Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IV

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IV

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IV với nội dung về dân cư trong luật Quốc tế cung cấp cái nhìn toàn diện về vai trò và quyền lợi của con người trong quan hệ pháp lý quốc tế. Từ quy định về quốc tịch, quyền tự do di chuyển, đến bảo vệ quyền con người và người tị nạn, chương này giải thích rõ những quy phạm pháp luật đảm bảo sự bình đẳng và công bằng cho tất cả các cá nhân trên thế giới. Cùng khám phá kiến thức quan trọng này để hiểu rõ hơn về vị trí và quyền lợi của dân cư trong bối cảnh toàn cầu hóa.

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IV

    Vấn đề 4: Dân cư trong luật quốc tế

    I. Khái niệm dân sư

    1. Định nghĩa

    – Dân cư là tập hợp những người sinh sống và cư trú trong phạm vi lãnh thổ của 1 quốc gia xác định và chịu sự điều chỉnh của PL của quốc gia đó

    2. Các bộ phận dân cư

    – Căn cứ vào địa vị pháp lý (tức là quyền và nghĩa vụ), dân cư gồm 2 bộ phận:

    + Công dân

    + Người nước ngoài: là người không mang quốc tịch của quốc gia sở tại, người nước ngoài gồm cả người không quốc tịch và người nhiều quốc tịch

    – Người không quốc tịch sẽ không được quốc gia nào bảo hộ khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm ==> quốc tế cố gắng hạn chế người không quốc tịch

    – Người nhiều quốc tịch sẽ đặt ra những vấn đề pháp lý giữa các quốc gia mà người đó mang quốc tịch, ví dụ vấn đề thực hiện nghĩa vụ đối với nhiều quốc gia sẽ rất phức tạp, hoặc khi người có 2 quốc tịch A và quốc tịch B mà phạm tội ở quốc gia A, khi đó liệu quốc gia B có quyền bảo hộ không ? ==> các quốc gia hợp tác với nhau để hạn chế tình trạng người nhiều quốc tịch

    II. Một số vấn đề pháp lý về quốc tịch cá nhân

    1. Định nghĩa

    – Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý 2 chiều giữa cá nhân và NN thể hiện ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ giữa cá nhân và NN đó. Các quyền và nghĩa vụ này được ghi nhận trong PL và được PL bảo đảm thực hiện

    2. Đặc điểm của quốc tịch cá nhân

    – Có tính ổn định và bền vững cả về không gian và thời gian:

    + về không gian: việc di chuyển về mặt địa lý (ra ngoài quốc gia mình mang quốc tịch) không làm mất quốc tịch của mình

    + về thời gian: thông thường quốc tịch có từ khi mới sinh ra cho đến khi chết đi

    – Mang tính cá nhân sâu sắc: quốc tịch chỉ là của cá nhân, không thể cho, tặng quốc tịch

    – Thể hiện mối liên hệ pháp lý 2 chiều giữa cá nhân và NN: quyền của cá nhân là nghĩa vụ của NN và nghĩa vụ của cá nhân là quyền của NN

    – Được điều chỉnh bởi cả hệ thống PL quốc tế và hệ thống PL quốc gia:

    + luật quốc gia quy định quyền và nghĩa vụ của công dân

    + luật quốc tế ghi nhận những quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người mà luật quốc gia phải tuân theo, luật quốc tế cố gắng hạn chế người không quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch

    3. Các trường hợp xác lập quốc tịch cá nhân

    a. Hưởng quốc tịch do sinh ra

    – Là việc xác định quốc tịch cho trẻ em ngay từ chúng mới chào đời dựa theo 1 trong các nguyên tắc sau:

    + nguyên tắc huyết thống (jus sanguinis): đứa trẻ sinh ra sẽ mang quốc tịch của cha hoặc mẹ mà không phụ thuộc vào việc sinh ra ở quốc gia nào. VD Trung Quốc, các quốc gia ở châu Âu

    + nguyên tắc nơi sinh (jus soli): đứa trẻ sinh ra tại lãnh thổ quốc gia nào sẽ mang quốc tịch của quốc gia đó, không phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ chúng. VD các quốc gia ở châu Mỹ La Tinh như Mỹ, Mexico, Braxin

    + nguyên tắc hỗn hợp: áp dụng cả nguyên tắc huyết thống và nguyên tắc nơi sinh theo trình tự nhất định theo từng trường hợp để xác định quốc tịch. Đây là nguyên tắc được phần lớn các quốc gia áp dụng, VN cũng áp dụng phương pháp này để xác định quốc tịch (cơ sở pháp lý là Điều 14-18 Luật Quốc tịch 2008)

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IV
    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IV

    Câu hỏi: bà mẹ người Trung Quốc đi du lịch sang Hoa Kỳ và sinh con ở Hoa Kỳ thì đứa trẻ sinh ra sẽ mang quốc tịch nào ?

    Trả lời: trường hợp này đứa trẻ sẽ mang đồng thời 2 quốc tịch: quốc tịch Trung Quốc theo nguyên tắc huyết thống, và quốc tịch Hoa Kỳ theo nguyên tắc nơi sinh

    Câu hỏi: Bà mẹ Hoa Kỳ sinh con tại Trung Quốc, đứa trẻ sinh ra sẽ mang quốc tịch nào ?

    Trả lời: trường hợp này đứa trẻ sẽ không có quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào

    b. Hưởng quốc tịch do xin vào quốc tịch

    – Có các trường hợp:

    + gia nhập quốc tịch: xuất phát từ ý chí nguyện vọng của cá nhân, làm đơn xin gia nhập quốc tịch theo quy định của luật quốc gia.

    Điều kiện để người nước ngoài được gia nhập quốc tịch VN: (theo Điều 19 luật Quốc tịch 2008):

    • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam
    • Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam
    • Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam
    • Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam
    • Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam

    + phụ nữ kết hôn với người nước ngoài: xuất phát từ quan điểm của các nước Hồi giáo và từ thời phong kiến, khi phụ nữ kết hôn với người nước ngoài thì sẽ mang quốc tịch của người chồng. Tuy nhiên một số quốc gia khác lại quy định việc kết hôn với người nước ngoài không làm thay đổi quốc tịch của phụ nữ. Công ước 1957 về quốc tịch của phụ nữ khi lấy chồng đã quy định phụ nữ có địa vị pháp lý bình đẳng với nam giới trong việc giữ hoặc thay đổi quốc tịch khi kết hôn (tức là người phụ nữ có quyền lựa chọn giữ quốc tịch của mình hoặc theo quốc tịch của chồng), và việc thay đổi quốc tịch của người chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm thay đổi quốc tịch của người vợ.

    Chú ý: việc gia nhập quốc tịch bằng cách kết hôn với người nước ngoài sẽ không cần phải chứng minh đầy đủ các điều kiện như trong trường hợp xin gia nhập quốc tịch (như không cần phải chứng minh biết tiếng của đất nước đó, không cần phải cư trú một khoảng thời gian, không cần phải có khả năng bảo đảm cuộc sống)

    + được người nước ngoài nhận làm con nuôi: các quốc gia có quy định khác nhau:

    • Nhận con nuôi trọn vẹn: khi trẻ em được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì sẽ mất quốc tịch gốc và có quốc tịch của cha mẹ nuôi
    • Nhận con nuôi từng phần: khi trẻ em được người nước ngoài nhận làm con nuôi thì sẽ tạm thời mất quốc tịch gốc và gia nhập quốc tịch cha mẹ nuôi đến năm 18 tuổi, thì sẽ do đứa trẻ quyết sẽ tiếp tục quốc tịch của cha mẹ nuôi hay trở về quốc tịch gốc

    VN quy định nhận con nuôi từng phần (luật Nuôi con nuôi 2010)

    c. Hưởng quốc tịch do sự lựa chọn

    – Thường đặt ra khi có sự chia tách, sáp nhập, hợp nhất lãnh thổ quốc gia, khi đó cá nhân có quyền lựa chọn quốc tịch cho mình theo quyền dân tộc tự quyết.

    d. Hưởng quốc tịch do sự phục hồi

    – Là trường hợp khôi phục lại quốc tịch cho người đã mất quốc tịch vì lý do nào đó.

    VD: phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, gia nhập quốc tịch của chồng, sau đó ly hôn và hồi hương về nước, và xin quay trở lại quốc tịch cũ.

    VD: Việt kiều do không đăng ký giữ quốc tịch nên bị mất quốc tịch, sau đó xin gia nhập quốc tịch trở lại

    – Thủ tục và điều kiện hưởng quốc tịch theo sự phục hồi quốc tịch đơn giản hơn so với người xin gia nhập quốc tịch lần đầu

    e. Hưởng quốc tịch do được thưởng quốc tịch

    – Là hành vi của cơ quan NN có thẩm quyền thưởng cho người có công trạng lớn với quốc gia mình

    Chú ý: quốc gia muốn thưởng quốc tịch cho cá nhân thì phải được sự đồng ý của cá nhân đó

    – Sau khi cá nhân được thưởng quốc tịch, hệ quả pháp lý có 2 trường hợp:

    + cá nhân đó di chuyển đến quốc gia đó và trở thành công dân thực thụ của quốc gia đó

    + chỉ nhận quốc tịch đó với tư cách là công dân danh dự

    Câu hỏi:

    (1) Phân biệt giữa quốc tịch cá nhân và quốc tịch của phương tiện bay và tàu thuyền

    (2) Chỉ ra trường hợp đã được thưởng quốc tịch và trường hợp VN tước quốc tịch cá nhân

    Trả lời (tự trả lời):

    (1) Phân biệt quốc tịch cá nhân và quốc tịch của phương tiện bay và tàu thuyền:

    Quốc tịch cá nhânQuốc tịch của phương tiện bay và tàu thuyền
    Giống nhau:+ Đều được quốc gia có quốc tịch bảo hộ+ Đều có tính ổn định về không gian+ Đều có thể chuyển sang quốc tịch khác
    Khi sinh ra đã có quốc tịchKhi sản xuất xong phải đăng ký quốc tịch (của quốc gia sản xuất hoặc quốc gia mua phương tiện đó)
    Có thể có nhiều quốc tịchChỉ có 1 quốc tịch duy nhất
    Có thể bị quốc gia tước quốc tịchKhông bị tước quốc tịch

    (2) Trường hợp người nước ngoài đầu tiên được thưởng quốc tịch VN là ông André Marcel Menras, người Pháp, vì đã đấu tranh phản đối Pháp, Mỹ gây chiến tranh ở VN, lấy tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết, và đã được thưởng quốc tịch VN năm 2009.

    Hiện tại chưa ghi nhận trường hợp công dân VN nào bị tước quốc tịch.

    4. Các trường hợp chấm dứt quốc tịch cá nhân

    a. Xin thôi quốc tịch

    – Những trường hợp chưa được phép thôi quốc tịch:

    + cá nhân chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính với quốc gia. VD cá nhân phải thi hành 1 bản án dân sự của Tòa án trong đó có việc trả nợ; hoặc cá nhân là giám đốc 1 doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó nợ tiền bảo hiểm của người lao động

    + cá nhân đang bị tạm giam, tạm giữ, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị chấp hành hình phạt tù.

    + cá nhân chưa hoàn thành nghĩa vụ quân sự

    – Ngoài ra còn có các trường hợp:

    + cá nhân làm việc trong những cơ quan có liên quan đến quốc phòng, an ninh thì không được phép xin thôi quốc tịch

    – Việc thôi quốc tịch xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của cá nhân, cá nhân thể hiện điều đó bằng cách làm đơn xin thôi quốc tịch gửi cơ quan NN có thẩm quyền, khi được phê duyệt thì sẽ không còn là công dân của quốc gia đó.

    b. Bị tước quốc tịch

    – Là chế tài áp dụng đối với các cá nhân trong trường hợp:

    + cá nhân đang cư trú, sinh sống ở nước ngoài có hành vi vi phạm PL quốc gia, không còn xứng đáng là công dân nữa. Thường là trường hợp bị buộc tội phản bội tổ quốc.

    + người nước ngoài có hành vi gian dối để được nhập quốc tịch quốc gia

    c. Đương nhiên mất quốc tịch

    – Một số quốc gia quy định: nếu công dân nước mình mà làm việc trong cơ quan của nước ngoài, đặc biệt làm việc trong các đơn vị lực lượng vũ trang của nước ngoài thì sẽ đương nhiên bị mất quốc tịch quốc gia. Việt Nam không quy định trường hợp này.

    – Ở VN, cá nhân chỉ đương nhiên mất quốc tịch khi chết

    5. Các trường hợp đặc biệt về quốc tịch

    a. Người có 2 hay nhiều quốc tịch

    – Hai hay nhiều quốc tịch là tình trạng pháp lý của 1 cá nhân đồng thời có quốc tịnh của từ 2 quốc gia trở lên

    – Nguyên nhân:

    + do sự khác biệt về PL quốc tịnh giữa các quốc gia. Ví dụ ở VN xác định quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống, còn Hoa Kỳ theo nguyên tắc nơi sinh, khi đó nếu một cặp vợ chồng người VN sang Mỹ làm việc và sinh con ở Mỹ thì đứa trẻ sinh ra sẽ có 2 quốc tịch VN và Mỹ

    + do 1 người đã có quốc tịch mới nhưng chưa thôi quốc tịch gốc. Hầu hết các nước đều yêu cầu người nước ngoài muốn gia nhập quốc tịch nước mình thì phải thôi quốc tịch gốc, tuy nhiên một số nước (như Canada) không yêu cầu người nước ngoài phải thôi quốc tịch gốc khi gia nhập quốc tịch ==> có hiện tượng 2 quốc tịch

    Câu hỏi: Tại sao hầu hết các nước ở châu Âu lại xác định quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống, trong khi hầu hết các nước châu Mỹ lại xác định quốc tịch theo nguyên tắc nơi sinh ?

    Trả lời: do yếu tố lịch sử. Châu Âu là lục địa già, bao gồm các quốc gia lâu đời, diện tích lại nhỏ (trừ Nga), nên ở châu Âu rất coi trọng huyết thống. Còn châu Mỹ gồm toàn các quốc gia trẻ (chỉ mới hơn 200 năm tuổi), lại có diện tích lớn, dân cư hầu hết do di cư từ các quốc gia khác đến, nên các nước châu Mỹ rất muốn dân cư trở nên đông đúc

    – Hệ quả pháp lý: dẫn đến sự xung đột về thẩm quyền bảo hộ giữa các quốc gia.

    VD trường hợp cá nhân có 2 quốc tịch khi bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp tại quốc gia thứ 3, thì về nguyên tắc cả 2 quốc gia đó đều có quyền bảo hộ công dân của mình, khi đó quốc gia thứ 3 phải lựa chọn quốc gia nào được quyền bảo hộ cho cá nhân đó.

    VD cá nhân có 2 quốc tịch, đang ở trong 1 quốc gia mà vi phạm PL quốc gia đó, khi đó có cho phép nước còn lại bảo hộ không ? Năm 1990, 1 công dân VN đã xin gia nhập quốc tịch Canada, người đó có 2 quốc tịch VN và Canada, khi từ Canada về VN thì tại cửa khẩu, bị công an VN phát hiện hành lý có ma túy, người này lập tức liên hệ với đại sứ quán Canada để xin được bảo hộ, chính phủ Canada yêu cầu dẫn độ người này về Canada xét xử. Khi đó nếu VN đồng ý để dẫn độ về Canada thì sẽ vi phạm luật VN đối với công dân VN phạm tội trên lãnh thổ VN, còn nếu không đồng ý dẫn độ thì sẽ gây căng thẳng giữa 2 nước.

    Công ước La-hay quy định: Một quốc gia không được đưa ra yêu cầu bảo hộ đối với 1 cá nhân có 2 hay nhiều quốc tịch nếu người đó có hành vi chống lại 1 trong các nước mà người đó là công dân.

    ==> VN đã viện dẫn Công ước La-hay để từ chối yêu cầu bảo hộ của Canada và vẫn xét xử theo luật pháp VN. Tuy nhiên việc này đã gây ra căng thẳng giữa VN và Canada trong 1 thời gian.

    – Cách giải quyết tình trạng người nhiều quốc tịch:

    + cho phép người có 2 hay nhiều quốc tịch lựa chọn 1 quốc tịch trong số các quốc tịch người đó đang có, khi đó chỉ quốc gia được chọn mới được bảo hộ

    + áp dụng nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu để xác định quốc tịch: quốc gia thứ 3 sẽ xác định 1 người có 2 hay nhiều quốc tịch chỉ có 1 quốc tịch căn cứ vào thời gian cư trú (thời gian cư trú ở đâu lâu hơn sẽ chọn quốc tịch đó), trường hợp cư trú ở 2 quốc gia ngang nhau thì sẽ căn cứ vào mối quan hệ gắn bó nhất. (căn cứ để xác định mối quan hệ gắn bó nhất: vợ con mang quốc tịch nước nào thì nước đó là gắn bó nhất, công việc làm ăn chủ yếu diễn ra ở nước nào thì nước đó là gắn bó nhất)

    – VN quy định “Công dân VN là người có 1 quốc tịch VN” (Điều 4 luật Quốc tịch 2008), tuy nhiên đến năm 2014 thì sửa đổi theo nguyên tắc 1 quốc tịch mềm dẻo, theo đó quy định 2 trường hợp công dân VN được có thêm quốc tịch khác:

    + người VN định cư ở nước ngoài, đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng chưa thôi quốc tịch VN

    + người nước ngoài gia nhập quốc tịch VN nếu được Chủ tịch nước cho phép thì không phải từ bỏ quốc tịch gốc.

    Câu hỏi: Tại sao VN lại quy định mềm dẻo như vậy ?

    Trả lời:

    + với trường hợp đầu, “người VN định cư ở nước ngoài, đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng chưa thôi quốc tịch VN”, trước đây có quy định người VN định cư ở nước ngoài khi gia nhập quốc tịch nước đó thì phải đến đại sứ quán VN để xin đăng ký giữ quốc tịch, tuy nhiên rất ít người đến xin đăng ký giữ quốc tịch (chủ yếu do không biết thông tin), nên đến năm 2014 đã bỏ quy định này.

    Việc quy định như vậy có ý nghĩa lớn về mặt xã hội, theo đó phù hợp với chủ trương “người VN định cư ở nước ngoài là 1 bộ bộ phận không thể tách rời của dân tộc VN”, vì người VN định cư ở nước ngoài chủ yếu ở Mỹ và Canada sau biến cố 1975 vì lý do chính trị chứ không phải vì ý chí và nguyện vọng của họ. Ngoài ra về mặt kinh tế, khi quy định người VN định cư ở nước ngoài vẫn là công dân VN dù đã gia nhập quốc tịch khác thì đó sẽ là “mỏ vàng” để thu hút đầu tư, thu hút ngoại tệ về VN.

    + với trường hợp hai, quy định như vậy là để thu hút nhân tài đến với VN với mong muốn đóng góp để xây dựng và phát triển VN nhưng vẫn muốn giữ quốc tịch gốc. VD trường hợp thủ môn Phan Văn Santot người Braxin được Chủ tịch nước đồng ý cho gia nhập quốc tịch VN nhưng vẫn giữ quốc tịch gốc là Braxin, và cầu thủ này đã là thủ môn của đội tuyển bóng đá quốc gia VN.

    b. Người không quốc tịch

    – Không quốc tịch là tình trạng pháp lý của 1 cá nhân không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào

    – Nguyên nhân:

    + do trẻ em sinh ra trên lãnh thổ của quốc gia chỉ áp dụng nguyên tắc quyền huyết thống mà cha mẹ là người không quốc tịch

    + do 1 người đã mất quốc tịch cũ (đã xin thôi quốc tịch, hoặc bị tước quốc tịch) nhưng chưa có quốc tịch mới

    – Hệ quả của tình trạng không quốc tịnh: người không quốc tịch sẽ không nhận được sự bảo hộ của bất kỳ quốc gia nào khi quyền và lợi ích bị xâm hại

    – Cách thức giải quyết:

    + áp dụng cả nguyên tắc quyền huyết thống và quyền nơi sinh của trẻ em (như VN đã áp dụng)

    + cho phép người không quốc tịch được nhập quốc tịch của quốc gia sở tại khi thỏa mãn các quy định của luật quốc gia.

    VD với người Campuchia chạy trốn khỏi nạn diệt chủng Pon Pot những năm 1970 sang VN, đã sinh sống tại VN suốt từ đó đến nay, không muốn trở về Campuchia, và VN đã tạo điều kiện cho những người này gia nhập quốc tịch VN.

    VD: các cô gái VN (chủ yếu ở miền tây) lấy chồng nước ngoài (Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan), mà những nước này bắt buộc chỉ có 1 quốc tịch nên phải xin thôi quốc tịch VN. Nhưng sau một thời gian không chịu được khổ (do hầu hết những người sang VN lấy vợ đều là người nghèo, hoặc có vấn đề về thần kinh) nên trốn về. Những cô gái này chưa có quốc tịch của quốc gia của chồng, nhưng đã mất quốc tịch VN, do đó trở thành diện không có quốc tịch.

    IV. Bảo hộ công dân

    1. Định nghĩa

    – Theo nghĩa rộng, bảo hộ công dân là tất cả các hoạt động do cơ quan NN có thẩm quyền của quốc gia thực hiện để tạo mọi điều kiện cho công dân của mình trong quá trình cư trú, sinh sống ở nước ngoài.

    Ví dụ: 1 người VN ở nước ngoài muốn nhận con nuôi, anh ta sẽ đến cơ quan lãnh sự của VN để đăng ký

    1 nam 1 nữ người VN sang Singapo du học và đăng ký kết hôn tại Singapo, họ sẽ đến đâu để đăng ký kết hôn ? ==> họ sẽ đến cơ quan lãnh sự của VN tại Singapo để đăng ký kết hôn

    Chú ý: cơ quan lãnh sự có thể là Lãnh sự quán tại địa phương, hoặc Phòng Lãnh sự trong Đại sứ quán

    – Theo nghĩa hẹp, bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan NN có thẩm quyền nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nước mình ở nước ngoài khi các quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm hại.

    VD: 1 công dân VN sang Thái Lan du lịch, bị lấy trộm hành lý, mất toàn bộ tiền bạc, tư trang và giấy tờ, thì anh ta có thể đến cơ quan có thẩm quyền của VN tại Thái Lan để yêu cầu trợ giúp. Thông thường thì công dân đó sẽ được cấp lại giấy tờ cần thiết để về nước và 1 khoản tiền, và yêu cầu cơ quan chức năng tại Thái Lan khẩn trương tìm ra thủ phạm đã xâm hại công dân nước mình.

    2. Thẩm quyền bảo vệ công dân

    – Thẩm quyền bảo hộ ở trong nước: cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm bảo hộ công dân ở nước ngoài là Bộ Ngoại giao

    – Thẩm quyền bảo hộ ở nước ngoài: cơ quan lãnh sự (Tổng lãnh sự / Lãnh sự quán), hoặc Cơ quan đại diện ngoại giao (Đại sứ quán)

    Chú ý: việc xin cấp Visa để vào 1 quốc gia thì sẽ do Cơ quan lãnh sự của quốc gia đó cấp (trường hợp đến Đại sứ quán xin cấp thì thực chất là đến Phòng lãnh sự của Đại sứ quán)

    3. Điều kiện bảo hộ công dân

    – Công dân được quốc gia bảo hộ khi

    + Người được bảo hộ phải có quốc tịch quốc gia đó

    + Khi quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm hại

    Chú ý: quốc gia chỉ bảo hộ cho công dân của quốc gia mình, ngoại trừ các nước trong Liên minh châu Âu (EU), khi công dân của 1 nước trong EU bị xâm hại quyền và lợi ích tại 1 quốc gia khác thì có thể đến cơ quan lãnh sự của bất kỳ quốc gia nào trong EU đặt tại quốc gia đó để xin bảo hộ. VD công dân Pháp đi du lịch ở Trung Quốc bị xâm hại, thì có thể đến lãnh sự quán của Pháp, hay của Đức, Anh, Bỉ, Hà Lan, … để xin bảo hộ

    4. Biện pháp bảo hộ công dân

    – Về nguyên tắc, các biện pháp bảo hộ công dân phải là các biện pháp ngoại giao và không liên quan đến sử dụng vũ lực.

    VD: chợ Vòm của người VN ở Nga bị cháy, thì ngay lập tức cơ quan lãnh sự VN ở Nga đến thăm hỏi, trợ cấp, và yêu cầu cơ quan chức năng của Nga khẩn trương tìm nguyên nhân và khắc phục hậu quả.

    VD: khi chiến tranh bùng nổ ở Liby năm 2010, có đến 10.000 người VN đang lao động ở Liby, và cơ quan lãnh sự VN tại Liby đã thuê máy bay để đưa người VN về nước.

    Chú ý: Có quan điểm cho rằng nếu đã dùng tất cả các biện pháp ngoại giao mà vẫn không giải quyết được thì có thể sử dụng vũ lực. Đó là trường hợp năm 1979, khi phong trào chống phương Tây tại Iran đang dâng cao, một nhóm sinh viên Iran quá khích đã bao vây Đại sứ quán Mỹ tại Teheran và có hành vi muốn xâm hại những người Mỹ trong đại sứ quán. Ngay lập tức Mỹ đã sử dụng các biện pháp ngoại giao cần thiết để yêu cầu chính quyền sở tại bảo vệ người Mỹ trong đại sứ quán, tuy nhiên Iran đã không làm gì, thậm chí còn khuyến khích cách sinh viên quá khích. Và kết quả là Mỹ đã điều lực lượng quân đội đến tấn công những kẻ bao vây và đưa những người Mỹ tại tòa đại sứ về nước.

    Hiện nay, quốc tế vẫn tranh luận về vấn đề này. Một phe (gồm Nga và mốt số ít quốc gia khác) cho rằng trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được sử dụng vũ lực vì nó sẽ vi phạm nguyên tắc không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Phe còn lại (hầu hết các quốc gia) cho rằng nếu đã sử dụng tất cả các biện pháp ngoại giao cần thiết mà vẫn không giải quyết được thì có thể sử dụng vũ lực. Tuy nhiên ngay cả Nga cũng vi phạm tuyên bố của mình, đó là vào năm 2014, khi có chính biến tại Ucraina, Nga đã đưa quân đội vào bán đảo Crume lúc đó vẫn thuộc Ucraina với lý do để bảo vệ cho người Nga và người nói tiếng Nga ở Crume, việc Nga đưa quân đội vào lãnh thổ nước khác là vi phạm luật quốc tế.

    Chú ý: việc bảo hộ công dân tuy tuân theo luật quốc tế nhưng mức độ hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào mối quân hệ giữa 2 quốc gia, và vị thế của quốc gia bảo hộ công dân của mình.

    Ví dụ, trong những năm 2000, nước Nga có nạn “đầu trọc” có tư tưởng bài ngoại rất cực đoan, 1 công dân VN sang Nga du học và bị bọn “đầu trọc” giết. Đại sứ quán VN tại Nga đã giúp đỡ để thân nhân người bị hại đưa xác nạn nhân về VN an táng, đồng thời yêu cầu phía Nga nhanh chóng tìm ra thủ phạm và đưa ra xét xử. Ở phiên xét xử thứ nhất, bồi thẩm đoàn tuyên nhóm “đầu trọc” đó vô tội. Đại sứ quán VN tại Nga phản đối quyết định này, bộ Ngoại giao VN cũng gửi công hàm phản đối và yêu cầu phía Nga xét xử lại. Ở phiên phúc thẩm, bồi thẩm đoàn vẫn tuyên vô tội với nhóm “đầu trọc”, do phúc thẩm là chung thẩm (giống luật VN) nên phía VN không thể làm được gì hơn, chấp nhận nhìn kẻ phạm tội không bị trừng phạt. Trong trường hợp này, nếu nạn nhân không phải là người VN mà là người Mỹ, hay thuộc EU thì kết quả phiên tòa có thể sẽ rất khác.

    V. Các chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài

    – Người nước ngoài đồng thời chịu sự điều chỉnh đồng thời của:

    + pháp luật quốc gia sở tại: xuất phát từ chủ quyền quốc gia, quốc gia có toàn quyền đối với mọi cá nhân trong lãnh thổ của mình

    + pháp luật quốc gia mà người đó mang quốc tịch: xuất phát từ tính bền vững và ổn định về không gian của quốc tịch, nên công dân dù có đi đâu cũng được hưởng quyền và nghĩa vụ của quốc gia mà mình mang quốc tịch

    + pháp luật quốc tế

    1. Chế độ đối xử quốc gia (NT – National Treatment)

    – Là chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài, theo đó người nước ngoài được hưởng các quyền và nghĩa vụ ngang bằng với công dân của nước sở tại trong hầu hết các lĩnh vực, chủ yếu liên quan đến các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (tức là bao gồm chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa)

    – Thông thường chỉ có một số hạn chế như không được bầu cử, ứng cử, không được tuyển dụng làm công chức, không được tham gia vào các lĩnh vực như quân sự, an ninh, cơ yếu, Tổng giám đốc các đài phát thanh, truyền hình, Tổng biên tập các báo, tạp chí…

    Chú ý: trước đây, ở các điểm du lịch (như Văn miếu Quốc tử giám, đền Ngọc sơn) có bán vé tham quan cho người VN riêng vào người nước ngoài riêng (giá cao hơn), như vậy là vi phạm chế độ đối xử công bằng với người nước ngoài như với công dân trong nước. (sau này đã bỏ việc bán vé riêng cho người nước ngoài)

    – Đây là chế độ đương nhiên theo thông lệ quốc tế mà không cần bất cứ sự thỏa thuận nào.

    2. Đối xử tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation)

    – Là chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài, theo đó quốc gia sở tại phải dành cho người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ nước mình những quyền và ưu đãi mà quốc gia đang dành cho thể nhân, pháp nhân của bất kỳ quốc gia nào khác trên cơ sở thỏa thuận của các bên.

    – Thông thường chế độ đối xử tối huệ quốc thường được áp dụng trong lĩnh vực thương mại và hàng hải. VD các nước ASEAN hình thành khu vực kinh tế có điều khoản tối huệ quốc, khi đó nếu VN dành cho hàng nông sản của Lào thuế suất nhập khẩu 0% thì cũng sẽ phải dành cho 8 nước còn lại thuế suất nhập khẩu 0%

    – Mục đích của tối huệ quốc là để tạo ra sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa người nước ngoài với nhau đang cư trú trên lãnh thổ 1 quốc gia, nhờ đó thương mại được phát triển

    ==> trong WTO thì tối huệ quốc và đối xử quốc gia là 2 nguyên tắc của sự bình đẳng và tự do hóa thương mại

    – Ngoại lệ:

    + ưu đãi phân chia theo đặc thù quốc gia. Ví dụ: VN và EU ký hiệp định thương mại, trong đó EU dành cho giày dép da VN thuế nhập khẩu ưu đãi là 2%, trong khi đó thì cả EU, VN, và Mỹ đều là thành viên của WTO mà trong đó có điều khoản về tối huệ quốc với nội dung “mỗi bên ký kết phải dành cho bên ký kết kia sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn sự đối xử đã dành cho thể nhân, pháp nhân của bất kỳ bên thứ 3 nào khác”. Khi đó thì EU cũng sẽ phải dành cho Mỹ mức thuế nhập khẩu giầy dép da từ Mỹ là 2%. Tuy nhiên EU viện dẫn do VN là quốc gia có trình độ phát triển thấp nên EU dành cho VN chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập, và Mỹ là nước có trình độ phát triển cao, nên không thể đòi hỏi được đối xử như đối với VN.

    + thỏa thuận của các quốc gia khi kết kết các thỏa thuận thương mại khu vực. Ví dụ: VN và Trung Quốc ký hiệp định thương mại có điều khoản tối huệ quốc, và theo điều khoản này thì nếu VN dành mức thuế nhập khẩu cho hàng hóa từ bất kỳ nước nào như thế nào thì cũng sẽ phải dành cho hàng hóa từ Trung Quốc mức thuế đó. Nhưng VN và 9 nước Asean đều là thành viên của khu vực tự do Asean, và đã thỏa thuận có thể dành cho các nước Asean những ưu đãi đặc biệt mà không dành cho các nước ngoài Asean. Do đó VN có thể dành mức thuế nhập khẩu cho hàng hóa từ Asean thấp hơn mức thuế nhập khẩu của hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.

    3. Đối xử đặc biệt

    – Là chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài, theo đó người nước ngoài được hưởng các quyền mà ngay cả công dân nước sở tại cũng không được hưởng, và không phải gánh chịu trách nhiệm mà trong tình huống tương tự công dân nước sở tại vẫn phải gánh chịu trách nhiệm.

    – Chế độ này chủ yếu áp dụng trong lĩnh vực ngoại giao – lãnh sự

    VD: đại sứ các nước được hưởng các quyền miễn trừ trách nhiệm dân sự, hình sự (như được miễn kiểm tra hành lý khi đi máy bay, nhập cảnh, xuất cảnh)

    Chú ý: Cư trú chính trị không phải là chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài. Bản chất của cư trú chính trị là việc 1 quốc gia cho phép người nước ngoài đang bị truy đuổi tại nước mà họ là công dân vì họ có quan điểm về chính trị, tôn giáo, văn hóa, … không liên quan đến vi phạm PL của nước đó, được cư trú trên lãnh thổ nước mình. Mục đích của chế định cư trú chính trị là tạo điều kiện cho những người đấu tranh vì hòa bình, vì dân chủ, … bị truy đuổi ở nước sở tại được cư trú trên lãnh thổ nước mình. Khi đã cho phép 1 người cư trú chính trị, thì quốc gia đó không có nghĩa vụ phải dẫn độ người đó về quốc gia mà người đó là công dân.

    Chú ý: người xin cư trú chính trị phải không được vi phạm luật pháp tại quốc gia mà họ là công dân, nếu không thì quốc gia nhận cư trú chính trị sẽ phạm vào nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia khác của luật quốc tế. Việc quốc gia đồng ý hay từ chối cho công dân nước khác cư trú chính trị hoàn toàn là quyền của quốc gia đó.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Công pháp quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-cong-phap-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương II

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương II

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương II tập trung vào nguồn của Luật Quốc tế, giúp người học nắm vững các cơ sở pháp lý và tài liệu quan trọng hình thành nên luật pháp quốc tế. Chương này sẽ phân tích các nguồn chính như điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc chung của pháp luật, cùng với các phán quyết và ý kiến của các tổ chức quốc tế. Đây là nền tảng quan trọng để hiểu cách các quy định quốc tế được hình thành, áp dụng và phát triển trong quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức trên toàn cầu.

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương II

    Chương 2: Nguồn của luật Quốc tế

    I. Khái niệm

    1. Định nghĩa

    Nguồn của luật Quốc tế được hiểu là những hình thức chứa đựng hay biểu hiện sự tồn tại của các quy phạm PL quốc tế.

    Chú ý: nguồn của luật Quốc tế có nghĩa rộng hơn so với nguồn của PL quốc gia (trong môn học Lý luận NN và PL): nguồn trong luật quốc gia chỉ là những hình thức chứa đựng các quy phạm PL, còn nguồn trong luật Quốc tế không chỉ là những hình thức chứa đựng các quy phạm PL luật Quốc tế mà còn gồm cả những biểu hiện sự tồn tại của các quy phạm PL luật Quốc tế (hay còn gọi là những phương tiện bổ trợ nguồn).

    Câu hỏi: Phương tiện bổ trợ nguồn có phải là nguồn của PL không ?

    Trả lời: nếu với luật quốc gia thì là KHÔNG; nếu với luật quốc tế thì là CÓ

    2. Căn cứ để xác định nguồn

    II. Cấu trúc nguồn của luật Quốc tế

    Nguồn của luật Quốc tế:

    Nguồn cơ bản:

    • Điều ước quốc tế (nguồn thành văn)
    • Tập quán quốc tế (nguồn bất thành văn)

    Nguồn bổ trợ / Phương tiện bổ trợ nguồn:

    • Nguyên tắc PL chung
    • Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế
    • Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ
    • Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
    • Các học thuyết của các học giả nổi tiếng về luật quốc tế

    1. Điều ước quốc tế

    a. Khái niệm

    – Là thỏa thuận bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật Quốc tế trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ mối quan hệ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể đó. (theo Công ước Viên 1969 về Điều ước quốc tế)

    – Là loại nguồn cơ bản và chủ yếu của luật Quốc tế

    b. Đặc điểm

    Về hình thức:

    • Về nguyên tắc, điều ước quốc tế phải tồn tại dưới dạng văn bản, nhưng có 1 ngoại lệ duy nhất, đó là Điều ước quốc tế Quân tử có thể tồn tại dưới dạng bất thành văn. (điều ước Quân tử chỉ tồn tại sau chiến tranh thế giới, đến nay hầu như không còn, điều ước Quân tử thường là các cam kết của các quốc gia sau chiến tranh, các quốc gia đó cho rằng khi các quốc gia ký kết điều ước quốc tế thì các quốc gia đó sẽ bằng danh dự và uy tín của quốc gia mình mà tôn trọng và thực thi các điều ước quốc tế đó, và việc này không cần phải ký kết bằng văn bản)
    • Điều ước quốc tế là 1 khái niệm chung (tương tự Văn bản luật trong hệ thống luật Quốc gia), tùy vào từng trường hợp cụ thể mà điều ước quốc tế sẽ có tên gọi phù hợp: với điều ước để thành lập các tổ chức quốc tế hay các cơ quan tài phán quốc tế thì sẽ có tên Hiến chương, Điều lệ, Quy chế; với điều ước quốc tế về phân định biên giới, lãnh thổ thì sẽ có tên là Hiệp định, Công ước; nghị định thư, … Tuy nhiên, khác với quy định về tên gọi văn bản luật trong hệ thống luật quốc gia vốn được quy định rất rõ (hiến pháp, luật, nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị …), thì với luật quốc tế không có bất kỳ quy định nào về việc đặt tên cho điều ước, việc đặt tên đó hoàn toàn do các bên thỏa thuận.
    • Tên gọi của điều ước quốc tế không có giá trị phân định giá trị pháp lý cao hay thấp của điều ước quốc tế (điều này khác với tên văn bản luật trong luật quốc gia)
    • Một điều ước quốc tế thông thường được kết cấu 3 phần: mở đầu, nội dung, kết luận. Phần nội dung của điều ước quốc tế gồm các điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Cũng có trường hợp nội dung của điều ước quốc tế không bao gồm bất cứ điều khoản nào, ví dụ Tuyên bố thành lập tổ chức ASEAN

    Về nội dung:

    Nội dung của điều ước quốc tế thông thường bao gồm các điều, khoản ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

    Nội dung khác: thời điểm bắt đầu phát sinh hiệu lực, thời điểm chấm dứt hiệu lực, có cho bảo lưu không, có được mời các quốc gia khác gia nhập không, …

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương II
    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương II

    c. Điều kiện để điều ước quốc tế có thể phát sinh hiệu lực

    Điều ước quốc tế phải thỏa mãn đủ 3 điều kiện sau thì mới phát sinh hiệu lực:

    (1) Được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng

    (2) Nội dung của điều ước quốc tế phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế

    (3) Phải được ký kết đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền

    Điều ước quốc tế sẽ vô hiệu tuyệt đối nếu vi phạm điều kiện (2). Tức là nếu điều ước quốc tế vi phạm các quy phạm jus cogens thì sẽ bị vô hiệu ngay từ khi nó phát sinh hiệu lực. Còn nếu điều ước quốc tế đã có rồi, sau đó mới có quy phạm jus cogens và chúng mâu thuẫn với nhau thì điều ước quốc tế sẽ vô hiệu kể từ thời điểm quy phạm jus cogens có hiệu lực.

    Nếu vi phạm điều kiện (1) hoặc (3) thì điều ước quốc tế sẽ vô hiệu tương đối. Tức là vẫn được coi là có hiệu lực nếu các bên vẫn đồng ý thực thi.

    Chú ý: trình tự, thủ tục, và thẩm quyền ở đây là những quy định trong luật quốc gia khi quy định về việc tham gia ký kết các điều ước quốc tế (mỗi quốc gia có thể có quy định khác nhau).

    d. Trình tự ký kết điều ước quốc tế

    Trải qua 2 giai đoạn:

    – Giai đoạn hình thành văn bản điều ước, gồm các bước:

    + B1: đàm phán: các bên thỏa thuận, thương lượng về tất cả các nội dung về diều ước, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các bên, hiệu lực áp dụng, thời hạn, thời hiệu …

    + B2: soạn thảo: có 2 cách: các bên sau khi đàm phán sẽ nhờ bên thứ 3 chuyên soạn thảo điều ước quốc tế; hoặc các bên sẽ cùng nhau lập ra 1 ban soạn thảo gồm đại diện của mỗi bên; hoặc 1 trong các bên soạn dự thảo sẵn điều ước và các bên còn lại sẽ đàm phán trên dự thảo đó

    + B3: thông qua: là thủ tục nhằm xác nhận văn bản điều ước đã phản ánh đúng nội dung mà các bên đã đàm phán. Hành vi thông qua không thể hiện sự ràng buộc của điều ước quốc tế đối với quốc gia mình, tuy nhiên không bên nào được tự ý sửa đổi bổ sung vào văn bản đó. Việc thông qua theo tỷ lệ như thế nào (quá bán, quá 2/3, …) hoàn toàn do các bên thỏa thuận.

    Các bên thể hiện sự thông qua bằng cách ký nháy vào từng tờ của văn bản.

    – Giai đoạn xác nhận sự ràng buộc của văn bản điều ước đối với quốc gia mình: thông qua các hành vi:

    + ký, có 3 hình thức ký:

    • Ký tắt: là chữ ký của đại diện các bên khi tham gia đàm phán xây dựng văn bản điều ước, nhằm xác nhận dự thảo văn bản điều ước quốc tế đã được thông qua. Ký tắt chưa làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế.
    • Ký ad referendum: cũng là chữ ký của người đại diện các quốc gia, nhưng có thể làm phát sinh hiệu lực của điều ước quốc tế nếu có sự đồng ý tiếp theo của cơ quan NN có thẩm quyền của quốc gia đó (khi đó chữ ký ad referendum sẽ trở thành ký đầy đủ)
    • Ký đầy đủ (hay ký chính thức): là hình thức ký phổ biến nhất. Thông thường điều ước quốc tế sẽ phát sinh hiệu lực ngay sau khi ký đầy đủ nếu các bên không có thỏa thuận khác, hoặc nếu điều ước quốc tế không đòi hỏi phải thông qua thủ tục phê chuẩn hoặc phê duyệt

    + phê chuẩn, phê duyệt điều ước: là hành vi của cơ quan NN có thẩm quyền nhằm xác nhận sự ràng buộc của văn bản điều ước đối với quốc gia mình.

    Chú ý: phê chuẩn = phê duyệt , khác nhau ở thẩm quyền thực hiện:

    Phê chuẩn: do cơ quan quyền lực NN thực hiện (Nghị viện, Quốc hội)

    Phê duyệt: do Chính phủ thực hiện

    ==> tùy từng tính chất của điều ước quốc tế mà sẽ cần được phê chuẩn hoặc phê duyệt

    Chú ý: không phải mọi điều ước quốc tế đều phải yêu cầu thủ tục phê chuẩn, phê duyệt, điều này được quy định ngay trong nội dung điều ước. Có những điều ước quốc tế có hiệu lực ngay sau khi các bên ký đầy đủ. Nếu trong nội dung điều ước có yêu cầu các bên phải phê chuẩn, phê duyệt thì thông thường điều ước quốc tế sẽ có hiệu lực sau khi các bên trao đổi với nhau Thư phê chuẩn / Thư phê duyệt.

    + gia nhập điều ước quốc tế: là 1 hình thức đặc biệt của quá trình ký kết điều ước quốc tế, mà theo hình thức này thì các quốc gia không tham gia vào quá trình hình thành văn bản điều ước mà chỉ tham gia vào quá trình xác nhận sự ràng buộc của văn bản điều ước quốc tế đó đối với mình.

    Đó là các trường hợp điều ước quốc tế đã hết thời hạn ký mà quốc gia đó vẫn chưa là thành viên, hoặc điều ước quốc tế đã phát sinh hiệu lực mà quốc gia đó vẫn chưa là thành viên

    Chú ý: ký >< ký kết

    Ký: là 1 hành vi trong giai đoạn xác nhận sự ràng buộc của văn bản điều ước quốc tế với quốc gia mình, tức là chỉ là 1 giai đoạn của ký kết.

    Ký kết: là toàn bộ quá trình trên

    e. Thẩm quyền ký kết điều ước quốc tế

    Gồm 2 nhóm:

    – Đại diện đương nhiên:

    + nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu Chính phủ, bộ trưởng ngoại giao có quyền là đại diện đương nhiên cho quốc gia, thực hiện bất kỳ hành vi nào trong toàn bộ quá trình ký kết điều ước quốc tế

    + người đứng đầu các cơ quan đại diện ngoại giao có quyền đại diện cho quốc gia mình trong việc thông qua văn bản điều ước quốc tế giữa nước sở tại với nước mình.

    + người đại diện cho quốc gia tại các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế có quyền đại diện cho quốc gia mình trong việc thông qua văn bản của 1 điều ước quốc tế trong khuôn khổ của hội nghị hoặc tổ chức đó

    Ngoài ra, những người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ có quyền ký kết những điều ước quốc tế thuộc lĩnh vực của bộ, ngành mà không cần thư ủy nhiệm.

    – Đại diện theo ủy quyền: ngoài các đối tượng trên thì phải trình thư ủy nhiệm khi tham gia vào quá trình ký kết điều ước quốc tế

    f. Hiệu lực của điều ước quốc tế

    – Về thời điểm điều ước quốc tế bắt đầu phát sinh hiệu lực: theo thỏa thuận của các bên

    – Thời điểm chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế:

    + với điều ước quốc tế có thời hạn: chấm dứt hiệu lực theo thời hạn đã thỏa thuận

    + với điều ước quốc tế vô thời hạn: chấm dứt hiệu lực khi xảy ra 1 số yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước quốc tế

    • Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu lực của điều ước quốc tế:
      • Khi đối tượng của điều ước quốc tế không còn. Ví dụ điều ước về đối xử nhân đạo với tù binh trong chiến tranh sẽ kết thúc khi chiến tranh kết thúc; điều ước giữa Hoa Kỳ với Việt Nam về tìm kiếm người Mỹ mất tích sẽ kết thúc sau khi tìm thấy hết người Mỹ mất tích
      • Khi xuất hiện sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh khách quan (rebussic stantibus) (khoản 2 Điều 62 Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế): theo đó khi có sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh khách quan tại thời điểm các bên thực hiện nghĩa vụ điều ước so với thời điểm các bên tiến hành ký kết mà hoàn cảnh này lại là cơ sở, điều kiện để các bên có thể thực hiện nghĩa vụ của mình. Sự thay đổi đó hoàn toàn do nguyên nhân khách quan, không do bên nào cố tình tạo ra và các bên cũng không thể dự liệu trước sự thay đổi đó tại thời điểm ký kết. Khi đó 1 trong các bên có quyền viện dẫn sự thay đổi này để chấm dứt hoặc tạm đình chỉ hiệu lực của điều ước.

    Ví dụ: khi quốc gia thay đổi chế độ, VD khi chế độ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975, hay VN tuyên bố độc lập năm 1945, Liên Xô sụp đổ 1991

    Lưu ý: sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh khách quan không được áp dụng nếu:

    • Sự thay đổi đó do 1 trong các bên cố tình tạo ra
    • Không được áp dụng đối với các điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ
      • Khi xuất hiện quy phạm jus cogens mới có nội dung mâu thuẫn với điều ước quốc tế.
    • Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến điều ước quốc tế:
      • Các bên thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế
      • Khi 1 trong các bên có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của điều ước quốc tế thì bên còn lại có thể viện dẫn sự vi phạm đó để từ chối thực hiện cam kết quốc tế của mình
      • Bảo lưu điều ước quốc tế: là hành vi pháp lý đơn phương của 1 quốc gia dưới bất kể cách thức hay tên gọi như thế nào nhằm thay đổi hiệu lực của 1 hoặc 1 số điều khoản của điều ước quốc tế.

    Mục đích của bảo lưu: thông thường với 1 điều ước quốc tế (đa phương) thì càng muốn nhiều quốc gia tham gia càng tốt, tuy nhiên càng nhiều quốc gia tham gia thì việc dung hòa lợi ích quốc gia càng khó khăn. Do đó vừa để đảm bảo giá trị của điều ước mà vẫn đảm bảo lợi ích quốc gia, chế định bảo lưu xuất hiện, đảm bảo 1 quốc gia vì lợi ích riêng của mình có thể thay đổi 1 hoặc 1 số điều khoản của điều ước.

    Lưu ý:

    • Bảo lưu điều ước quốc tế chỉ áp dụng đối với điều ước quốc tế đa phương, không áp dụng đối với điều ước quốc tế song phương
    • Hành vi bảo lưu của quốc gia chỉ được đưa ra vào giai đoạn xác nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế mà không được đưa ra vào giai đoạn hình thành văn bản điều ước. (Vì ở giai đoạn hình thành văn bản điều ước thì các bên vẫn có thể đàm phán nội dung điều ước; còn ở giai đoạn xác nhận sự ràng buộc của điều ước tức là đã thông qua văn bản điều ước và các bên không có quyền thay đổi nội dung điều ước)
    • Bảo lưu là quyền của quốc gia khi tham gia các điều ước quốc tế, nhưng quyền này có thể bị hạn chế trong các trường hợp sau:
      • Đối với điều ước quốc tế có quy định cấm bảo lưu
      • Điều ước quốc tế cho phép bảo lưu 1 số điều khoản nhưng điều khoản bảo lưu quốc gia đưa ra không nằm trong những điều khoản đó
      • Bảo lưu trái với đối tượng và mục đích của điều ước
    • Hệ quả pháp lý của bảo lưu điều ước quốc tế: quan hệ giữa các thành viên của 1 điều ước sẽ thay đổi trong phạm vi có bảo lưu.

    Ví dụ, trong 1 điều ước quốc tế đa phương về vấn đề an ninh, trong đó có điều khoản “trong trường hợp trong lãnh thổ các quốc gia thành viên mà phát hiện 1 cá nhân phạm tội ác quốc tế thì các quốc gia có nghĩa vụ dẫn độ quốc gia đó đến Tòa án hình sự quốc tế để xét xử”. Quốc gia A đưa ra điều kiện bảo lưu điều ước “Tôi cam kết sẽ dẫn độ cá nhân phạm tội ác quốc tế ra Tòa án hình sự quốc tế để xét xử, trừ trường hợp cá nhân đó là công dân của nước tôi”, tức là chỉ đồng ý dẫn độ công dân nước khác đến tòa án quốc tế, còn với công dân của mình thì sẽ xét xử bằng hệ thống tòa án và luật pháp của quốc gia A. Khi đó các quốc gia khác có thể:

    • Quốc gia B: Đồng ý để quốc gia đó bảo lưu: quan hệ điều ước giữa A và B vẫn tồn tại, khi phát sinh vấn đề quan hệ giữa A và B về dẫn độ tội phạm thì sẽ áp dụng điều khoản do A đưa ra thay cho điều khoản trong điều ước.
    • Quốc gia C: Phản đối bảo lưu, phản đối quan hệ điều ước: giữa C và A sẽ không tồn tại quan hệ điều ước
    • Quốc gia D: Phản đối bảo lưu, nhưng không phản đối quan hệ điều ước: giữa D và A vẫn tồn tại quan hệ điều ước, nhưng với điều khoản bảo lưu do A đưa ra sẽ không được áp dụng, khi vấn đề phát sinh thì A và D sẽ cùng đàm phán để giải quyết.
    • Quốc gia E: Im lặng: các quốc gia được phép im lặng trong 12 tháng kể từ ngày A đưa ra tuyên bố bảo lưu, nếu không có ý kiến thì được coi là đồng ý

    – Hiệu lực của điều ước quốc tế đối với bên thứ 3: về nguyên tắc, điều ước quốc tế chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên là thành viên của điều ước mà không có hiệu lực đối với quốc gia thứ 3. Tuy nhiên trong 1 số trường hợp đặc biệt, điều ước quốc tế có thể phát sinh hiệu lực đối với bên thứ 3, bao gồm:

    + điều ước quốc tế tạo ra quyền và nghĩa vụ cho bên thứ 3 và được bên thứ 3 đồng ý

    + điều ước quốc tế tạo ra hoàn cảnh khách quan: ví dụ trường hợp Công ước về luật biển quốc tế 1982, dù không phải tất cả các quốc gia đều là thành viên của Công ước, nhưng trong Công ước đó đưa ra những quy định về vùng biển quốc tế, và các quốc gia không tham gia Công ước có thể áp dụng. Ví dụ 2 quốc gia có cùng 1 eo biển ký kết với nhau về sử dụng eo biển đó, khi đó tàu thuyền các quốc gia đó đi qua eo biển đó cũng phải tuân thủ quy định do 2 quốc gia đó đưa ra. Ví dụ các quốc gia ký kết với nhau về phân chia Nam cực (chỉ có 1 số ít quốc gia được chia Nam cực) và tất cả các quốc gia khác phải tôn trọng.

    + điều ước quốc tế chứa đựng điều khoản tối huệ quốc: là về vấn đề quốc gia đãi ngộ người nước ngoài, có 2 nhóm chế độ:

    • Đãi ngộ quốc gia: tạo sự bình đẳng giữa người nước ngoài với công dân trong nước, người nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia được đối xử như với công dân của nước mình, trừ 1 số quyền như ứng cử, bầu cử.
    • Đãi ngộ tối huệ quốc: quốc gia A dành cho quốc gia B khác quy chế tối huệ quốc tức là A cam kết B sẽ được hưởng những quyền lợi và ưu đãi không kém phần thuận lợi hơn bất kỳ 1 quốc gia thứ 3 nào đã, đang, và sẽ được hưởng trong tương lai

    g. Thực hiện điều ước quốc tế

    Có 2 cách:

    – Áp dụng trực tiếp: coi văn bản điều ước như PL quốc gia và được áp dụng luôn (cách này ít khi được các quốc gia sử dụng). VD Nghị quyết 71 của Quốc hội năm 2006 về phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO, trong đó ghi rõ (đây cũng là trường hợp duy nhất đến nay VN áp dụng trực tiếp PL quốc tế):

          “Áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này và các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới.

           Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm.”

    – Nội luật hóa: trên cơ sở các nghĩa vụ đã cam kết trong điều ước quốc tế, quốc gia ban hành văn bản quy phạm PL trong nước để thực hiện các nghĩa vụ của mình (hầu hết các quốc gia chọn cách này).

    2. Tập quán quốc tế

    – Là những quy tắc xử sự hình thành trong thực tiễn đời sống PL quốc tế, được các quốc gia và các chủ thể khác của luật Quốc tế áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần và được thừa nhận là luật.

    – Để được coi là tập quán quốc tế, cần có 2 yếu tố:

    + vật chất: phải có quy tắc xử sự tồn tại trong thực tiễn đời sống PL quốc tế và quy tắc đó được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần

    + tinh thần: được hầu hết các quốc gia và các chủ thể PL quốc tế thừa nhận đó là luật

    VD: + sứ thần (đoàn ngoại giao) của nước này đến nước khác sẽ được đón tiếp trọng thị, không được chém, đánh sứ giả; hành vi chém sứ thần được coi là hành vi tuyên chiến. Cho đến nay quy tắc này vẫn được tiếp tục ghi nhận và được pháp điển hóa vào Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự.

    + Tàu thuyền nước ngoài có thể đi lại không gây hại qua vùng lãnh hải của 1 quốc gia mà không cần xin phép

    Câu hỏi: điều kiện “được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần” là bao nhiêu lần ? và “được hầu hết các quốc gia công nhận” là bao nhiêu quốc gia thì đủ ?

    Trả lời: theo quan điểm trước kia thì để hình thành 1 tập quán quốc tế cần phải trải quan vài chục đến hàng trăm năm. Còn theo quan điểm của PL quốc tế hiện đại thì con đường hình thành tập quán quốc tế ngắn hơn rất nhiều, chỉ cần thấy 1 quy định trong 1 điều ước nào đó, hoặc phán quyết của tòa án quốc tế, hoặc hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia, … mà chủ thể thấy phù hợp thì có thể viện dẫn như một tập quán.

    – Mối quan hệ điều ước quốc tế và tập quán quốc tế: quan hệ biện chứng và tác động qua lại với nhau

    + điều ước quốc tế có thể là cơ sở cho sự hình thành tập quán quốc tế, ngược lại tập quán quốc tế cũng có thể là cơ sở cho việc hình thành điều ước quốc tế

    + điều ước quốc tế có thể chấm dứt hiệu lực của tập quán quốc tế (VD các bên có thể thỏa thuận xác lập điều ước không áp dụng tập quán), và ngược lại tập quán có thể chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế (rất ít khi xảy ra, thường là trường hợp tập quán hình thành nên quy phạm jus cogens, ngay khi quy phạm jus cogens có hiệu lực thì tất cả các điều ước quốc tế có nội dung trái với quy phạm jus cogens sẽ chấm dứt hiệu lực. VD quy phạm “Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” là quy phạm jus cogens mới hình thành từ năm 1945, trước đó luật quốc tế cổ đại có quy phạm jus cogens về quyền được sử dụng chiến tranh “Bất kỳ quốc gia nào cũng có quyền sử dụng sức mạnh vũ trang để giải quyết mọi tranh chấp liên quan đến mình”)

    – So sánh điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế:

    Điều ước quốc tếTập quán quốc tế
    Cùng là nguồn cơ bản của luật quốc tế, có giá trị pháp lý ngang nhau
    Thành vănBất thành văn
    Rõ ràng, minh bạch (vì phải trải qua quá trình đàm phán giữa các bên, thể hiện được ý chí của các bên)Không rõ ràng, ít minh bạch
    Hình thành nhanh chóngRất lâu
    Có thể dễ dàng sửa đổi, bổ sungRất khó để thay đổi
    Đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đã chứng tỏ sự phù hợp với thực tiễn, khả năng ứng dụng rất cao

    Câu hỏi: Khi gặp 1 vấn đề mà cả điều ước và tập quán đều điều chỉnh, mà điều ước lại mâu thuẫn với tập quán, thì sẽ áp dụng thế nào ?

    Trả lời: sẽ theo thỏa thuận của các bên, nếu 2 bên không thỏa thuận được thì sẽ ưu tiên áp dụng điều ước. Vì điều ước có tính rõ ràng, minh bạch thể hiện được ý chí của các bên.

    Chú ý: ở đây hiểu là điều ước quốc tế được “ưu tiên sử dụng” chứ không phải điều ước quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn.

    3. Nguồn bổ trợ / Phương tiện bổ trợ nguồn của luật Quốc tế

    a. Nguyên tắc PL chung

    – là những nguyên tắc PL mà cả luật Quốc tế và luật quốc gia đều thừa nhận.

    VD: gây thiệt hại thì phải bồi thường, luật không có giá trị hồi tố, không ai phải là thẩm phán trong vụ việc của chính mình, …

    b. Phán quyết của tòa án công lý quốc tế

    – Tòa án công lý quốc tế  (International Court of Justice – ICJ) có chức năng đưa ra các kết luận tư vấn để các bên tham vấn, không mang tính chất cưỡng chế như đối với tòa án trong quốc gia.

    Phán quyết của tòa án quốc tế là đưa các các giải thích pháp luật để từ đó các bên có thể căn cứ để áp dụng trong các tranh chấp.

    – Các quốc gia và các chủ thể không có quyền yêu cầu Tòa án công lý đưa ra các kết luận tư vấn, thẩm quyền yêu cầu thuộc về Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an Liên hợp quốc

    – Ngoài Tòa án công lý thì phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế khác cũng được coi là nguồn bổ trợ. VD Tòa án Trọng tài La Hague về tranh chấp giữa CHND Trung Hoa và CH Philippines năm 2016 về tranh chấp tại biển Đông. (tòa án này được thành lập theo Phụ lục 7 của Công ước Liên hợp quốc về luật Biển, không giải quyết tranh chấp Trung Quốc và Philipin, mà Philipin yêu cầu Tòa trọng tài giải thích thế nào là đảo, thế nào là đá, việc bồi đắp có làm thay đổi tính chất các thực thể đó không, giải thích về đường lãnh hải, về chủ quyền về lãnh hải, quyền lịch sử, …)

    c. Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ

    Gồm 2 loại Nghị quyết:

    – Loại có tính bắt buộc: có giá trị pháp lý ràng buộc với tất cả các quốc gia thành viên của tổ chức đó

    – Loại mang tính khuyến nghị: VD nghị quyết về bảo vệ môi trường

    d. Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia

    – Ví dụ: tiêu chuẩn về môi trường quốc tế hầu hết xuất phát từ tiêu chuẩn về môi trường của các quốc gia phát triển, được các quốc gia khác học theo và được pháp điển hóa, được ghi nhận trong các điều ước quốc tế

    e. Các học thuyết của các học giả nổi tiếng về luật quốc tế

    – VD: học thuyết về Tự do biển cả

    – Các học thuyết được thừa nhận, được áp dụng trong thực tế, và được pháp điển hóa, được ghi nhận trong các điều ước quốc tế.

    3. Mối quan hệ giữa nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ

    Câu hỏi trắc nghiệm: các câu khẳng định sau là Đúng / Sai:

    (1) Chủ quyền quốc gia là yếu tố cơ bản cấu thành nên quốc gia

    (2) Trong 1 số trường hợp đặc biệt, cá nhân, pháp nhân có thể trở thành chủ thể của luật Quốc tế

    (3) Điều ước quốc tế chỉ có thể phát sinh hiệu lực sau khi các quốc gia tiến hành thủ tục phê chuẩn

    (4) Điều ước quốc tế chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các quốc gia thành viên mà không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với quốc gia thứ 3

    (5) Quy phạm tùy nghi không có giá trị pháp lý bắt buộc đối với chủ thể của luật Quốc tế

    Trả lời:

    (1) Sai. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị, pháp lý tự nhiên, vốn có của quốc gia, bao gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế.

    Bốn yếu tố cấu thành nên quốc gia gồm:

    + có lãnh thổ xác định

    + có dân cư ổn định

    + có bộ máy quyền lực NN (chính phủ)

    + có khả năng độc lập khi tham gia vào các quan hệ PL quốc tế

    ==> Do đó chủ quyền quốc gia không phải yếu tố cơ bản cấu thành nên quốc gia

    (2) Sai. Một thực thể được coi là chủ thể của luật Quốc tế nếu thỏa mãn các yếu tố:

    + có tham gia vào các quan hệ PL quốc tế

    + có quyền và khả năng gánh vác nghĩa vụ quốc tế một cách độc lập

    + có khả năng gánh vác các trách nhiệm pháp lý quốc tế phát sinh từ chính hành vi của chủ thể đó

    Mặc dù trong một số trường hợp đặc biệt, cá nhân, pháp nhân có thể tham gia vào quan hệ PL quốc tế, VD trong liên minh châu Âu thì công dân có quyền kiện bất kỳ quốc gia nào bị coi là vi phạm nhân quyền, tuy nhiên cá nhân, pháp nhân này không được coi là chủ thể của PL quốc tế vì không đảm bảo khả năng gánh vác nghĩa vụ quốc tế một cách độc lập.

    Chủ thể của luật Quốc tế bao gồm:

    + các quốc gia

    + các tổ chức quốc tế liên chính phủ

    + các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết

    + một số chủ thể đặc biệt: Hồng Kông, Macau, Đài Loan, tòa thánh Vatican, …

    (3) Sai. Theo Công ước Viên 1969 về điều ước quốc tế thì hiệu lực của điều ước quốc tế do các bên thỏa thuận, có thể ngay sau khi ký đầy đủ, hoặc phải yêu cầu được phê chuẩn / phê duyệt

    (4) Sai. Về nguyên tắc, điều ước quốc tế chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên là thành viên của điều ước mà không có hiệu lực đối với quốc gia thứ 3. Tuy nhiên trong 1 số trường hợp đặc biệt, điều ước quốc tế có thể phát sinh hiệu lực đối với bên thứ 3, bao gồm:

    + điều ước quốc tế tạo ra quyền và nghĩa vụ cho bên thứ 3 và được bên thứ 3 đồng ý

    + điều ước quốc tế tạo ra hoàn cảnh khách quan

    + điều ước quốc tế chứa đựng điều khoản tối huệ quốc

    (5) Sai. Vì quy phạm tùy nghi trong luật quốc tế là những quy phạm PL có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các chủ thể luật Quốc tế, nhưng trong giới hạn cho phép thì các chủ thể có thể thỏa thuận và áp dụng khác.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Công pháp quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-cong-phap-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương I

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương I

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương I cung cấp cái nhìn tổng quan về khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của Luật Quốc tế. Chương này giúp người học hiểu rõ bản chất, vai trò và tầm quan trọng của Luật Quốc tế trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế. Đồng thời, bài giảng còn khám phá quá trình hình thành và những bước phát triển chính của Luật Quốc tế qua các giai đoạn lịch sử, từ khi xuất hiện các quy tắc sơ khai đến hệ thống pháp luật toàn cầu ngày nay.

    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương I

    Chương 1: Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của Luật Quốc tế

    I. Khái niệm

    1. Định nghĩa

    NN ra đời để thực hiện 02 chức năng:

    • Đối nội: thực hiện các chức năng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân, giữa cá nhân với NN trong phạm vi lãnh thổ quốc gia ==> sử dụng hệ thống PL quốc gia
    • Đối ngoại: quan hệ với các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế ==> sử dụng hệ thống PL quốc tế

    ĐN: Công pháp Quốc tế, hay Luật Quốc tế được hiểu là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm PL do các quốc gia và các chủ thể khác của luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng nên trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể đó trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế.

    2. Các đặc trưng cơ bản của luật Quốc tế

    a. Về đối tượng điều chỉnh

    Luật Quốc tế chỉ điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia và các chính phủ, không điều chỉnh các mối quan hệ giữa các cá nhân và pháp nhân có yếu tố nước ngoài.

    VD: người VN kết hôn với người nước ngoài, doanh nghiệp VN ký kết hợp đồng với doanh nghiệp nước ngoài đều không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Quốc tế (mà thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình, luật thương mại, ở mục có yếu tố nước ngoài)

    Chú ý: trong một số trường hợp đặc biệt thì cá nhân hay pháp nhân có thể tham gia vào quan hệ PL luật Quốc tế, VD trong liên minh EU cho phép cá nhân có quyền khởi kiện các quốc gia, chẳng hạn khi quốc gia đó không đảm bảo quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên cá nhân hay pháp nhân đó không được coi là chủ thể của luật Quốc tế

    b. Về chủ thể

    Một thực thể được coi là chủ thể của luật Quốc tế nếu thỏa mãn các yếu tố:

    • Có tham gia vào các quan hệ PL quốc tế
    • Có quyền và khả năng gánh vác nghĩa vụ quốc tế một cách độc lập
    • Có khả năng gánh vác các trách nhiệm pháp lý quốc tế phát sinh từ chính hành vi của chủ thể đó

    Chủ thể của luật Quốc tế bao gồm:

    • Các quốc gia
    • Các tổ chức quốc tế liên chính phủ
    • Các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết
    • Một số chủ thể đặc biệt: Hồng Kông, Macau, Đài Loan, tòa thánh Vatican, …

    (1) Chủ thể: Quốc gia

    Là chủ thể cơ bản và chủ yếu của luật Quốc tế

    Một thực thể được coi là 1 quốc gia khi có đủ 04 yếu tố:

    • Có lãnh thổ xác định
    • Có dân cư ổn định
    • Có bộ máy quyền lực NN (chính phủ)
    • Có khả năng độc lập khi tham gia vào các quan hệ PL quốc tế

    Chủ quyền quốc gia: là thuộc tính chính trị, pháp lý tự nhiên, vốn có của quốc gia, bao gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế.

    Tức là khi đã là quốc gia thì sẽ có chủ quyền, được thể hiện qua 2 khía cạnh:

    • Quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ: quốc gia có toàn quyền thiết lập thể chế chính trị, chế độ xã hội, có toàn quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong phạm vi lãnh thổ của mình mà không bị các quốc gia khác tác động
    • Quyền độc lập trong quan hệ quốc tế: có toàn quyền trong việc quyết định sẽ quan hệ với ai, ký kết các điều ước quốc tế nào, ở lĩnh vực nào, mức độ đến đâu, … hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào ý chí của quốc gia đó mà không bị tác động của bên ngoài

    Chú ý: chủ quyền dân tộc là khái niệm hẹp hơn so với chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc là việc dân tộc tự quyết định vận mệnh của mình.

    Chú ý: Đài Loan không phải là quốc gia vì Đài Loan không có lãnh thổ xác định (về mặt pháp lý thì đảo Đài Loan vẫn thuộc về Trung Quốc), mặc dù 3 yếu tố còn lại đều đáp ứng.

    Đôi khi vẫn gặp thông tin “Vatican là quốc gia nhỏ nhất thế giới”, tuy nhiên thực chất Vatican không phải là 1 quốc gia, vì không có lãnh thổ xác định (vẫn thuộc Italia). Mặt khác, dân cư Vatican không ổn định, vì khi 1 người từ 1 quốc gia đến Vatican làm việc (VD mục đích tôn giáo) thì ngay lập tức họ được cấp quốc tịch Vatican trong khi quốc tịch của họ vẫn còn, và khi kết thúc công việc, họ rời khỏi Vatican thì ngay lập tức cũng không còn quốc tịch Vatican. Ngoài ra Vatican cũng không có bộ máy quyền lực NN, mà chỉ có các thiết chế tôn giáo. Tuy nhiên Vatican vẫn có tư cách độc lập khi tham gia vào các quan hệ PL quốc tế.

    Chú ý: vấn đề công nhận quốc gia. Hiện vẫn còn có tranh luận về việc 1 thực thể đáp ứng đầy đủ 4 yếu tố trên thì có được coi là quốc gia không, việc không được các quốc gia khác công nhận sẽ ra sao (VD trường hợp VN năm 1945 chưa được quốc gia nào công nhận, đến tận năm 1979 mới được gia nhập Liên hợp quốc) ? Hiện có 2 học thuyết:

    • Thuyết Cấu thành: 1 thực thể khi đã có đủ 4 yếu tố trên sẽ trở thành 1 quốc gia khi được hầu hết các quốc gia khác công nhận
    • Thuyết Tuyên bố: 1 thực thể đáp ứng đủ 4 yếu tố trên thì sẽ thành 1 quốc gia, không cần biết các quốc gia khác có công nhận hay không (quan điểm của VN theo thuyết Tuyên bố)
    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương I
    Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương I

    Công nhận: là hành vi chính trị pháp lý của quốc gia nhằm công nhận chủ thể mới ra đời của luật Quốc tế, thể hiện quan điểm muốn thiết lập quan hệ một cách toàn diện và đầy đủ với chủ thể / quốc gia đó.

    Tính chính trị và tính pháp lý của việc công nhận quốc gia thể hiện ở:

    Việc công nhận hay không công nhận 1 quốc gia không có ý nghĩa quyết định tới tư cách chủ thể luật Quốc tế của quốc gia mới ra đời. (==> tính pháp lý)

    Tuy nhiên việc không được công nhận sẽ có ảnh hưởng đến việc quan hệ quốc tế của quốc gia đó. VD trường hợp VN do không được công nhận nên không thể tham gia Liên hợp quốc (cho đến năm 1979, trước đó VN được xếp vào nhóm “các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết”)

    Việc 1 quốc gia mới ra đời cũng không đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia đã tồn tại phải tiến hành công nhận quốc gia đó. (==> tính chính trị)

    ==> việc 1 quốc gia công nhận 1 quốc gia khác (mới thành lập) phụ thuộc vào lợi ích của việc công nhận quốc gia đó (nếu tôi công nhận anh thì tôi sẽ được lợi gì và có thể có bất lợi gì)

    VD với trường hợp Đài Loan hiện nay, rất nhiều quốc gia đã công nhận Đài Loan là 1 quốc gia (các quốc gia phương Tây), trong khi cũng có nhiều quốc gia khác không coi Đài Loan là 1 quốc gia (các quốc gia chịu ảnh hưởng của Trung Quốc như VN, Lào, Campuchia, …)

    Các thể loại công nhận: 2 thể loại

    • Công nhận quốc gia: quốc gia được thành lập theo 2 con đường:
    • Cách cổ điển: có 1 vùng lãnh thổ, con người đến ở, xã hội hình thành và phát triển đến mức thành lập quốc gia. (Hiện nay thì không còn quốc gia nào hình thành bằng con đường này, lý do vì tất cả các vùng lãnh thổ trên thế giới đều thuộc về 1 quốc gia nào đó)
    • Thông qua cách mạng xã hội: ví dụ VN năm 1945 được hình thành sau CM tháng 8 (trước đó được xếp vào nhóm Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập) ==> đặt ra vấn đề công nhận từ các quốc gia khác
    • Công nhận chính phủ: chính phủ là đại diện cho quốc gia, việc công nhận 1 chính phủ tức là thừa nhận sự hơp pháp của chính phủ đó. Vấn đề công nhận chính phủ thường được đặt ra khi chính phủ được thành lập theo con đường không hợp hiến (de-facto), tức là chính phủ vi hiến (không được thành lập theo Hiến pháp của quốc gia đó, VD gần đây chính phủ quân sự ở Thái Lan được thành lập sau cuộc đảo chính). Ngược lại là chính phủ hợp hiến (được thành lập theo Hiến pháp) thì sẽ không đặt ra vấn đề phải công nhận.

    Điều kiện để 1 chính phủ vi hiến được công nhận:

    • Chính phủ đó được đa số cư dân quốc gia đó thừa nhận, ủng hộ
    • Chính phủ đó phải đã và đang thiết lập quyền kiểm soát một cách thực sự trên toàn bộ phạm vi lãnh thổ quốc gia đó
    • Chính phủ đó phải có khả năng kiểm soát lãnh thổ quốc gia đó 1 cách lâu dài

    Cách thức công nhận: thông thường nhất là gửi điện chúc mừng Chính phủ

    Các hình thức công nhận: 03 hình thức

    • Công nhận de-jure: là hình thức công nhận đầy đủ, chính thức và toàn diện nhất, thể hiện mong muốn thiết lập quan hệ toàn diện, chính thức và đầy đủ giữa 2 quốc gia
    • Công nhận de-facto: là hình thức công nhận chính thức nhưng chưa đầy đủ, thể hiện thái độ thận trọng của quốc gia công nhận đối với các diễn biến tiếp theo của chủ thể mới (tức là công nhận từng phần, có thể dẫn tới công nhận de-jure hoặc không công nhận nữa)
    • Công nhận ad-hoc: tức là công nhận theo vụ việc. Chưa công nhận nhưng trong từng vụ việc cụ thể thì sẽ công nhận. VD chỉ công nhận là quốc gia trong hợp tác thương mại

    Các phương pháp công nhận: 2 phương pháp

    • Công nhận minh thị: là hình thức công nhận công khai, minh bạch, như gửi điện chúc mừng, tuyên bố, hoặc bằng các văn bản thể hiện rõ ràng việc công nhận quốc gia đó
    • Công nhận mặc thị: không công nhận một cách công khai, mà bằng những hành động cụ thể để có thể duy diễn rằng đã công nhận

    Kế thừa quốc gia: là việc 1 quốc gia thay thế cho 1 quốc gia khác trong vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế.

    Kế thừa quốc gia được đặt ra khi có sự thay đổi về chủ quyền quốc gia một cách tuyệt đối, gồm:

    • Thành lập quốc gia sau cách mạng xã hội, VD Liên Xô
    • Thành lập quốc gia sau cách mạng giải phóng dân tộc như VN, Lào, Campuchia
    • Thành lập quốc gia sau khi chia tách, sáp nhập

    Nội dung kế thừa:

    • Kế thừa về lãnh thổ quốc gia: kể cả trường hợp lãnh thổ quốc gia bị chiếm đóng bất hợp pháp thì quốc gia kế thừa vẫn có chủ quyền với phần lãnh thổ đó
    • Kế thừa về tài sản quốc gia
    • Kế thừa quyền và nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế: các quốc gia mới thành lập có quyền kế thừa hoặc không kế thừa các điều ước quốc tế mà quốc gia trước đây tham gia, có thể kế thừa toàn bộ hoặc kế thừa có chọn lọc những điều ước quốc tế phù hợp với quốc gia mới thành lập. Tuy nhiên theo Công ước Viên 1978 thì với điều ước quốc tế về Biên giới lãnh thổ thì quốc gia mới thành lập bắt buộc phải kế thừa.

    Thực tế: năm 1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, trong đó tuyên bố “bãi bỏ tất cả các điều ước quốc tế mà Pháp đã ký liên quan đến VN”, nhưng đến năm 1999, khi đàm phán với Trung Quốc về việc phân chia biên giới trên bộ thì VN lại đề nghị 2 bên tuân thủ theo Hiệp ước Pháp – Thanh 1858 về phân định biên giới trên bộ Việt Nam – Trung Quốc

    Kế thừa về quy chế thành viên trong các điều ước quốc tế: chưa có quy định cụ thể, hiện thay thông thường các tổ chức quốc tế sẽ kết nạp quốc gia mới thành lập như 1 thành viên mới

    (2) Chủ thể: các tổ chức quốc tế liên chính phủ

    Là chủ thể hạn chế và phái sinh.

    Câu hỏi: Vì sao nói quyền năng của tổ chức quốc tế liên chính phủ là hạn chế và phái sinh ?

    Khác với chủ thể quốc gia là loại chủ thể cơ bản và chủ yếu của luật Quốc tế, vì tất cả các quan hệ PL quốc tế ban đầu đều do các quốc gia đặt ra, các quốc gia đóng vai trò trung tâm trong PL quốc tế, quốc gia là thực thể có quyền năng cơ bản và đầy đủ nhất (xuất phát từ thuộc tính chủ quyền quốc gia), cứ có đầy đủ 4 yếu tổ là trở thành quốc gia và có đầy đủ quyền năng tham gia vào các quan hệ luật quốc tế mà chỉ phụ thuộc vào ý chí của chính quốc gia đó.

    Tổ chức quốc tế liên chính phủ không có quyền năng như quốc gia, mà quyền năng chủ thể của tổ chức liên chính phủ do các quốc gia thành viên tự hạn chế 1 phần quyền năng chủ thể của mình để trao cho tổ chức quốc tế liên chính phủ để đại diện cho các quốc gia thành viên để tham gia các quan hệ PL quốc tế. Do đó quyền năng của tổ chức quốc tế không phải do tự thân mà có ==> quyền năng phái sinh.

    Khác với quốc gia có thể tham gia bất kỳ quan hệ quốc tế trên bất kỳ lĩnh vực nào (chính trị, quân sự, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, …), thì 1 tổ chức quốc tế chỉ tham gia vào 1 hoặc 1 số lĩnh vực nhất định, ví dụ WTO chỉ tham gia trên lĩnh vực thương mại, NATO chỉ hoạt động trên lĩnh vực quân sự, Liên hợp quốc chỉ hoạt động trên lĩnh vực duy trì hòa bình và an ninh trên thế giới, ASEAN chỉ hoạt động trên lĩnh vực kinh tế và chính trị. Quyền năng của tổ chức quốc tế khi tham gia quan hệ quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào các quốc gia thành viên ==> quyền năng hạn chế.

    Tổ chức quốc tế liên chính phủ là thực thể liên kết giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên cơ sở 1 điều ước quốc tế nhằm hoạt động theo đúng mục đích và tôn chỉ của tổ chức đó.

    Chú ý: chỉ có tổ chức quốc tế liên chính phủ mới là chủ thể của luật Quốc tế, còn tổ chức quốc tế phi chính phủ không phải là chủ thể của luật Quốc tế.

    Phân biệt tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức quốc tế phi chính phủ:

     Tổ chức quốc tế liên chính phủTổ chức quốc tế phi chính phủ
    Ví dụLiên hợp quốc, Liên minh Châu Âu, Khối quân sự bắc đại tây dương (NATO)Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Hội chữ thập đỏ quốc tế
    Mục đíchHoạt động vì mục đích chính trị, kinh tếPhi lợi nhuận, thường vì mục đích nhân đạo
    Thành viênLà các quốc gia, trong 1 số trường hợp đặc biệt thì tổ chức liên chính phủ này có thể là thành viên của tổ chức liên chính phủ khác, VD liên minh châu Âu (EU) là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)Thường là cá nhân, pháp nhân
    Bộ máy tổ chứcCó bộ máy, cơ quan để duy trì hoạt động thường xuyên của tổ chức, thường gồm cơ quan đoàn thể, cơ quan đại diện, ủy ban thư ký, …Không có bộ máy, cơ quan như tổ chức liên chính phủ

    (3) Chủ thể: các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết

    Hiện tại (năm 2016) trên thế giới chỉ còn duy nhất 1 chủ thể loại này là Palestin (liên hợp quốc đã trao cho Palesin quy chế Nhà nước quan sát viên)

    Với chủ thể này, do không phải là quốc gia nên không có chủ quyền quốc gia, mà chỉ có chủ quyền dân tộc.

    Chủ quyền dân tộc hạn chế so với chủ quyền quốc gia, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết có các quyền năng:

    • Được PL quốc tế bảo vệ
    • Được nhận trợ giúp từ các quốc gia khác
    • Có quyền đưa ra các quan điểm chính trị và tự quyết về vận mệnh dân tộc mình, trong đó có cả quyền quyết định sử dụng sức mạnh vũ trang để đấu tranh giành độc lập tự do
    • Có quyền thiết lập quan hệ với các chủ thể của luật quốc tế khác

    (4) Chủ thể đặc biệt: Hồng Kông, Macau, Đài Loan, tòa thánh Vatican, …

    Chú ý: riêng với trường hợp Đài Loan thì trên thế giới chưa có quan điểm thống nhất, một số quốc gia đã công nhận Đài Loan là 1 quốc gia (như các quốc gia châu Âu), một số quốc gia khác không công nhận Đài Loan là 1 quốc gia. Thực tế trong nhiều tổ chức quốc tế thì cả Đài Loan và Trung Quốc đều là thành viên (như WTO)

    c. Đặc trưng về sự hình thành luật quốc tế

    – Thỏa thuận là con đường duy nhất để hình thành nên các quy phạm PL quốc tế. Khác với luật quốc gia do cơ quan quyền lực NN ban hành.

    Luật quốc tế đa phần gồm các quy phạm tùy nghi, khác với luật quốc gia đa phần là quy phạm mệnh lệnh. Vì luật quốc gia là ý chí của giai cấp thống trị, còn luật quốc tế được hình thành trên con đường thỏa thuận, không có quốc gia nào đứng trên quốc gia nào

    – Đặc trưng về sự thực thi luật Quốc tế: luật Quốc tế khác với luật quốc gia ở chỗ luật Quốc tế không có hệ thống các cơ quan để cưỡng chế thi hành PL. Các quy phạm PL quốc tế được đảm bảo thi hành trên cơ sở cơ chế tự cưỡng chế. Tự cưỡng chế ở đây không phải là “tự tôi cưỡng chế tôi”, mà trong quan hệ giữa các chủ thể với nhau thì các chủ thể tự cưỡng chế nhau để luật quốc tế được thi hành. Có 2 hình thức tự cưỡng chế:

    + cưỡng chế riêng lẻ: trong quan hệ song phương giữa 2 quốc gia thì các quốc gia tự áp dụng các phương pháp để buộc bên kia phải thi hành

    + cưỡng chế tập thể: trong khuôn khổ các điều ước quốc tế đa phương, nếu 1 bên không tuân thủ thì các bên còn lại sẽ áp dụng các biện pháp để buộc bên đó phải tuân thủ

    Khác với luật quốc gia có hệ thống các cơ quan cưỡng chế thi hành như tòa án, viện kiểm sát, công án, cảnh sát, …

    Câu hỏi: với cơ chế tự cưỡng chế thì phải chăng luật quốc tế chỉ mang tính hình thức ?

    Trả lời (tự trả lời): khi 1 quốc gia vi phạm luật quốc tế thì sẽ bị dư luận quốc tế lên án. Mặc dù dư luận quốc tế không có tính cưỡng chế nhưng gây ảnh hưởng lớn đối với quốc gia bị lên án (tương tự như dư luận xã hội trong quốc gia tuy không có tính cưỡng chế bắt buộc nhưng tác động lên đối tượng còn hơn của sự trừng phạt của PL). Thực tế lịch sử cho thấy trong các tranh chấp quốc tế, nhất là giữa quốc gia “nhỏ” với cường quốc, thì dù cường quốc có “thua” thì cường quốc cũng không bao giờ thừa nhận “thua”, tuy nhiên cường quốc sẽ tìm cách cách khác để “bồi thường, bù đắp” cho nước nhỏ. Ví dụ trường hợp Nicaragua kiện Mỹ năm 1986 ra Tòa án Công lý quốc tế, Mỹ bị xử thua và phải bồi thường, Mỹ tuyên bố bác bỏ phán quyết của tòa, nhưng sau đó Mỹ dùng biện pháp viện trợ như 1 cách khác để bồi thường cho Nicaragua. Hoặc với trường hợp Hội bảo vệ nạn nhân chất độc da cam của Việt Nam kiện các công ty hóa chất, quân sự của Mỹ, dù không được phía Mỹ thừa nhận, nhưng phía Mỹ thông qua nhiều tổ chức nhân đạo, giáo dục, y tế đã hỗ trợ cho VN rất nhiều (như chương trình học bổng Fullbright).

    II. Quy phạm pháp luật luật Quốc tế

    1. Định nghĩa

    – Cũng giống như hệ thống PL quốc gia, quy phạm PL luật Quốc tế là thành tố nhỏ nhất tạo nên hệ thống PL Quốc tế

    – Quy phạm PL luật Quốc tế là những quy tắc xử sự do các quốc gia và các chủ thể của luật Quốc tế thỏa thuận xây dựng nên nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia và các chủ thể đó.

    2. Phân loại

    a. Căn cứ vào giá trị hiệu lực

    – Quy phạm mệnh lệnh (jus cogens): là những quy phạm mang tính chất chủ đạo, bao trùm và có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể trong mọi lĩnh vực. Quy phạm jus cogens được coi là thước đo tính hợp pháp của tất cả các nguyên tắc và quy phạm PL luật quốc tế

    – Quy phạm thông thường (hay quy phạm tùy nghi): là những quy phạm PL có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các chủ thể luật Quốc tế, nhưng trong giới hạn cho phép thì các chủ thể có thể thỏa thuận và áp dụng khác. (khác với quy phạm mệnh lệnh là các bên không được phép thỏa thuận khác với quy định)

    Chú ý: quy phạm tùy nghi trong luật quốc tế khác với quy phạm tùy nghi trong luật quốc gia. Ví dụ:

    + Các quốc gia có quyền tuyên bố lãnh hải quốc gia mình không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở ==> quy phạm tùy nghi

    + Cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế ==> quy phạm mệnh lệnh

    + Tại vùng trời quốc gia, mọi sự ra vào của tàu bay nước ngoài đều phải xin phép ==> quy phạm tùy nghi (vì các quốc gia có thể thỏa thuận với nhau về việc xin phép như thế nào)

    ==> phân biệt quy phạm mệnh lệnh và quy phạm tùy nghi bằng cách quy phạm mệnh lệnh không cho phép các chủ thể có bất kỳ sự thỏa thuận nào khác với quy phạm, còn quy phạm tùy nghi thì các chủ thể có thể thỏa thuận khác với quy phạm (nhưng phải trong giới hạn cho phép).

    Trong hệ thống luật Quốc tế, có rất ít quy phạm mệnh lệnh mà chủ yếu là quy phạm tùy nghi (do tính chất thỏa thuận của luật quốc tế trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các quốc gia). Ngược lại với luật quốc gia thì đa phần là quy phạm mệnh mệnh, rất ít quy phạm tùy nghi.

    – Quy phạm mệnh lệnh trong hệ thống luật quốc tế chỉ bao gồm 2 nhóm:

    + nhóm 7 nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế,

    + nhóm các quy phạm của luật Quốc tế trong vấn đề bảo đảm các quyền cơ bản của con người

    b. Căn cứ vào hình thức tồn tại

    – Quy phạm điều ước quốc tế: tồn tại ở dạng văn bản

    – Quy phạm tập quán quốc tế: tồn tại ở dạng phi văn bản

    III. Mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia

    Trong lịch sử tồn tại 2 học thuyết chính:

    – Thuyết nhất nguyên: coi PL là 1 hệ thống duy nhất, gồm 2 bộ phận là PL quốc gia và PL quốc tế. Chia làm 2 phái:

    + ưu tiên PL quốc tế

    + ưu tiên PL quốc gia

    – Thuyết nhị nguyên: coi PL quốc gia và PL quốc tế là 2 hệ thống PL độc lập, trong đó PL quốc gia chỉ điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ quốc gia, còn PL quốc tế điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ với nhau

    Cả 2 học thuyết trên đều không tiến bộ:

    + với thuyết nhất nguyên, thì nếu theo trường phái ưu tiên luật Quốc gia thì sẽ coi quyền lợi quốc gia là tối cao, khi đó luật Quốc tế không còn có giá trị nếu mâu thuẫn với luật Quốc gia. Ở nhánh còn lại, nếu coi luật Quốc tế là tối cao, thì cũng không hợp lý khi các quốc gia mạnh sẽ dễ dàng lấn át các quốc gia yếu hơn (sẽ không còn tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong quan hệ quốc tế)

    + với thuyết nhị nguyên: dễ thấy không hợp lý vì dù là luật quốc gia hay luật quốc tế thì cũng đều do 1 chủ thể là quốc gia xây dựng nên để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của quốc gia, mà 2 chức năng này không thể tách rời nhau

    Hiện nay, mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia được quan niệm như sau:

    – Luật quốc tế và luật quốc gia là 2 hệ thống độc lập nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau:

    + luật quốc tế là cơ sở để hình thành và hoàn thiện hệ thống PL của các quốc gia. VD khi 1 quốc gia trở thành thành viên của 1 tổ chức quốc tế, thì quốc gia đó phải rà soát và điều chỉnh lại hệ thống PL của nước mình để phù hợp với luật quốc tế

    + các quy phạm PL quốc gia cũng góp phần hoàn thiện và phát triển hệ thống PL quốc tế. VD hầu hết các tiêu chuẩn về môi trường của PL quốc tế đều xuất phát từ các tiêu chuẩn về môi trường của 1 quốc gia đi tiên phong trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, sau đó được các nước ủng hộ và nâng lên thành luật Quốc tế

    Câu hỏi: so sánh luật quốc tế và luật quốc gia

     Luật quốc giaLuật quốc tế
    Phạm vi điều chỉnhMối quan hệ giữa cá nhân và pháp nhân trong phạm vi lãnh thổ quốc giaMối quan hệ giữa các quốc gia với nhau
    Hình thànhLà ý chí của giai cấp thống trịHình thành bằng con đường thỏa thuận giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện của các quốc gia
    Cơ chế cưỡng chếCó hệ thống cơ quan cưỡng chế thi hành PL (tòa án, viện kiểm sát, công an, …)Không có hệ thống cơ quan cưỡng chế thi hành PL (tự cưỡng chế)
    Quy phạmChủ yếu là quy phạm mệnh lệnh, rất ít quy phạm tùy nghiChủ yếu là quy phạm tùy nghi, rất ít quy phạm mệnh lệnh

    Câu hỏi: nếu có 1 vấn đề phát sinh mà luật quốc gia mâu thuẫn với luật quốc tế thì sẽ xử lý thế nào ?

    Trả lời: sẽ ưu tiên áp dụng PL quốc tế. Vì trong mọi văn bản PL của VN đều quy định “trong trường hợp các quy định của luật này trái với các điều ước quốc tế mà VN là thành viên thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế”. Đây cũng là quy định chung đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Có điều này là vì xuất phát từ 1 trong các nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế: nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế, trong đó quy định “khi 1 quốc gia là thành viên của 1 tổ chức quốc tế, thì quốc gia đó phải có nghĩa vụ tận tâm, thiện chí thực hiện trung thực, đầy đủ, ngay lập tức tất cả các nghĩa vụ của mình; các quốc gia không được phép viện dẫn sự khác biệt giữa luật trong nước và luật quốc tế để từ chối thực hiện cam kết quốc tế của mình

    Chú ý: cần hiểu là luật quốc tế có giá trị ưu tiên thi hành, chứ không phải luật quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn luật quốc gia.

    Câu hỏi: giữa luật quốc tế và luật quốc gia thì luật nào có giá trị pháp lý cao hơn.

    Trả lời: đây là 2 hệ thống PL độc lập nên không thể so sánh hệ thống nào có giá trị pháp lý cao hơn. Trong từng trường hợp cụ thể nếu luật quốc gia và luật quốc tế cùng quy định 1 vấn đề thì sẽ ưu tiên sử dụng luật quốc tế.

    Câu hỏi: nếu luật Quốc tế mâu thuẫn với Hiến pháp thì xử lý thế nào ?

    Trả lời: Về mối quan hệ giữa luật Quốc tế với Hiến pháp, hiện nay các quốc gia có quan điểm khác nhau: một số quốc gia cho rằng xuất phát từ nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế thì luật Quốc tế sẽ được ưu tiên thi hành ngay cả so với Hiến pháp; một số quốc gia khác lại coi luật Quốc tế có giá trị ưu tiên thi hành nhưng vẫn phải ở sau Hiến pháp.

    Thực tế Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận rõ ràng vị trí của luật Quốc tế so với Hiến pháp ở ngay trong văn bản Hiến pháp, trừ Việt Nam.

    Lý lẽ của VN khi không đưa quy định về vị trí của luật Quốc tế trong Hiến pháp: VN có các văn bản PL quy định về việc ký kết các điều ước quốc tế (mới nhất là Luật điều ước quốc tế 2016) trong đó nêu rõ khi đàm phán để ký kết các điều ước quốc tế thì phải không được trái với Hiến pháp, do đó ở VN sẽ không có chuyện ký kết điều ước quốc tế trái với Hiến pháp VN

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Công pháp quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-cong-phap-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Đất đai chương VI

    Bài giảng môn học Luật Đất đai chương VI

    Bài giảng môn học Luật Đất đai chương VI cung cấp kiến thức về địa vị pháp lý của người sử dụng đất, giúp người học hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành. Chương này làm rõ các khái niệm về chủ thể sử dụng đất, điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất, và các trường hợp được chuyển nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất. Nội dung bài giảng hỗ trợ người học nắm vững quy định pháp lý, đảm bảo bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong quá trình sử dụng đất.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật đất đai: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-dat-dai?ref=lnpc

    Bài giảng môn học Luật Đất đai chương VI

    Chương 6. Địa vị pháp lý của người sử dụng đất

    1. Khái niệm

    – Địa vị pháp lý của người sử dụng đất là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

    – Chủ thể sử dụng đất: gồm 7 nhóm (Điều 5):

    + Tổ chức

    + Hộ gia đình, cá nhân

    + Cộng đồng dân cư

    + Cơ sở tôn giáo

    + Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao

    + Người Việt Nam định cư ở nước ngoài

    + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

    2. Những đảm bảo cho người sử dụng đất

    NN đảm bảo cho người sử dụng đất:

    – Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đủ điều kiện theo quy định của PL

    – Được khai thác, sử dụng đất theo đúng mục đích

    – Đối với đất nông nghiệp thì người sử dụng đất còn được NN hướng dẫn cải tạo, bồi bổ đất

    3. Nguyên tắc sử dụng đất (Điều 6)

    – Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất.

    – Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.

    – Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

    4. Thời hạn sử dụng đất (Điều 125 – Điều 128)

    – Đất ổn định sử dụng lâu dài (Điều 125)

    – Đất sử dụng có thời hạn (Điều 126)

    – Thời hạn sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất (Điều 127)

    – Thời hạn sử dụng đất khi chuyển quyền sử dụng đất (Điều 128)

    Bài giảng môn học Luật Đất đai chương VI
    Bài giảng môn học Luật Đất đai chương VI

    5. Quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất

    – Quyền chung (Điều 166):

    + Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

    + Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

    + Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

    + Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

    + Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

    + Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định.

    + Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

    – Nghĩa vụ chung (Điều 170):

    + Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    + Thực hiện kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

    + Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

    + Thực hiện các biện pháp bảo vệ đất.

    + Tuân theo các quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan.

    + Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất.

    + Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng.

    6. Quyền về chuyển quyền sử dụng đất (Điều 167)

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương IV

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương IV

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VII mang đến cái nhìn toàn diện về pháp luật liên quan đến dịch vụ logistics và nhượng quyền thương mại. Nội dung bài giảng tập trung vào các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động logistics, trách nhiệm của các bên trong chuỗi cung ứng, và các điều kiện để thực hiện nhượng quyền thương mại. Đây là nguồn kiến thức quan trọng giúp sinh viên hiểu rõ khung pháp lý, từ đó áp dụng hiệu quả trong thực tiễn kinh doanh và quản lý các hoạt động thương mại hiện đại.

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương IV

    Chương IV: Pháp luật về dịch vụ logistic và nhượng quyền thương mại

    1. Dịch vụ logistics

    1.1. Khái niệm và đặc điểm

    • Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại nhằm thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói, bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng.
    • Đặc điểm của dịch vụ logistics:
      • Mang tính chất tổng hợp, liên quan đến nhiều hoạt động khác nhau.
      • Có thể do một doanh nghiệp thực hiện hoặc phối hợp giữa nhiều doanh nghiệp.
      • Yêu cầu chuyên môn cao và tính linh hoạt trong quá trình vận hành.

    1.2. Cơ sở pháp lý

    • Căn cứ vào Luật Thương mại 2005 và Nghị định 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logistics.
    • Các văn bản pháp luật liên quan như Luật Hàng hải, Luật Giao thông đường bộ, Luật Hải quan.

    1.3. Các loại hình dịch vụ logistics

    • Dịch vụ logistics chủ yếu: Bao gồm các hoạt động như vận tải, lưu kho, làm thủ tục hải quan.
    • Dịch vụ logistics bổ trợ: Như kiểm tra và phân tích kỹ thuật, bốc dỡ hàng hóa, dịch vụ đóng gói.

    1.4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

    • Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics phải đáp ứng các điều kiện về vốn, đăng ký kinh doanh, giấy phép hoạt động tùy theo loại hình dịch vụ.
    • Nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài: Được phép tham gia thị trường Việt Nam theo các cam kết quốc tế nhưng phải tuân thủ các quy định về pháp luật đầu tư, thương mại.

    1.5. Trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ logistics

    • Thực hiện dịch vụ theo thỏa thuận hợp đồng.
    • Đảm bảo an toàn cho hàng hóa trong quá trình cung cấp dịch vụ.
    • Chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng nếu hàng hóa bị hư hỏng, mất mát do lỗi của mình.
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương IV
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương IV

    2. Nhượng quyền thương mại

    2.1. Khái niệm và đặc điểm

    • Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, trong đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo điều kiện nhất định.
    • Đặc điểm của nhượng quyền thương mại:
      • Bên nhận quyền được phép sử dụng hệ thống kinh doanh, thương hiệu của bên nhượng quyền.
      • Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát, giám sát hoạt động của bên nhận quyền.

    2.2. Cơ sở pháp lý

    • Dựa trên Luật Thương mại 2005 và các nghị định hướng dẫn liên quan, như Nghị định 35/2006/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 08/2018/NĐ-CP).

    2.3. Điều kiện nhượng quyền thương mại

    • Bên nhượng quyền phải có hệ thống kinh doanh đã hoạt động ít nhất 1 năm.
    • Bên nhận quyền phải đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với hoạt động nhượng quyền.

    2.4. Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại

    • Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải bao gồm các nội dung cơ bản như:
      • Quyền và nghĩa vụ của các bên.
      • Phí nhượng quyền, cách thức thanh toán.
      • Quyền sử dụng thương hiệu, bí quyết kinh doanh.
      • Điều kiện chấm dứt hợp đồng và xử lý hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng.

    2.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong nhượng quyền thương mại

    • Bên nhượng quyền có trách nhiệm hỗ trợ, hướng dẫn bên nhận quyền trong việc vận hành hệ thống kinh doanh; cung cấp thông tin cần thiết.
    • Bên nhận quyền phải tuân thủ các quy định của hệ thống kinh doanh; duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của bên nhượng quyền.

    2.6. Giải quyết tranh chấp trong nhượng quyền thương mại

    • Các tranh chấp thường phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
    • Phương thức giải quyết tranh chấp: Thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại, hoặc tòa án.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại 2: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-2?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VII

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VII

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VII tập trung vào nội dung giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại, một phương thức được ưa chuộng trong kinh doanh vì tính linh hoạt và hiệu quả. Bài giảng sẽ cung cấp kiến thức về quy trình trọng tài, các nguyên tắc cơ bản, thẩm quyền của trọng tài và cách thức thi hành phán quyết trọng tài theo pháp luật. Đây là nguồn tài liệu hữu ích giúp sinh viên hiểu rõ cách áp dụng trọng tài để giải quyết các xung đột thương mại nhanh chóng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VII

    Chương IV: Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại

    Có 2 hình thức:

    + trọng tài vụ việc

    + trọng tài thường trực

    1. Trọng tài vụ việc

    – Khái niệm: là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp, trọng tài sẽ tự giải tán sau khi giải quyết xong vụ tranh chấp

    – Đặc điểm của trọng tài vụ việc:

    + được thành lập khi phát sinh tranh chấp, tự giải thể khi đã đải quyết xong

    + không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không có danh sách trọng tài viên

    + không có quy tắc tố tụng riêng, các bên tranh chấp có thể lựa chọn 1 quy tắc tố tụng phổ biến để tránh lãng phí thời gian, công sức xây dựng quy tắc tố tụng

    – Ưu điểm của trọng tài vụ việc:

    + giải quyết nhanh chóng, ít tốn kém

    + quyền lựa chọn trọng tài viên không bị giới hạn bởi danh sách trọng tài viên sẵn có

    + các bên tranh chấp có quyền rộng rãi trong việc xác định quy tắc tố tụng giải quyết tranh chấp

    2. Trọng tài thường trực

    – Trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các Trung tâm trọng tài: trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định

    – Đặc trưng của trọng tài thường trực:

    + là tổ chức phi chính phủ: không nằm trong hệ thống các cơ quan NN

    • hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải, không được cấp kinh phí từ ngân sách NN
    • NN quản lý, hỗ trợ Trung tâm trọng tài qua việc ban hành VBPL tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của Trung tâm trọng tài: cấp, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài
    • NN hỗ trợ Trung tâm trọng tài qua việc chỉ định, thay đổi trọng tài viên, xem xét lại phán quyết của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp kịp thời, hủy / không hủy phán quyết trọng tài, cưỡng chế thi hành phán quyết trọng tài

    + có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập: tức là được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham gia các quan hệ PL một cách độc lập

    + được tổ chức, quản lý rất đơn giản, gọn nhẹ: có ban điều hành, các trọng tài viên

    + mỗi trung tâm trọng tài tự quyết về lĩnh vực hoạt động và quy tắc tố tụng riêng:

    • xác định lĩnh vực hoạt động căn cứ vào khả năng chuyên môn của đội ngũ trọng tài viên, được ghi vào Điều lệ của Trung tâm trọng tài
    • có quyền mở rộng hay thu hẹp lĩnh vực hoạt động nhưng phải được cơ quan NN có thẩm quyền phê chuẩn
    • nếu tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài được áp dụng quy tắc tố tụng khác (nếu các bên thỏa thuận). VD quy tắc trọng tài của UNCITRAL 1976, quy tắc của ICC 1988, của Trung tâm trọng tài Quốc tế London, Brussell, …

    + hoạt động giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VII
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VII

    3. Thành lập Trung tâm trọng tài

    – Điều kiện thành lập Trung tâm trọng tài: theo quy định của Chính phủ: phải có ít nhất 5 trọng tài viên sáng lập,  điều kiện của trọng tài viên:

    + là công dân VN,

    + có năng lực hành vi dân sự,

    + có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan,

    + có bằng đại học,

    + có 5 năm kinh nghiệm công tác theo ngành học

    – Thủ tục thành lập:

    + xin phép thành lập: sáng lập viên gửi 2 bộ hồ sơ đến bộ Tư pháp, gồm:

    • đơn xin thành lập
    • danh sách trọng tài viên
    • điều lệ của Trung tâm trọng tài

    + đăng ký hoạt động: tại sở Tư pháp nơi đặt trụ sở, gồm:

    • Đơn đăng ký hoạt động
    • Bản sao giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài
    • Danh sách trọng tài viên

    + thông báo trên báo Trung ương, báo địa phương trong 3 số liên tiếp

    Niêm yết danh sách trọng tài viên tại trụ sở trung tâm trọng tài

    + được thay đổi nội dung giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động (xin phép bộ Tư pháp)

    – Chi nhánh, văn phòng đại diện của Trung tâm trọng tài:

    + chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trọng tài, có nhiệm vụ thực hiện chức năng của Trung tâm trọng tài, nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền:

    • Trung tâm trọng tài được lập chi nhánh ở tỉnh, thành phố, chịu trách nhiệm về hoạt động của chi nhánh. Hoạt động của chi nhánh phải phù hợp với lĩnh vực hoạt động ghi trong giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài
    • nơi đăng ký hoạt động của chi nhánh: tại sở Tư pháp nơi đặt chi nhánh

    + văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trọng tài, đại diện cho Trung tâm trọng tài trong các giao dịch theo ủy quyền

    • Trung tâm trọng tài được lập văm phòng đại diện ở tỉnh, thành phố
    • Trung tâm trọng tài phải thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp nơi Trung tâm đặt trụ sở và nơi đặt Văn phòng đại diện
    • Trung tâm trọng tài chịu trách nhiệm về hoạt động của Văn phòng đại diện
    • Trung tâm trọng tài chỉ được ủy quyền cho Văn phòng đại diện trong các giao dịch thuộc lĩnh vực hoạt động của mình

    – Trung tâm trọng tài chấm dứt hoạt động khi:

    + các trường hợp quy định tài Điều lệ của Trung tâm trọng tài

    + bị thu hồi giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài

    – Thủ tục thu hồi:

    + 30 ngày trước khi chấm dứt hoạt động, Trung tâm trọng tài gửi thông báo cho bộ Tư pháp, sở Tư pháp nơi đặt trụ sở Trung tâm

    + Trung tâm trọng tài phải thanh toán các khoản nợ, hoàn tất các vụ việc đã nhận

    + bộ Tư pháp ra quyết định chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài

    + Trung tâm trọng tài nộp giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động cho cơ quan NN có thẩm quyền

    – Trường  hợp bị thu hồi giấy phép thành lập:

    + Trung tâm trọng tài phải đăng báo TW và địa phương trong 3 số liên tiếp

    + Trung tâm trọng tài phải thanh toán các khoản nợ và hoàn thành các vụ việc đã nhận trong 60 ngày

    + báo cáo bằng văn bản cho bộ Tư pháp, sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động

    + nộp lại giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động cho cơ quan NN có thẩm quyền

    – Chi nhanh chấm dứt hoạt động khi:

    + theo quyết định của Trung tâm trọng tài

    + Trung tâm trọng tài chấm dứt hoạt động

    + bị thu hồi giấy đăng ký hoạt động do vi phạm nghiêm trọng PL trọng tài

    – Văn phòng đại diện chấm dứt hoạt động theo quyết định của Trung tâm trọng tài, phải thông báo cho sở Tư pháp biết

    V. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng tại Tòa án

    1. Bản chất của việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án

    – Giải quyết tranh chấp theo thủ tục tư pháp tại Tòa án được tiến hành theo thủ tục, trình tự nghiêm ngặt, chặt chẽ

    – Tòa án nhân danh quyền lực NN để xét xử vụ tranh chấp

    – Bản án, quyết định của Tòa án được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của NN

    – Các nước quy định giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa dân sự như Mỹ, Nhật, Hà Lan, …, hoặc tại tòa thương mại như Đức, Pháp, Áo, Bỉ, …

    – Ở VN, tranh chấp thương mại được giải quyết tại Tòa kinh tế của TAND

    2. Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại

    – Thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại được PL phân định theo cấp tòa án, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn

    a. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại theo cấp tòa án

    – Thẩm quyền theo cấp của tòa án:

    + tòa án cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm một số tranh chấp về kinh doanh, thương mại

    + các tranh chấp về kinh doanh, thương mại chủ yếu vẫn được giải quyết tại tòa Kinh tế và Ủy ban thẩm phán tòa án cấp tỉnh

    + Tòa Kinh tế của Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tất cả các tranh chấp kinh doanh, thương mại (trừ tranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện)

    – Khi cần thiết, tòa Kinh tế của tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để xét xử sơ thẩm các tranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện

    + tòa Kinh tế của tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những vụ án được xét xử sơ thẩm chưa có hiệu lực của tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị

    + ủy ban thẩm phán tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những vụ án mà bản án đã có hiệu lực PL của tòa án cấp huyện bị kháng nghị

    + thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của TANDTC thuộc về tòa Kinh tế, tòa phúc thẩm và hội đồng thẩm phán của TANDTC

    – Tòa kinh tế của TANDTC có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án đã có hiệu lực PL của tòa án cấp tỉnh bị kháng nghị

    + tòa phúc thẩm TANDTC có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực của tòa án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị

    + hội đồng thẩm phán TANDTC có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án của các tòa thuộc TANDTC bị kháng nghị

    b. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại theo lãnh thổ

    – Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm tranh chấp thương mại là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu là cá nhân), hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu là tổ chức, cơ quan)

    – Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bất động sản

    – Đương sự có quyền thỏa thuận (bằng văn bản) yêu cầu tòa án nơi cư trú, nơi làm việc của nguyên đơn giải quyết các tranh chấp thương mại

    c. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo sự lựa chọn của nguyên đơn

    – PL quy định nguyên đơn có quyền chọn tòa án để giải quyết vụ tranh chấp trong các trường hợp sau:

    + nếu không biết nơi cư trú, làm việc, hoặc trụ sở của bị đơn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, hoặc có trụ sở cuối cùng hay nơi bị đơn có tài sản giải quyết

    + nếu tranh chấp phát sinh từ chi nhanh tổ chức, thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết

    – Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở VN thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết

    + nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng, thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết

    + nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi 1 trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết

    + nếu tranh chấp bất động sản, mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi có 1 trong các bất động sản giải quyết

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại 2: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-2?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VI

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VI

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VI cung cấp những kiến thức quan trọng về giải quyết tranh chấp thương mại, bao gồm các phương thức như thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Nội dung bài giảng tập trung vào các quy định pháp lý điều chỉnh, quy trình thực hiện và nguyên tắc xử lý tranh chấp trong hoạt động thương mại. Đây là kiến thức cần thiết giúp sinh viên hiểu rõ cách áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi và giải quyết xung đột trong môi trường kinh doanh.

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VI

    Chương 6: Giải quyết tranh chấp thương mại

    I. Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại

    1. Khái niệm

    – Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng, xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại

    – Các đặc điểm của tranh chấp thương mại:

    + là những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể

    + những mâu thuẫn (bất đồng) đó phải phát sinh từ hoạt động thương mại

    + những mâu thuẫn (bất đồng) đó phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân

    Ngoài thương nhân còn có các chủ thể khác như tranh chấp giữa cá nhân và thương nhân, giữa công ty và thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau, …

    – Căn cứ giải quyết tranh chấp có thể áp dụng:

    + luật dân sự: tòa dân sự

    + luật thương mại: tòa kinh tế

    2. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

    – Bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại:

    + thương lượng

    + hòa giải

    + trọng tài thương mại

    + tòa án

    – Đặc điểm:

    + ba phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không mang ý chí quyền lực của NN mà được giải quyết trên nền tảng ý chí tự định đoạt giữa các bên tranh chấp, hoặc phán quuyết của bên thứ 3 độc lập theo thủ tục linh hoạt, mềm dẻo

    Ưu điểm:

    • linh hoạt, mềm dẻo, đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp;
    • đảm bảo uy tín và bí mật của các bên tranh chấp, góp phần củng cố và duy trì mối quan hệ hợp tác lầu dài giữa các bên
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VI
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương VI

    Nhược điểm:

    • sự thành công phụ thuộc vào thái độ thiện chí và sự hợp tác của các bên tranh chấp;
    • việc thực thi kết quả hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của bên có nghĩa vụ, không có cơ chế pháp lý cho việc đảm bảo thi hành (nếu có như trường hợp trọng tài thương mại thì cũng rất phức tạp và tốn kém)

    + tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mang ý chí quyền lực NN được tòa án tiến hành theo thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ

    II. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng

    1. Khái niệm và đặc điểm

    – Khái niệm: là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bên thứ 3, các bên tranh chấp sẽ tự nguyện thực hiện kết quả thương lượng đã đạt được

    – Đặc điểm:

    + được thực hiện bởi cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ 3

    + quá trình thương lượng không chịu bất kì sự ràng buộc của nguyên tắc pháp lý nào hay những quy định mang tính khuôn mẫu của PL về thủ tục giải quyết tranh chấp. PL VN không có bất kỳ sự điều chỉnh nào đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng.

    + việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp, không có bất kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng

    – Ưu điểm:

    + thể hiện tối đa quyền tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp

    + thủ tục thương lượng hoàn toàn do các bên lựa chọn, nên đơn giản, ít phiền hà, hiệu quả, ít tốn kém,

    + bảo vệ được uy tín của các bên,

    + bảo vệ được bí mật kinh doanh của các bên

    + không gây ra hậu quả xấu trong quan hệ kinh doanh giữa các bên sau tranh chấp

    ==> trong thực tế, thương lượng luôn là phương thức giải quyết tranh chấp đầu tiên mà các bên lựa chọn

    – Nhược điểm:

    + sự thành công hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết, thái độ thiện chí, hợp tác của các bên tranh chấp, đó đó nếu 1 bên thiếu hiểu biết, thiếu hợp tác thì khả năng thành công thấp, dẫn đến thương lượng bế tắc

    + kết quả thương lượng không được đảm bảo thi hành bằng cơ chế pháp lý mà chỉ phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của các bên

    2. Các loại thương lượng

    – Chia làm 2 loại:

    + thương lượng trực tiếp

    + thương lượng gián tiếp

    – Thương lượng trực tiếp: là việc các bên tranh chấp trực tiếp gặp nhau bàn bạc, trao đổi và đề xuất ý kiến của mỗi bên nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp

    + ưu điểm:

    • các bên nhanh chóng hiểu được quan điểm, thái độ hợp tác, thiện chí của nhau, từ đó có sự điều chỉnh thích hợp để ý chí các bên sớm gặp nhau
    • kết quả đạt được có thể rất nhanh chóng

    + nhược điểm:

    • nếu các bên ở xa nhau thì sẽ rất tốn kém về chi phí đi lại
    • phụ thuộc rất lớn vào thái độ và kỹ năng đàm phán của đại diện mỗi bên

    – Thương lượng gián tiếp: là việc các bên gửi cho nhau tài liệu giao dịch thể hiện quan điểm, yêu cầu của mình để giải quyết tranh chấp

    + ưu điểm:

    • thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng
    • ngôn từ trong thư từ, tài liệu được chau chuốt, gọt giũa
    • lập luận chặt chẽ, có tính thuyết phục cao
    • ít tốn kém về vật chất

    + nhược điểm:

    • Các bên khó nhận biết quan điểm, ý chí của nhau
    • Thời gian giao dịch kéo dài

    ==> các bên thường kết hợp thương lượng trực tiếp và thương lượng gián tiếp

    III. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải

    – Khái niệm: hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ 3 làm trung gian hòa giải (gọi là hòa giải viên) để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm giải pháp để giải quyết tranh chấp.

    – Các đặc điểm của hòa giải:

    + có sự xuất hiện của bên thứ 3 do các bên tranh chấp lựa chọn để làm trung gian đàm phán. Tuy nhiên bên thứ 3 không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì, quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp (khác với bên thứ 3 là Trọng tài thương mại là người có quyền ra phán quyết để ràng buộc các bên tranh chấp)

    + quá trình hòa giải không chịu bất cứ sự chi phối nào từ các quy định có tính chất khuôn mẫu, bắt buộc của PL (tương tự như ở thương lượng, PL VN không có bất kỳ quy định nào về hòa giải)

    + kết quả hòa giải thành được thực thi hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp

          Chú ý: việc thực thi kết quả hòa giải phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên, không có cơ chế pháp lý bảo đảm thi hành sự cam kết của các bên

    – Cần phân biệt hòa giải ngoài tố tụng (có hòa giải viên) với hòa giải tại trọng tài thương mại và tại tòa án

    – Hòa giải viên phải thỏa mãn điều kiện:

    + có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,

    + am hiểu PL,

    + có kinh nghiệm thực tiễn

    + độc lập, trung lập với các bên tranh chấp

    + có uy tín và độ tin cậy

    – Hòa giải viên không được có lợi ích liên quan hoặc xung đột với lợi ích của các bên tranh chấp

    – Các bước hòa giải:

    + B1: các bên tranh chấp trao đổi thông tin, tài liệu, những vấn đề liên qua để làm rõ yêu cầu, khả năng, vị thế của mỗi bên, thương thảo lựa chọn người thứ 3 làm trung gian hòa giải

    + B2: hòa giải viên giải thích cho các bên biết về bản chất của hòa giải, quy ước của quá trình hòa giải, thái độ mà các bên phải tuân thủ như hòa hảo, tôn trọng nhau, biết lắng nghe

    + B3: các bên trình bày ý kiến, quan điểm của mình về những vấn đề tranh chấp, lắng nghe ý kiến của người khác, đề xuất phương án giải quyết tranh chấp

    + B4: hòa giải viên xem xét, phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ việc, làm sáng tỏ vị thế của các bên. Hòa giải viên gặp gỡ, trao đổi riêng với từng bên để phân tích, thuyết phục họ. Các ý kiến, nhận xét, bình luận, giải pháp của hòa giải viên có tính chất khuyến nghị, tham vấn

    + B5: trên cơ sở các ý kiến của hòa giải viên, các bên thỏa thuận về phương án giải quyết tranh chấp

    + B6: nội dung thỏa thuận của các bên tranh chấp được ghi vào văn bản và có đủ chữ ký của đại diện các bên và hòa giải viên.

    Văn bản thỏa thuận giữa các bên có giá trị ràng buộc các bên, các bên phải tôn trọng, tự nguyện thực hiện các cam kết

    – Ưu điểm của hòa giải: đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém

    + hòa giải viên làm cho ý chí của các bên tranh chấp dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán

    + sự chứng kiến của hòa giải viên làm cho các bên tăng cường sự tôn trọng và tự nguyện thực hiện các thỏa thuận giải quyết tranh chấp đã đạt được

    – Nhược điểm của hòa giải:

    + nền tảng của hòa giải là sự thỏa thuận ý chí và sự tự nguyện thi hành của các bên có tranh chấp ==> nếu 1 bên không trung thực, thiếu thiện chí, không hợp tác trong đàm phán, thực hiện các cam kết, thì hòa giải không đạt được mục đích

    + các bên phải cung cấp thông tin cho hòa giải viên nên khó đảm bảo bí mật kinh doanh, uy tín nghề nghiệp

    + chi phí tốn kém hơn thương lượng vì phải trả thù lao cho hòa giải viên

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại 2: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-2?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương III

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương III

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương III mang đến những kiến thức chuyên sâu về pháp luật liên quan đến xúc tiến thương mại. Nội dung tập trung vào các hình thức xúc tiến như quảng cáo, khuyến mại, hội chợ triển lãm và tài trợ, cùng các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động này theo Luật Thương mại. Bài giảng giúp sinh viên nắm vững các nguyên tắc, điều kiện và thủ tục cần tuân thủ khi thực hiện các hoạt động xúc tiến, từ đó áp dụng hiệu quả trong môi trường kinh doanh thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương III

    Chương 3: Pháp luật về xúc tiến thương mại

    1. Khái quát về xúc tiến thương mại

    a. Khái niệm

    – Là hoạt động thương mại nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ

    b. Đặc điểm

    – Tính chất: xúc tiến thương mại là hoạt động mang tính hỗ trợ: tức là hỗ trợ cho việc bán hàng của doanh nghiệp

    – Chủ thể thực hiện xúc tiến thương mại: là thương nhân:

    + tự xúc tiến thương mại cho mình: VD tự “nuôi” đội PG để thực hiện các sự kiện quảng bá cho doanh nghiệp mình

    + xúc tiến thương mại cho thương nhân khác: VD thuê dịch vụ tổ chức sự kiện của doanh nghiệp chuyên tổ chức sự kiện

    – Hình thức: xúc tiến thương mại hết sức đa dạng, luật Thương mại quy định chỉ bao gồm các hoạt động sau:

    + khuyến mãi

    + quảng cáo thương mại

    + trưng bày giới thiệu sản phẩm

    + hội chợ triển lãm thương mại

    2. Khuyến mãi

    a. Khái niệm (Điều 88 luật Thương mại)

    – Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Lợi ích có thể là vật chất hoặc tinh thần.

    VD: Toyota tổ chức đêm hòa nhạc Toyota Concert hàng năm để mời các khách hàng VIP, các đại lý doanh số cao

    b. Các hình thức khuyến mại (Điều 92 luật Thương mại)

    (1) Hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu: PL không có hạn mức khuyến mại đối với chương trình này

    VD tặng gói dầu gội đầu, sữa rửa mặt, cafe…

    Chú ý: vì không giới hạn mức khuyến mại nên có thể trở thành hành vi cạnh tranh không lành mạnh của những danh nghiệp lớn (tiềm lực tài chính mạnh), VD những năm 2005-2006 Coca Cola thực hiện chương trình uống Coke miễn phí tại hầu hết các địa điểm công cộng và diễn ra liên tục trong thời gian rất dài (vài tháng), đã dẫn đến các nhãn hàng khác như Pepsi, Tribico, … không thể bán được hàng ==> Coca Cola chiếm lĩnh thị trường

    (2) Tặng hàng hóa và dịch vụ

    VD: mua điện thoại được tặng bao da, mua xe máy tặng mũ bảo hiểm (tức là phải mua sản phẩm thì mới được tặng quà)

    Chú ý: theo Điều 8 Nghị định 37/2006: Thương nhân thực hiện khuyến mãi theo hình thức tặng hoàng hóa, dịch vụ, không kèm theo mua bán hàng hóa, dịch vụ ==> nghị định không hợp lý với thực tế

    (3) Giảm giá: là việc bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo.

    Chú ý: định mức giảm giá bao gồm:

    + giá trị: không quá 50% giá trị sản phẩm trước đó

    + thời gian: tổng thời gian không quá 90 ngày/năm, 1 chương trình không quá 45 ngày/lần

    ==> mục đích: để tránh cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, việc tránh cạnh tranh không lành mạnh chỉ có ý nghĩa với doanh nghiệp lớn, có khả năng thao túng thị trường, còn với các cửa hàng nhỏ lẻ thì việc giảm giá trên 50% cũng không có ý nghĩa gì (VD như cửa hàng quần áo muốn thanh lý quần áo mùa đông để nhập quần áo mùa hè về bán, có thể giảm giá đến 80%)

    Chú ý: với vé máy bay thường có khuyến mại giá vé rất thấp (chỉ vài chục ngàn VNĐ), tuy nhiên chỉ có 1 số vé được bán với giá thấp, các vé còn lại vẫn bán đúng giá, và tính tổng cả chuyến bay thì tổng giá trị khuyến mại vẫn ít hơn 50%

    (4) Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ

    VD: mua hàng siêu thị từ 1 triệu đồng trở lên được tặng phiếu mua hàng trị giá 100 ngàn; mua ti vi tặng phiếu mua hàng trị giá 3 triệu

    Chú ý: nội dung phiếu theo Điều 97 luật Thương mại

    (5) Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

    VD: tạp chí thường có Phiếu dự thi về nội dung nào đó, như báo bóng đá thường có Phiếu dự đoán kết quả trận đấu sắp diễn ra.

    (6) Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố

    VD: cào để trúng thưởng, giật nắp (như lon bia, nước giải khát) để trúng thưởng

    Chú ý: đối với chương trình (6), nếu hết chương trình mà không tìm được người trúng thưởng thì phải trích nộp 50% giá trị thưởng vào ngân sách NN. Lý do là thương nhân đề ra chương trình (6) hoàn toàn có thể can thiệp vào kết quả (khác với chương trình số (5) thương nhân không thể can thiệp vào kết quả)

    (7) Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác

    (8) Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại

    Chú ý: các hình thức khuyến mại bị cấm: Điều 100

    3. Quảng cáo

    a. Khái niệm

    – Là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lời hoặc không sinh lời (Điều 2.1 luật Quảng cáo 2012)

    Chú ý:

    + phân biệt Luật Thương mại 2005 với luật Quảng cáo 2012 về các hoạt động quảng cáo nhằm mục đích sinh lời

    + cách thức xúc tiến thương mại trong quảng cáo là việc thương nhân sử dụng các sản phẩm quảng cáo, phương tiện quảng cáo để đưa thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng.

    VD phát tờ rơi ==> sản phẩm quảng cáo là tờ rơi; xem quảng cáo trên truyền hình ==> sản phẩm quảng cáo là video clip

    In quảng cáo trên xe buýt ==> phương tiện quảng cáo là xe buýt

    b. Hàng hóa và dịch vụ quảng cáo thương mại

    – Về nguyên tắc, thương nhân có quyền quảng cáo cho mọi hàng hóa, dịch vụ họ cung ứng

    – Tuy nhiên, về mặt quản lý NN, NN giới hạn cụ thể có những hàng hóa dịch vụ được phép kinh doanh nhưng không được hoặc hạn chế quảng cáo. VD rượu, thuốc lá

    c. Các hoạt động quảng cáo bị cấm (Điều 109)

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại 2: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-2?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương V

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương V

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương V: Chế tài thương mại mang đến những kiến thức quan trọng về các biện pháp xử lý vi phạm trong hoạt động thương mại, giúp đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giao dịch kinh doanh. Nội dung bài giảng tập trung vào các loại chế tài phổ biến như phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp pháp lý khác khi có vi phạm hợp đồng xảy ra. Đây là tài liệu cần thiết giúp sinh viên nắm vững quy định pháp luật và áp dụng hiệu quả các biện pháp chế tài trong thực tiễn kinh doanh.

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương V

    Chương 5: Chế tài thương mại

    1. Khái niệm chế tài trong thương mại

    Chế tài là biện pháp cưỡng chế NN có thể áp dụng nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định của PL

    Trong hoạt động thương mại, sự thỏa thuận giữa các bên thường được ghi nhận trong hợp đồng. Các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng. Tuy nhiên, việc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể xảy ra do cố ý hay vô ý. Để đảm bảo quyền lợi của mình, bên bị vi phạm áp dụng các chế tài thương mại

    Chế tài trong thương mại là các biện pháp xử phạt có tính vật chất mà bên bị vi phạm áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên bị vi phạm

    2. Căn cứ áp dụng chế tài trong thương mại

    • Bộ luật Dân sự 2015
    • Bộ luật Tố tụng Dân sự
    • Luật Thương mại 2005
    • Luật Trọng tài thương mại 2010
    • Các Nghị định, Nghị quyết

    3. Các hình thức chế tài trong thương mại

    Gồm 7 hình thức:

    • Buộc thực hiện đúng hợp đồng
    • Phạt vi phạm
    • Buộc bồi thường thiệt hại
    • Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
    • Đình chỉ thực hiện hợp đồng
    • Hủy bỏ hợp đồng
    • Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận, không trái với PL VN
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương V
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương V

    (1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng

    Là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi pphạm phải chịu chi phí phát sinh

    Nếu bên vi phạm giao thiếu hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng:

    • Nếu bên vi phạm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng hóa khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng
    • Bên vi phạm không được dùng tiền, hàng hóa khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm

    Nếu bên vi phạm không thực hiện theo quy định, thì bên bị vi phạm có quyền:

    • Mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan
    • Có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý

    Bên bị vi phạm phải nhận hàng hóa, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng hóa, thù lao dịch vụ nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định

    Nếu bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hóa, thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng

    Trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác.

    Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình

    (2) Phạt vi phạm

    Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận (trừ các trường hợp miễn trách nhiệm).

    Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.

    (3) Buộc bồi thường thiệt hại

    Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

    Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm: giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra; khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng (nếu không có hành vi vi phạm).

    Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các yếu tố sau:

    • Có hành vi vi phạm hợp đồng
    • Có thiệt hại thực tế
    • Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại

    Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm

    Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra

    Nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng biện pháp hạn chế tổn thất, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được

    Nếu các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm, bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

    Nếu các bên có thỏa thuận phạt vi phạm, bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại.

    Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác.

    (4) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng

    Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc 1 trong các trường hợp sau:

    • Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng
    • Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng

    Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực.

    Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

    Bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng (hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng, huỷ bỏ hợp đồng) phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc tạm ngừng (hoặc đình chỉ, huỷ bỏ) hợp đồng. Nếu không thông báo ngay dẫn đến gây thiệt hại cho bên kia, thì bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng (hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng, huỷ bỏ hợp đồng) phải bồi thường thiệt hại

    (5) Đình chỉ thực hiện hợp đồng

    Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc các trường hợp sau:

    • Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng
    • Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

    Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện, hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

    Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.

    Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của PL

    (6) Hủy bỏ hợp đồng

    Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hoặc hủy bỏ một phần hợp đồng:

    • Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng.
    • Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng. Các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.

    Chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau:

    • Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng
    • Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

    Sau khi huỷ bỏ, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.

    Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ theo hợp đồng:

    • Nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời
    • Nếu không thể hoàn trả bằng lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.

    Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của PL

    (7) Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của PL VN

    Các nguyên tắc cơ bản của PL thương mại:

    • Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại
    • Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại
    • Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên
    • Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên
    • Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
    • Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại

    4. Miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng

    – Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp:

    + xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận

    + xảy ra sự kiện bất khả kháng

    + hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia

    + hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý NN có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng

    – Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm

    * Nghĩa vụ thông báo, xác nhận miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng

    – Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.

    – Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết. Nếu bên vi phạm không thông báo, hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia mà có thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường thiệt hại.

    – Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trường hợp miễn trách nhiệm của mình.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại 2: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-2

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương II

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương II

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương II: Pháp luật về dịch vụ trung gian thương mại mang đến cái nhìn toàn diện về các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động trung gian trong thương mại, như môi giới, đại diện và ủy thác thương mại. Nội dung bài giảng giúp người học hiểu rõ vai trò, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, điều kiện để thực hiện dịch vụ trung gian, cũng như các vấn đề pháp lý phát sinh. Đây là tài liệu hữu ích giúp sinh viên xây dựng nền tảng kiến thức pháp lý vững chắc, phục vụ cho việc học tập và hành nghề trong lĩnh vực thương mại.

    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương II

    Chương 2: Pháp luật về dịch vụ trung gian thương mại

    1. Khái quát về trung gian thương mại

    a. Khái niệm (Điều 3 khoản 11)

    Trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho 1 hoặc 1 số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại

    Theo khái niệm chung về trung gian thương mại thì bên trung gian và bên sử dụng dịch vụ đều phải là thương nhân.

    Chú ý: theo luật kinh doanh bảo hiểm thì đại lý bảo hiểm có thể là 1 cá nhân ==> có sự mâu thuẫn giữa các luật

    b. Đặc điểm

    Chủ thể: bên cung ứng dịch vụ trung gian thương mại phải độc lập, là thương nhân cung ứng dịch vụ trung gian thương mại để nhận thù lao

    Nội dung của hoạt động trung gian thương mại: thực hiện các hoạt động thương mại nhằm kết nối nhà sản xuất (bên sử dụng dịch vụ trung gian thương mại) với khách hàng (người tiêu dùng)

    Hình thức: dịch vụ trung gian thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồng, gồm:

    • Đại diện cho thương nhân
    • Môi giới thương mại
    • Ủy thác mua bán hàng hóa
    • Đại lý thương mại

    2. Đại diện cho thương nhân

    a. Khái niệm (Điều 141)

    Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (bên đại diện) cho thương nhân khác (bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện.

    VD: A giao cho B làm đại diện cho mình, B tiếp xúc khách hàng và ký hợp đồng thương mại với khách hàng C với tư cách nhân danh A==> có 2 hợp đồng: hợp đồng B làm đại diện cho A, và hợp đồng thương mại giữa B với C

    Chú ý: hình thức đại diện này hiện rất ít thương nhân sử dụng, trừ hoạt động về sở hữu trí tuệ (vì họ có thể dễ dàng mở chi nhánh, văn phòng đại diện)

    b. Đặc điểm

    Chủ thể:

    • Bên giao và bên nhận đại diện đều phải là thương nhân
    • Thông thường, ngành nghề kinh doanh của bên giao đại diện và bên nhận đại diện phải tương đồng (luật không yêu cầu về sự tương đồng trong ngành nghề)
    • Bên đại diện nhân danh chính mình trong quan hệ đại diện và nhân danh bên giao đại diện trong quan hệ với bên thứ 3
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương II
    Bài giảng môn học Luật Thương mại 2 chương II

    Phạm vi hoạt động đại diện (Điều 143): Các bên có thể thoả thuận về việc bên đại diện được thực hiện một phần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện

    Hình thức pháp lý (Điều 142): Hợp đồng đại diện cho thương nhân phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

    c. Quyền và nghĩa vụ của các bên

    Bên đại diện:

    • Nghĩa vụ: Điều 145
    • Quyền: Điều 147, 148, 149

    Bên giao đại diện:

    • Nghĩa vụ: Điều 146
    • Quyền: không quy định

    Chú ý: Điều 144 về thời hạn đại diện: không quy định việc chấm dứt đại diện (nếu không có thỏa thuận) bằng hình thức gì ==> có thể bằng văn bản hoặc lời nói, cử chỉ

    3. Môi giới thương mại

    a. Khái niệm (Điều 150)

    Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới

    b. Đặc điểm

    Chủ thể:

    • Bên môi giới phải là thương nhân, nhân danh chính mình trong các quan hệ được môi giới
    • Bên được môi giới không nhất thiết phải là thương nhân ==> chú ý: điều này trái với quy định chung về chủ thể trung gian thương mại phải là thương nhân ==> có sự không thống nhất về chủ thể trong các nhóm dịch vụ trung gian thương mại

    Chú ý: bên môi giới có thể ký 2 hợp đồng môi giới đồng thời với bên mua và bên bán

    Phạm vi môi giới: tất cả các hoạt động thương mại nói chung (mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ)

    Chú ý: luật Thương mại 2005 chỉ quy định về khung PL cho hoạt động môi giới. Các hoạt động môi giới chuyên ngành sẽ do luật chuyên ngành điều chỉnh

    Hình thức pháp lý: luật Thương mại 2005 không quy định ==> có thể bằng văn bản, lời nói, hành vi

    c. Quyền và nghĩa vụ

    Bên môi giới:

    • Nghĩa vụ: Điều 151
    • Quyền: Điều 153, 154

    Bên được môi giới:

    • Nghĩa vụ: Điều 152
    • Quyền: không quy định

    Chú ý: Điều 153 quy định thời điểm môi giới thành công (để được nhận thù lao) là thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau. Tuy nhiên trong thực tế không sử dụng quy định tại Điều 153 này, vì khi bên mua và bên bán gặp nhau, họ có thể hủy hợp đồng môi giới (có thể đền bù, nhưng rất nhỏ so với thù lao môi giới thành công) và sau đó làm việc trực tiếp với nhau.

    4. Ủy thác mua bán hàng hóa

    a. Khái niệm (Điều 155)

    – Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.

    VD: A ủy thác cho B mua hàng hóa của C, khi đó B sẽ ký hợp đồng mua hàng hóa với C, sau đó bán lại cho A. Chú ý nếu giả sử A không trả liền cho B để B thanh toán cho C thì C sẽ chỉ đòi B mà không đòi A.

    b. Đặc điểm

    – Chủ thể:

    + bên nhận ủy thác phải là thương nhân, có ngành nghề hoạt động kinh doanh phù hợp với đối tượng ủy thác

    + trong quan hệ với bên thứ 3 (khách hàng) thì bên nhận ủy thác nhân danh chính mình

    – Phạm vi ủy thác: (hẹp hơn môi giới) chỉ trong hoạt động mua bán hàng hóa.

    Câu hỏi: Bên nhận ủy thác có được ủy thác lại cho bên khác thực hiện không?

    Trả lời: căn cứ vào hợp đồng ủy thác, nếu trong hợp đồng không quy định thì theo quy định trong luật Thương mại, luật Dân sự

    – Hình thức pháp lý: hợp đồng ủy thác phải lập thành văn bản

    c. Quyền và nghĩa vụ các bên

    – Bên nhận ủy thác:

    + nghĩa vụ: Điều 165

    + quyền: Điều 164

    – Bên ủy thác:

    + nghĩa vụ: Điều 163

    + quyền: Điều 162

    5. Đại lý thương mại

    a. Khái niệm (Điều 166)

    – Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao.

    VD: hãng Honda không bán trực tiếp cho người tiêu dùng mà chỉ bán cho các Đại lý ủy quyền (HEAD), các đại lý ủy quyền sẽ bán cho người tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ bảo hành, sửa chữa

    b. Đặc điểm

    – Chủ thể:

    + bên đại lý, bên giao đại lý đều phải là thương nhân

    + trong quan hệ với bên thứ 3 (khách hàng), bên đại lý nhân danh chính mình

    – Phạm vi đại lý: hàng hóa và dịch vụ (VD đại lý du lịch)

    – Hình thức pháp lý: bằng văn bản

    c. Các hình thức đại lý

    – Đại lý bao tiêu: bao tiêu tất cả hành hóa của nhà sản xuất

    – Đại lý độc quyền: thỏa thuận với nhà sản xuất về độc quyền bán hàng trong khu vực

    – Tổng đại lý: nhà sản xuất chỉ bán cho tổng đại lý, sau đó tổng đại lý sẽ bán lại cho các đại lý cấp 1, đại lý cấp 1 bán cho các đại lý cấp 2, …

    d. Quyền và nghĩa vụ các bên

    – Bên đại lý:

    + nghĩa vụ: Điều 175

    + quyền: Điều 174, 170

    – Bên giao đại lý:

    + nghĩa vụ: Điều 173

    + quyền: Điều 172

    Chú ý: Điều 170 về quyền sở hữu trong đại lý thương mại: Bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hoá hoặc tiền giao cho bên đại lý (tức là bên đại lý chỉ là giữ hộ hàng để bán) ==> rủi ro thuộc về bên giao đại lý (mặc dù hàng hóa đã chuyển về kho của bên đại lý, và bên đại lý đang quản lý) ==> trong hợp đồng đại lý phải có điều khoản chuyển giao rủi ro cho bên đại lý

    Khác với việc mua của nhà sản xuất rồi bán lại ==> là nhà phân phối

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại 2: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-2

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.