lỗi: cố ý, vô ý

    + theo hình thức phạm tội

    + theo đặc điểm nhân thân của người phạm tội

    + …

    2. Diễn biến của tội phạm

    – Diễn biến của tội phạm là xu hướng tăng / giảm hoặc ổn định tương đối của tội phạm đó. Diễn biến của tội phạm là sự thay đổi về thực trạng của tội phạm, vì vậy diễn biến của tội phạm cũng gồm 2 phần:

    + diễn biến về mức độ của tội phạm

    + diễn biến về tính chất của tội phạm

    – Công thức xác định diễn biến của tội phạm theo phương pháp số tương đối động thái định gốc:

    Ydb = [Mi / Mo] x 100%

    Trong đó:

    Mi: số vụ hoặc số người phạm tội trong từng năm xác định (động thái, tức là để so sánh số liệu giữa các năm với nhau)

    Mo: số vụ hoặc số người phạm tội trong năm gốc (định gốc, tức là so sánh với 1 năm “gốc”)

    – Diễn biến của tội phạm có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố. Thông thường là 2 yếu tố: xã hội và pháp luật, đặc biệt là sự thay đổi của PL hình sự

    Tham khảo trọn bộ bài giảng các môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.