Chương XVI trong bài giảng môn học Luật hình sự 2 đề cập đến các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nội dung chương này phân tích các hành vi vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến quá trình thực thi công lý, bao gồm cản trở điều tra, xét xử, thi hành án, và các tội danh liên quan như đưa hối lộ, làm sai lệch hồ sơ vụ án. Qua đó, sinh viên sẽ nắm vững các quy định pháp lý nhằm bảo vệ tính nghiêm minh và minh bạch của hoạt động tư pháp.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XVI
Chương 16: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Khái niệm: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân (Điều 292)
Phần lớn các tội thuộc nhóm tội này cũng là tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong lĩnh vực tư pháp, có các tội điển hình như:
Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295)
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294)
Tội dùng nhục hình (Điều 298)
Tội bức cung (Điều 299)
Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án (Điều 300)
Tuy nhiên thực tế rất ít khi xét xử các tội này.
1. Tội che dấu tội phạm (Điều 313)
Là tội của người nào không hứa hẹn trước mà che dấu người phạm tội, công cụ phương tiện phạm tội, các chứng cứ khác về các tội được quy định tại khoản 1 Điều 313
Khách thể: xâm hại hoạt động tư pháp (không tố giác, làm việc phòng chống tội phạm không hiệu quả)
Mặt khách quan:
Hành vi phạm tội: không hành động phạm tội, biết người khác phạm tội mà che dấu người phạm tội, che dấu công cụ, phương tiện phạm tội
Chú ý:
Cấu thành hình thức: chỉ cần có hành vi che dấu là tội phạm hoàn thành
Việc che dấu phải là hành vi thực hiện không hứa hẹn trước. Nếu hứa hẹn trước thì sẽ là đồng phạm.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XVI
Chỉ che dấu những tội được quy định tại khoản 1 Điều 313, gồm:
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia và phá hoại hòa bình: che dấu tất cả các tội
Các tội nặng như cướp, hiếp, giết
Các tội nhẹ hơn: chỉ che dấu người phạm tội tại khoản 2, 3, 4
Chủ thể : bình thường
Lỗi cố ý
2. Tội không tố giác tội phạm (Điều 314)
Là trường hợp thấy tội phạm của người khác đang được chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện mà không tố giác
Lỗi cố ý: thể hiện ở việc biết hõ hành vi phạm tội của người khác.
Chú ý:
Nếu chỉ biết không rõ, không chắc chắn người khác có phạm tội hay không (như chỉ nghe người khác nói) thì sẽ không phạm tội này
Chỉ phạm tội này khi không tố giác các trường hợp phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 313
Nếu người không tố giác là ông bà, cha mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ chồng người phạm tội thì chỉ phải chịu TNHS khi không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng.
Chương XV trong bài giảng môn học Luật hình sự 2 tập trung phân tích các tội phạm khác về chức vụ, bao gồm những hành vi vi phạm pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức. Nội dung chương này giúp sinh viên hiểu rõ các quy định pháp lý và trách nhiệm của cá nhân trong việc thực thi công vụ, cùng các tội danh liên quan như lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, giả mạo trong công tác, và nhiều hành vi khác ảnh hưởng đến bộ máy nhà nước.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XV
Vấn đề 15: Các tội phạm khác về chức vụ
Nói thêm về bài trước:
Tội nhận hối lộ:
Là hành vi nhận tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác để làm 1 việc hoặc không làm 1 việc có lợi cho người đưa hối lộ
Của hối lộ: là tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác. Của hối lộ không thể là lợi ích tinh thần như huân huy chương, viết bài ca ngợi trên báo chí truyền hình
Chủ thể: đặc biệt, là người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan NN hoặc tổ chức xã hội (lĩnh vực công)
Chú ý : luật Hình sự 2015 thì chủ thể của các tội này là người có chức vụ quyền hạn trong cả lĩnh vực công và lĩnh vực tư.
Tội tham ô tài sản:
Là hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản do mình trực tiếp quản lý
VD: thủ quỹ lấy tiền trong quỹ, thủ kho lấy tài sản trong kho, thủ trưởng cơ quan kết hợp với Trưởng phòng Tài vụ giả mạo giấy tờ để lấy tài sản của cơ quan
Chủ thể: đặc biệt, là người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan NN hoặc tổ chức xã hội (lĩnh vực công)
1. Tội đưa hối lộ (Điều 289)
Là hành vi đưa tiền, của hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ 2 triệu trở lên hoặc dưới 2 triệu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc vi phạm nhiều lần, cho người có chức vụ, quyền hạn để người này làm hoặc không làm 1 việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa.
a. Dấu hiệu pháp lý
Khách thể:
Xâm phạm đến hoạt động của cơ quan NN, tổ chức XH
Đối tượng tác động: người có chức vụ, quyền hạn. VD thủ trưởng cơ quan, trưởng phòng tổ chức, …
Chú ý: nếu người đưa hối lộ do nhầm lẫn đưa của hối lộ cho người không có chức vụ, quyền hạn thì sẽ không bị xử phạt về Tội đưa hối lộ
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XV
Chú ý: trường hợp người cố tình lừa dối để nhận mình là người có chức vụ để kiếm lợi thì sẽ bị xét xử theo Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. VD giả làm Trung tá công án để lừa dối người khác đưa tiền cho mình
Mặt khách quan: cấu thành hình thức
Hành vi khách quan: là hành vi đưa của hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn
Tội phạm hoàn thành: khi đưa được của hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn.
Người đưa hối lộ và người nhận hối lộ có thể đưa của hối lộ trực tiếp cho nhau, hoặc đưa qua trung gian. Nếu qua trung gian mà chưa đưa được của hối lộ đến người có chức vụ, quyền hạn thì được coi là phạm tội chưa đạt (trường hợp này sẽ không truy cứu TNHS với người đưa hối lộ nếu chủ động khai báo và bồi thường thiệt hại nếu có).
Của hối lộ: tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất. Lợi ích tinh thần không được coi là của hối lộ, VD thưởng huân, huy chương, viết bài báo ca ngợi, sáng tác bài hát ca ngợi
Tính chất của hành vi đưa hối lộ:
hối lộ mua chuộc: đưa tiền trước để người có chức vụ, quyền hạn làm / không làm việc gì đó cho mình
hối lộ tạ ơn: đưa tiền sau khi người có chức vụ, quyền hạn làm / không làm việc gì đó cho mình
Chú ý: việc hối lộ tạ ơn cần phân biệt với tập quán cám ơn, VD cảm ơn bác sỹ sau khi chữa khỏi bệnh, cảm ơn thầy cô giáo sau khi giảng dạy cho con mình.
Chủ thể:
Chủ thể nhận hối lộ: đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn
Chủ thể đưa hối lộ: bình thường, có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi theo quy định
Mặt chủ quan: lỗi cố ý trực tiếp
b. Hình phạt
Khoản 1: phạt tù từ 1-6 năm
Của hối lộ từ 2 triệu
Của hối lộ dưới 2 triệu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng: tức là ảnh hưởng đến nghiêm trọng hoạt động bình thường của cơ quan NN, của tổ chức XH, hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chính trị tại địa phương
Của hối lộ dưới 2 triệu nhưng vi phạm nhiều lần: tức là nhiều lần vi phạm với số tiền nhỏ nhưng cộng lại bằng hoặc lớn hơn 2 triệu. VD đưa hối lộ lần thứ nhất là 1.2 triệu, đưa hối lộ lần thứ hai là 1.5 triệu, cộng lại là 2.7 triệu ==> đủ điều kiện để quy tội đưa hối lộ
Khoản 2: phạt tù từ 6 – 13 năm
Đưa hối lộ có tổ chức: là dạng hoạt động đồng phạm, có kết cấu chặt chẽ với nhau
Thủ đoạn xảo quyệt: là thủ đoạn có tính gian dối cao
Chú ý: việc quyết định tính gian dối là cao hay không cao là tùy thuộc vào hội đồng xét xử
Dùng tài sản của NN để đưa hối lộ
Phạm tội nhiều lần: đưa hối lộ nhiều lần (lần nào cũng từ 2 triệu trở lên) mà chưa bị phát hiện, xét xử
Khoản 3: phạt tù từ 13-20 năm
Của hối lộ có giá trị từ 50 triệu
Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác
Khoản 4: phạt tù từ 20 năm đến chung thân
Của hối lộ từ 300 triệu trở lên
Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
Nếu người đưa hối lộ bị ép buộc, sau đó chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội:
Việc chưa bị phát giác đã ra tự thú: tại cơ quan công an, tòa án, viện kiểm soát
Nếu người đưa hối lộ không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được miễn TNHS và được trả lại 1 phần của hối lộ.
Chú ý: người này vẫn bị coi là đã phạm tội nhưng được miễn TNHS, tuy nhiên vẫn có thể phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác như bị cơ quan kỷ luật, thậm chí cho thôi việc (theo Luật lao động)
2. Tội làm môi giới hối lộ (Điều 290)
Là hành vi làm trung gian, tạo quan hệ hoặc chuyển yêu cầu giữa người nhận và người đưa hối lộ nhằm đạt được sự thỏa thuận về của hối lộ hoặc việc sẽ làm / không làm theo yêu cầu của người đưa
a. Dấu hiệu pháp lý
Mặt khách quan: cấu thành hình thức
Hành vi khách quan: làm trung gian giữa người đưa và người nhận hối lộ
Thủ đoạn phạm tội: đe dọa người đưa, thuyết phục người nhận
Tội phạm hoàn thành khi giữa người đưa và người nhận đạt tới sự thỏa thuận về của hối lộ và việc sẽ làm theo yêu cầu của người đưa
Chủ thể: bình thường
Mặt chủ quan: lỗi cố ý
3. Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (Điều 291)
Là hành vi nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác rồi dùng ảnh hưởng của mình tác động, thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn để làm / không làm công việc theo yêu cầu của người đưa
VD vợ chồng, người thân, bạn bè thân thiết, … với người có chức vụ, quyền hạn
Của hối lộ: tiền, tài sản, lợi ích vật chất có giá trị từ 2 triệu
Chủ thể: bình thường
Mặt khách quan:
Hành vi khách quan:
Nhận hối lộ
Tác động đến người có chức vụ, quyền hạn
Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã nhận của hối lộ
Khám phá chương III trong bài giảng môn học Luật hình sự 2 với chủ đề “Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân.” Chương này cung cấp cái nhìn sâu sắc về những hành vi vi phạm quyền con người, gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội và sự ổn định của Nhà nước. Tìm hiểu các tội danh cụ thể như tội cản trở quyền bầu cử, ứng cử và tội gây rối trật tự công cộng, cùng với những quy định pháp lý liên quan. Nội dung này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức về luật hình sự mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền tự do dân chủ trong xã hội hiện đại.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương III
Vấn đề 3: Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân
Với Tội xâm phạm chỗ ở (Điều 124):
Chỗ ở của công dân là nơi đang có người ở hợp pháp, gồm:
Chỗ ở cố định: nhà, vườn, sân, chuồng, trại
Chỗ ở tạm thời: phòng thuê trong khách sạn, nhà nghỉ
Chỗ ở di động: nhà ở trên xe ô tô, tàu thuyền
Với Tội làm sai kết quả bầu cử (Điều 127)
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương III
1. Tội bắt giữ, giam người trái PL (Điều 123)
a. Dấu hiệu pháp lý
Khách thể: quyền tự do thân thể của công dân
Đối tượng tác động: con người
Mặt khách quan: cấu thành hình thức, hành vi phạm tội có 3 dạng:
Bắt người: có thể có hành vi tiếp theo như trói, bịt miệng nạn nhân
Giữ người trái PL
Giam người trái PL
Chú ý:
Công dân trong XH có quyền bắt người khi người đó bị bắt quả tang phạm tội.
Công an xã có quyền tạm giữ người khi thấy có dấu hiệu tội phạm trong vòng 72 tiếng (3 ngày), có thể gia hạn tối đa 2 lần.
Chủ thể: bình thường
Mặt chủ quan: lỗi cố ý
b. Hình phạt
Khoản 1: phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm
Khoản 2: phạt tù từ 1 – 5 năm
Có tổ chức
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
Đối với người thi hành công vụ
Phạm tội nhiều lần
Khoản 3: Mức phạt cao nhất: 3-10 năm tù khi gây hậu quả nghiêm trọng (người bị bắt tự sát)
Hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm chức vụ từ 1-5 năm
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XIV với chủ đề Các tội phạm về tham nhũng cung cấp kiến thức sâu sắc về các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân. Nội dung bài giảng sẽ giúp người học hiểu rõ cấu thành tội phạm tham nhũng, các hình thức và mức độ xử phạt, cũng như những biện pháp phòng chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Qua đó, sinh viên nắm vững cách nhận diện và xử lý các tội phạm tham nhũng trong thực tiễn, góp phần bảo vệ sự minh bạch và liêm chính trong bộ máy nhà nước.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XIV
Vấn đề 14: Các tội phạm về tham nhũng
I. Các vấn đề chung về tội tham nhũng
1. Khái niệm chung về tham nhũng
Theo Điều 1 Luật phòng chống tham nhũng 2005: Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi.
Tham nhũng không phải là tội danh mà là 1 khái niệm dùng để các tội phạm có chung dấu hiệu sau:
Là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn ==> người không có chức vụ, quyền hạn thì không thể tham nhũng, chỉ có thể là đồng phạm
Người có chức vụ quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để làm trái PL khi thực hiện công vụ.
Chú ý: người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi vi phạm PL nhưng không dựa vào chức vụ, quyền hạn thì hành vi đó không phải là tham nhũng.
Có động cơ vụ lợi
Vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.
(tuy nhiên hiện nay Luật mới chỉ quy định tội tham nhũng vật chất, chưa có tội nào tham nhũng về tinh thần)
Tham nhũng về tinh thần: biểu dương, ca ngợi, khen thưởng, đề bạt, hối lộ tình dục (Hối lộ tình dục được hiểu là tự mình hoặc thuê người khác phục vụ tình dục cho cán bộ, công chức NN nhằm đổi lấy lợi ích không chính đáng nào đó)
Không phải tất cả các hành vi tham nhũng đều bị xử lý hình sự (bị xử lý hành chính), chỉ có những hành vi tham nhũng thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm tham nhũng được quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới bị xử lý hình sự (7 tội từ Điều 278 – 284).
Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho XH được quy định trong bộ Luật Hình sự, do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện công vụ.
Tình huống: A là phó phòng nghiệp vụ của cơ quan H, được anh em trong cơ quan cử đi nhận lương cho toàn bộ cơ quan. Sau khi nhận được tiền lương, 50 triệu, A không trả cho anh em trong đơn vị mà dùng số tiền này đánh bạc và thua hết. Vậy A có mắc tội tham ô tài sản ?
Trả lời: Mặc dù A là người có chức vụ, nhưng việc A đi nhận thay lương cho anh em trong cơ quan lại không phải là việc công mà chỉ là việc cá nhân nhờ nhau, như vậy việc A chiếm đoạt 50 triệu đồng của anh em trong cơ quan để đánh bạc không phải là tham ô tài sản, không phải tham nhũng.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XIV
2. Dấu hiệu pháp lý
Khách thể chung: 3 loại
Các quan hệ XH đảm bảo cho sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức ;
Quan hệ sở hữu tài sản của cơ quan NN, công dân
Quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
Chủ thể: là người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi thực hiện công vụ.
Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ (Điều 277).
Như vậy, người có chức vụ, quyền hạn nhưng không phải trong khu vực công lập thì không thể là chủ thể của các tội tham nhũng.
Người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực tư nhân chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức thì chỉ có thể kết tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hoặc Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
II. Một số tội phạm cụ thể
1. Tội tham ô tài sản (Điều 278)
Là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 2 triệu
Hành vi tham ô tài sản cấu thành tội phạm khi thỏa mãn các dấu hiệu:
Khách thể: hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, và quan hệ sở hữu về tài sản của nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức (công lập)
Đối tượng: tài sản của NN hoặc của cơ quan tổ chức như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị XH, tài sannr đó phải do người phạm tội có trách nhiệm quản lý
Chú ý: nếu người có chức vụ, quyền hạn mà chiếm đoạt tài sản không phải do mình quản lý thì không phải tội tham ô tài sản. VD: nhân viên kế toán ngồi cùng phòng với thủ quỹ, lợi dụng thủ quỹ sơ hở, người kế toán lấy trộm tiền trong két của người thủ quỹ ==> không phải tội tham ô mà là Tội trộm cắp tài sản.
Chủ thể: đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn quản lý tài sản.
Những người không có chức vụ, quyền hạn thì chỉ có thể là đồng phạm của tội này với vai trò tổ chức, xúi giục, giúp sức.
Trách nhiệm quản lý tài sản của chủ thể tội này có thể là trách nhiệm chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản, thường có ở người đứng đầu (thủ trưởng) cơ quan tổ chức ; hoặc trách nhiệm trông, giữ, bảo quản, quản lý tài sản (thủ kho, thủ quỹ, bảo vệ, …)
Chú ý:
người bảo vệ cơ quan tổ chức nói chung không có trách nhiệm quản lý tài sản mà có trách nhiệm bảo vệ an toàn cho cơ quan, tổ chức, trong đó có bảo vệ tài sản, nhưng không có trách nhiệm quản lý tài sản ==> không phải là chủ thể của tội tham ô tài sản. Nếu có hành vi chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị xử tội Trộm cắp tài sản, Lén lút chiếm đoạt tài sản
Tuy nhiên nếu vừa có trách nhiệm bảo vệ tài sản, vừa có trách nhiệm quản lý tài sản trong thời gian nhất định (như bảo vệ bãi than, xưởng gỗ, nông trường, kho thóc, …) trong khi người quản lý chính vắng mặt, mà lợi dụng chiếm đoạt tài sản thì bị quy tội Tham ô tài sản
Đối với người lái xe chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức (công lập) mà mình có trách nhiệm vận chuyển thì phân biệt như sau:
Nếu vừa có trách nhiệm vận chuyển, vừa có trách nhiệm quản lý tài sản trong suốt quá trình vận chuyển mà lợi dụng trách nhiệm đó để chiếm đoạt ==> là tội tham ô tài sản
Nếu như chỉ có trách nhiệm vận chuyển, còn trách nhiệm trông coi, quản lý tài sản lại thuộc về người khác, lợi dụng sơ hở của họ để chiếm đoạt ==> là tội trộm cắp tài sản, hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan: có các dấu hiệu:
Người phạm tội có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội
Chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý bằng thủ đoạn khác nhau như lén lút, hoặc công khai, hoặc gian dối và trong mọi trường hợp đều có sử dụng hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn
Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu trở lên, hoặc tài sản có giá trị dưới 2 triệu nhưng thuộc 1 trong các trường hợp :
Gây hậu quả nghiêm trọng
Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô mà còn vi phạm
Đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng (tức là bị kết án về 1 trong 7 tội tham nhũng quy định từ Điều 278 – 284), chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
Tình huống: anh A có trách nhiệm quản lý kho hàng của cơ quan, bị kỷ luật 3 tháng vì vi phạm kỷ luật làm việc (đi làm muộn thường xuyên), 1 tháng sau A lấy trộm cái máy bơm nước trong kho trị giá 1.5 triệu để bán lấy tiền đánh bạc. Hỏi A có bị xử tội tham ô tài sản không ?
Trả lời: ở đây A là người có trách nhiệm quản lý tài sản, chiếm đoạt tài sản mà A có trách nhiệm quản lý, tài sản A chiếm đoạt trị giá 1.5 triệu là không đủ để cấu thành tội Tham ô tài sản, mặc dù trước đó A đang phải chịu kỷ luật 3 tháng nhưng đó không phải là kỷ luật về hành vi tham ô ==> A sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính
Mặt chủ quan: lỗi cố ý trực tiếp
Mục đích: là tư lợi, vụ lợi
Chú ý các tình tiết tăng nặng:
Gây hậu quả nghiêm trọng : ví dụ: thủ kho bệnh viện tham ô vật tư trị giá dưới 2 triệu, tuy nhiên đó lại là vật tư rất quan trọng trong cấp cứu bệnh nhân, bệnh viện có bệnh nhân cấp cứu và do không có loại vật tư đó dẫn đến bệnh nhân tử vong
Dùng thủ đoạn xảo quyệt: dùng những thủ đoạn có tính chất tinh vi, gian dối cao để dễ dàng thực hiện và che dấu tội tham ô, tránh sự phát hiện của cơ quan PL. Ví dụ như thông đồng, móc ngoặc … để nâng giá cao nhiều lần khi mua sắm hàng hóa
Dùng thủ đoạn nguy hiểm: là trường hợp dùng thủ đoạn phạm tội như che dấu tội phạm có khả năng gây ra thiệt hại, hậu quả nghiêm trọng khác, hoặc rất nghiêm trọng, VD thủ kho tham ô rồi tạo ra hỏa hoạn đốt kho để che dấu, thủy thủ tham ô rồi đánh chìm tàu, tham ô thuốc chữa bệnh rồi dùng thuốc giả hoặc hết hạn sử dụng thế vào đó, …
2. Tội nhận hối lộ (Điều 279)
Là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ 2 triệu
Mặt khách quan: là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác do đã làm hoặc không làm 1 việc vì lợi ích của bên đưa hối lộ, hoặc để sẽ làm hoặc không làm 1 việc vì lợi ích của bên đưa hối lộ
Hành vi nhận hối lộ có các dấu hiệu:
Người phạm tội có hành vi nhận hối lộ: có thể nhận trực tiếp hoặc qua trung gian
Của hối lộ là lợi ích vật chất
Chủ thể nhận hối lộ đã làm / không làm 1 việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của chủ thể đưa hối lộ
Đối tượng: lợi ích vật chất có giá trị từ 2 triệu
Tội nhận hối lộ được coi là hoàn thành về mặt pháp lý khi xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau:
Người đưa hối lộ đã đưa lợi ích vật chất người có chức vụ, quyền hạn để làm 1 việc
Chủ thể đưa hối lộ và chủ thể nhận hối lộ đạt được thỏa thuận về việc hối lộ để làm / không làm 1 việc
Người phạm tội chủ động đòi hỏi, sách nhiễu, đe dọa để được nhận hối lộ và người đưa hối lộ đã chấp nhận đòi hỏi đó
Chú ý:
Hành vi làm hay không làm của người phạm tội nhận hối lộ vì lợi ích hay theo yêu cầu của bên đưa hối lộ nếu cấu thành tội phạm của tội khác thì chủ thể còn bị xử lý về tội này, và người đưa hối lộ cũng bị xử lý về tội này với vai trò là đồng phạm. VD thẩm phán nhận hối lộ để cho bị cáo hưởng án treo trái với quy định của PL thì sẽ bị xử tội Ra bản án trái PL (Điều 295) ; nhận hối lộ để tạo điều kiện cho người khác xuất cảnh trái phép, hoặc buôn lậu, buônn bán hàng cấm trái phép
Hành vi làm hay không làm của người nhận hối lộ có thể thỏa mãn hoặc không thỏa mãn hoặc chỉ thỏa mãn 1 phần yêu cầu của bên đưa hối lộ (không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm hoàn thành). VD thẩm phán nhận hối lộ và hứa sẽ cho bị cáo hưởng án treo nhưng hội đồng xét xử lại biểu quyết xử tù.
Trường hợp người nhận tiền, tài sản và hứa sẽ làm 1 việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, nhưng công việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của người nhận tiền thì hành vi đó không cấu thành tội nhận hối lộ mà có thể cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hay tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi, …
Lỗi : cố ý trực tiếp
3. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280)
– Là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu
– Mặt khách quan: người phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của người khác (tức là đã vượt quá phạm vi chức vụ quyền hạn được giao). VD cán bộ thuế tự ý tăng mức thuế của doanh nghiệp để chiếm đoạt khoản chênh lệch tăng thêm.
Hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội này có thể là :
+ lạm dụng chức vụ quyền hạn uy hiếp tinh thần người khác để chiếm đoạt tài sản của họ. VD cán bộ quản lý thị trường đe dọa đưa thông tin bất lợi cho doanh nghiệp lên báo ==> đòi đưa tiền để đổi lấy sự im lặng
+ lạm dụng chức vụ quyền hạn để lừa dối người khác để chiếm đoạt tài sản của họ. VD công an xuất nhập cảnh lợi dụng người dân mong muốn xuất cảnh ra nước ngoài có việc gấp, liền gợi ý đưa tiền để giúp, nhưng nhận tiền xong thì không giúp được
+ lạm dụng sự tín nhiệm của người khác đối với chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của người khác. VD công nhân nghỉ hưu nhờ cán bộ bảo hiểm xã hội lấy tiền bảo hiểm 1 lần, người cán bộ này thực hiện các thủ thuật để lấy tiền bảo hiểm từ NN là 100 triệu, nhưng chỉ đưa lại cho người công nhân 50 triệu
– Mặt chủ quan: lỗi cố ý trực tiếp, mục đích là vì tư lợi
4. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281)
– Là hành vi vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
– Mặt khách quan:
+ hành vi khách quan: người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái công vụ được giao. VD cán bộ quy hoạch đường cố tình thiết thế đường cong để tránh nhà của người thân làm tăng chi phí xây dựng, làm xấu con đường ; hiệu trưởng quyết định thu học phí vượt trần quy định của NN
+ cấu thành vật chất: phải có thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Chú ý : thiệt hại có thể là vật chất hoặc không phải vật chất.
Ví dụ : vụ án cán bộ xét nghiệm tại bênh viện Hoài Đức nhân bản kết quả xét nghiệm để chiếm đoạt tiền bản hiểm ý tế của người bệnh, tuy không gây thiệt hại vật chất cho người bệnh nhưng có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của người bệnh khi tin vào kết quả xét nghiệm.
– Chú ý : đây là tội chung, tức là chỉ khi lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ, không cấu thành tội khác (như các tội 178 – 180), thỏa mãn các dấu hiệu của tội này thì mới xử theo tội này.
– Lỗi : cố ý trực tiếp
– Động cơ : vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân
5. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283)
– Chú ý : tội này rất dễ nhầm lẫn với Tội nhận hối lộ
Ví dụ : A là người có công việc cần B là người có chức vụ giải quyết, nhưng A không quen biết B, A nhờ C là cấp trên (hoặc người có ảnh hưởng tới B) để nhờ C gây ảnh hưởng lên B giải quyết công việc cho A, C nhận tiền của A và gây ảnh hưởng lên B giải quyết công việc cho A, B không được hưởng gì từ tiền của A đưa cho B.
– Mặt khách quan: bao gồm các dấu hiệu:
+ chủ thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để phạm tội, VD công an, chủ tịch, bí thư, trưởng ban tổ chức
+ chủ thể nhận tiền, tài sản, hay lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào
+ chủ thể dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn khác để người này làm / không làm 1 công việc của họ, hoặc có liên quan đến công việc của họ, hoặc làm 1 việc mà họ không được phép làm
+ chủ thể phạm tội và người có chức vụ, quyền hạn khác phải có quan hệ công tác, ảnh hưởng lẫn nhau, thường là cấp trên gây ảnh hưởng lên cấp dưới (giám đốc với trưởng phòng, chủ tịch UBND với giám đốc sở), quan hệ cùng ngành, quan hệ phối hợp (như công án, tòa án, viện kiểm soát)
Chú ý: nếu giữa họ không có quan hệ ảnh hưởng đến nhau thì hành vi không cấu thành tội phạm này mà thường xử lý theo Điều 291
– Cấu thành tội phạm: tương tự với Tội nhận hối lộ
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XI tập trung vào Các tội xâm phạm an toàn công cộng, cung cấp kiến thức chi tiết về các hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cao, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Nội dung bài giảng sẽ giúp người học hiểu rõ các quy định của pháp luật, các khung hình phạt đối với những tội phạm này, đồng thời nắm vững các yếu tố cấu thành tội phạm và những trường hợp được xem là vi phạm an toàn công cộng trong thực tiễn.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XI
Vấn đề 11: Các tội xâm phạm an toàn công cộng
I. Những vấn đề chung
An toàn công cộng theo nghĩa rộng là an toàn cho các hoạt động có đông người tham gia, gồm an toàn giao thông, an toàn lao động, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn thông tin liên lạc, …
An toàn công cộng theo nghĩa hẹp là an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia các hoạt động chung
II. Các tội cụ thể
1. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202)
Phương tiện giao thông đường bộ gồm:
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ: ô tô, xe gắn máy, …
Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ: xe đạp, xe súc vật kéo, …
Xe máy chuyên dùng
Vi phạm: tốc độ, trọng tải, tuyến đường, phần đường, tránh vượt, các quy định khác (như chở hàng cồng kềnh, không chằng buộc, …)
Hậu quả: là dấu hiệu bắt buộc ==> đây là tội cấu thành vật chất
Gây thiệt hại về tính mạng của người khác: gây chết người
Gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ của người khác: từ 31% trở lên
Gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của người khác: từ 70 triệu trở lên
Có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời: tức là hậu quả chưa xảy ra vì đã được ngăn chặn kịp thời, VD xe khách chở quá số người quy định, để người chui vào khoang hành lý của xe ==> rất dễ dẫn đến chết ngạt ==> hậu quả chết người (là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng)
Xem Thông tư liên tịch số 9/2013 ngày 28/8/2013
Lỗi: vô ý
Vô ý vì quá tự tin
Vô ý do cẩu thả
2. Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203)
3. Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206)
Là hành vi tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ.
a. Dấu hiệu pháp lý
Đua xe trái phép:
Tổ chức đua xe trái phép:
Mặt chủ quan: lỗi cố ý
b. Hình phạt
4. Tội đua xe trái phép (Điều 207)
Là hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông tham gia đua xe ô tô, xe máy, xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương XI
a. Dấu hiệu pháp lý
Hành vi đua xe trái phép phải có đủ các dấu hiệu:
Phương tiện: xe có gắn động cơ, chuyển động được trên đường bộ
Chú ý: nếu sử dụng phương tiện không gắn động cơ để đua như đua xe đạp, xích lô, đua xe bò kéo, … trái phép thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Phải có từ 2 phương tiện trở lên tham gia
Diễn ra trên đường bộ
Trái phép: không được cơ quan có thẩm quyền cho phép
Mặt khách quan: cấu thành vật chất hoặc cấu thành hình thức
Cấu thành vật chất khi có đầy đủ:
Hành vi khách quan: tham gia vào việc đua xe, gồm
Người điều khiển phương tiện giao thông trong cuộc đua
Người ngồi sau người điều khiển phương tiện giao thông và có hành vi cổ vũ đua xe
Hậu quả: gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản
Mối quan hệ nhân quả
Cấu thành hình thức khi:
Tham gia vào cuộc đua xe, chưa có hậu quả
Nhân thân không tốt:
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi đua xe mà còn vi phạm
Đã bị kết án về tội đua xe trái phép, chưa được xóa án tích mà lại vi phạm
Chủ thể: bình thường
Mặt chủ quan: lỗi cố ý đối với hành vi ; lỗi vô ý đối với hậu quả
b. Hình phạt
Khoản 1: phạt tiền đến 50 triệu, phạt tù 3 tháng đến 3 năm
Khoản 2: phạt tù 2-7 năm, khi
Gây thiệt hại đến tính mạng
Gây tai nạn rồi trốn tránh, không cứu giúp nạn nhân
Chú ý: phân biệt với Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102), ở đây là hành vi tham gia đua xe trái phép, gây tai nạn rồi trốn tránh không cứu giúp nạn nhân
Tham gia cá cược
Tháo dỡ các thiết bị an toàn của phương tiện đua xe (như phanh)
Khoản 3: phạt tù 5-15 năm khi gây hậu quả rất nghiêm trọng: chết từ 2 người trở lên
Khoản 4: phạt tù 12-20 năm khi gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng: chết từ 3 người trở lên
5. Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221)
Là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, dùng các thủ đoạn khác nhằm chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy
a. Dấu hiệu pháp lý
Đối tượng của tội phạm: tàu bay, tàu thủy
Mặt khách quan: cấu thành hình thức, chỉ cần có hành vi là đủ để hoàn thành tội phạm
Hành vi khách quan:
Dùng vũ lực
Đe dọa dùng vũ lực: dọa giết, dọa gây thương tích, hoặc biểu hiện uy hiếp tinh thần
Dùng các thủ đoạn khác: như lén lút chiếm đoạt, gian dối để lừa chiếm đoạt
Chủ thể: bình thường
Câu hỏi: Một người Pháp sang bên Ý, chiếm đoạt chiếc du thuyền của 1 người Ý và trốn, một thời gian sau bị phát hiện ở biễn Vũng Tàu của VN. Hỏi cảnh sát VN có được quyền bắt không ?
Trả lời: VN đã gia nhập Interpol, nên luật pháp VN được mở rộng đối với cả người nước ngoài phạm tội ở nước ngoài và hiện đang ở lãnh thổ VN, do đó cảnh sát VN có quyền bắt giữ người Pháp trên với tội Chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy theo luật Hình sự VN.
Mặt chủ quan: lỗi cố ý
b. Hình phạt
Khoản 1: phạt tù 7-15 năm
Khoản 2: phạt tù 12-20 năm, khi
+ có tổ chức
+ sử dụng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm
Vũ khí gồm: vũ khí quân dụng (súng, lựu đạn, bom, mìn, dao găm,…) ; vũ khí thô sơ (cung, nỏ, …)
+ gây thương tích hoặc làm tổn hại sức khỏe người khác
+ tái phạm nguy hiểm
– Khoản 3: phạt tù 20 năm, chung thân hoặc tử hình khi làm chết người hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng
6. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230)
a. Dấu hiệu pháp lý
– Đối tượng tác động: vũ khí quân dụng (súng, lựu đạn, bom, mìn, dao găm,…), phương tiện kỹ thuật quân sự (ống nhòm, điện đài, …)
– Mặt khách quan:
+ hành vi tạo ra các vũ khí quân dụng
+ hành vi tàng trữ: cất giấu vũ khí quân dụng trái phép
+ hành vi vận chuyển : chuyển vũ khí từ địa điểm này đến địa điểm khác
+ hành vi mua bán
+ hành vi chiếm đoạt: từ người khác
– Chủ thể: bình thường
b. Hình phạt
– Khoản 1: Phạt tù 1-7 năm
– Khoản 2: Phạt tù 5-12 năm khi
+ vận chuyển, mua bán qua biên giới
+ gây hậu quả nghiêm trọng
– Khoản 3: phạt tù 10-15 năm
– Khoản 4: phạt tù 20 năm hoặc chung thân
7. Tội khủng bố (Điều 230a)
– Là hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác hoặc phá hủy tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hoặc xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của người khác hoặc đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác
a. Dấu hiệu pháp lý
– Khách thể: xâm phạm trật tự công cộng, gây ra sự hoảng loạn, lo sợ trong quần chúng nhân dân
– Đối tượng tác động:
+ con người: cán bộ, công chức, hoặc công dân
+ tài sản: của cá nhân, tổ chức
– Mặt khách quan: cấu thành hình thức, gồm các hành vi
+ giết người
+ gây thương tích
+ phá hủy tài sản
+ bắt giữ người khác
+ đe dọa, uy hiếp tinh thần
– Chủ thể: bình thường
– Mặt chủ quan: lỗi cố ý
8. Tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231)
– Là hành vi phá huỷ công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin – liên lạc, công trình điện, dẫn chất đốt, công trình thuỷ lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hoá và xã hội.
a. Dấu hiệu pháp lý
– Đối tượng tác động: là các công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia
– Mặt khách quan: cấu thành hình thức
Hành vi phá hủy: là làm mất đi, hoặc hạn chế giá trị sử dụng của đối tượng tài sản thuộc công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia
– Chủ thể: bình thường
– Mặt chủ quan: lỗi cố ý
b. Hình phạt
– Khoản 1: phạt tù 3-12 năm
– Khoản 2: phạt tù 10-20 năm, chung thân hoặc tử hình
9. Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 245)
– Là hành vi đập phá tài sản, ngăn cản giao thông, chống người thi hành công vụ, hoặc có hành vi khác gây ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan NN, tổ chức XH
VD : tụ tập đông người, hò hét, kích động ; mang quan tài, vòng hoa đến nhà người khác
a. Dấu hiệu pháp lý
– Khách thể: xâm phạm trật tự nơi công cộng
– Mặt khách quan: cấu thành vật chất, hoặc cấu thành hình thức
+ cấu thành vật chất: gây ra hậu quả nghiêm trọng
+ cấu thành hình thức: chưa có hậu quả nhưng có nhân thân xấu (đã bị xử phạt hành chính về hành vi này, hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích lại vi phạm)
– Chủ thể : bình thường
– Lỗi : cố ý
b. Hình phạt
– Khoản 1: phạt tù 3 tháng – 2 năm
– Khoản 2: phạt tù 2 – 7 năm
10. Tội hành nghề mê tín dị đoan (Điều 247)
– Là hành vi bói toán, đồng bóng hoặc thực hiện các hành vi mê tín di đoan khác gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính, hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà lại vi phạm.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương X: Các tội phạm về ma túy cung cấp cái nhìn tổng quan và chi tiết về những quy định pháp luật liên quan đến tội phạm ma túy. Nội dung bài giảng bao gồm việc phân tích các hành vi phạm tội như tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, cũng như các hình phạt nghiêm khắc dành cho những tội danh này. Thông qua bài giảng, sinh viên sẽ nắm vững cấu thành tội phạm ma túy và các vấn đề pháp lý xoay quanh công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh xã hội.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương X
Chương 10: Các tội phạm về ma túy
I. Những vấn đề chung
Khách thể: xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của NN
Các khái niệm cơ bản:
Chất ma túy: là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây ra tình trạng nghiện đối với người sử dụng
Chất hướng thần là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần thì có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng
Nghiện: là tình trạng lệ thuộc vào chất ma túy
Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần:
Là thuốc chữa bện có chứa 1 hàm lượng nhất định chất gây nghiện, chất hướng thần
Danh mục do Bộ Y tế ban hành
Được quy định theo quy chế quản lý dược phẩm của bộ y tế
Chú ý:
Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch (như dung dịch thuốc phiện, dung dịch heroin dùng để tiêm, chích) hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng để tiện cho việc sử dụng thì không coi toàn bộ khối lượng là chất ma túy mà chỉ tính hàm lượng moocphin trong đó.
Đối với xái thuốc phiện thì không coi là thuốc phiện mà phải tính hàm lượng moocphin trong xái thuốc phiện
Tiền chất ma túy:
Là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất ma túy
Danh mục tiền chất ma túy do chính phủ ban hành
Phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất chất ma túy
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương X
II. Một số tội phạm cụ thể
1. Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý (Điều 192)
Là việc trồng cây thuốc phiện, cây cô ca, cây cần sa và các loại cây khác có chứa chất ma túy theo quy dịnh của Chính phủ
Hành vi trồng cây: gồm gieo trồng, chăm bón hoặc thu hoạch các bộ phận của cây như lá, hoa, quả, thân cây, rễ cây có chứa chất ma túy
Điều kiện để xử lý hình sự: khi có đủ 3 điều kiện:
Đã được giáo dục nhiều lần: gọi lên để giáo dục (bằng văn bản, có ký nhận)
Đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống: NN đã cung cấp giống cây trồng, vật nuôi để đảm bảo cuộc sống
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
2. Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193)
Là việc làm ra chất ma túy:
Chế biến, điều chế, pha chế
Thủ công hoặc áp dụng khoa học kỹ thuật
Nguyên liệu ban đầu: cây có chứa chất ma túy, tiền chất và hóa chất ma túy
Trái phép:
Không được phép của cơ quan có thẩm quyền
Không đúng với nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép
Chú ý: không coi là hành vi sản xuất trái phép chất ma túy nếu hành vi chỉ là nhằm tạo thuận lợi cho quá trình sử dụng ma túy có sẵn, VD chỉ nghiền ra, pha loãng, … để dễ sử dụng
3. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194)
Tàng trữ trái phép chất ma túy:
Cất, giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy
Ở bất kỳ nơi nào (trong nhà, ngoài vườn, …)
Trong bất kỳ khoảng thời gian nào (1 ngày, 1 giờ, 1 phút, …)
Không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển: tức là mua để dùng dần, không để bán cho người khác
Vận chuyển trái phép chất ma túy:
Chuyển dịch chất ma túy từ nơi này sang nơi khác
Bằng bất kỳ hình thức, phương thức, tuyến đường nào
Không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy
Mua bán trái phép chất ma túy:
Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có, bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác)
Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác
Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác
Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy)
Dùng tài sản không phải tiền đem trao đổi, thanh toán, … lấy chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác
Tàng trữ nhằm bán trái phép cho người khác
Vận chuyển chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác
Chú ý: mua bán khác với buôn bán: buôn bán là mua đi bán lại kiếm lời, và bán đúng cái mình đã mua ; còn mua bán gồm mua và bán riêng biệt, có thể mua để dùng, cho tặng, mua hộ, và có thể bán cái mình tự sản xuất, được tặng cho, nhặt được, bán hộ, …
Chú ý: với hành vi tàng trữ mà bị chứng minh là để bán cho người khác thì sẽ bị xử theo tội Mua bán trái phép chất ma túy chứ không xử theo tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Chú ý: chỉ cần có hành vi mua bán chất ma túy với khối lượng bất kỳ là đủ để xử lý hình sự, còn tàng trữ phải với số lượng nhất định mới bị xử lý hình sự
Chiếm đoạt trái phép chất ma túy: là 1 trong các hành vi
Trộm cắp
Lừa đảo
Tham ô
Lạm dụng chiếm đoạt
Cưỡng đoạt
Cướp
Cướp giật
Công nhiên chiếm đoạt
Chất ma túy của người khác
4. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197)
Là thực hiện 1 trong các hành vi: chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác
5. Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200)
Ví dụ thủ đoạn cho chất ma túy vào đồ ăn bán cho khách hàng
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VIII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế cung cấp kiến thức chuyên sâu về các tội phạm liên quan đến hoạt động kinh tế. Nội dung bài giảng tập trung vào các hành vi vi phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh, thuế và thương mại. Sinh viên sẽ được phân tích đặc điểm pháp lý, cấu thành tội phạm và các hình phạt tương ứng, giúp họ hiểu rõ hơn về vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ sự ổn định và minh bạch của nền kinh tế.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VIII
Chương 8: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
I. Những vấn đề chung
Khái niệm: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi vi phạm những quy định của NN trong quản lý kinh tế, gây thiệt hại cho lợi ích của NN, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Khách thể: các quan hệ XH đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân
Các quan hệ XH trong tội này gồm:
Chế độ quản lý ngoại thương của NN
Chế độ độc quyền quản lý một số hàng hóa
Tật tự của nền sản xuất hàng hóa
Trật tự quản lý thị trường
Chế độ quản lý tiền tệ quốc gia
Chế độ quản lý NN trong lĩnh vực chứng khoán
Chính sách thuế của NN
Hành vi khách quan: hành vi vi phạm quy định cụ thể của PL về kinh tế ở các mức độ khác nhau, và hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi thỏa mãn quy định của BLHS
VD: hành vi buôn lậu chỉ cấu thành tội phạm khi hàng hóa buôn lậu có giá trị 100 tr trở lên; hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả chỉ cấu thành tội phạm khi quy sang hàng thật tương đương mà có giá trị từ 30 triệu trở lên, dưới các mức này nếu không thuộc các trường hợp đặc biệt (như tái phạm, …) thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VIII
II. Các tội cụ thể
1. Tội buôn lậu (Điều 153)
Khách thể: xâm phạm chế độ quản lý ngoại thương của NN (tức là xuất nhập khẩu hàng hóa)
Đối tượng của tội phạm: các loại hàng hóa, tiền VN, ngoại tệ, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, hàng cấm, …
Chú ý: có 1 số hàng cấm do tính chất đặc biệt nên được quy định trong tội riêng và không là đối tượng của tội này, VD ma túy, vũ khí, vật liệu nổ, …
Mặt khách quan: 3 nhóm hành vi
(a) hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền VN, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ 100-300 tr trở lên, hoặc dưới 100 triệu nhưng:
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc tại 1 trong các điều 154 – 161
Đã bị kết án về tội này hoặc về 1 trong các tội quy định tại các điều 154 – 161 và chưa được xóa án tích
(b) hành vi buôn bán trái phép qua biên giới vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa, không phụ thuộc vào giá trị của vật phẩm
(c) hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng cấm có số lượng lớn, hoặc :
Đã bị xử phạt hành chính về tội này hoặc tội từ 154 – 161
Đã bị kết án về tội này hoặc tội từ 154 – 161 và chưa bị xóa án tích
Buôn bán trái phép là buôn bán trái với quy định của PL như không khai báo, khai báo gian dối, dùng giấy tờ giả, giấu hàng hóa, không có giấy tờ hợp pháp, …
Hành vi buôn lậu có thể qua biên giới đường bộ, đường thủy, đường không, đường sắt, đường bưu điện quốc tế, …
Biên giới còn là vùng kiểm soát của cơ quan NN có thẩm quyền về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa như cảng nội địa, khu chế xuất, …
Trường hợp người được thuê vận chuyển mà biết hàng hóa mình vận chuyển là trái phép thì bị coi là phạm tội buôn lậu với vai trò đồng phạm
Tội buôn lậu được coi là hoàn thành tại thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi chuyển hành hóa trái phép qua biên giới VN.
Lỗi: cố ý trực tiếp
Chủ thể: thông thường, có năng lực TNHS và đủ tuổi quy định
2. Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154)
Về cơ bản giống với tội 153
Khác nhau ở hành vi phạm tội: là hành vi vận chuyển trái phép qua biên giới, tức là chỉ cần vận chuyển, không nhằm mục đích buôn bán kiếm lời (vận chuyển để sử dụng, để tặng cho, …)
Chú ý: nếu người vận chuyển thuê mà biết mục đích buôn lậu của người thuê mình thì bị coi là đồng phạm của tội buôn lậu (tuy nhiên thực tế xét xử rất khó chứng minh người vận chuyển có biết mục đích buôn lậu hay không)
3. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (Điều 155)
Đối tượng: là hàng hóa NN cấm kinh doanh. Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh trong Luật đầu tư
Chú ý: danh mục hàng hóa cấm kinh doanh rộng hơn danh mục ngành nghề cấm kinh doanh.
Chú ý: với những hàng hóa NN cấm kinh doanh đặc biệt như ma túy, vũ khí, chất nổ, … thì sẽ thuộc đối tượng của tội khác.
Mặt khách quan: gồm 4 loại hành vi:
Sản xuất hàng cấm: là hành vi làm ra hàng cấm bằng mọi thủ đoạn: người phạm tội có thể trực tiếp thực hiện tất cả các khâu của quá trình sản xuất hàng cấm, hoặc chỉ thực hiện 1 khâu của quá trình sản xuất hàng cấm (ví dụ: chỉ cần tham gia đóng gói, dán nhãn, hay thu gom nguyên liệu, …). Hàng cấm có thể là hàng hóa có chất lượng, hay không có chất lượng thì đều bị coi là sản xuất hàng cấm, VD sản xuất pháo nổ chất lượng kém cũng bị coi là sản xuất hàng cấm
Tàng trữ hàng cấm: là cất giữ trái phép hàng cấm ở bất cứ nơi nào mà không nhằm buôn bán, thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc định tội
Vận chuyển hàng cấm: đưa hàng cấm từ nơi này sang nơi khác trong lãnh thổ VN mà không có giấy phép hợp lệ của cơ quan NN có thẩm quyền và không nhằm mục đích buôn bán. Hành vi vận chuyển hàng cấm có thể được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào: mang theo người, thông qua các phương tiện giao thông, bưu điện. Hành vi vận chuyển hàng cấm có thể đến được nơi nhận hay chưa đến được nơi nhận đều được coi là phạm tội (tức là bị bắt trong quá trình vận chuyển)
Chú ý: nếu vận chuyển hàng cấm qua biên giới mà không nhằm mục đích buôn bán thì sẽ xử theo Điều 154, nếu nhằm mục đích buôn bán thì sẽ xử theo Điều 153
Buôn bán hàng cấm: mua đi bán lại hàng cấm dưới bất kỳ hình thức nào trong lãnh thổ VN nhằm thu lợi bất chính (như mua bán thông thường)
Lỗi: cố ý trực tiếp
Điều kiện truy cứu TNHS: sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này
4. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156)
Khách thể: xâm phạm trật tự của nền sản xuất hàng hóa và lợi ích của người tiêu dùng
Đối tượng: là các loại hàng giả thông thường, trừ trường hợp hàng giả thuộc phạm vi quy định tại Điều 157 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 158 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi)
Hàng giả có thể là giả hàng hóa trong nước hay giả hàng hóa nước ngoài, có thể giả 1 phần hoặc giả toàn bộ
Hàng giả có thể là nội dung hoặc hình thức:
Hàng giả về nội dung: là hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng.
Chú ý: phân biệt với hàng kém chất lượng. Hàng kém chất lượng không phải hàng giả, nhưng nếu kém chất lượng đến mức không đạt mức tối thiểu thì lại bị coi là hàng giả.
Hàng giả về hình thức: hàng hóa mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giống hệt hoặc tương tự với hàng thật chưa được bảo hộ về nhãn hiệu, có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn, dù chất lượng có thể bằng hoặc tốt hơn hàng thật
Chú ý: nếu sản xuất, buôn bán hàng giả về hình thức đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại VN thì sẽ xử lý theo Điều 171
Hàng giả về nội dung và hình thức
Mặt khách quan:
Hàng vi sản xuất hàng giả : tạo ra hàng giả bằng mọi thủ đoạn, có thể thực hiện toàn bộ quá trình hay chỉ thực hiện 1 khâu trong quá trình sản xuất hàng giả
Hành vi buôn bán hàng giả: là việc mua đi bán lại hàng giả mà biết rõ đó là hàng giả để thu lợi bất chính
Lỗi: cố ý trực tiếp
Điều kiện truy cứu TNHS: sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị từ 30 triệu, hoặc dưới 30 triệu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
5. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170)
Khách thể: xâm phạm chế độ quản lý NN về bảo hộ quyền sử hữu công nghiệp và lợi ích của người của chủ sở hữu
Đối tượng: là nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại VN
Nhãn hiệu: là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân
Chỉ dẫn địa lý: là dấu hiệu để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia, mang tên 1 địa danh địa lý cụ thể. VD nước mắm Phú Quốc, vải thiều Thanh Hà, nhãn lồng Hưng Yên, …
Chỉ dẫn địa lý được hiểu là những thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hóa được thể hiện trên bao bì của hàng hóa hay trên những giấy tờ giao dịch có liên quan đến việc mua bán hàng hóa, có thể là từ ngữ, hình ảnh, biểu tượng
Hành vi phạm tội: cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại VN với quy mô thương mại
Quy mô thương mại = hàng hóa có giá trị từ 50tr
Lỗi: cố ý
Mục đích: kinh doanh, vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.
Chú ý: tội này giống với tội Sản xuất, buôn bán hàng giả ở chỗ sản phẩm sản xuất ra có kiểu dáng, nhãn hiệu tương tự với sản phẩm của người khác; nhưng khác nhau ở chỗ ở tội Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì hàng hóa sản xuất ra có giá trị sử dụng tương đương với hàng hóa được bảo hộ, còn ở tội Sản xuất, buôn bán hàng giả thì sản phẩm hàng hóa không có giá trị sử dụng
6. Tội lừa dối khách hàng (Điều 162)
Chủ thể: là người bán hàng trong quan hệ giao dịch mua bán của tất cả các thành phần kinh tế
Mặt khách quan: hành vi lừa dối khách hàng, bằng các thủ đoạn sau:
Cân, đong, đo, đếm gian dối: lợi dụng sơ hở của khách hàng, hoặc sử dụng dụng cụ đo lường không chuẩn để cân đong đo đếm thiếu hàng hóa cho khách hàng. VD sử dụng chip để gian lận tại cây xăng
Tính gian: là thủ đoạn khi mua bán đã tính toán để lấy của khách hàng nhiều hơn số tiền đáng lẽ họ phải trả
Đánh tráo: khi giao hàng đã đánh tráo không đúng hàng
Dùng thủ đoạn gian dối khác
Hành vi lừa dối khách hàng bị coi là tội phạm khi :
Gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng: rất ít khi xảy ra trong thực tế
Đã bị xử phạt hành chính về tội này
Đã bị kết án về tội này và chưa được xóa án tích
Bài tập tình huống:
A có đại lý bán thuốc tân dược tại Hà Nội, đã bị đội quản lý thị trường kiểm tra đột xuất. Qua kiểm tra đã phát hiện một số lượng lớn thuốc tân dược giả. A khai đây là số thuốc tân dược được nhập từ nguồn hàng trôi nổi trên thị trường.
Hỏi:
– A có phạm tội không, và nếu có thì phạm tội gì, giải thích lý do tại sao
– Giả định khi điều tra, cơ quan công án xác định được A còn có hành vi sang Trung Quốc mua 1 số lượng lớn thuốc chữa bệnh và nhập lậu về VN để bán (số thuốc tân dược này là thật). Định tội cho hành vi này của A
– Giả thiết B là cán bộ hải quan được A tặng cho 1 viên đá quý trị giá 20 triệu nên B đã
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VII: Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt giúp sinh viên nắm rõ những quy định pháp luật liên quan đến các hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản mà không mang tính chất chiếm đoạt. Nội dung bài giảng tập trung vào phân tích đặc điểm, cấu thành và hình phạt đối với các tội phạm như hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, sử dụng trái phép tài sản. Đây là phần kiến thức quan trọng trong quá trình học tập và áp dụng luật hình sự vào thực tiễn.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VII
Chương 7: Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt
Chủ thể: thông thường, riêng Điều 144 (tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng) có chủ thể đặc biệt
Các tội phạm cụ thể:
Các tội có mục đích tư lợi: Điều 141, 142
Các tội không có mục đích tư lợi: Điều 143, 144, 145
II. Các tội có mục đích tư lợi
1. Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141)
Đối tượng của tội phạm:
Là tài sản không có chủ hoặc chưa có chủ,
Là những tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu của chủ tài sản vì những lý do khác nhau như bỏ quên, đánh rơi, giao nhầm, … hoặc
Là những tài sản chưa được phát hiện như đã quý, cổ vật, …
Chú ý: tài sản là đối tượng của tội này có điểm giống như ở tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ở chỗ tài sản đã đã ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội 1 cách hợp pháp trước khi họ có hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội: sau khi nhẫu nhiên có tài sản, người phạm tội đã có hành vi chiếm giữ trái phép (không phải chiếm đoạt). Đó là hành vi biến tài sản đang tạm thời không có chủ hoặc chưa có chủ thành tài sản của mình 1 cách trái phép, thể hiện ở:
Không trả lại tài sản được giao nhầm cho chủ tài sản mà tiếp tục chiếm hữu, sử dụng, hoặc đã định đoạt tài sản đó (bán cho người khác)
Không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản mà mình tìm được, bắt được mà tiếp tục chiếm hữu, sử dụng hoặc đã định đoạt tài sản đó (bán cho người khác)
Tài sản chiếm giữ trái phép phải có giá trị từ 10 tr hoặc là cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VII
Mặt chủ quan:
Lỗi: cố ý trực tiếp
Cố tình không trả lại (dù người giao nhầm, bỏ quên đã yêu cầu) hoặc không giao nộp (dù biết NN sẽ thu hồi): là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này
2. Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142)
Khách thể: quyền sử dụng tài sản trong thời gian nhất định
Đối tượng của tội phạm: là những tài sản mà việc sử dụng không làm cho tài sản bị mất đi và có thể đem lại cho người sử dụng lợi ích vật chất. Các tài sản thông thường của tội này là phương tiện vận chuyển cơ giới (ô tô, tàu, thuyền, …) máy móc, nhà đất, tiền, … . Ví dụ: nhà công, xe công nhưng người được giao quản lý lại cho thuê để lấy tiền riêng; hay thủ quỹ dùng tiền quỹ để cho vay lấy lãi thu lợi riêng
Chú ý: đối với tiền phải có chứng cứ rõ ràng thể hiện chủ thể không có ý định chiếm đoạt
Hành vi phạm tội: sử dụng trái phép tài sản của người khác, thể hiện qua:
Hành vi khai thác giá trị sử dụng tài sản
Chủ thể tự ý sử dụng tài sản của người khác
Chủ thể sử dụng tài sản thuộc phạm vi quản lý của mình không đúng quy định
Tài sản bị sử dụng trái phép phải có giá trị từ 50 triệu
Lỗi: cố ý trực tiếp
III. Các tội không có mục đích tư lợi
1. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143)
Đối tượng vi phạm: là tài sản của người khác. Chú ý: tài sản ở đây là tài sản bình thường, với các tài sản đặc biệt như công trình quan trọng của NN (như đường điện, thông tin liên lạc, …), tài nguyên rừng, biển, vũ khí, ma túy, … thì sẽ xử theo tội khác.
Mặt khách quan của tội phạm: có cấu thành tội phạm vật chất, gồm 03 dấu hiệu:
Hành vi phạm tội: 2 loại hành vi
Hành vi hủy hoại tài sản: làm mất hoàn toàn giá trị sử dụng của tài sản, VD đốt nhà, phá xe, đầu độc gia súc, ao cá…
Hành vi làm hư hỏng tài sản: làm giảm giá trị sử dụng của tài sản.
Hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động, có sử dụng hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện
Hậu quả của tội phạm: là tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng. Thiệt hại gây ra phải từ 2 triệu.
Chú ý: nếu tài sản bị hủy hoại quá nhỏ dẫn đến tính nguy hiểm của hành vi là không đáng kể thì không cấu thành tội phạm
Động cơ, mục đích phạm tội: không bắt buộc phải là dấu hiệu bắt buộc, VD trả thù, bất mãn, che dấu tội phạm (như thủ kho cố ý đốt kho để hủy bằng chứng tham ô)…
Chủ thể: đặc biệt, là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của NN, gồm 3 nhóm:
Người có chức vụ hoặc quyền hạn trong quản lý tài sản: như thủ trưởng cơ quan, kế toán, thủ kho, thủ quỹ
Người có nhiệm vụ bảo quản, bảo vệ tài sản: như bảo vệ cơ quan
Người có nhiệm vụ giữ gìn tài sản
Mặt khách quan: cấu thành vật chất, gồm 3 dấu hiệu:
Hành vi khách quan: là hành vi thiếu trách nhiệm, vi phạm các quy định về sự an toàn của tài sản được giao quản lý
Hậu quả của tội phạm: gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của NN có giá trị từ 50 tr
Lỗi: vô ý
3. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145)
Chủ thể: thông thường
Hành vi phạm tội: là hành vi vi phạm những nguyên tắc sinh hoạt XH thông thường liên quan đến việc bảo vệ tài sản
Hậu quả: gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản có giá trị từ 50 tr
Lỗi: vô ý
Câu hỏi: Các khẳng định sau là Đúng / Sai, tại sao:
(1) Đối tượng của tội chiếm giữ trái phép tài sản là tài sản đang có chủ
(2) Người bắt được hoặc giao nhầm tài sản có giá trị từ 10tr đồng trở lên nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản hoặc giao nộp tài sản là phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản
(3) Đối tượng của tội sử dụng trái phép tài sản là bất cứ loại tài sản nào
(4) Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị từ lớn hay không lớn đều cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
(5) Mọi tài sản đều có thể là đối tượng của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
(6) Sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ 50 tr trở lên thì luôn bị coi lả tội phạm và phải chịu TNHS
Trả lời:
(1) Sai. Vì đối tượng của tội chiếm giữ trái phép tài sản là không có chủ hoặc chưa có chủ (Điều 141)
(2) Sai. Theo điều 141 thì phải bổ sung thêm ý “sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật”
(3) Sai. Vì phải là tài sản có giá trị từ 50 triệu trở lên, và không phải là những tài sản đặc biệt như vũ khí, ma túy, công trình quan trọng của quốc gia (đường dây tải điện, hệ thống thông tin liên lạc, …) (Điều 142)
(4) Sai. Vì với tài sản dưới 2 triệu thì phải thêm điều kiện là “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” (Điều 143)
(5) Sai. Vì với những tài sản đặc biệt như vũ khí, ma túy, công trình quan trọng của quốc gia (đường dây tải điện, hệ thống thông tin liên lạc, …) thì sẽ áp dụng tội khác.
(6) Sai. Vì còn điều kiện của chủ thể phải là người có năng lực chịu TNHS (người dưới 16 tuổi, người bị tâm thần sẽ không phải chịu TNHS).
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VI cung cấp kiến thức chi tiết về Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, một trong những nhóm tội phạm phổ biến và phức tạp trong Luật hình sự. Nội dung chương này đề cập đến các hành vi phạm tội như trộm cắp, cướp giật, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các tội khác liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bài giảng giúp người học hiểu rõ yếu tố cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt cụ thể theo quy định pháp luật hiện hành.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VI
Chương 6: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
I. Khái niệm chung
– Là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt, trong cấu thành tội phạm có dấu hiệu chiếm đoạt.
– Chiếm đoạt: là hành vi cố ý chuyển dịch trái PL tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình.
– Khách thể: là quan hệ sở hữu về tài sản của người khác, một số tội xâm phạm quan hệ nhân thân của người có tài sản (tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người như tội Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản)
– Đối tượng tác động: là tài sản đang có chủ, tức là tài sản vẫn còn nằm trong sự chiếm hữu quản lý của chủ tài sản. Tài sản có thể là vật, tiền, lương thực, gia súc,…
Chú ý: Một số tài sản có tính chất đặc biệt hoặc thuộc đối tượng NN cấm thì không thuộc đối tượng của tội này mà là đối tượng của tội khác, VD ma túy, vũ khí, công trình điện, công trình thông tin liên lạc…
– Hành vi phạm tội:
+ về thực tế: làm cho chủ tài sản bị mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình
+ về pháp lý: không làm chủ tài sản mất quyền sở hữu đối với tài sản, mà chỉ làm mất khả năng thực hiện quyền sở hữu
+ những hành vi này được thực hiện dưới các hình thức khác nhau: có thể công khai (cướp, cướp giật), có thể lén lút (trộm cắp)
– Lỗi của người phạm tội: cố ý trực tiếp, người phạm tội biết tài sản đã có chủ nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành của mình
Chú ý: trong các cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, dấu hiệu chiếm đoạt có thể là:
+ mục đích chiếm đoạt, không đòi hỏi phải có hành vi chiếm đoạt: trong tội dùng vũ lực để chiếm đoạt, bắt cóc con tin để chiếm đoạt
+ hành vi chiếm đoạt: như hành vi cướp giật,
+ hành vi chiếm đoạt được: tức là đã lấy được tài sản, làm chủ được tài sản
==> để biết khi nào tội phạm hoàn thành
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương VI
II. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 1 cách công khai
1. Tội cướp tài sản (Điều 133)
– Là dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
– Khách thể: xâm phạm 2 quan hệ XH:
+ quan hệ nhân thân: tính mạng, sức khỏe
+ quan hệ sở hữu: quyền sở hữu tài sản
– Đối tượng của tội phạm: là con người và tài sản. Tuy nhiên đối tượng chính là tài sản, còn việc tác động đến con người chỉ là điều kiện để có thể chiếm đoạt tài sản
– Mặt khách quan: có 3 dạng hành vi:
+ dùng vũ lực: phải tác động vào người
+ đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: kể cả trường hợp dùng súng giả, gậy nhựa đe dọa nhưng người bị hại vẫn tưởng thật thì vẫn bị coi là phạm tội này
+ hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được: ví dụ sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê để lừa người bị hại uống (như hòa vào cốc nước, tẩm vào khăn tay đưa cho lau mặt)
Chỉ cần thực hiện 1 trong 3 hành vi trên là đủ để cai là tội phạm hoàn thành, không cần hậu quả có cướp được không ==> cấu thành hình thức
– Chủ thể: đủ 14 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự
– Mặt chủ quan:
+ lỗi cố ý trực tiếp
+ mục đích: là chiếm đoạt tài sản
Chú ý: tình huống chuyển hóa từ tội Cướp giật sang tội Cướp tài sản: ví dụ A cướp giật túi xách của B, nhưng B cầm chắc quá nên A không giật được, khi đó A dùng vũ lực (rút dao ra dọa) uy hiếp B để lấy túi xách
Tình huống chuyển hóa từ trộm cắp tài sản sang tội Cướp tài sản: ví dụ A đột nhập vào nhà B để trộm cắp tài sản thì B về, A liền dùng vũ lực với B để lấy tài sản
Chú ý: tình huống người phạm tội ban đầu không có mục đích chiếm đoạt tài sản, ví dụ như hãm hiếp nạn nhân (hay trả thù nạn nhân), làm nạn nhân chết hoặc ngất đi, khi đó phát hiện thấy nạn nhân có tài sản liền lấy tài sản đó ==> thực tế xét xử: quy 2 tội: giết người và cướp tài sản (vì theo tòa rất khó để xác định được mục đích ban đầu của người phạm tội)
Tuy nhiên, theo lý luận thì không thể áp tội cướp tài sản vì ban đầu không có mục đích cướp.
Chú ý: nếu cướp mà vô ý làm chết người thì bị xử theo khung 4, còn nếu cố ý giết người để cướp tài sản thì sẽ bị xử 2 tội là giết người và cướp tài sản
Ghi chú:
+ Gây hậu quả nghiêm trọng khi làm chết 1 người
+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng khi làm chết 2 người
+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khi làm chết từ 3 người trở lên
2. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134)
– Là bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản
– Khách thể: quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
– Mặt khách quan:
+ hành vi bắt cóc con tin
+ hành vi đe dọa chủ tài sản
Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có hành vi bắt cóc và hành vi đe dọa chủ tài sản phải giao tài sản, không bắt buộc phải chiếm được tài sản
– Mặt chủ quan:
+ lỗi của người phạm tội: cố ý trực tiếp
+ mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản
Chú ý: trường hợp nợ không trả, chủ nợ bắt cóc người thân của con nợ để đòi nợ, thực tế xét xử vẫn coi đây là tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản ==> có phần chưa hợp lý hoàn toàn khi không bảo vệ chủ nợ ==> có ý kiến đề xuất trường hợp bắt cóc người thân để đòi nợ thì chỉ xử về tội Bắt giữ người trái luật
3. Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135)
– Là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản
– Hành vi phạm tội:
+ đe dọa sẽ dùng vũ lực
+ hành vi khác uy hiếp tinh thần, VD đe dọa hủy hoại tài sản của người bị đe dọa, dọa loan tin về đời tư
Chú ý: hành vi phạm tội không làm tê liệt ý chí người bị đe dọa mà chỉ khống chế ý chí của họ, người bị đe dọa vẫn có sự lựa chọn, cân nhắc để đưa ra quyết định
4. Tội cướp giật tài sản (Điều 136)
– Là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai
– Hành vi phạm tội: là hành vi chiếm đoạt tài sản, có 2 dấu hiệu:
+ dấu hiệu công khai: không cần che dấu, lén lút
+ dấu hiệu nhanh chóng: lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, hoặc người phạm tội cố tình tạo ra tình huống để chủ tài sản sơ hở, VD tạo ra vụ va chạm, giả vờ mua hàng
Chú ý: người phạm tội có thể dùng thủ đoạn gian dối, vũ lực không đáng kể để tiếp cận đối tượng và nhanh chóng chiếm đoạt
Chú ý: dấu hiệu nhanh chóng chỉ là nhanh chóng chiếm đoạt, không nhất thiết phải nhanh chóng tẩu thoát, VD trường hợp cướp giật tài sản rồi chuyền tay cho đồng bọn tẩu thoát còn bản thân vẫn đứng yên tại chỗ; hoặc cướp giật của người đang ngồi trên ô tô, tàu hỏa, biết rõ nạn nhân không thể nhảy xuống tàu, xe đang chạy nên không cần tẩu thoát
– Trường hợp hành hung để tẩu thoát: là trường hợp người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chống lại việc bắt giữ để tẩu thoát. Chú ý phân biệt với hành vi dùng vũ lực để cướp giật sẽ chuyển hóa thành tội Cướp tài sản (Điều 133)
5. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137)
– Là lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản để công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ
– Hành vi phạm tội: chiếm đoạt tài sản của người khác 1 cách công khai, có 2 đặc điểm:
+ có tính công khai: không cần che dấu, cho chủ tài sản biết hành vi chiếm đoạt của mình
+ hành vi xảy ra trong hoàn cảnh chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản. Chú ý: hoàn cảnh không có điều kiện ngăn cản phải không do người phạm tội gây ra.
VD: hôi của, chiếm đoạt tài sản của người bị tai nạn giao thông, thấy người bị bệnh nằm liệt giường bèn vào nhà lấy tài sản, thấy người thợ điện đang sửa điện trên cột điện liền lấy xe máy để ở dưới chân cột điện,
– Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên.
III. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt một cách lén lút
1. Tội trộm cắp tài sản (Điều 138)
– (đây là tội có tỷ lệ xét xử cao nhất, chiếm đến 70% số vụ án hình sự trên cả nước)
– Là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ
– Hành vi phạm tội: là hành vi chiếm đoạt tài sản đang có chủ 1 cách lén lút
Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản:
+ với tài sản nhỏ, gọn, dễ cất dấu để trong người thì được coi là chiếm đoạt được khi người phạm tội đã giấu tài sản ở trong người. VD đến nhà người khác lấy trộm ví, điện thoại, nhẫn, … dấu vào túi mình, dù chưa ra khỏi nhà nạn nhân
+ với tài sản không thể dấu trong người thì được coi là chiếm đoạt được khi đã mang chúng ra khỏi nơi cất giữ. VD đã mang ti ti, tủ lạnh, xe máy, trâu bò, … ra khỏi nhà, chuồng, …
+ với tài sản được để ở những nơi không hình thành khu vực bảo quản tài sản riêng, như tài sản của cơ quan tổ chức, cá nhân để trên đường (VD vật tư, thiết bị của công trường xây dựng) thì được coi là chiếm đoạt được khi đã dịch chuyển tài sản đó khỏi vị trí ban đầu
Hành vi lén lút: là việc chiếm đoạt tài sản mà không để chủ tài sản biết hành vi đó đang xảy ra. Chú ý: chỉ cần không để chủ tài sản biết, không cần che dấu hành vi đối với người khác, VD biết chủ nhà đi vắng, mang xe ô tô đến tận cửa nhà để lấy trộm tài sản trong nhà, người ngoài nhìn vào tưởng chủ nhà đang chuyển đồ
– Đối tượng của tội trộm cắp: tài sản đang có chủ:
+ tài sản đang ở trong sự chiếm hữu của người khác (chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản)
+ tài sản đang còn nằm trong khu vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản
– Việc lấy tài sản của mình hoặc đang do mình quản lý hoặc tài sản không có chủ, chưa có chủ thì không phải thuộc tội này, trừ trường hợp lấy tài sản của mình nhằm gây thiệt hại cho người khác thì vẫn bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản, VD cho người khác mượn xe máy, rồi lợi dụng lúc người đó sơ hở lấy trộm chính chiếc xe đó và bắt đền người đó.
+ trường hợp lấy tài sản đang trong sự quản lý của mình, VD khách hàng gửi ô tô, lợi dụng thay phụ tùng thì sẽ quy tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
+ tài sản thuộc quyền quản lý của mình, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm lấy làm của riêng, thì sẽ bị quy tội Tham ô tài sản.
+ lấy tài sản chưa có chủ, tức là tài sản chưa có người quản lý, tài sản bị thất lạc, hoặc tài sản đó chưa bị phát hiện vì bị chôn dấu, vùi lấp, theo PL thì tài sản đó thuộc về NN thì sẽ bị quy tội Chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141)
+ trường hợp tài sản có chủ, nhưng chủ tài sản không cất giữ, bảo quản, người khác nhìn vào không có bất cứ dấu hiệu nào là tài sản đang có chủ, thì hành vi lấy tài sản đó sẽ bị quy tội Chiếm giữ trái phép tài sản
– Tài sản bị chiếm đoạt phải có từ giá trị từ 2 triệu trở lên.
Chú ý: trường hợp gia súc như trâu, bò trong thực tế rất phức tạp.
Tình huống: A bán 1 con trâu trong đàn trâu nhà mình cho B là người cùng thôn, do tập quán chăn thả gia súc tự do trên cánh đồng nên con trâu A đã bán cho B vẫn theo đàn cũ về nhà A. B kiện A tội trộm cắp, ra tòa. Tòa yêu cầu chủ con trâu phải mô tả chi tiết về con trâu, vì A là chủ con trâu lâu hơn nên nắm rõ các đặc điểm con trâu đó hơn B, nên tòa xử con trâu thuộc về A.
Vấn đề 5: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt (tiếp)
2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139)
– Là tội bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác.
– Hành vi phạm tội: gồm 2 hành vi:
+ lừa dối: cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Thủ đoạn lừa dối có thể được thực hiện qua lời nói hoặc việc làm dưới những hình thức khác nhau
+ chiếm đoạt: ở tội lừa đảo là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối hoặc là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối
Hai hành vi này có quan hệ chặt chẽ: hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt xảy ra, hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi lừa dối
– Lỗi cố ý trực tiếp
– Tài sản bị chiếm đoạt: có giá trị từ 2 triệu
3. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140)
– Chủ thể: có sự đặc biệt hơn các tội khác
+ dấu hiệu chung: đủ tuổi, có năng lực TNHS
+ dấu hiệu riêng: là người đã được chủ tài sản tín nhiệm giao cho tài sản. Cơ sở cho việc giao tài sản là hợp đồng, việc giao và nhận tài sản là ngay tình, chủ tài sản do tín nhiệm đã giao tài sản để người được giao sử dụng, bảo quản, vận chuyển, gia công, sửa chữa, … ==> tức là tài sản đang ở trong sự chiếm hữu hợp pháp của người phạm tội
– Hành vi phạm tội: là hành vi chiếm đoạt 1 phần hay toàn bộ tài sản đã được giao trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa chủ tài sản và người phạm tội
– Đối tượng của hành vi chiếm đoạt là tài sản đã được giao ngay tình cho người phạm tội trên cơ sở hợp đồng
– Hành vi chiếm đoạt có 2 dạng:
+ không trả lại tài sản: bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối như giả bị mất, đánh tráo, rút bớt
+ không trả lại được tài sản do không có khả năng trả vì đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cho vay nặng lãi, …
– Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 2 triệu.
– Phân biệt với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
+ ở tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: có ý định chiếm đoạt từ trước, thực hiện hành vi lừa dối, sau đó là hành vi chiếm đoạt tài sản
+ ở tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: thời điểm nhận tài sản chưa có ý định chiếm đoạt, sau đó mới nảy sinh hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương II mang đến cái nhìn sâu sắc về Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, con người, một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực pháp luật. Chương này tập trung vào việc phân tích các quy định pháp lý liên quan đến các hành vi phạm tội như giết người, cố ý gây thương tích, hay các tội phạm xâm hại sức khỏe khác. Thông qua bài giảng, người học sẽ hiểu rõ hơn về bản chất pháp lý của các hành vi vi phạm, mức độ xử phạt và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong từng trường hợp cụ thể.
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương II
Chướng 2: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, con người
I. Khái niệm chung
1. Khái niệm
– Nhóm tội này được chia làm 3 nhóm:
+ nhóm các tội xâm phạm tính mạng con người: giết người, vô ý làm chết người, bức tử, …
+ nhóm các tội xâm phạm sức khỏe con người: gây thương tích, gây tổn hại đến sức khỏe người khác
+ nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người: hiếp dâm, làm nhục người khác
a. Các tội xâm phạm tính mạng con người
– Là những hành vi (hành động hoặc không hành động) có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm hại quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của người khác
– Khách thể: quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng
Đối tượng của tội phạm: người đang sống
– Mặt khách quan:
+ hành vi khách quan: hành động hoặc không hành động, trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về tính mạng
+ hậu quả: chết người, hoặc hành vi tự sát (có thể chết hoặc không chết)
– Chủ thể: bình thường (đủ tuổi và có năng lực TNHS)
– Mặt chủ quan: lỗi cố ý hoặc vô ý
b. Các tội xâm phạm sức khỏe con người
– Là hành vi (hành động hoặc không hành động) có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác
– Chủ thể: thông thường , hoặc đặc biệt (trong điều 110, 107)
1. Tội giết người (Điều 93) (tiếp)
– Mặt khách quan: cấu thành vật chất, tức là phải có hậu quả chết người (nếu thực hiện hành vi giết người mà không chết thì là trường hợp phạm tội chưa đạt)
– Mặt chủ quan: lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp)
b. Trách nhiệm hình sự (Hình phạt)
Cấu thành cơ bản (khoản 2): phạt tù 7 đến 15 năm
Các trường hợp cấu thành tăng nặng (khoản 1), phạt tù 12-20 năm, chung thân hoặc tử hình:
– Giết nhiều người: là giết từ 2 người trở lên, có thể cùng 1 lần hoặc nhiều lần
– Giết phụ nữ mà biết là có thai:
+ đối tượng tác động: nữ, đang mang thai
+ người phạm tội biết rõ nạn nhân đang mang thai (nếu không biết thì không áp dụng tình tiết này)
– Giết trẻ em:
+ đối tượng tác động: người dưới 16 tuổi
– Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân:
Công vụ: nhiệm vụ công, vì lợi ích chung của XH, khi thực hiện công vụ thì có những quyền hành nhất định. Do đó việc giết người trong trường hợp này không chỉ xâm phạm tính mạng con người mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự XH.
+ giết người đang thi hành công vụ: đối tượng tác động là người đang thi hành công vụ, VD lâm tặc giết kiểm lâm, buôn lậu giết hải quan, giết bảo vệ đang làm nhiệm vụ
+ giết người vì lý do công vụ của nạn nhân: là trường hợp giết người mà động cơ gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân, VD chủ kinh doanh bị cán bộ thuế phát hiện sai phạm và phải nộp rất nhiều thuế, sau đó vì trả thù mà giết cán bộ thuế
– Giết ông bà, cha mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình
+ đối tượng tác động: là người có quan hệ đặc biệt với người phạm tội ==> xâm phạm tính mạng con người và còn vi phạm nghiêm trọng đạo lý
– Giết người mà liền trước hoặc ngay sau đó lại phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
VD: phạm tội cướp theo khoản 1 điều 133 (tội rất nghiêm trọng), ngay sau đó phạm tội giết người
Chú ý: thời gian để được coi là “liền trước” hoặc “liền sau” không được quy định
– Giết người để thực hiện hoặc che dấu 1 tội phạm khác
VD: giết người trộm cắp tài sản; hiếp dâm rồi giết nạn nhân để bịt đầu mối
– Giết người để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân: để bán mô tạng
– Giết người một cách man rợ: cách thức thực hiện hành vi giết người gây tinh hoàng trong XH
– Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp:
+ lợi dụng công cụ nghề nghiệp
+ lợi dụng kinh nghiệm nghề nghiệp: VD bác sỹ, dược sỹ lợi dụng kinh nghiệm nghề nghiệp để giết người
– Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người: chỉ cần có hành vi, không cần phải có hậu quả có người chết đã bị quy tội.
VD: ném lựu đạn vào chỗ đông người, thì cho dù lựu đạn không nổ vẫn bị quy tội này
– Thuê giết người hoặc giết người thuê: là 1 dạng của động cơ đê hèn
– Giết người có tổ chức: đồng phạm có tổ chức, tức là có sự cấu kết chặt chẽ
– Giết người có tính chất côn đồ: giết người vì những lý do đơn giản
VD: giết người vì tranh nhau một thứ rất nhỏ nhặt (VD tranh nhau cái cây mọc giữa bờ rào, tranh cái xẻng xúc cát, tranh nhau dòng nước)
– Tái phạm nguy hiểm: điều 49
– Giết người vì động cơ đê hèn: là động cơ phạm tội có tính chất xấu và ở mức độ cao
VD: giết chồng người ta để lấy vợ người ta; giết người thân thích để sớm được hưởng thừa kế
Bài giảng môn học Luật hình sự 2 chương II
2. Tội giết con mới đẻ (Điều 94)
– Là trường hợp người mẹ (người đẻ) giết đứa con tính từ ngày sinh ra chưa tròn 7 ngày tuổi do bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong trường hợp đặc biệt, hoặc vứt bỏ đứa trẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết
a. Dấu hiệu pháp lý
– Tội có cấu thành vật chất, tức là có hành vi, hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
– Chủ thể: là người mẹ đẻ ra đứa trẻ
Chú ý: nếu bố, cô, bác, … giết cháu thì sẽ bị truy tố về tội giết người (Điều 93 khoản 2)
– Đối tượng tác động: trẻ mới đẻ trong vồng 7 ngày tuổi
– Mặt khách quan của tội phạm: hành vi gồm 2 dạng:
+ giết con mới đẻ:
phải do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu. VD sinh con một bề, đứa trẻ sinh ra đúng vào ngày xấu (theo quan niệm lạc hậu),…
hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt: VD người mẹ gặp hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như chồng bỏ và bản thân quá nghèo không đủ khả năng nuôi con, hoặc sinh con quái thai, bệnh tật bẩm sinh
+ vứt con: để mặc đứa con không cho bú, ăn dẫn đến chết
– Mặt chủ quan của tội phạm: lỗi cố ý
b. Hình phạt
– Cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
3. Tội bức tử (Điều 100)
– Có hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình, làm cho người đó tự sát
a. Dấu hiệu pháp lý
– Khách thể: đe dọa xâm phạm tính mạng của con người
– Mặt khách quan: tội có cấu thành vật chất, tức là có hành vi, hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
+ hành vi:
Đối xử tàn ác: VD đánh đập, bỏ đói, bỏ rét, …
Thường xuyên ức hiếp
Thường xuyên ngược đãi
Chú ý: đối tượng của các hành vi trên phải là người lệ thuộc
+ hậu quả: nạn nhân tự sát, không cần có chết hay không
– Chủ thể của tội phạm: người phạm tội và nạn nhân có quan hệ phụ thuộc về vật chất hoặc tinh thần
– Mặt chủ quan của tội phạm:
b. Hình phạt
– phạt tù từ 2 – 7 năm: khoản 1
– phạt tù từ 3 – 10 năm: làm nhiều người tự sát
4. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 101)
– Xúi giục người khác tự sát là hành vi cố ý thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ
– Giúp người khác tự sát là hành vi cố ý tạo ra các điều kiện cho người tự tước đoạt tính mạng của họ
a. Dấu hiệu pháp lý
– Khách thể: đe dọa tước đoạt tính mạng con người
– Mặt khách quan: tội có cấu thành vật chất, tức là có hành vi, hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
+ hành vi:
Xúi giục trực tiếp: (không xúi giục thông qua người khác) kích động, dụ dỗ, lừa dối, … người khác tự sát
Giúp tự sát: tạo điều kiện về vật chất hoặc tinh thần cho người tự sát, VD cung cấp thuốc độc, vũ khí, hoặc chỉ cho nạn nhân cách thức tự sát
+ hậu quả: nạn nhân có hành vi tự sát, không đòi hỏi phải chết do tự sát
– Chủ thể: thông thường
– Mặt chủ quan: lỗi cố ý
b. Hình phạt
– phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm
– phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: giúp nhiều người tự sát
5. Tội không cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 102)
– Là hành vi không cứu giúp người khác khi người đó lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mà người cứu giúp có điều kiện cứu giúp, dẫn đến hậu quả người đó chết
a. Dấu hiệu pháp lý
– Khách thể: xâm phạm tính mạng con người
– Mặt khách quan: tội có cấu thành vật chất, tức là có hành vi, hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
+ nạn nhân phải đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng: có thể do tai nạn, hoặc do người đó tự sát
+ hành vi phạm tội: hành vi không thực hiện nghĩa vụ cứu giúp khi thấy người khác ở trong tình trạng nguy hiểm. Chú ý: người phạm tội phải ở trong hoàn cảnh có điều kiện cứu giúp, và việc cứu giúp không nguy hiểm cho bản thân cũng như cho người khác
+ hậu quả: người không được cứu giúp chết. Nếu không chết thì người không có hành vi cứu giúp sẽ không bị truy cứu TNHS
– Mặt chủ quan: lỗi cố ý gián tiếp (do đó chỉ quy TNHS khi có hậu quả xảy ra)
+ người phạm tội nhận thức được người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, đòi hỏi cần được giúp đỡ
+ người phạm tội nhận thức được mình có điều kiện cứu giúp, có đủ điều kiện để cứu giúp
– Chủ thể: thông thường
b. Hình phạt
– Phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ từ 3 tháng đến 2 năm, hoặc phạt từ từ 3 tháng đến 2 năm
– Phạt tù từ 1 – 5 năm nếu:
+ người không cứu giúp đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm cho nạn nhân: VD rủ người khác đi bơi ở sông, không may người đó bị chết đuối mà không cứu; hoặc đốt rác thải, không may gây cháy làm nguy hiểm đến tính mạng người khác
+ người không cứu giúp là người mà theo PL hay theo nghề nghiệp có nghĩa vụ cứu giúp. VD bác sỹ, nhân viên cứu hộ
6. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104)
(đây là tội có số lượng vụ án được xét xử nhiều nhất tại VN, chiếm đến 1/4 tổng số vụ án trên toàn quốc)
– Là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác bằng cách gây ra các thương tích hoặc tổn thương khác
+ thương tích: tổn hại cho sức khỏe thể hiện qua dấu vết để lại trên cơ thể
+ tổn thương khác: tổn hại cho sức khỏe mà không thể hiện thành dấu vết trên cơ thể
VD: vợ chồng cãi nhau, ông hàng xóm bênh người vợ, ném đá ông chồng, nhưng lại trúng bà vợ, gây thương tích 4%. Tuy nhiên vì dùng đá làm phương tiện thực hiện hành vi (là hung khí theo quy định của PL) nên dù bị thương dưới 11% vẫn bị truy cứu TNHS
VD: cố ý gây thương tích nhưng vô ý làm chết người (là trường hợp nặng nhất của tội này)
a. Dấu hiệu pháp lý
– Khách thể: xâm phạm sức khỏe con người, một số trường hợp xâm phạm tính mạng con người
– Đối tượng tác động: con người
– Mặt khách quan của tội phạm: cấu thành vật chất, tức là có hành vi, hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
+ hành vi: dùng chân, tay, công cụ, phương tiện, hoặc có thể thông qua súc vật, … tác động đến thân thể người khác
+ hậu quả: gây ra các thương tích cụ thể
– Nếu gây thương tích từ 11% trở lên: truy cứu TNHS
– Nếu gây thương tích dưới 11% vẫn bị truy cứu TNHS khi:
+ Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người: VD dùng dao, kiếm, bom, mìn, bỏ chất độc vào đồ ăn hoặc nước uống,…
+ Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân: cố tật là những tật trên cơ thể do hành vi phạm tội gây ra mà không thể khắc phục được, VD làm mắt bị lác, đứt dây thần kinh dẫn đến liệt một phần cơ thể, gây ù tai dẫn đến điếc
+ Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người
+ Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ
+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình
+ Phạm tội có tổ chức
+ Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
+ Thuê người khác hoặc thực hiện hành vi do người khác thuê
+ Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm
+ Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
– Chủ thể: thông thường
– Mặt khách quan: lỗi cố ý
b. Hình phạt
Có 4 khung hình phạt
– Khung 1: Cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
+ gây thương tích từ 11% đến 30%
+ gây thương tích dưới 11% nhưng có 1 trong các tình tiết kể trên
– Khung 2: Phạt tù từ 2 đến 7 năm:
+ gây thương tích từ 31% đến 60%
+ gây thương tích dưới 30% những có 1 trong các tình tiết kể trên
VD thương tích 30%: đá vào bụng làm vỡ lá lách; đá vào bụng chị em mang thai làm sảy thai
– Khung 3: Phạt tù từ 5 năm đến 15 năm:
+ gây thương tích từ 61% trở lên (đến 100%)
VD thương tích 100%: dùng gậy đánh vào gáy dẫn tới bị liệt toàn thân
+ gây thương tích dưới 61% nhưng nhưng có 1 trong các tình tiết kể trên
+ gây chết người
Chú ý: trường hợp gây hậu quả chết người, phân biệt với phạm tội giết người
+ gây thương tích là lỗi cố ý, hậu quả chết người là lỗi vô ý (khác với tội giết người là lỗi cố ý)
+ việc gây thương tích và hậu quả chết người phải có mối quan hệ nhân quả. VD đâm nạn nhân, do bị mất quá nhiều máu, hoặc vết thương quá nặng nên sau đó một thời gian (chẳng hạn sau 1-2 tuần) thì nạn nhân chết; VD gây thương tích cho nạn nhân là người già yếu, có bệnh nặng làm nạn nhân chết sơm hơn (nếu không bị gây thương tích thì nạn nhân chưa chết)
– Khung 4: Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc chung thân:
+ gây chết nhiều người: phải thực hiện với lỗi vô ý (nếu lỗi cố ý sẽ sang tội Giết người)
+ đặc biệt nghiêm trọng: gây thương tích nặng (từ 61%) cho nhiều người, phạm tội vì động cơ đê hèn, …