Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương III

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương III

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương III đi sâu vào các quy định pháp lý liên quan đến kết hôn và điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam. Nội dung chương này giúp người học hiểu rõ các quy định về độ tuổi, điều kiện sức khỏe, sự tự nguyện, cũng như các trường hợp cấm kết hôn và hủy kết hôn trái pháp luật. Bài giảng cung cấp kiến thức quan trọng để nắm vững quy trình pháp lý và đảm bảo quyền lợi của các bên trong quan hệ hôn nhân, giúp sinh viên áp dụng hiệu quả trong thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương III

    Chương 3: Kết hôn

    1. Khái niệm

    – Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng và tuân theo các điều kiện kết hôn và thủ tục kết hôn.

    Đám cưới là nghi lễ nhằm mục đích thông báo sự kiện 2 bên nam nữ trở thành vợ chồng của nhau.

    – Dưới góc độ pháp lý, kết hôn được hiểu là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng, phải thỏa mãn 2 yếu tố:

    + phải thể hiện được ý chí của cả nam và nữ mong muốn được kết hôn với nhau

    + phải được NN thừa nhận

    – Nhà nước quản lý việc kết hôn thông qua việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn

    – Quyền kết hôn là quyền nhân thân, không thể chuyển giao.

    2. Điều kiện kết hôn

    Các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8:

    – Nữ từ đủ 18, nam từ đủ 20, không quy định tuổi tối đa

    – Phải có sự tự nguyện của cả 2 bên, không bên nào được ép buộc hay lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hay cản trở

    + tự nguyện kết hôn được thể hiện bằng dấu hiệu khách quan: hai bên nam, nữ phải đồng thời có mặt tại cơ quan NN có thẩm quyền để đăng ký kết hôn (không thể ủy quyền cho người khác)

    + cưỡng ép kết hôn: là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác kết hôn trái ý muốn của họ, VD cha mẹ cưỡng ép con phải kết hôn với người mà con không mong muốn

    + cản trở kết hôn: là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn, VD cha mẹ không muốn cho con gái lấy chồng nhà nghèo nên cố tình thách cưới thật cao

    + lừa dối kết hôn: là 1 trong 2 bên nói sai sự thật về người đó làm cho người kia lầm tưởng mà kết hôn, VD nói dối chưa có vợ / chồng để kết hôn; hoặc nói dối về tình trạng sức khỏe như bị nhiễm HIV nhưng nói dối là không mắc

    Chú ý: nếu lừa dối về điều kiện kinh tế, bằng cấp, địa vị xã hội thì không bị coi là vi phạm điều kiện kết hôn tự nguyện.

    – Người kết hôn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự: để xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi phải có quyết định của Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi

    ==> như vậy, người bị mất năng lực hành vi vẫn có thể kết hôn nếu thời điểm đăng ký kết hôn chưa có quyết định của Tòa án về tình trạng mất năng lực hành vi dân sự

    – Hai người phải khác giới tính (Điều 8, khoản 2)

    NN không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng không cấm họ sống chung

    – Việc kết hôn không vi phạm điều cấm (khoản 2 Điều 5)

    + kết hôn giả tạo:  là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình

    + cấm người đang có vợ / chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác

    + cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ trong phạm vi 3 đời

    + cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

    –  Việc kết hôn phải được cơ quan có thẩm quyền công nhận và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (Điều 9)

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương III
    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương III

    Chú ý: với trường hợp kết hôn với người nước ngoài, có thể xảy ra tình huống vênh nhau về luật, VD ở VN quy định nam phải đủ 20 tuổi mới được kết hôn, trong khi nước khác quy định đủ 18 tuổi ==> các nước phải ký kết với nhau hiệp định tương trợ pháp lý để thỏa thuận với nhau. ==> và khi đó việc kết hôn sẽ tuân theo các quy tắc trong hiệp định của 2 bên.

    – Với trường hợp đã ly hôn, muốn quay trở lại với nhau thì phải đăng ký kết hôn, và PL chỉ coi là vợ chồng từ ngày có đăng ký kết hôn lại

    – Với người theo đạo, hoặc theo quy định của dân tộc thiểu số, mà có nghi thức kết hôn theo quy định riêng (VD được ghi vào sổ hôn nhân của nhà thờ Thiên chúa) thì nghi thức kết hôn đó không có giá trị trước PL, các bên chỉ được PL coi là vợ chồng khi đăng ký kết hôn tại cơ quan NN có thẩm quyền.

    – Điều kiện về hình thức : việc kết hôn phải được cơ quan có thẩm quyền NN cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

    3. Kết hôn trái PL và hủy việc kết hôn trái PL

    a. Khái niệm kết hôn trái PL (khoản 6 điều 3)

    – Là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan NN có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo Điều 8 Luật HNGĐ.

    – Chú ý: cần phân biệt “kết hôn trái PL” với “chung sống với người khác như vợ chồng trái PL”

    + kết hôn trái PL: đã đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn

    + chung sống với người khác như vợ chồng trái PL: người đã có vợ / chồng lại chung sống với người khác như vợ / chồng

    – Về hành vi “chung sống với người khác như vợ chồng”, có 3 trường hợp:

    + chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, được công nhận là vợ chồng

    + chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, bị coi là trái PL và bị xử lý

    + chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, không bị coi là trái PL và không bị xử lý

    b. Hủy việc kết hôn trái PL

    – là việc Tòa án tuyên bố hủy bỏ việc kết hôn do vi phạm các điều kiện kết hôn (giấy Chứng nhận đăng ký kết hôn bị hủy)

    – là biện pháp xử lý có ý nghĩa như chế tài của luật HNGĐ áp dụng đối với trường hợp kết hôn trái PL, NN không thừa nhận có quan hệ vợ chồng trong kết hôn trái PL, buộc 2 bên phải chấm dứt hành vi chung sống như vợ chồng trái PL đó

    – Căn cứ để hủy việc kết hôn trái PL:

    + do tảo hôn: một trong 2 bên chưa đủ tuổi theo quy định

    + kết hôn do bị cưỡng ép, bị lừa dối

    + kết hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự

    + kết hôn giữa những người cùng giới tính

    + kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ, có họ trong phạm vi 3 đời

    + cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi, giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ mẹ, kế với con riêng của chồng

    c. Người có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái PL (Điều 10)

    – Người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn: tức là nạn nhân của việc kết hôn trái PL

    – Vợ / chồng của người đang có vợ / chồng mà kết hôn với người khác

    – Cha mẹ, con, người giám hộ, người đại diện theo PL khác của người kết hôn trái PL

    – Cơ quan quản lý NN về gia đình

    – Cơ quan quản lý NN về trẻ em

    – Hội liên hiệp phụ nữ VN (từ cấp huyện trở lên)

    – Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khi phát hiện việc kết hôn trái PL thì có quyền kiến nghị với người, tổ chức nêu trên để đề nghị họ viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái PL

    d. Xử lý trường hợp kết hôn trái PL (Điều 11)

    – Đường lối xử lý trường hợp kết hôn trái PL là rất thận trọng, nhằm đảm bảo quyền lợi của những người kết hôn và gia đình

    – Trường hợp tại thời điểm yêu cầu hủy kết hôn trái PL mà cả hai bên đã đủ điều kiện kết hôn (VD đã đủ tuổi kết hôn, đã ly hôn vợ trước để kết hôn với vợ sau), khi đó nếu hai bên đều yêu cầu công nhận hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân, và quan hệ hôn nhân được xác lập (lại) từ thời điểm 2 bên đủ điều kiện kết hôn.

    – Tòa án sẽ tuyên hủy đăng ký kết hôn trong 2 trường hợp sau:

    + trường hợp tại thời điểm yêu cầu hủy kết hôn trái PL mà một bên hoặc cả hai bên vẫn vi phạm điều kiện kết hôn

    + trường hợp tại thời điểm yêu cầu hủy kết hôn trái PL mà cả hai bên đã đủ điều kiện kết hôn, nhưng một bên hoặc cả 2 bên đều không yêu cầu tòa án công nhận hôn nhân

    e. Hậu quả pháp lý của hủy kết hôn trái PL (Điều 12)

    – Về quan hệ nhân thân: NN không thừa nhận hai người kết hôn trái PL là vợ chồng, kể từ ngày quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái PL có hiệu lực thì hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng

    – Về quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên kết hôn trái PL: được giải quyết như trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng (tức là giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo các quy định trong Bộ luật dân sự và các quy định PL có liên quan)

    – Quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ, con: quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con không phụ thuộc vào tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân, do đó khi hủy kết hôn trái PL thì các vấn đề liên quan đến con chung sẽ được giải quyết như khi vợ chồng ly hôn. (như quy định trong Điều 81, 82, 83, 84)

    f. Xử lý việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền (Điều 13)

    – Là việc đăng ký kết hôn không được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, VD UBND phường cấp đăng ký kết hôn cho A và B nhưng cả A và B đều không cư trú tại phường đó; hoặc UBND phường cấp đăng ký kết hôn cho A với người nước ngoài N, trong khi thẩm quyền cấp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài phải do UBND cấp huyện thực hiện.

    – Xử lý: khi có yêu cầu, cơ quan NN có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của PL về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan NN có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước.

    g. Xử lý trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (Điều 14)

    – Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì:

    + không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng

    + quyền và nghĩa vụ với con vẫn giữ nguyên như trường hợp cha mẹ có kết hôn

    + quyền và nghĩa vụ với tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên sẽ được giải quyết theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận thì theo quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định PL khác liên quan

    Chú ý: nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2015 (trước ngày luật HNGĐ 2014 có hiệu lực) thì áp dụng luật HNGĐ 2000 và các văn bản hướng dẫn để giải quyết

    h. Xử lý theo Bộ luật Hình sự

    – Trong một số trường hợp phạm phải điều cấm, hoặc nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng có các hành vi cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể gồm:

    + Điều 146. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

    + Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

    + Điều 148. Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn

    + Điều 149. Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật

    + Điều 150. Tội loạn luân

    – Người bị truy cứu về các tội này (trừ Tội loạn luân) khi đã bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật (đối với Tội đăng ký kết hôn tráu PL do công chức thực hiện) về hành vi đó mà còn vi phạm.

    Mức phạt là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù đến 5 năm (tội loạn luân)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hon-nhan-va-gia-dinh

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương II

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương II

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương II tập trung vào các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật Việt Nam. Chương này giúp người học nắm vững các nguyên tắc về bình đẳng giới, tự nguyện kết hôn, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, cùng những quy định về cấm kết hôn trong trường hợp vi phạm đạo đức hoặc pháp luật. Nội dung cung cấp nền tảng pháp lý vững chắc, giúp sinh viên hiểu sâu hơn về các quy định liên quan đến hôn nhân và gia đình để áp dụng vào thực tiễn một cách chính xác.

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương II

    Chương 2: Quan hệ pháp luật Hôn nhân và Gia đình

    1. Khái niệm và các đặc điểm

    – Khái niệm: Quan hệ PL hôn nhân và gia đình là những quan hệ XH được luật HN GĐ điều chỉnh

    – Đặc điểm:

    + quan hệ PL HNGĐ thường chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình với nhau

    + quan hệ PL HNGĐ mang tính tồn tại lâu dài và bền vững, thậm chí còn tồn tại ngay cả khi hôn nhân chấm dứt và gia đình không còn tồn tại

    luôn có yếu tố tình cảm và huyết thống trong mọi quan hệ PL hôn nhân và gia đình: các chủ thể trong quan hệ PL HNGĐ gắn bó với nhau bởi yếu tố tình cảm hoặc huyết thống, trong phần lớn các trường hợp, yếu tố tình cảm hoặc huyết thống quyết định việc phát sinh, thay đổi, và chấm dứt quan hệ PL HNGĐ

    nội dung chính của quan hệ PL HNGĐ là các quyền và nghĩa vụ nhân thân: các quyền và nghĩa vụ tài sản luôn gắn liền với quyền và nghĩa vụ nhân thân, không thể chuyển giao cho người khác. Các quyền và nghĩa vụ tài sản phát sinh, thay đổi, chấm dứt phụ thuộc vào quyền và nghĩa vụ của nhân thân.

    quan hệ tài sản trong quan hệ PL HNGĐ không mang tính đền bù tương đương: khi 1 chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản thì không phụ thuộc vào việc trước đây họ có được hưởng quyền hay không hoặc được hưởng quyền như thế nào. VD con cái không thể viện dẫn hồi nhỏ mình không được bố mẹ chăm sóc để trốn tránh nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ khi về già

    + các chủ thể của quan hệ PL HNGĐ thường tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó thông thường các quy phạm PL HNGĐ không quy định chế tài.

    thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình: quyền và nghĩa vụ trong quan hệ HNGĐ có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào, VD luật không quy định “kể từ thời điểm xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng, trong thời hạn 1 năm phải ra tòa xin ly hôn”

    Chú ý: các trường hợp được PL công nhận là vợ chồng:

    + nam nữ kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của cơ quan NN có thẩm quyền

    + nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 (ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực) nhưng không đăng ký kết hôn thì vẫn được NN coi là vợ chồng (hôn nhân thực tế), tức là vẫn giải quyết việc ly hôn, phân chia tài sản, thừa kế như vợ chồng đã đăng ký kết hôn (theo Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000 của Quốc hội, và Thông tư liên tịch 01 năm 2016 vẫn công nhận điều này)

    Chung sống như vợ chồng ở đây được hiểu lả: hai bên thực sự coi nhau là vợ chồng, chung sống một cách công khai, cùng gánh vác công việc gia đình, về mặt khách quan được gia đình và xã hội thừa nhận là vợ chồng

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương II
    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương II

    + trường hợp cán bộ cách mạng miền Nam, đã có vợ có chồng tại miền Nam, năm 1954 tập kết ra miền Bắc, lại lấy vợ lấy chồng khác (theo Thông tư số 60/TATC ngày 22-02-1978 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác”)

    Một số tình huống đặc biệt:

    • Nếu người chồng xin ly hôn với bất kỳ bà vợ nào, với bất kỳ lý do gì, thì tòa án xử kiên quyết bác đơn ly hôn đến cùng (dù có xin ly hôn bao nhiêu lần, nhằm đảm bảo lợi ích cho bà vợ và những đứa con)
    • Nếu người vợ lấy trước ở miền Nam biết chồng mình nặng tình nghĩa với người vợ lấy sau ở miền Bắc không muốn về, muốn tự nguyện xin ly hôn thì tòa xử chấp nhận cho ly hôn
    • Nếu người vợ lấy sau ở miền Bắc thấy chồng mình vẫn nặng tình nghĩa với bà vợ lấy trước ở miền Nam và muốn về miền Nam, muốn tự nguyện xin ly hôn thì tòa xử chấp nhận cho ly hôn
    • Nếu cả 2 bà vợ đều cùng muốn sum họp gia đình thì tòa sẽ sắp xếp sao cho ổn thỏa, tức là cho “chung sống tay ba”, 1 chồng 2 vợ vẫn không phạm luật

    Chú ý:

    + Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, tức là đến ngày 01/01/2003.

    Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì PL không công nhận họ là vợ chồng.

    + Về việc xác định cha cho con:

    • Trước luật HNGĐ 1986, quy định: Trong thời kỳ người mẹ có khả năng thụ thai đứa con của mình, mà ăn nằm với nhiều người đàn ông khác nhau, sau này xin truy nhận cha cho con, thì tòa không giải quyết.
    • Kể từ luật HNGĐ 1986, quy định: Một người có quyền yêu cầu xác minh 1 người khác là cha, mẹ, con của mình, kể cả khi người được yêu cầu đã chết

    2. Các yếu tố của quan hệ PL HNGĐ

    – Chủ thể: là cá nhân tham gia vào quan hệ PL HNGĐ, có năng lực PL và năng lực hành vi HNGĐ:

    + năng lực PL HNGĐ: là khả năng cá nhân có quyền và nghĩa vụ HNGĐ, được NN công nhận, VD quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, quyền được xác định cha, mẹ, con, quyền được kết hôn, ly hôn, nghĩa vụ chăm sóc con cái, cha mẹ già…

    + năng lực hành vi HNGĐ: là khả năng bằng các hành vi của mình, chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ HNGĐ đã được PL quy định. Năng lực hành vi phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng nhận thức của chủ thể.

    – Khách thể: là những lợi ích mà các chủ thể của quan hệ PL HNGĐ hướng đến, gồm:

    + lợi ích nhân thân: là lợi ích về tinh thần và yếu tố tình cảm, đây là lợi ích căn bản nhất của quan hệ PL HNGĐ, VD họ tên, dân tộc, quốc tịch, quyền làm cha mẹ, tình thương yêu, sự quan tâm, chăm sóc, tình cảm thủy chung vợ chồng, tình gắn bó anh em

    + lợi ích về hành vi: là các hành vi do 1 bên chủ thể thực hiện và bên kia hưởng quyền, có thể được thực hiện:

    • bằng hành động: hành vi thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc giữa cha mẹ và con, vợ và chồng, …
    • bằng không hành động: cha mẹ không được hành hạ, ngược đãi con cái, con cái không được bất hiếu với cha mẹ, ông bà, …

    + lợi ích về tài sản: là tài sản chung của vợ chồng, tiền cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, …

    Câu hỏi: Một cặp vợ chồng hiếm muộn, mong muốn có con, vậy con có phải là khách thể ?

    Trả lời: Sai, con cái luôn luôn là chủ chủ thể

    – Nội dung: quyền và nghĩa vụ của HNGĐ, gồm:

    + quyền và nghĩa vụ về nhân thân: là yếu tố tinh thần, phát sinh giữa các chủ thể. VD con cái có quyền được cha mẹ yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, ngược lại cha mẹ có quyền yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc con cái, … Quyền và nghĩa vụ về nhân thân trong quan hệ PL HNGĐ theo bản chất pháp lý là tương đối, vì chỉ có thể định tính, không thể định lượng (chẳng hạn không thể nêu rõ thế nào là yêu thương chăm sóc)

    + quyền và nghĩa vụ về tài sản: lợi ích vật chất phát sinh giữa các chủ thể. VD quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng của cha mẹ và con cái, … Quyền và nghĩa vụ về tài sản trong quan hệ PL HNGĐ theo bản chất pháp lý vừa là tương đối, vừa là tuyệt đối (chẳng hạn cha mẹ phải đảm bảo cuộc sống vật chất cho con cái là tương đối, tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nếu không có thỏa thuận thì sẽ chia đôi cho vợ và chồng là tuyệt đối)

    3. Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL HNGĐ

    – Là các sự kiện pháp lý mà khi xuất hiện thì quan hệ PL HNGĐ có thể phát sinh, thay đổi, chấm dứt. VD kết hôn, ly hôn, sinh con, chết,…

    – Sự kiện pháp lý có thể là sự biến pháp lý hoặc hành vi pháp lý:

    + sự biến pháp lý: là những sự kiện có tính chất tự nhiên, xảy ra không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ HNGĐ. VD vợ hoặc chồng chết sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, cha mẹ chết sẽ làm chấm dứt quan hệ nuôi dưỡng với con cái

    + hành vi pháp lý: là sự kiện nảy sinh do ý chí của con người, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ HNGĐ. Hành vi pháp lý có thể là hành động hoặc không hành động. VD kết hôn,

    – Sự kiện pháp lý để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL HNGĐ thì phải được cơ quan NN có thẩm quyền công nhận. VD sinh con phải có đăng ký khai sinh, chết phải có giấy chứng tử, …

    – Nhóm căn cứ làm phục hồi quan hệ PL HNGĐ: không làm phát sinh quan hệ PL mới mà chỉ làm phục hồi quan hệ PL đã bị chấm dứt trước đó. VD ly hôn, rồi sau đó tái hôn; cho con đẻ làm con nuôi gia đình khác, sau đó nhận lại

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hon-nhan-va-gia-dinh

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương I

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương I

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương I cung cấp nền tảng kiến thức cơ bản về các nguyên tắc, quy định pháp lý điều chỉnh mối quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam. Chương I sẽ giới thiệu khái niệm, vai trò, các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình, cũng như quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình. Nội dung bài giảng giúp sinh viên nắm vững những khái niệm cốt lõi và quy định pháp luật quan trọng, làm nền tảng cho việc học các chương tiếp theo và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống.

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương I

    Chương 1: Khái niệm và nguyên tắc cơ bản của luật Hôn nhân và Gia đình

    1. Các hình thái hôn nhân và gia đình trong lịch sử

    – Thời nguyên thủy, trong các bộ lạc, đàn ông và đàn bà được tự do quan hệ tính giao, tức là mọi người đàn bà đều thuộc về mọi người đàn ông và ngược lại.

    – Sau đó, các hình thái gia đình sau đây đã phát triển (theo Morgan):

    a. Gia đình huyết tộc

    – Là hình thái gia đình đầu tiên của loài người, trong đó có sự phân chia thế hệ: ông bà, cha mẹ, con cái, cháu chắt, trong đó:

    + những người thuộc thế hệ “ông bà” vẫn quan hệ tính giao tự do với nhau, tương tự trong thế hệ cha mẹ và thế hệ con cái ==> vì thế trong gia đình huyết tộc chỉ có “tổ tiên – con cháu”, “cha mẹ – con cái”, không có quan hệ “vợ – chồng”, những người cùng thế hệ trong gia đình đều là vợ / chồng của nhau.

    + cấm quan hệ tính giao giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà với cháu.

    ==> Như vậy so với bộ lạc nguyên thủy thì hình thái Gia đình huyết tộc đã tiến thêm 1 bước là xóa bỏ quan hệ tính giao giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và cháu.

    b. Gia đình Punalua

    – Là bước tiến thứ 2 của gia đình: xóa bỏ quan hệ tính giao giữa anh chị em với nhau. Ban đầu là cấm anh chị em cùng mẹ quan hệ tính giao với nhau, sau đó mở rộng ra cấm anh chị em cùng bà, rồi cùng cụ quan hệ tính giao với nhau.

    – Tuy nhiên, chế độ quần hôn vẫn còn (một phụ nữ có thể có nhiều chồng, và một đàn ông có thể có nhiều vợ, miễn là vợ / chồng đó không phải là anh chị em ruột và anh chị em họ) ==> chế độ mẫu quyền

    Tại sao ?

    + vì trong chế độ quần hôn, chỉ có thể xác định được mẹ cho con, bà cho cháu, chứ không thể xác định được cha cho con ==> thừa kế theo bên mẹ

    + của cải trong xã hội thời kỳ này rất ít, chỉ đủ để duy trì sự sống, không có tích lũy, kinh tế chủ yếu là hái lượm ==> vai trò của phụ nữ lớn hơn so với đàn ông

    Morgan gọi đó là “gia đình Punalua”, tức là “gia đình bạn thân”

    – Nguyên nhân chuyển từ quần hôn sang punalua:

    + nguyên nhân xã hội: việc cấm kết hôn cùng huyết tộc đã khiến các nhóm “anh em trai” và “chị em gái” không thể lấy nhau ngày càng nhiều ==> quần hôn ngày càng không khả thi

    + nguyên nhân chọn lọc tự nhiên (nguyên nhân sinh học): việc cấm kết hôn cùng huyết tộc làm cho bộ lạc có sự  đa dạng sinh học, tạo ra giống nòi mạnh mẽ hơn về thể chất và trí tuệ ==> ưu việt hơn các bộ lạc khác ==> lôi kéo các bộ lạc khác theo hình mẫu của mình

    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương I
    Bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình chương I

    c. Gia đình đối ngẫu (gia đình cặp đôi)

    – Mầm mống của gia đình đối ngẫu xuất hiện khi người đàn ông xác định trong số những người quan hệ tính giao với mình có 1 người là “vợ chính”, và ngược lại người phụ nữ cũng xác định 1 người đàn ông là “chồng chính” của mình ==> xuất hiện hôn nhân theo từng cặp. Tuy nhiên vẫn chưa phải là chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng vì bên cạnh “chồng chính” còn có nhiều “chồng phụ”, và bên cạnh “vợ chính” còn có nhiều “vợ phụ”

    – Gia đình đối ngẫu vẫn tồn tại rất lỏng lẻo, vì con sinh ra chưa chắc đã là con của “chồng chính” và “vợ chính”

    – Gia đình đối ngẫu là bước đệm để chuyển từ chế độ quần hôn sang chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng

    – Theo Enghen thì thời gian của hình thái gia đình đối ngẫu là rất ngắn.

    d. Gia đình 1 vợ 1 chồng (gia đình cá thể)

    – Hình thái gia đình 1 vợ 1 chồng xuất hiện là sự đánh dấu thời đại văn minh của loài người đã xuất hiện (thời kỳ trước đó được gọi là thời “mông muội” với chế độ quần hôn)

    – Theo Enghen, nguyên nhân xuất hiện gia đình 1 vợ 1 chồng là nguyên nhân kinh tế: khi XH đã bắt đầu phân công lao động ==> xuất hiện một số ngành nghề mới như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp (những ngành nghề này chủ yếu do đàn ông nắm giữ) ==> của cải XH tăng lên, chi dùng không hết ==> từng gia đình đối ngẫu nắm giữ tài sản làm của riêng (tư hữu xuất hiện) ==> muốn thừa kế tài sản cho con mình ==> cần biết đâu chính xác là con mình ==> người đàn ông buộc người vợ chính phải tuyệt đối chung tình, nếu không chung tình sẽ bị trừng phạt rất nặng ==> không gọi là “chồng chính” nữa, mà là chồng duy nhất ==> gia đình 1 vợ 1 chồng ==> chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ

    – Quan hệ vợ chồng trong gia đình 1 vợ 1 chồng rất chặt chẽ, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau (do tài sản là của chung 2 vợ chồng)

    – Theo Enghen thì tư hữu sẽ dẫn đến mâu thuẫn, và Nhà nước ra đời để điều hòa các mâu thuẫn đó. Như vậy Enghen kết luận: Tư hữu, gia đình 1 vợ 1 chồng, và nhà nước xuất hiện cùng 1 ngày

    – Các biến thể của gia đình 1 vợ 1 chồng:

    + gia đình trong chế độ nô lệ: 1 người đàn ông có nhiều vợ, trong khi đó người đàn bà chỉ có thể có 1 chồng

    + gia đình phong kiến: điển hình là chế độ đa thê (Tài trai năm bảy vợ / Gái chính chuyên chỉ có một chồng)

    + gia đình tư sản: vẫn theo chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng, tuy nhiên nạn ngoại tình và mại dâm đã làm mất ý nghĩa của gia đình 1 vợ 1 chồng

    + gia đình 1 vợ 1 chồng dưới chế độ XHCN: dựa trên tình yêu chân chính giữa nam và nữ

    2. Khái niệm hôn nhân

    – Khái niệm (Điều 3): Hôn nhân là quan hệ vợ chồng sau khi kết hôn.

    Hôn nhân là quan hệ nhân thân của mỗi bên nam và nữ với tư cách là vợ chồng. Hôn nhân là sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho hai bên trong quan hệ vợ chồng.

    – Đặc điểm của hôn nhân:

    + là hôn nhân 1 vợ 1 chồng, vợ chồng là 2 người khác giới tính.

    Chú ý: trước ngày 13/1/1960 khi Luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên có hiệu lực thì NN và XH vẫn thừa nhận chế độ đa thê từ thời phong kiến

    Chú ý: NN không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính (Điều 8), tuy nhiên không cấm họ sống chung như vợ chồng, không cấm họ làm đám cưới (chỉ là không cho đăng ký kết hôn)

    Luật HNGĐ 2000 quy định “Cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính”, còn luật HNGĐ 2014 quy định “NN không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”

    + được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng: tự nguyện kết hôn, và được phép ly hôn nếu 2 bên thuận tình

    + việc xác lập hoặc chấm dứt quan hệ hôn nhân phải tuân thủ các quy định của PL: lý do là để xây dựng gia đình – là tế bào của XH, và quan trọng hơn là bảo vệ con cái

    + mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân là để các bên chung sống lâu dài và xây dựng gia đình: nếu kết hôn giả tạo sẽ là vi phạm PL, VD kết hôn với mục đích xuất cảnh, nhập cảnh, để hưởng chế độ ưu đãi của NN

    3. Khái niệm gia đình

    – Khái niệm (Điều 3): Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật HN GĐ

    – Các chức năng xã hội cơ bản của gia đình (3 chức năng):

    + sinh đẻ: là chức năng tái sản xuất về mặt sinh học, để duy trì nòi giống. Việc khuyến khích hay hạn chế chức năng sinh đẻ của gia đình phụ thuộc vào yếu tố từng quốc gia trong từng thời kỳ.

    + giáo dục: thực hiện giáo dục với con cái từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành, thậm chí cho đến suốt đời. Giáo dục trong gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân

    + kinh tế: mỗi gia đình phải tự đảm bảo cuộc sống cho mỗi thành viên, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên đó, NN chỉ có thể trợ cấp khi gia đình quá khó khăn về kinh tế

    4. Khái niệm luật Hôn nhân và Gia đình

    a. Khái niệm

    Luật HN GĐ có 3 ý nghĩa:

    – Với ý nghĩa là 1 môn học: là hệ thống khái niệm, quan điểm, nhận thức, đánh giá mang tính lý luận về PL HN GĐ và thực tiễn áp dụng

    – Với ý nghĩa là 1 VBPL cụ thể: là VBPL chứa đựng những quy phạm PL về HN GĐ, hiện tại là Luật HN GĐ 2014

    – Với ý nghĩa là 1 ngành luật: gồm đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng

    Môn học này sẽ nghiên cứu Luật HNGĐ theo ý nghĩa thứ 3

    b. Đối tượng điều chỉnh

    – là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản phát sinh giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, người thân thích khác (VD ông bà và cháu chắt, anh chị em với nhau, …)

    – Đặc điểm:

    + quan hệ nhân thân là nội dung điều chỉnh chủ yếu. Quan hệ nhân thân quyết định phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ tài sản. VD khi 2 người kết hôn, quan hệ nhân thân xác lập, thì tài sản của mỗi bên làm ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, và khi họ ly hôn thì quan hệ nhân thân chấm dứt, và quan hệ tài sản cuang chấm dứt theo

    + quyền và nghĩa vụ quan hệ hôn nhân gia đình gắn với mỗi chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác (thực tế có thể chuyển giao nhưng không được PL công nhận)

    + quan hệ tài sản không mang tính đề bù giang giá: VD cha mẹ nuôi dạy con cái thì không thể đòi hỏi con cái phải chăm sóc cha mẹ tương ứng

    + quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình tồn tại lâu dài và bền vững

    c. Phương pháp điều chỉnh

    – Phương pháp điều chỉnh luật HNGĐ mang tính chất linh hoạt và mềm dẻo, chủ yếu mang tính chất giáo dục và thuyết phục, hầu hết không có chế tài. (trong Luật HNGĐ chỉ có 2 quy định có tính chất chế tài: Hủy việc kết hôn trái PL, hạn chế 1 số quyền của cha mẹ khi con chưa thành niên)

    Nguyên nhân: vì đặc điểm của các quan hệ HN GĐ là các chủ thể gắn bó với nhau bằng tình cảm, huyết thống hoặc nuôi dưỡng

    – Đặc điểm của phương pháp điều chỉnh:

    + quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn tương ứng với nhau

    + các chủ thể khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình

    + các chủ thể không thể tự thỏa thuận để thay đổi các quyền và nghĩa vụ mà luật quy định cho họ (nếu có thỏa thuận bằng văn bản cũng không được PL công nhận),

    VD cha và con cùng thỏa thuận lập văn bản rằng từ nay cha không phải nuôi dưỡng con đến 18 tuổi nữa và ngược lại con cũng không phải chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ già, thì thỏa thuận này dù có được lập thành văn bản cũng không được PL thừa nhận và các bên vẫn có nghĩa vụ với nhau như PL quy định

    VD vợ chồng cùng thỏa thuận lập văn bản cung cho phép vợ và chồng được phép sống chung với bồ, thỏa thuận này sẽ không được PL thừa nhận

    ==> mục đích là để đảm bảo ổn định trật tự XH

    + các quy phạm PL hôn nhân và gia đình gắn bó mật thiết với các quy tắc đạo đức và phong tục tập quán về hôn nhân và gia đình trong XH

    5. Các nguyên tắc về luật Hôn nhân và gia đình (Điều 2)

    Gồm 05 nguyên tắc:

    – Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

    – Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

    – Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

    – Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

    – Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật hôn nhân và gia đình: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hon-nhan-va-gia-dinh

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VII

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VII

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VII: Nhóm công ty cung cấp cái nhìn tổng quan và chi tiết về cấu trúc và quy định pháp lý liên quan đến các nhóm công ty trong thương mại. Chương này sẽ giải thích các khái niệm, loại hình nhóm công ty, quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong nhóm, cũng như các quy định về quản lý và tổ chức hoạt động của nhóm công ty. Nội dung bài giảng không chỉ giúp sinh viên nắm vững lý thuyết mà còn trang bị kiến thức thực tiễn cần thiết để áp dụng vào các tình huống pháp lý trong môi trường kinh doanh. Hãy cùng khám phá những điều thú vị và bổ ích trong chương VII này!

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VII

    Nhóm công ty

    Gồm 2 loại:

    • Tổng công ty
    • Tập đoàn kinh tế

    Ở VN hiện nay, tổng công ty, tập đoàn kinh tế chỉ tồn tại theo mô hình công ty mẹ – công ty con

    Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty là 1 nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần hoặc các liên kết khác.

    Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty chỉ là tên gọi cho 1 nhóm công ty, nó không phải là doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không có tư cách giao kết hợp đồng, không có trụ sở, không có bộ máy, không phải đăng ký thành lập theo luật Doanh nghiệp. Trên thực tế, thì tên Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty chỉ có ý nghĩa thương hiệu.

    Trong nhóm công ty, công ty mẹ và các công ty con là các pháp nhân độc lập

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VII
    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VII

    Chú ý: cần phân biệt Tập đoàn kinh tế / Tổng công ty với Công ty mẹ. Ví dụ: với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tên công ty mẹ là “Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” hoạt động theo mô hình công ty TNHH nhà nước 1 thành viên, còn tên tập đoàn là “Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam”

    Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau (khoản 1 Điều 189 luật Doanh nghiệp 2014):

    • Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó
    • Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của của công ty đó
    • Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty đó.

    Công ty con không được đầu tư góp vốn, mua cổ phần của công ty mẹ. Các công ty con của cùng 1 công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật thương mại 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-1

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VIII

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VIII

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VIII tập trung vào quy trình thành lập doanh nghiệp, một bước quan trọng đối với những cá nhân và tổ chức muốn tham gia hoạt động kinh doanh. Nội dung bài giảng bao gồm các quy định pháp lý về điều kiện, thủ tục đăng ký kinh doanh, cùng các loại hình doanh nghiệp được phép thành lập theo pháp luật Việt Nam. Sinh viên sẽ được trang bị kiến thức về quyền và nghĩa vụ của người sáng lập, cách thức lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp, và các bước hoàn thiện thủ tục pháp lý để khởi đầu hoạt động kinh doanh hợp pháp.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VIII

    Chương 8: Thành lập doanh nghiệp

    Nghị định 78/2015 ngày 14/09/2015 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp có điểm thay đổi mấu chốt so với trước: đó là việc chuyển từ việc Đăng ký ngành nghề kinh doanh sang Thông báo ngành nghề kinh doanh (Điều 49 nghị định 78/2015):

    + trước: doanh nghiệp phải đăng ký ngành nghề ==> cơ quan quản lý cấp phép ==> doanh nghiệp thực hiện kinh doanh (tức là việc kinh doanh trước khi được cấp phép là trái pháp luật)

    + hiện tại (nghị định 78): doanh nghiệp thực hiện kinh doanh ==> thông báo với cơ quan quản lý trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi

    Nguyên nhân thay đổi: xuất phát từ Hiến pháp 2013: Mọi cá nhân, tổ chức được quyền tự do kinh doanh ở những ngành nghề mà PL không cấm.

    1. Điều kiện thành lập doanh nghiệp

    a. Điều kiện về chủ thể

    – Điều 18 khoản 2 luật Doanh nghiệp 2014 quy định về chủ thể được thành lập doanh nghiệp nếu không thuộc các đối tượng:

    + Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình

    + Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức: mục đích để đề phòng tham nhũng

    + Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp

    + Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác

    + Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân

    + Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.

    – Chú ý: “không được tham gia thành lập doanh nghiệp” tức là không được tham gia góp vốn và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của doanh nghiệp.

    – Người tham gia thành lập doanh nghiệp phải tự biết bản thân mình được phép tham gia thành lập doanh nghiệp, cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh không cần kiểm tra việc này, sau đó nếu phát hiện ra doanh nghiệp có 1 thành viên tham gia thành lập doanh nghiệp thuộc đối tượng bị cấm thì cơ quan quản lý kinh doanh sẽ thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

    – Điều 18 khoản 3 luật Doanh nghiệp 2014 quy định về chủ thể được góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh nếu không thuộc các đối tượng:

    + Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình

    + Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (quy định chi tiết trong Luật phòng chống tham nhũng 2005, điều 37, khoản 2): Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VIII
    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VIII

    b. Điều kiện về ngành nghề kinh doanh

    – Có 3 loại ngành nghề kinh doanh:

    + loại ngành nghề bị cấm kinh doanh: không được phép kinh doanh

    + loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện: doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện mà cơ quan quản lý đặt ra thì mới được phép thực hiện kinh doanh

    + loại ngành nghề kinh doanh thông thường: doanh nghiệp được tư do kinh doanh, không cần phải đăng ký kinh doanh ngành nghề mà chỉ phải thông báo với cơ quan quản lý (Nghị định 78/2015)

    – Ngành nghề kinh doanh có điều kiện:

    + danh sách các ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định trong luật Đầu tư.

    + điều kiện để kinh doanh ngành nghề có điều kiện là phải có:

    • Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh: cấp cho doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện của cơ quan quản lý về ngành nghề kinh doanh.

    Chú ý: không phải ngành nghề kinh doanh có điều kiện nào cũng có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, VD ngành nghề kinh doanh ăn uống, nhà nghỉ không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh mà có những giấy khác như Tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm, Giấy chứng nhận an toàn phòng chống cháy nổ, …

    • Giấy phép kinh doanh: do cơ quan quản lý kinh doanh cấp phép cho doanh nghiệp.

    Chú ý: không phải cứ có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh là được cấp Giấy phép kinh doanh; Giấy phép kinh doanh là 1 hình thức hạn chế kinh doanh của cơ quan quản lý NN về những ngành nghề mà NN muốn hạn chế. VD giấy phép kinh doanh dịch vụ karaoke (ngoài các điều kiện về kỹ thuật như phòng ốc, cách âm, … còn có điều kiện “phải được các hộ liền kề đồng ý”), giấy phép nhập khẩu rượu, giấy phép kinh doanh mỹ phẩm, giấy phép xuất khẩu gạo, …

    • Chứng chỉ hành nghề: đối với một số ngành nghề đòi hỏi chuyên môn sâu như bác sỹ, luật sư, tư vấn tài chính, thẩm định giá.

    Luật doannh nghiệp 2014 quy định “hậu kiểm”, tức là khi đăng ký chưa cần kiểm tra chứng chỉ hành nghề, mà sẽ kiểm tra sau.

    • Vốn pháp định: (khác với vốn điều lệ) một số ngành nghề kinh doanh có yêu cầu bắt buộc doanh nghiệp phải có số vốn tối thiểu bằng số vốn pháp định quy cho ngành nghề đó, VD: kinh doanh bất động sản yêu cầu vốn pháp định 6 tỷ, dịch vụ đòi nợ 2 tỷ, dịch vụ bảo vệ 2 tỷ, dịch vụ kiểm toán 5 tỷ, … Đối với từng ngành nghề cụ thể mà luật quy định chỉ cần có chứng nhận vốn pháp định lúc đăng ký thành lập, sau đó có thể giải tỏa và không bị kiểm tra lại vốn pháp định (như bất động sản); hoặc có yêu cầu kiểm lại trong quá trình hoạt động (như dịch vụ đòi nợ); hoặc bắt buộc phải là dạng “ký quỹ”, tức là lúc nào cũng phải duy trì vốn pháp định (như dịch vụ bảo vệ)

    Luật doanh nghiệp 2014 quy định “hậu kiểm”, tức là khi đăng ký chưa cần kiểm tra vốn pháp định, mà sẽ kiểm tra sau.

    + ngoài ra còn có một số quy định về “bảo hiểm nghề nghiệp”, nhưng chưa thực sự phát triển ở VN

    c. Điều kiện hồ sơ

    – Tùy từng loại hình doanh nghiệp mà Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp sẽ khác nhau, tuy nhiên ngoài DNTN không yêu cầu điều lệ, thì đều bao gồm:

    + giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp

    + điều lệ công ty (trừ DNTN)

    + danh sách thành viên / cổ đông

    + bản sao hồ sơ pháp lý của từng thành viên / cổ đông

    – Điều lệ:

    + nội dung của điều lệ doanh nghiệp được quy định trong luật (==> cách đơn giản nhất là copy từ luật)

    + nội dung của điều lệ có thể được bổ sung ngoài luật, nhưng không được trái luật

    + từng thành viên sáng lập doanh nghiệp phải ký vào từng trang của điều lệ

    – Đặt tên doanh nghiệp:

    + [tên doanh nghiệp]  = [loại hình doanh nghiệp] + [đệm] + [tên riêng]

    + tên doanh nghiệp không được trùng trên phạm vi cả nước

    2. Thủ tục thành lập doanh nghiệp

    – Mang hồ sơ đăng ký kinh doanh lên cơ quan quản lý kinh doanh nộp

    – Từ 2015, cơ quan công an không cấp con dấu cho doanh nghiệp mà doanh nghiệp tự làm dấu, sau đó đăng ký mẫu dấu với cơ quan quản lý. Đồng thời con dấu cũng không còn là bắt buộc với doanh nghiệp.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật thương 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-1

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VI

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VI

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VI tập trung vào doanh nghiệp nhà nước, loại hình doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nội dung bài giảng cung cấp cái nhìn toàn diện về khái niệm, đặc điểm, và vai trò của doanh nghiệp nhà nước, cùng các quy định pháp lý liên quan đến tổ chức, hoạt động và quản lý. Sinh viên sẽ nắm vững kiến thức về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý, cũng như các chính sách phát triển loại hình doanh nghiệp này.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VI

    Chương 6: Doanh nghiệp nhà nước

    1. Khái niệm

    Là doanh nghiệp do NN nắm giữ 100% vốn điều lệ (theo luật Doanh nghiệp 2014)

    Chú ý: trước khi luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực, thì doanh nghiệp NN là doanh nghiệp trong đó NN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trở lên. Lý do là để giảm số lượng DNNN.

    – “nắm giữ” ở đây là NN trực tiếp đầu tư vào DN.

    VD: NN đầu tư 100% vốn thành lập công ty X, sau đó công ty X lập các công ty con là A, B, C đều với 100% vốn từ X. Khi đó thì luật quy định chỉ X là DNNN, A, B, C không phải DNNN, vì NN không “nắm giữ” A, B, C mà là X “nắm giữ” A, B, C, mặc dù vốn của X, A, B, C đều có 100% vốn NN.

    DNNN chịu sự quản lý rất chặt chẽ của các cơ quan NN.

    • Xem Nghị định 97/2015/NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty TNHH một thành viên mà NN nắm giữ 100% vốn điều lệ.
    • Xem Luật quản lý và sử dụng vốn NN đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014

    2. Đặc điểm

    a. Vốn nhà nước

    – Vốn NN chiếm 100%

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VI
    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương VI

    b. Mô hình doanh nghiệp

    – Là mô hình công ty TNHH nhà nước 1 thành viên. Được thành lập, tổ chức, hoạt động theo quy định của luật Doanh nghiệp.

    c. Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước

    Chính phủ là cơ quan NN được giao làm chủ sở hữu doanh nghiệp NN

    Chính phủ đầu tư theo 3 cách:

    • Thành lập các công ty mẹ, tập đoàn kinh tế
    • Giao cho Tổng Công ty kinh doanh vốn NN (SCIC) đầu tư vào các công ty
    • Giao cho các bộ, UBND tỉnh quản lý

    NN có toàn quyền định đoạt đối với DNNN: quyết định điều lệ, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm , cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, tổ chức quản lý doanh nghiệp, ra các quyết định quan trọng của doanh nghiệp

    d. Tư cách pháp lý

    – DNNN là pháp nhân, có đầy đủ các đặc điểm của pháp nhân.

    e. Trách nhiệm tài sản:

    – DNNN chịu TNHH bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.

    Tài sản của doanh nghiệp gồm:

    + vốn góp của chủ đầu tư

    + tài sản hình thành từ vốn vay, lợi nhuận

    + các loại quỹ của doanh nghiệp trích lập

    + các tài sản khác theo quy định của PL

    Câu hỏi: Trách nhiệm của NN với tư cách là chủ sở hữu DNNN được xác định như thế nào ?

    Trả lời: NN chịu TNHH trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp.

    3. Cổ phần hóa

    – Là quá trình tái cấu trúc vốn của các DNNN thành cổ phần và chào bán. Đây là việc NN bán vốn của mình ra thị trường.

    – Cổ phần hóa DNNN là việc chuyển DNNN từ chỗ chỉ thuộc sở hữu của NN thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của nhiều cổ đông.

    4. Thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp

    – Là việc thu hồi lại tài sản mà DNNN đã đầu tư tại các doanh nghiệp khác.

    – Vấn đề: DNNN góp vốn bằng tên (thương hiệu) vào các công ty, khi rút về Chính phủ lại yêu cầu thu tiền ?

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật thương 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-1

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương IV

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương IV

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương IV cung cấp cái nhìn chi tiết về công ty cổ phần – một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến và quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế. Nội dung bài giảng tập trung vào các quy định pháp lý về việc thành lập, tổ chức quản lý, quyền và nghĩa vụ của cổ đông, cũng như các vấn đề liên quan đến vốn điều lệ và chuyển nhượng cổ phần. Đây là nền tảng kiến thức quan trọng giúp sinh viên hiểu rõ và áp dụng trong quá trình học tập và làm việc trong lĩnh vực pháp lý thương mại.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương IV

    Công ty cổ phần

    1. Khái niệm

    Là loại hình doanh nghiệp mà trong đó vốn điều lệ của công ty được chia thành các phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần.

    Như vậy cổ phần là phần chia nhỏ nhất của vốn điều lệ. Cổ phần được biểu hiện bằng mệnh giá cổ phần, và hình thức thể hiện của cổ phần gọi là cổ phiếu.

    Công ty cổ phần là loại công ty đối vốn điển hình.

    2. Đặc điểm

    Vốn điều lệ:

    • Là số vốn mà các thành viên công ty góp vào công ty
    • Ở VN hiện tại, PL không quy định mệnh giá của cổ phần công ty cổ phần, nhưng quy định mệnh giá cổ phần của công ty đại chúng mặc định là 10.000 VNĐ.

    Chú ý: mệnh giá cổ phần chỉ là giá trị quy ước của 1 cổ phần, còn giá trị cổ phần giao dịch trên thị trường sẽ tăng hay giảm tùy vào thị trường.

    Cổ đông công ty:

    • Cổ đông là chủ sở hữu phần vốn góp. Do cổ phần của công ty được chia rất nhỏ nên hầu hết mọi người đều có thể mua cổ phần để góp vốn vào công ty ==> công ty cổ phần có thể huy động được nguồn vốn lớn ==> tính chất đối vốn rất cao
    • Luật quy định công ty cổ phần tối thiểu có 3 cổ đông, không giới hạn số lượng tối đa. Trường hợp công ty cổ phần có ít hơn 3 thành viên (VD do thành viên chết) thì phải bổ sung thành viên mới cho đủ tối thiểu 3 thành viên trong vòng 06 tháng.
    • Khi số cổ đông lớn hơn 100 thì được gọi là công ty đại chúng

    Trách nhiệm tài sản:

    • Công ty cổ phần chịu TNHH trong phạm vi tài sản của công ty
    • Cổ đông chịu TNHH trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (tức là số cổ phần sở hữu)

    Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

    Công ty cổ phần có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn: gồm cổ phiếu, trái phiếu, …

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương IV
    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương IV

    3. Quy chế pháp lý về vốn trong công ty cổ phần

    a. Cổ phần, cổ phiếu

    Cổ phần có 2 loại:

    • Cổ phần ưu đãi
    • Cổ phần phổ thông

    Công ty có thể có hoặc không có cổ phần ưu đãi, nhưng bắt buộc phải có cổ phần phổ thông. Cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông, nhưng cổ phần phổ thông không thể trở thành cố phần ưu đãi.

    Cổ phần chào bán là cổ phần mà công ty được quyền phát hành ra thị trường để thu hút người mua và huy động vốn cho công ty.

    Tại thời điểm mới thành lập, luật quy định các thành viên sáng lập của công ty cổ phần phải đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán.

    Theo luật Doanh nghiệp 2014, vốn điều lệ công ty cổ phần bắt buộc phải là số vốn được các cổ đông mua, không chấp nhận vốn chưa có người mua (như trong luật Doanh nghiệp trước đó). Mục đích để tránh công ty khai vốn “ảo”.

    Cổ phần đã bán là cổ phần mà công ty phát hành ra thị trường mà đã có người mua và thanh toán. Cổ phần chưa bán là cổ phần phát hành ra thị trường nhưng chưa có người mua.

    Mỗi khi công ty cổ phần thay đổi vốn điều lệ thì phải đăng ký với cơ quan quản lý kinh doanh. Việc đăng ký  vốn điều lệ sẽ được công ty cổ phần thực hiện khi kết thúc đợt chào bán. Mỗi khi công ty muốn chào bán cổ phần thì phải lập phương án chào bán để đăng ký với cơ quan quản lý kinh doanh, và cơ quan quản lý kinh doanh có quyền không cho phép chào bán nếu phương án chào bán không thuyết phục.

    Khi công ty thành lập thì đó được coi là đợt chào bán cổ phần đầu tiên (IPO), có 3 cách chào bán cơ bản:

    • Chào bán cho các cổ đông hiện hữu
    • Chào bán cổ phần riêng lẻ: dành cho công ty cổ phần không phải đại chúng, hoặc công ty cổ phần đại chúng nhưng lại chỉ chào bán cho một số cổ đông chiến lược
    • Chào bán cổ phần đại chúng (điều chỉnh theo Luật chứng khoán)

    Số cổ phần chào bán ra thị trường không bị giới hạn bởi số vốn công ty. Chỉ có ở lần chào bán đầu tiên khi công ty mới thành lập, vì luật quy định các thành viên sáng lập phải đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần chào bán, nên số cổ phần chào bán ra thị trường chỉ được tối đa gấp 4 lần số vốn công ty (tức là 80% số cổ phần được quyền chào bán ra thị trường).

    Chỉ các cổ đông thành lập công ty mới được mua cổ phần với giá mỗi cổ phần bằng mệnh giá tại thời điểm công ty mới thành lập. Những cổ đông tham gia vào công ty sau đó thì giá mua mỗi cổ phần là do thỏa thuận (gọi là giá thị trường của cổ phần). Dù cổ phần có được bán với mệnh giá nào thì vốn điều lệ của công ty chỉ căn cứ vào số cổ phần và mệnh giá:

    Vốn điều lệ = [số cổ phần] x [mệnh giá]

    Vốn điều lệ của công ty trong thực tế chỉ có giá trị để xác định xem đã có bao nhiêu cổ phần được bán ra.

    Trường hợp công ty bán được cổ phần cao hơn mệnh giá thì số tiền chệnh lệch sẽ chuyển vào vốn kinh doanh của công ty.

    Trường hợp công ty bán cổ phần thấp hơn mệnh giá, thì công ty và cổ đông sẽ chịu thiệt, tuy nhiên vẫn không ảnh hưởng đến việc chịu trách nhiệm của công ty. Vì công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình (vốn điều lệ chỉ là 1 yếu tố).

    Cổ phần ưu đãi có 3 loại chính (có thể có các loại cổ phần ưu đãi khác do luật định):

    Cổ phần ưu đãi biểu quyết: luật quy định chỉ dành cho 2 đối tượng là:

    • Cổ đông sáng lập
    • Tổ chức được Chính phủ ủy quyền

    Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty cổ phần có thể mở rộng đối tượng được nhận cổ phần ưu đãi ra ngoài 2 đối tượng trên và điều đó phải được quy định trong Điều lệ.

    Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có giá trị biểu quyết cao hơn so với cổ phần phổ thông, mức cao hơn bao nhiêu do Điều lệ công ty quy định hoặc do đợt phát hành quy định. Như vậy cổ phần ưu đãi biểu quyết được phát hành ở những thời điểm khác nhau có thể có mức biểu quyết khác nhau. VD: 1 cổ phần ưu đãi biểu quyết = 2 cổ phần phổ thông khi tham gia biểu quyết.

    Cổ phần ưu đãi biểu quyết chỉ có giá trị trong vòng 3 năm kể từ khi công ty thành lập. Sau 3 năm, cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ trở thành cổ phần phổ thông. Tuy nhiên luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định khoảng thời gian 3 năm này có thể được kéo dài nếu điều lệ công ty quy định.

    Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết bị cấm chuyển nhượng cho bất kỳ ai dù là thành viên công ty hay chủ thể ngoài công ty. Chỉ có thể chuyển nhượng khi hết thời hạn của cổ phần ưu đãi (sau 3 năm hoặc theo thời gian quy định trong điều lệ).

    Cổ phần ưu đãi cổ tức: là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn cổ tức phổ thông hàng năm, gồm 2 phần:

    • Cổ tức cố định: được ghi trên giấy chứng nhận cổ phần, được nhận không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty
    • Cổ tức thưởng: được nhận khi công ty kinh doanh có lãi, mức thưởng do các cổ đông phổ thông quyết định

    Luật quy định: [cổ tức cố định] + [cổ tức thưởng]  >  [cổ tức phổ thông]

    Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi cổ tức không được tham gia vào các hoạt động quản lý công ty, tuy là cổ đông công ty nhưng không có quyền biểu quyết, không có quyền dự đại hội cổ đông công ty.

    Cổ phần ưu đãi hoàn lại: được công ty hoàn lại vốn góp bất kỳ lúc nào theo yêu cầu của người sở hữu. Trường hợp công ty không có tiền để hoàn lại thì cổ đông đó trở thành chủ nợ của công ty.

    Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi hoàn lại không được tham gia vào các hoạt động quản lý công ty, tuy là cổ đông công ty nhưng không có quyền biểu quyết, không có quyền dự đại hội cổ đông công ty.

    Cổ phiếu: là bút toán ghi sổ, là hình thức ghi nhận của cổ phần. Có thể là giấy chứng nhận cổ phần, sổ cổ đông, … (gọi là “cổ phiếu” vì hình thức thể hiện của Giấy chứng nhận cổ phiếu trông giống như “lá phiếu”)

    Cổ phiếu là 1 loại giấy tờ có giá, có thể được quy đổi thành tiền. Chú ý: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá, tức là không thể quy đổi thành tiền.

    Cổ phiếu có thể ghi danh hoặc không ghi danh người sở hữu. Việc ghi danh là để công ty kiểm soát việc chuyển nhượng cổ phần (vì với cổ phiếu ghi danh thì khi chuyển nhượng sẽ phải đến công ty để làm thủ tục).

    b. Chuyển nhượng cổ phần

    Chú ý: thuật ngữ “chuyển nhượng cổ phần”, “mua bán cổ phiếu”. Lý do:

    • Cổ phần là của công ty, không phải của cổ đông, thực chất cổ đông sở hữu các quyền của cổ phần, nên không thể mua bán được mà chỉ có thể “chuyển nhượng cổ phần”.
    • Cổ phiếu là việc chứng nhận của sở hữu cổ phần, thực chất là sở hữu quyền liên quan đến cổ phần, đây là 1 loại tài sản thuộc sở hữu của cổ đông, nên có thể “mua bán cổ phiếu”.

    Trong công ty cổ phần thì cổ phần được tự do chuyển nhượng.

    Chỉ có 2 hạn chế đối với chuyển nhượng cổ phần:

    • Cổ phần ưu đãi biểu quyết: không được chuyển nhượng
    • Cổ phần phổ thông của các cổ đông sáng lập được đăng ký mua từ đầu: chỉ được chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác. Nếu muốn chuyển nhượng cho người không phải thành viên sáng lập thì phải được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông, khi đó người được chuyển nhượng trở thành cổ dông sáng lập của công ty.

    Trong công ty cổ phần, có thể có loại cổ đông sáng lập mà không phải là người ký vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty.

    c. Mua lại cổ phần

    Là việc công ty cổ phần mua lại cổ phần của cổ đông.

    Có 2 hình thức mua lại cổ phần:

    • Mua lại theo yêu cầu của cổ đông
    • Công ty có thể chủ động mua lại cổ phần đã bán cho các cổ đông (gọi là tự doanh chứng khoán). Cổ phần được công ty mua về sẽ hình thành nên một loại cổ phiếu gọi là cổ phiếu quỹ.

    d. Huy động vốn

    – Một hình thức là phát hành cổ phiếu, trái phiếu:

    Cổ phiếuTrái phiếu
    Chào bán cổ phiếu là cách thức huy động vốn bằng cách tăng vốn của chủ sở hữuChào bán trái phiếu là cách thức huy động vốn bằng cách đi vay
    Là chứng chỉ ghi quyền sở hữu một phần vốn của công tyChứng chỉ ghi nhận nợ của công ty
    Người mua cổ phiếu trở thành (một trong) các chủ sở hữu của công tyNgười mua trái phiếu trở thành (một trong) các chủ nợ của công ty
    Không có kỳ hạnCó kỳ hạn
    Không có lãi suấtCó lãi suất (có thể lũy kế hàng năm)
    Người sở hữu cổ phiếu chỉ được hưởng cổ tức khi công ty kinh doanh có lãiLuôn được nhận lãi suất bất kể công ty kinh doanh như thế nào
    Người sở hữu cổ phiếu có quyền tham gia vào hoạt động quản lý điều hành công tyNgười sở hữu trái phiếu không được quyền tham gia quản lý điều hành công ty
    Khi công ty phá sản, chủ sở hữu cổ phiếu phải chịu rủi roKhi công ty phá sản, chủ sở hữu trái phiếu vẫn là chủ nợ của công ty

    – Về mặt lý thuyết, công ty sẽ thích phát hành trái phiếu hơn cổ phiếu,vì khi phát hành cổ phiếu thì các chủ sở hữu cũ sẽ mất (một phần) quyền quản lý công ty, phải chia lợi nhận cho những cổ đông mới. Tuy nhiên trong thực tế thì công ty phát hành cổ phiếu là chủ yếu, rất ít khi phát hành trái phiếu.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật thương mại 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-1

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương V

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương V

    Chương V của môn học Luật Thương mại 1 tập trung vào nội dung về Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) – một loại hình doanh nghiệp phổ biến tại Việt Nam. Bài giảng giúp sinh viên nắm vững các quy định pháp lý về cấu trúc, quyền và nghĩa vụ của thành viên trong công ty TNHH, cùng những quy tắc liên quan đến vốn góp, quản lý và trách nhiệm tài chính. Thông qua bài giảng này, người học sẽ hiểu rõ hơn về vai trò và đặc điểm của công ty TNHH trong hệ thống pháp luật và kinh doanh thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương V

    Chương 5: Công ty Trách nhiệm hữu hạn

    Có 2 loại công ty TNHH:

    • Công ty TNHH hai thành viên trở lên (thường gọi ngắn là Công ty TNHH)
    • Công ty TNHH một thành viên

    Hai loại công ty này chỉ khác nhau ở số lượng thành viên

    1. Công ty TNHH hai thành viên trở lên

    a. Khái niệm

    – Là loại hình doanh nghiệp do ít nhất là 2 và tối đa không quá 50 cá nhân, pháp nhân cùng nhau góp vốn, kinh doanh, chia lãi, và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.

    b. Đặc điểm

    Thành viên: từ 2 đến 50

    • Ý nghĩa của việc giới hạn thành viên: đây là công ty có tính chất đối nhân, nên các thành viên cần quen biết nhau
    • Nếu có 2 thành viên mà 1 thành viên chết / đi tù / mất năng lực hành vi thì hoặc công ty sẽ chuyển thành công ty TNHH 1 thành viên, hoặc phải bổ sung thành viên mới, thời hạn để thực hiện là 06 tháng.

    Chú ý: luật không quuy định chế tài nếu số thành viên vượt quá 50, trường hợp vượt quá 50 thành viên khi công ty có đủ 50 thành viên, 1 thành viên chết, để lại thừa kế cho các con, mỗi con nắm số phần cổ phần và đều là thành viên của công ty.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương V
    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương V

    Thành viên có 2 loại:

    • Cá nhân
    • Pháp nhân

    Chú ý: DNTN không thể là thành viên (vì không phải là pháp nhân)

    Thành viên:

    • Thành viên sáng lập và quản lý công ty: là cá nhân, tổ chức không thuộc khoản 2 điều 18 luật doanh nghiệp 2014
    • Thành viên thông thường khác: chỉ góp vốn, không sáng lập và không quản lý công ty

    Chú ý: Thành viên sáng lập nếu đã góp đủ vốn thì không thể bị xóa khỏi công ty, cho dù sau này có chuyển nhượng hết vốn cho người khác (vì thành viên sáng lập là những người ký vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty). Trường hợp thành viên sáng lập không góp đủ vốn theo quy định thì sẽ bị khai trừ tư cách thành viên, do đó không còn là là thành viên sáng lập.

    Câu hỏi: Công chức có thể là thành viên công ty TNHH không ?

    Trả lời: Có. Công chức, viên chức có thể là thành viên thông thường (không phải thành viên sáng lập) công ty TNHH.

    Trách nhiệm tài sản:

    • Công ty chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản của công ty
    • Thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.

    Chú ý: luật doanh nghiệp trước luật DN 2014 quy định thành viên có thể chỉ cần đăng ký góp vốn, thời gian góp vốn có thể sau đó.

    Có tư các pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

    Công ty TNHH được phát hành trái phiếu để huy động vốn, tuy nhiên phải có điều kiện để phát hành trái phiếu

    c. Quy chế pháp lý về vốn

    (1) Vấn đề góp vốn và tài sản góp vốn

    Tài sản theo luật dân sự gồm có vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản

    Vấn đề: danh tiếng, uy tín, bí quyết, … có được coi là tài sản để góp vốn không và định giá thế nào?

    Trong công ty, tài sản để góp vốn là bất kỳ thứ gì các thành viên coi là có giá trị và quy ra tiền / cổ phần để góp vốn.

    Chú ý: tài sản phải có chủ sở hữu mới được mang ra góp vốn

    (2) Góp vốn

    Gồm 3 bước:

    Bước 1: Thỏa thuận góp vốn

    • Nếu công ty chưa thành lập thì đó là thỏa thuận giữa các thành viên sáng lập. Nếu công ty đã thành lập rồi thì đó là thỏa thuận giữa người muốn góp vốn và công ty.
    • Nội dung của thỏa thuận: tổng số vốn, tài sản góp vốn (của từng người)
    • Các tài sản góp vốn đều được quy đổi sang tiền VNĐ, đối với tài sản là vật thì sẽ thông qua thủ tục thẩm định giá (nếu là công ty chưa thành lập thì đó là sự cùng thẩm định của các thành viên sáng lập, nếu đã thành lập rồi thì đó là sự thẩm định giá của người góp vốn và công ty).

    Về nguyên tắc định giá: PL VN cho phép các bên tùy nghi định giá (có thể thuê tổ chức thẩm định giá, hoặc tự định giá).

    Trường hợp thẩm định giá sai (thường là cao hơn giá trị thực) thì khi chịu trách nhiệm (như khi phá sản), các thành viên phải bù vào số tiền cho đủ với số đăng lý góp vốn.

    Câu hỏi: Trường hợp nào thành viên công ty TNHH phải chịu trách nhiệm hữu hạn vượt quá phần vốn mình đã góp vào công ty ?

    Trả lời: đó là khi thành viên công ty TNHH đồng ý cho thành viên khác góp vốn bằng tài sản mà định giá tài sản quá cao, hoặc tài sản bị xuống giá nhiều, khi phá sản thì phần giá trị bị thâm hụt do tài sản góp vốn đó vẫn được các chủ nợ quy là vẫn có giá trị như ban đầu và yêu cầu trả nợ khi đó các thành viên sẽ phải góp thêm để trả nợ.

    – Bước 2: Chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty

    + Làm thủ tục chuyển nhượng quyền sơ hữu tài sản cho công ty.

    + Với công ty chưa thành lập thì các thành viên sáng lập có 90 ngày để chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty. Nếu sau 90 ngày mà chưa góp đủ tài sản thì:

    • Nếu chưa góp bất kỳ đồng vốn nào: sẽ bị khai trừ tư cách thành viên
    • Nếu đã góp một phần: sẽ được công ty cho “nợ” (thời gian nợ và việc có trả lãi hay không tùy vào công ty), hoặc công ty sẽ tước quyền góp phần vốn còn lại của thành viên đó; khi đó phần vốn góp còn thiếu sẽ mời các thành viên khác góp, hay mời người khác góp hay đăng ký giảm vốn của công ty.

    Chú ý: thực tế có trường hợp lợi dụng việc chuyển quyền sở hữu tài sản vào công ty để mua bán tài sản giá trị lớn (nhà đất, ô tô) mà không phải chịu thuế. VD: A muốn ô tô cho B nhưng không muốn nộp thuế, A thành lập công ty THNN, góp vốn bằng chiếc ô tô, sau đó A bán công ty cho B, khi đó B sở hữu chiếc ô tô với mức phí rất thấp.

    – Bước 3: Cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp

    + Ghi tên các thành viên góp vốn vào sổ đăng ký thành viên. Thời điểm có tên trong sổ thành viên là thời điểm có tư cách thành viên của người góp vốn.

    + Giấy chứng nhận này cũng là tài sản của người góp vốn và có thể được mang đi góp vón vào công ty khác

    (3) Xử lý phần vốn góp trong các trường hợp đặc biệt

    – Trường hợp 1 thành viên chết, thì người được hưởng thừa kế sẽ trở thành thành viên của công ty.

    – Có 1 quy định rất đặc biệt: Trường hợp 1 thành viên tặng / cho phần vốn góp cho người khác thì nếu nười có có quan hệ trong phạm vi 3 đời với người tặng / cho thì sẽ trở thành thành viên công ty, nếu không nằm trong phạm vi 3 đời thì phải được hội đồng chấp thuận mới trở thành thành viên công ty, nếu hội đồng thành viên không chấp thuận thì người đó phải bán phần vốn đó cho những người trong công ty hoặc người khác.

    Nguyên nhân: vì đây là công ty có tính chất đối nhân nên các thành viên cần quen biết nhau.

    – Trường hợp người thừa kế không muốn nhận tư cách thành viên công ty, hoặc là trẻ vị thành niên, hoặc thuộc đối tượng bị cấm trở thành thành viên, khi đó phải áp dụng thêm luật Dân sự để giải quyết cho từng tình huống cụ thể.

    (4) Việc chuyển nhượng vốn góp trong công ty (Điều 53 luật doanh nghiệp)

    – Một thành viên trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên, nếu muốn chuyển nhượng phần vốn của mình cho người khác thì họ phải ưu tiên chuyển nhượng phần vốn của mình cho các thành viên khác trong công ty trước với cùng điều kiện và ưu tiên chuyển nhượng theo tỷ lệ vốn góp của các thành viên. Các thành viên khác có 30 ngày để quyết định xem có mua không. Trường hợp các thành viên khác không mua hoặc không mua hết thì mới có quyền chuyển nhượng cho chủ thể ngoài công ty, cũng với cùng điều kiện.

    VD: A góp 100 triệu, B góp 200 triệu, C góp 300 triệu; giả sử B muốn chuyển nhượng hết phần vốn góp của mình, khi đó B phải ưu tiên chuyển nhượng cho A và C trước, với tỷ lệ 1:3, tức là chào bán cho A 50 triệu, C 150 triệu. Trường hợp C không mua hết 150 triệu thì A mới có quyền được mua.

    Nếu B chào bán phần vốn 50 triệu cho A với giá 40 triệu thì B cũng tương ứng phải chào bán phần vốn 150 triệu cho C với giá 120 triệu, tức là phải với cùng điều kiện.

    Nếu A và C không mua hết phần vốn góp của B, thì B có quyền bán cho D là người ngoài công ty, và điều kiện bán cho D cũng giống như bán cho A và C.

    ==> ý nghĩa: quy định này thể hiện tính chất đối nhân của công ty TNHH, mục đích là không để chuyển vốn cho người ngoài với điều kiện thuận lợi hơn (như VD trên thì B có thể rao bán 200 triệu cho A và C với giá 1 tỷ để A và C không mua được, rồi bán cho D với giá 100 triệu), tức là các thành viên khác có thể ngăn không cho người bên ngoài tham gia vào công ty khi bỏ tiền ra mua vốn của thành viên bán.

    ==> Nhận xét: tính đối nhân của công ty TNHH không thể bằng công ty hợp danh, ở công ty hợp danh, chỉ cần bất kỳ thành viên nào không đồng ý cho chuyển nhượng vốn thì thành viên muốn chuyển nhượng vốn không thể thực hiện được. Còn trong công ty TNHH, một thành viên muốn chuyển nhượng là sẽ chuyển nhượng được, chỉ là chuyển cho ai mà thôi.

    (5) Mua lại phần vốn góp (Điều 52 luật doanh nghiệp)

    – Là việc công ty mua lại phần vốn góp của một thành viên nào đó khi thành viên đó yêu cầu. Điều kiện là quyền lợi của thành viên đó bị ảnh hưởng, tức là rơi vào 1 trong các trường hợp sau:

    + công ty sửa đổi điều lệ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của thành viên

    + công ty ra 1 quyết định làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi thành viên

    + một số trường hợp khác theo quy định của luật doanh nghiệp

    – Không phải cứ khi nào thành viên yêu cầu công ty mua lại thì công ty sẽ mua lại. Công ty chỉ được mua lại phần vốn góp này khi việc mua lại đó không làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh và việc thanh toán các khoản nợ của công ty.

    Câu hỏi: nếu 1 thành viên chết, mà người thừa kế từ chối nhận phần vốn góp thì phần vốn góp đó thuộc về ai ?

    Trả lời: Khi chết thì phần vốn góp là di sản và sẽ thuộc về người thừa kế, khi đó người thừa kế sẽ thay thế người chết để trở thành thành viên công ty. Nếu người thừa kế không muốn trở thành thành viên công ty thì có thể bán phần vốn góp đó. Trường hợp người thừa kế không muốn nhận phần vốn góp thì theo luật thừa kế, di sản không ai nhận sẽ thuộc về nhà nước, và nhà nước sẽ bán phần vốn góp đó để thu tiền về ngân sách NN. Trường hợp nhà nước bán mà không ai mua thì luật chưa quy định.

    3.2. Công ty TNHH một thành viên

    – Là công ty TNHH chỉ có 1 thành viên là cá nhân hoặc pháp nhân.

    Câu hỏi: 1 doanh nghiệp tư nhân có thể thành lập 1 công ty TNHH 1 thành viên không?

    Trả lời: không thể, vì DNTN không phải là pháp nhân.

    – Về cơ bản, công ty TNHH 1 thành viên giống với công ty THHH hai thành viên trở lên. Có một số điểm lưu ý:

    + Trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên thì thành viên chịu TNHH trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Còn trong công ty TNHH 1 thành viên, chủ sở hữu chịu TNHH trong số vốn điều lệ của công ty. Hai điểm này là giống nhau vì công ty TNHH 1 thành viên chỉ có 1 thành viên, nên thành viên này góp bao nhiêu vốn thì đó chính là vốn điều lệ của công ty.

    + Thành viên công ty TNHH 1 thành viên có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc 1 phần vốn của mình cho 1 hoặc nhiều cá nhân hoặc pháp nhân. Nếu chuyển cho nhiều cá nhân hoặc chỉ chuyển một phần vốn, khi đó số thành viên sẽ tăng lên, và công ty sẽ phải làm thủ tục chuyển đổi mô hình từ TNHH 1 thành viên thành TNHH 2 thành viên trở lên.

    Câu hỏi: So sánh công ty TNHH 1 thành viên và thành viên đó là cá nhân với DNTN

    Công ty TNHH 1 thành viên là cá nhânDoanh nghiệp tư nhân
    Giống nhau:–          Đều là doanh nghiệp và chịu sự điều chỉnh của luật Doanh nghiệp–          Đều do 1 cá nhân làm chủ sở hữu–          Đều không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
    Tư cách pháp nhânCó tư cách pháp nhân (do có tài sản độc lập)Không có tư cách pháp nhân (do không có tài sản độc lập)
    Vốn gópTài sản là vốn góp được quyền sở hữu sang cho công tyKhông phải chuyển quyền sở hữu tài sản, chỉ cần đăng ký
    Thay đổi vốnTăng vốn bằng cách chủ sở hữu góp thêm. Khi tăng phải làm thủ tục Đăng ký thay đổi vốn điều lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh.Không được giảm vốn điều lệCó thể tăng hoặc giảm vốn mà không cần làm thủ tục đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh.Chỉ phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh nếu giảm vốn xuống dưới mức vốn đã đăng ký trước đó.
    Về trách nhiệmChủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ  của công tyChủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình
    Chủ sở hữu có thể thành lập nhiều công ty TNHH 1 thành viên là cá nhânChủ sở hữu chỉ được thành lập duy nhất 1 DNTT
    Có thể là thành viên của công ty khác thông qua việc góp vốn thành lập hoặc mua cổ phầnKhông thể góp vốn thành lập hay mua cổ phần của công ty khác để trở thành thành viên của công ty đó
    Về cơ cấu tổ chứcChủ tịch – Giám đốcChủ sở hữu kiêm Chủ tịch công ty và là người đại diện theo PL của công ty.Giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) có thể do Chủ tịch kiêm hoặc thuê người khácChủ sở hữu tự quản lý hoặc thuê người quản lý

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật thương mại 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-1

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương III

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương III

    Chương III của môn học Luật Thương mại 1 tập trung vào nội dung về công ty hợp danh – một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với sự tham gia của các thành viên hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới về nghĩa vụ tài chính. Bài giảng giúp sinh viên hiểu rõ cấu trúc, quyền và nghĩa vụ của các thành viên hợp danh, cùng những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động của loại hình doanh nghiệp này. Qua đó, người học sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về vai trò của công ty hợp danh trong hệ thống pháp luật và kinh tế Việt Nam.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương III

    Chương 3: Công ty hợp danh

    1. Khái niệm

    Là 1 loại hình doanh nghiệp có ít nhất 2 thành viên hợp danh là cá nhân cùng góp vốn, cùng nhau kinh doanh và liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Ở VN hiện nay có rất ít công ty hợp danh, chưa đến 1000 công ty hợp danh trên cả nước.

    2. Đặc điểm

    Thành viên: có 2 loại

    Thành viên hợp danh: bắt buộc phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh, bắt buộc phải là cá nhân và không thuộc đối tượng bị cấm tại khoản 2 điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014

    Chú ý: Luật luật sư lại quy định thành viên hợp danh trong công ty luật hợp danh có thể là tổ chức có tư cách pháp nhân, đó là trường hợp tổ chức nước ngoài là thành viên hợp danh. Đây là trường hợp ngoại lệ để phù hợp với thông lệ quốc tế.

    Thành viên góp vốn: không bắt buộc phải có loại thành viên này, có thể là cá nhân hay pháp nhân và không thuộc đối tượng bị cấm tại khoản 4 điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014

    Câu hỏi: một pháp nhân có thể trở thành 1 thành viên của công ty hợp danh ?

    Trả lời: Có, 1 pháp nhân có thể trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh.

    Câu hỏi: 1 công ty hợp danh có thể được thành lập bởi 1 thành viên hợp danh và 1 thành viên góp vốn không?

    Trả lời: Không thể. Vì luật quy định 1 công ty hợp danh phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh.

    Trách nhiệm tài sản:

    • Công ty: chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi tài sản của công ty
    • Đối với thành viên hợp danh: phải liên đới chịu trách nhiệm tài sản vô hạn, tức là liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động kinh doanh của công ty
    • Đối với thành viên góp vốn: chịu TNHH trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty

    VD: 1 công ty hợp danh có các thành viên A, B, C, D là các thành viên hợp danh, E là thành viên góp vốn: A góp 50 triệu, B góp 100 triệu, C góp 150 triệu, D góp 200 triệu, E góp 200 triệu, các thành viên đều đã góp đầy đủ vốn ==> tài sản công ty có 700 triệu. Sau thời gian kinh doanh, tài sản công ty còn 200 triệu, nhưng nợ là 600 triệu. Khi đó trách nhiệm tài sản:

    • Công ty mang tài sản ra trả nợ: 600 – 200 = 400 triệu, tức là còn nợ 400 triệu
    • E là thành viên góp vốn, E đã góp đủ 200 triệu vào công ty như cam kết nên E không phải trả nợ
    • A, B, C, D phải chịu trả nợ theo tỷ lệ góp vốn, khi đó A phải trả nợ 40 triệu, B trả 80 triệu, C trả 120 triệu, D trả 160 triệu.

    Nếu tài sản của A và B đều còn là 1 tỷ mỗi người, nhưng C chỉ còn 80 triệu, D chỉ còn 80 triệu, khi đó A và B đã trả nợ theo phần của mình, nhưng C và D mang hết tiền ra trả nợ vẫn thiếu, C thiếu 40 triệu và D thiếu 80 triệu, tức là tổng còn thiếu 120 triệu ==> khi đó sự chịu trách nhiệm liên đới sẽ được đặt ra: A và B phải trả nợ thay cho C và D, và A, B sẽ trả phần 120 triệu theo tỷ lệ vốn góp vào công ty, tức là A sẽ phải trả thêm 40 triệu, B phải trả thêm 80 triệu, và sau đó thì A và B sẽ là chủ nợ của C và D.

    Giả sử sau đó C có 60 triệu (ví dụ được thừa kế) thì A và B sẽ đến đòi C, và C sẽ trả nợ cho A và B theo đúng tỷ lệ vốn góp của A và B, tức là trả A 20 triệu và trả B 40 triệu.

    Trường hợp chủ nợ thấy A là giàu có và có đủ điều kiện để trả toàn bộ số nợ, thì họ có thể chỉ đến đòi A và vì tính liên đới nên  A buộc phải dùng tài sản của mình để trả hết nợ cho các chủ nợ trước, sau đó A thành chủ nợ của B, C và D.

    Cho thấy tính chất đối nhân của công ty hợp danh: các thành viên phải tin tưởng nhau ở mức độ rất cao, và chấp nhận trả nợ cho nhau.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương III
    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương III

      Lý do công ty hợp danh ít được thành lập ở VN:

    • Tính rủi ro cao khi thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình
    • Công ty hợp danh chỉ phù hợp với một số ngành nghề như luật, bác sỹ, tư vấn xây dựng, kiến trúc (luật không giới hạn ngành nghề được thành lập công ty hợp danh)

    Tư cách pháp nhân: công ty hợp danh có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

    Vấn đề người quản lý:

    • Các thành viên hợp danh toàn quyền quản lý công ty
    • Các thành viên góp vốn không được quyền quản lý công ty

    Công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn

    3. Đặc trưng của công ty hợp danh

    Trong công ty hợp danh, các thành viên hợp danh đều là người đại diện theo PL của công ty.

    Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm pháp lý thay cho công ty hợp danh.

    Chú ý: đặc điểm được quy định trong luật thương mại này là trái với quy định trong luật Dân sự: các thành viên của pháp nhân không thể chịu trách nhiệm pháp lý thay cho pháp nhân.

    Các thành viên hợp danh có quyền biểu quyết ngang nhau, không phụ thuộc vào phần vốn góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác

    Các hạn chế của thành viên hợp danh:

    • Thành viên hợp danh không được là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, không được làm chủ hộ kinh doanh, chủ DNTN, trừ trường hợp các thành viên hợp danh khác đồng ý
    • Thành viên hợp danh của công ty hợp danh không được nhân danh chính mình hoặc nhân danh chủ thể khác để giao kết hợp đồng trong phạm vi kinh doanh của công ty hợp danh, tức là phải nhân danh Công ty hợp danh.
    • Thành viên hợp danh chỉ được chuyển nhượng phần vốn của mình cho người khác nếu được các thành viên hợp danh còn lại đồng ý
    • Nếu thành viên hợp danh bị khai trừ khỏi công ty, thì trong vòng 2 năm, thành viên đó vẫn phải chịu liên đới trách nhiệm

    Các hạn chế này thể hiện đặc trưng của công ty đối nhân: các thành viên phải tin tưởng nhau rất lớn.

    Các thành viên góp vốn không được quyền biểu quyết (có thể được quyền dự họp)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật thương mại 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-1

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương II

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương II

    Chương II của môn học Luật Thương mại 1 thường tập trung vào chủ đề doanh nghiệp tư nhân – một loại hình doanh nghiệp phổ biến tại Việt Nam. Nội dung bài giảng về doanh nghiệp tư nhân giúp sinh viên hiểu rõ về đặc điểm, quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân, cũng như cơ cấu quản lý và điều kiện thành lập loại hình này. Chương này cũng làm rõ các quy định pháp lý liên quan đến tài sản, vốn, và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân trong hoạt động kinh doanh.

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương II

    Chương 2: Doanh nghiệp tư nhân

    I. Doanh nghiệp tư nhân

    1. Khái niệm

    Là mô hình doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp (Điều 183 luật Doanh nghiệp 2014)

    2. Đặc điểm

    Chủ sở hữu của doanh nghiệp: là 1 cá nhân, cần đảm bảo:

    • Là công dân VN hoặc người nước ngoài,
    • Có đầy đủ năng lực hành vi (đủ 18 tuổi và không bị mất hay hạn chế năng lực hành vi), và
    • Không thuộc các đối tượng bị cấm theo khoản 2 điều 18 luật doanh nghiệp 2014

    Hạn chế của việc chủ sở hữu của DNTN chỉ là 1 người:

    • hạn chế về vốn: chỉ 1 cá nhân bỏ vốn, nên quy mô khó có thể lớn
    • khả năng chia sẻ rủi ro với các chủ thể khác là không có
    • khi quyết định các vấn đề quan trọng chỉ có 1 người quyết ==> không có phản biện ==> dễ sai lầm

    DNTN thường chỉ ở quy mô nhỏ hay trung bình

    Trách nhiệm tài sản: chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn, bằng tất cả tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    VD: A có 2 tỷ, bỏ ra 1 tỷ để thành lập DNTN để kinh doanh, công ty thua lỗ, phá sản, tài sản DNTN chỉ còn 300 triệu, trong khi khoản nợ là 800 triệu. Khi đó DNTN đó phải bán hết tài sản để trả nợ, tức là trả được 300 triệu, sau đó A còn phải dùng tiếp tài sản của mình để trả tiếp 500 triệu nữa. Trường hợp khoản nợ lớn hơn số tài sản mà A có (giả sử khoản nợ là 3 tỷ) thì sau khi A dùng hết toàn bộ tài sản để trả thì A vẫn bị mắc nợ, và mỗi khi A nhận được tài sản (VD được nhận thừa kế, đi làm kiếm được tiền, …) thì A phải tiếp tục trả nợ đến khi hết nợ.

    Khác với trường hợp A thành lập công ty TNHH và A đã bỏ ra đủ 1 tỷ vào công ty thì A chỉ phải bán hết tài sản (300 triệu) để trả nợ, phần còn lại là rủi ro của các chủ nợ.

    Nhược điểm của việc chịu trách nhiệm vô hạn: là có thể mất toàn bộ tài sản

    Tình huống: A lấy vợ là B, hai vợ chồng mua 1 căn nhà trị giá 4 tỷ, A thành lập 1 DNTN, bị thua lỗ và phá sản, sau khi A dùng hết tài sản để trả nợ nhưng vẫn thiếu 2 tỷ. Khi đó xử lý thế nào ?

    Các chủ nợ sẽ đòi A và vợ phải bán căn nhà và dùng phần tiền của A trong tài sản đó để trả nợ. Tuy nhiên luật Hôn nhân gia đình lại quy định chỉ được chia tài sản khi ly hôn hoặc do vợ chồng cùng đồng ý. Nếu vợ A không đồng ý thì căn nhà của A và vợ cũng không bị bán.

    A chỉ phải bán nhà nếu A và vợ khi thành lập DNTN đã đồng ý đưa căn nhà vào thành 1 tài sản cho DNTN đó

    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương II
    Bài giảng môn học Luật thương mại 1 chương II

     Chú ý: có cách “lách” để tránh phải chịu trách nhiệm tài sản là chuyển sở hữu tài sản sang cho người khác, tuy nhiên cần chú ý phải chuyển trước 12 tháng của thời điểm DNTN phá sản, vì theo luật quy định nếu tài sản chuyển nhượng cho người khác trong vòng 12 tháng kể từ thời điểm DNTN phá sản thì tòa sẽ coi việc đó là hành vi tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh trách nhiệm tài sản và sẽ tuyên việc chuyển nhượng đó và vô hiệu.

    Trường hợp chủ DNTN chết trong lúc đang làm thủ tục phá sản DNTN (mà không ai chịu nhận thừa kế là làm chủ DNTN đó để trả nợ) thì toàn bộ di sản của người đó (gồm tài sản riêng, phần tài sản chung) sẽ được dùng để hết trả nợ trước khi chia di sản cho những người thừa kế. Trường hợp vẫn không đủ để trả nợ thì đó là rủi ro của các chủ nợ.

    Trường hợp chủ DNTN chết khi DNTN vẫn hoạt động bình thường, thì người nhận thừa kế DNTN sẽ là chủ sở hữu mới của DNTN. Tuy nhiên vấn đề phát sinh là tài sản của chủ cũ khác với tài sản của chủ mới, và rủi ro sẽ thuộc về các chủ nợ khi chủ mới có ít tài sản.

    Doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập và không có tư cách pháp nhân:

    VD: A thành lập DNTN, A đăng ký đưa ô tô của mình vào DNTN, như vậy chiếc ô tô sẽ là tài sản kinh doanh của DNTN, nhưng chủ sở hữu của chiếc ô tô vẫn là A, tức là A sẽ không phải chuyển quyền sở hữu ô tô sang DNTN. Trong đăng ký của DNTN đó vẫn có tài sản là chiếc ô tô, tuy nhiên nó không độc lập.

    Khác với trường hợp thành lập công ty TNHH, thì A sẽ chuyển sở hữu ô tô sang cho công ty, tức là công ty sở hữu chiếc ô tô còn A là chủ sở hữu của công ty.

    Như vậy, việc DNTN không có tài sản độc lập vì không thể tách bạch tài sản của công ty với tài sản của chủ sở hữu DNTN

    Lý do DNTN không có tư cách pháp nhân vì nó không có tài sản độc lập

    Chú ý: chủ sở hữu có thể chuyển tài sản của mình thành tài sản của DNTN, tuy nhiên việc này không ảnh hưởng đến việc quản lý của cơ quan NN cũng như việc hoạt động và tính chịu trách nhiệm của DNTN.

    Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

    3. Một số đặc trưng của DNTN

    Trong doang nghiệp tư nhân, nếu có tranh chấp, thì chủ sở hữu của DNTN vừa là nguyên đơn, vừa là bị đơn chứ không phải là DNTN: tức là khi ra tòa để giải quyết tranh chấp là chủ DNTN. Như vậy trong việc ký kết hợp đồng thì thương nhân, tức là DNTN sẽ đứng tên trên hợp đồng, còn khi ra tòa thì chủ thể của tranh chấp sẽ là chủ sở hữu doanh nghiệp chứ không phải DNTN

    Ở đây có sự “nhập nhằng” giữa DNTN và chủ sở hữu DNTN, do bản chất của DNTN là 1 cá nhân thực hiện kinh doanh.

    Một cá nhân chỉ được thành lập 1 DNTN: do DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn nên toàn bộ tài sản của 1 cá nhân chỉ có thể đảm bảo cho 1 DNTN, không thể xảy ra trường hợp 1 cá nhân thành lập 2 DNTN vì khi đó 1 tài sản sẽ phải chịu trách nhiệm 2 lần.

    Chú ý: 1 cá nhân có thể thành lập nhiều công ty

    Chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh

    DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, trở thành thành viên của các loại công ty

    Trong DNTN chỉ có 1 người đại diện duy nhất là chủ DNTN. DNTN có thể thuê giám đốc, nhưng người đại diện theo PL của DNTN vẫn là chủ DNTN

    Chủ sở hữu DNTN có thể cho thuê DN của mình (Điều 186 luật doanh nghiệp 2014): tuy nhiên chủ sở hữu DNTN vẫn là người chịu trách nhiệm về hoạt động của DN.

    Chủ sở hữu DNTN có quyền bán DN của mình (Điều 187 luật doanh nghiệp 2014): khi đó nợ của DN khi bán sẽ theo thỏa thuận ai là người trả nợ:

    • Trường hợp 1: chỉ bán DN, không bán nợ, tức là nợ vẫn do chủ cũ chịu trách nhiệm
    • Trường hợp 2: bán DN và bán cả nợ

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật thương mại 1: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-1

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.