Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ Chương XIV cung cấp những kiến thức chuyên sâu về bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, và các quyền liên quan khác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Chương học này sẽ giúp người học hiểu rõ hơn về cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu trí tuệ, cách thức thực hiện quyền và trách nhiệm liên quan, cũng như các biện pháp pháp lý trong trường hợp xảy ra tranh chấp hay xâm phạm quyền. Đây là nền tảng kiến thức quan trọng dành cho sinh viên chuyên ngành và những ai quan tâm đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương XIV
Chương 14: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
1. Các khái niệm chung
– Phân biệt các khái niệm:
+ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: là việc NN ban hành các quy định PL về quyền SHTT nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT như tác giả, chủ sở hữu văn bằng bảo hộ và những chủ thể khác liên quan đến việc sử dụng quyền SHTT
+ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ: là những biện pháp cụ thể được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm
+ thực thi quyền sở hữu trí tuệ: là NN và chủ sở hữu đối tượng quyền SHTT dùng các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền SHTT, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền SHTT của mình.
– Đặc điểm của bảo vệ quyền SHTT:
+ chủ thể áp dụng biện pháp bảo vệ là chủ thể quyền SHTT hoặc các cơ quan NN có thẩm quyền
+ phương thức bảo vệ quyền SHTT là áp dụng các biện pháp khác nhau để xử lý hành vi xâm phạm tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm
+ mục đích của bảo vệ quyền SHTT là nhằm ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền SHTT
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương XIV
2. Các biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ (Điều 198)
a. Biện pháp tự bảo vệ
– Chủ thể quyền SHTT được tiến hành các biện pháp trong khuôn khổ PL nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến các đối tượng của quyền SHTT
b. Biện pháp dân sự
– Được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của chủ thể quyền SHTT hoặc của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hay hình sự.
c. Biện pháp hành chính
– Được các cơ quan NN có thẩm quyền áp dụng để xử lý những hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền SHCN nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
d. Biện pháp hình sự
– (Điều 212) Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
e. Biện pháp kiểm soát hàng hóa
– Thường được hải quan áp dụng, như tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ Chương XII: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tập trung phân tích các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp và cách nhận diện dấu hiệu xâm phạm. Chương học cung cấp kiến thức về các hành vi xâm phạm như sao chép, sử dụng trái phép, làm giả sản phẩm; đồng thời nêu rõ các biện pháp xử lý, chế tài hành chính, dân sự, hình sự áp dụng với từng trường hợp cụ thể. Qua bài giảng này, người học sẽ hiểu rõ cách bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, góp phần phòng tránh và xử lý các tình huống vi phạm hiệu quả.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương XII
Chương 12: Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Chương 12 của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quy định về Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm các quy định liên quan đến các hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, biện pháp xử lý, cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên liên quan. Dưới đây là những nội dung chính trong chương này:
1. Các Hành Vi Xâm Phạm Quyền Sở Hữu Công Nghiệp
Các hành vi sau đây có thể bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh:
Sử dụng trái phép đối tượng quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, chỉ dẫn địa lý) mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc người có quyền.
Sản xuất, nhập khẩu, phân phối, buôn bán hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ.
Tiết lộ, sử dụng trái phép bí mật kinh doanh của người khác mà không được sự đồng ý của người nắm giữ bí mật kinh doanh đó.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương XII
2. Các Biện Pháp Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Công Nghiệp
Chương này quy định các biện pháp bảo vệ và xử lý đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm:
Biện pháp dân sự: Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp có thể yêu cầu tòa án xác định hành vi xâm phạm, yêu cầu bồi thường thiệt hại và yêu cầu áp dụng các biện pháp khác nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm.
Biện pháp hành chính: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xử phạt hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Biện pháp hình sự: Trong trường hợp xâm phạm nghiêm trọng, hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Trách Nhiệm Bồi Thường Thiệt Hại
Người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu quyền, bao gồm:
Thiệt hại về vật chất: Các thiệt hại liên quan đến sản lượng, doanh thu, lợi nhuận bị mất do hành vi xâm phạm.
Thiệt hại về tinh thần: Chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu bồi thường về tổn thất danh tiếng, thương hiệu nếu bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
4. Các Quy Định Liên Quan Khác
Ngoài ra, Chương 12 cũng quy định về:
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Thủ tục giải quyết khiếu nại và yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm.
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm nếu người thực hiện hành vi không có ý định hoặc không nhận thức được hành vi của mình là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ Chương XI: Chủ thể, Nội dung, Giới hạn quyền, và Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cung cấp kiến thức sâu rộng về các chủ thể có quyền sở hữu công nghiệp và các quyền, nghĩa vụ đi kèm. Nội dung chương xoáy sâu vào phạm vi, giới hạn của quyền sở hữu công nghiệp, cùng với các quy định pháp lý về chuyển giao quyền sở hữu và chuyển nhượng, cấp phép sử dụng quyền. Bài giảng cũng nêu rõ các điều kiện và thủ tục để thực hiện chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, giúp người học hiểu rõ và áp dụng pháp luật trong bảo hộ, khai thác tài sản trí tuệ một cách hợp pháp và hiệu quả.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương XI
Chương 11: Chủ thể, nội dung, giới hạn quyền, chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
I. Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp
1. Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp (Điều 121)
– Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng
– Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng
– Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức,cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh
– Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó
– Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước
2. Tác giả và quyền của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí (Điều 122)
– Tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là người trực tiếp sáng tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp; trong trường hợp có hai người trở lên cùng nhau trực tiếp sáng tạo ra đối tượng sở hữu công nghiệp thì họ là đồng tác giả.
– Quyền nhân thân của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí gồm:
+ Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
+ Được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
– Quyền tài sản của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là quyền nhận thù lao theo quy định tại Điều 135 của Luật này
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương XI
1. Quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp (Điều 123)
II. Nội dung quyền sở hữu công nghiệp
– Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau:
+ Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (theo quy định tại Điều 124 và Chương X của Luật này)
Sử dụng ở đây có nghĩa khá rộng: được quyền sản xuất sản phẩm đó / áp dụng quy trình đó ; khai thác công dụng để thu lợi nhuận ; các hình thức lưu thông như trưng bày, quảng cáo, tàng trữ, vận chuyển, bán, nhập khẩu sản phẩm đó
+ Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp (theo quy định tại Điều 125 của Luật này).
Chú ý: khoản 2 Điều 125 quy định những trường hợp chủ sở hữu đối tượng SHCN không có quyền cấm người khác (được coi là các trường hợp giới hạn quyền của quyền SHCN):
Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc mục đích phi thương mại, hoặc nhằm mục đích đánh giá, phân tích, nghiên cứu, giảng dạy, thử nghiệm, sản xuất thử hoặc thu thập thông tin để thực hiện thủ tục xin phép sản xuất, nhập khẩu, lưu hành sản phẩm
Lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài
+ Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp (theo quy định tại Chương X của Luật này)
– Tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền sử dụng, quyền quản lý chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này có các quyền:
+ Tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền cho phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý đó (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này)
+ Tổ chức,cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc tổ chức được trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý đó (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này)
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương X: Xác lập quyền sở hữu công nghiệp sẽ giúp người học hiểu rõ về các nguyên tắc, quy trình và điều kiện xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, và chỉ dẫn địa lý. Chương này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phân tích các bước đăng ký, thời hạn bảo hộ, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu cũng như quy định pháp lý liên quan khi có tranh chấp hoặc vi phạm quyền sở hữu công nghiệp.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương X
Chương 10: Xác lập quyền sở hữu công nghiệp
– Xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ, áp dụng với 5 đối tượng:
+ sáng chế
+ thiết kế bố trí mạch tích hợp
+ kiểu dáng công nghiệp
+ nhãn hiệu
+ chỉ dẫn địa lý
– Xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở thực tiễn sử dụng, được bảo hộ tự động (không phải đăng ký), áp dụng với 3 đối tượng:
+ tên thương mại: bằng chứng để được bảo hộ gồm Giấy đăng ký kinh doanh, các hợp đồng, các tài liệu quảng cáo, xúc tiến thương mại, hóa đơn … để chứng minh việc sử dụng thực tế tên thương mại
+ bí mật kinh doanh: chủ thể sở hữu tự bảo vệ bí mật của mình
+ nhãn hiệu nổi tiếng
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương X
Câu hỏi: Sự khác nhau giữa quyền tác giả với nhóm 3 đối tượng được bảo hộ tự động nêu trên (vì cùng được bảo hộ tự động, không cần phải đăng ký) ?
Trả lời:
+ Quyền tác giả tự động phát sinh ngay khi ra đời, còn 3 đối tượng trên phải qua thực tiễn sử dụng thì mới được bảo hộ
+ Quyền tác giả được bảo hộ vô điều kiện, không cần quan tâm đến nội dung; trong khi 3 đối tượng trên phải đáp ứng các điều kiện, các tiêu chuẩn do PL quy định (chứ không đương nhiên được bảo hộ), VD với tên thương mại phải không được trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của chủ thể đã được bảo hộ trước đó (trong khi tên tác phẩm có thể trùng nhau)
I. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ
1. Quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp (Điều 86)
– Chủ thể có quyền đăng ký:
+ tác giả
+ tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc
– Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.
==> đây là hình thức hợp tác rất phổ biến hiện nay giữa doanh nghiệp với các trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu, trường đại học
– Người có quyền đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của PL, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.
==> thường gặp trong các hội chợ công nghệ, khi nhà khoa học ký hợp đồng chuyển giao quyền đăng ký cho doanh nghiệp
– Trường hợp nhà nước đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất thì quyền đăng ký thuộc về nhà nước. Nếu nhà nước chỉ góp 1 phần kinh phí, cơ sở vật chất thì NN được hưởng 1 phần quyền đăng ký tương ứng.
– Chú ý:
+ với sáng chế: có thể đăng ký bảo hộ tại VN hoặc tại nước ngoài (hầu hết các nước đều là thành viên của Công ước Paris 1883 về quyền sở hữu công nghiệp)
+ với sáng chế mật như trong lĩnh vực quốc phòng an ninh: vẫn đăng ký như bình thường nhưng không công khai thông tin
Các sáng chế sau khi thẩm định sẽ được công bố công khai. Mục đích là để không nghiên cứu trùng lặp, nhằm tiết kiệm chi phí xã hội; và để mọi người đều có thể tiếp cận thông tin về đơn đăng ký sáng chế, có ý kiến về đơn đăng ký đó, hoặc để hợp tác sản xuất kinh doanh trên cơ sở sáng chế.
+ với thiết kế bố trí mạch tích hợp: chỉ thẩm định về hình thức, chưa thẩm định về nội dung (do hạn chế về chuyên gia trong lĩnh vực này), tuy nhiên đến nay ở VN chưa có đơn đăng ký nào
2. Quyền đăng ký nhãn hiệu (Điều 87)
– Chủ thể có quyền đăng ký nhãn hiệu:
+ Tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất hành hóa hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường.
Câu hỏi: nếu tổ chức, cá nhân chưa sản xuất hàng hóa, dịch vụ mà mới chỉ có kế hoạch sản xuất thôi thì có được đăng ký nhãn hiệu không ?
Trả lời: Việc không cho đăng ký trước nhãn hiệu hàng hóa khi chưa sản xuất là để nhằm tránh việc “giữ chỗ để bán lại” cho chủ thể thực sự của hàng hóa sau này. Tuy nhiên nó cũng gây khó khăn cho chính chủ thể thực sự sản xuất hàng hóa khi muốn sớm bảo vệ nhãn hiệu mình mong muốn (vì chờ đến khi sản xuất xong mới đăng ký thì rủi ro sẽ rất cao). Do đó luật SHTT chỉ quy định một cách “lấp lửng”, không rõ ràng về việc này, thể hiện khi thẩm định đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu không xem xét đến việc đã sản xuất hay chưa, chỉ đến khi có đơn khiếu nại của chủ thể khác thì mới yêu cầu chủ thể nộp đơn nộp bổ sung.
+ Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện:
người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm, và
không phản đối việc đăng ký đó
+ Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế nhãn hiệu tập thể.
VD tổng công ty thuốc lá VN đăng ký nhãn hiệu tập thể là Vinataba để các công ty thành viên sử dụng
+ Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó.
+ Chú ý: đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (thường là UBND): lý do là việc cho phép 1 chủ thể đăng ký độc quyền tên địa danh hoặc các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý, đặc sản địa phương có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng (nên phải được cơ quan NN có thẩm quyền cho phép)
– Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:
+ Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất,kinh doanh; và
+ Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.
3. Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý (Điều 88)
– Quyền đăng ký thuộc về NN, tuy nhiên thực tế NN thường ủy quyền cho các hiệp hội sản xuất sản phẩm, ví dụ Hiệp hội sản xuất thanh long Bình Thuận, Hiệp hội sản xuất nước mắm Phú Quốc, … Nơi chưa có hiệp hội thì UBND sẽ đứng ra đăng ký chỉ dẫn địa lý.
4. Nguyên tắc đăng ký
– Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (Điều 90):
+ đối tượng áp dụng: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu (==> không áp dụng đối với chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp)
+ điều kiện áp dụng:
khi có nhiều đơn đăng ký sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau
khi có nhiều đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau
khi có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau
==> nếu đăng ký nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã đăng ký nhưng cho sản phẩm, dịch vụ không trùng, không tương tự thì vẫn được bảo hộ. VD Công ty dược Ích Nhân có sản phẩm viên uống Bảo Xuân đã được đăng ký nhãn hiệu, sau đó 1 công ty khác đăng ký nhãn hiệu Bảo Xuân cho sản phẩm kem dưỡng da; viên uống Bảo Xuân thuộc dược phẩm (thuộc phân nhóm 5) trong khi kem dưỡng da Bảo Xuân thuộc mỹ phẩm (thuộc phân nhóm 3) ==> nếu theo luật SHTT thì sản phẩm kem dưỡng da Bảo Xuân vẫn được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên nếu Công ty dược Ích Nhân chứng minh được sản phẩm viên uống Bảo Xuân của mình thuộc nhãn hiệu nổi tiếng, và việc kem dưỡng da tuy khác phân nhóm hàng hóa nhưng công dụng là giống nhau (làm đẹp theo kiểu “trong uống ngoài bôi”) và việc sử dụng tên Bảo Xuân có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì sản phẩm kem dưỡng da Bảo Xuân có thể bị từ chối bảo hộ nhãn hiệu.
+ nội dung nguyên tắc: trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký trùng hoặc tương tự, thì văn bằng bảo hộ sẽ được cấp cho nhãn hiệu có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm nhất. Nếu có cùng ngày ưu tiên hoặc cùng ngày nộp đơn, thì văn bằng bảo hộ sẽ được cấp cho 1 đơn theo thỏa thuận giữa các chủ thể nộp đơn; nếu không thỏa thuận được thì sẽ từ chối tất cả các đơn.
+ ngoại lệ: nếu chứng minh được nhãn hiệu là nhãn hiệu nổi tiếng hoặc nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi thì cho dù có nộp đơn sau thì cũng được cấp văn bằng bảo hộ
Chú ý: 3 cấp độ của nhãn hiệu:
Nhãn hiệu thông thường
Nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi
Nhãn hiệu nổi tiếng
Tuy nhiên ở VN thì chưa có tiêu chí để đánh giá, thường chỉ “dám” đánh giá nhãn hiệu ở mức độ “được sử dụng và thừa nhận rộng rãi”.
– Nguyên tắc ưu tiên (Điều 91):
+ Chú ý: rất hay nhầm lẫn về việc bảo hộ quy định trong Công ước Berne 1886 và Công ước Paris 1883: theo Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả thì quyền tác giả được bảo hộ tự động, nên nếu đã được bảo hộ tại 1 quốc gia thì sẽ được bảo hộ tại tất cả các quốc gia còn lại là thành viên của Công ước Berne; còn với Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì quyền sở hữu công nghiệp phải được đăng ký mới được bảo hộ và phạm vi bảo hộ chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia thành viên, tức là muốn được bảo hộ tại nước khác thì phải đăng ký bảo hộ tại nước đó.
==> vì vậy Công ước Paris đề ra nguyên tắc ưu tiên
+ nội dung: khi 1 chủ thể nộp đơn lần đầu tại 1 quốc gia thành viên Công ước Paris, thì ngày nộp đơn đó trở thành “ngày ưu tiên” và khi nộp đơn tại nước khác thì họ có quyền yêu cầu được hưởng “ngày ưu tiên”. Thời hạn của “ngày ưu tiên” đối với sáng chế là 12 tháng, đối với nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp là 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên.
5. Thủ tục đăng ký quyền sở hữu công nghiệp
– Yêu cầu chung: quy định tại Điều 100 luật SHTT
– Quy định chi tiết: tại Thông tư 01 năm 2007 của Bộ Khoa học công nghệ
– Đơn đăng ký gồm các thành phần:
+ Tờ khai đăng ký theo mẫu
+ Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng sở hữu công nghiệp đăng ký bảo hộ: đối với sáng chế là bản mô tả sáng chế, đối với kiểu dáng công nghiệp là bộ ảnh chụp, bộ bản vẽ; đối với nhãn hiệu là mẫn nhãn hiệu và danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; đối với chỉ dẫn địa lý là bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý …
+ Chứng từ nộp phí, lệ phí
+ Các tài liệu có liên quan, được yêu cầu nộp bổ sung nếu cần thiết: Giấy uỷ quyền (nếu đơn nộp thông qua đại diện); Tài liệu chứng minh quyền đăng ký (nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác); Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên (nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên), Giấy chứng nhận kinh doanh (nếu chủ thể là doanh nghiệp), …
+ Với nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý: nộp Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể / chứng nhận / chỉ dẫn địa lý
– Mỗi đơn đăng ký chỉ được đăng ký bảo hộ cho 1 đối tượng sở hữu công nghiệp (Điều 101). Ngoại lệ:
+ Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp 1 Bằng độc quyền sáng chế hoặc 1 Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho 1 nhóm sáng chế có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ thuật nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo chung duy nhất
+ Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp 1 Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp cho nhiều kiểu dáng công nghiệp trong các trường hợp sau đây:
Các kiểu dáng công nghiệp của một bộ sản phẩm gồm nhiều sản phẩm thể hiện ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, được sử dụng cùng nhau hoặc để thực hiện chung một mục đích;
Một kiểu dáng công nghiệp kèm theo một hoặc nhiều phương án là biến thể của kiểu dáng công nghiệp đó, theo ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp đó
+ Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho một nhãn hiệu dùng cho một hoặc nhiều hàng hoá, dịch vụ khác nhau.
– Trình tự 6 bước xử lý đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp:
+ B1: tiếp nhận đơn đăng ký (Điều 108): Cục SHTT sẽ tiếp nhận đơn đăng ký nếu đơn đó có đầy đủ các tài liệu bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 100. Nếu đơn không đầy đủ thì sẽ bị trả lại để bổ sung. Ngày được tiếp nhận đơn có ý nghĩa trong việc xác định thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp sau khi được cấp văn bằng.
+ B2: thẩm định hình thức đơn đăng ký (Điều 109): Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp bị coi là không hợp lệ trong các trường hợp sau đây:
Đối tượng nêu trong đơn là đối tượng không được bảo hộ: VD nộp đơn đăng ký sáng chế cho phần mềm máy tính (sai đối tượng của sáng chế), nộp đơn đăng ký nhãn hiệu cho bài thơ (sai đối tượng của nhãn hiệu)
Người nộp đơn không có quyền đăng ký, kể cả trường hợp quyền đăng ký cùng thuộc nhiều tổ chức, cá nhân nhưng một hoặc một số người trong số đó không đồng ý thực hiện việc nộp đơn
Đơn không đáp ứng các yêu cầu về hình thức: thiếu tài liệu theo quy định
Người nộp đơn không nộp phí và lệ phí
Thời hạn để thẩm định đơn là 1 tháng kể từ ngày nộp đơn, nếu đơn có thiếu sót thì thông báo cho người nộp và người nộp có 1 tháng để chỉnh sửa, bổ sung. Nếu đơn đã đầy đủ thì Cục SHTT thông báo chấp nhận đơn.
+ B3: công bố đơn đăng ký trên Công báo SHCN: trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày Cục SHTT nhận được đơn hợp lệ
+ B4: thẩm định nội dung đơn đăng ký:
Thời hạn thẩm định nội dung đối với kiểu dáng công nghiệp không quá 7 tháng, đối với nhãn hiệu không quá 9 tháng, đối với chỉ dẫn địa lý không quá 6 tháng kể từ ngày công bố đơn.
Đối với sáng chế, việc thẩm định nội dung chỉ được thực hiện nếu có yêu cầu (của người nộp đơn hoặc của bên thứ 3) và phải nộp phí thẩm định nội dung. Thời hạn yêu cầu thẩm định nội dung đối với sáng chế là 42 tháng, đối với giải pháp hữu ích là 36 tháng kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên. Thời hạn thẩm định nội dung đối với sáng chế không quá 18 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu thẩm định nội dung hoặc kể từ ngày công bố đơn (nếu yêu cầu thẩm định được nộp trước ngày công bố đơn). Chú ý: nếu sáng chế không được yêu cầu thẩm định trong thời hạn 42 tháng (với giải pháp hữu ích là 36 tháng) thì bị coi như rút Đơn đăng ký sáng chế (tức là việc không xem xét cấp văn bằng nữa).
Đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp: không thẩm định nội dung, chỉ cần đơn đăng ký đáp ứng yêu cầu về hình thức là có thể cấp văn bằng bảo hộ
Sửa đổi, bổ sung nội dung đơn: theo yêu cầu của Cục sở hữu trí tuệ (như bổ sung thêm tài liệu, ảnh chụp, …); hoặc do chính bản thân chủ đơn tự sửa đổi, bổ sung đơn. Chú ý nguyên tắc: không được sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi bảo hộ. VD đã nội Đơn đăng ký nhãn hiệu Hương Lan cho sản phẩm thực phẩm, bánh kẹo, sau đó người nộp đơn lại yêu cầu đăng ký thêm nhãn hiệu Hương Lan cho dịch vụ bán bánh kẹo, tức là đã mở rộng phạm vi bảo hộ ==> sẽ bị từ chối
Tách đơn đăng ký: trường hợp Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu có thể được tách theo yêu cầu của chủ đơn hoặc theo yêu cầu của Cục SHTT thành các Đơn độc lập
Chuyển đơn đăng ký:hiện nay ở VN chỉ có chuyển đối Đơn đăng ký sáng chế sang Đơn đăng ký giải pháp hữu ích
Chuyển giao đơn đăng ký: là trường hợp thay đổi người nộp đơn. Là trường hợp người nộp đơn đã chuyển giao cho người khác
+ B5: cấp văn bằng bảo hộ
+ B6: đăng bạ và công bố trên Công báo THCN
Câu hỏi: Tại sao văn bằng bảo hộ có hiệu lực từ ngày cấp, trong khi thời hạn bảo hộ lại có hiệu lực kể từ ngày nộp đơn ?
Trả lời: Vì kể từ ngày nộp đơn thì chủ thể nộp đơn đã được ưu tiên hơn những chủ thể nộp đơn sau, ví dụ nếu chủ thể nộp đơn sau có sáng chế trùng hoặc tương đương thì sẽ bị từ chối bảo hộ. Ngoài ra với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp thì kể từ ngày nộp đơn, chủ thể có 1 quyền gọi là “quyền tạm thời” (Điều 131), theo đó mặc dù chưa được bảo hộ nhưng vẫn có quyền yêu cầu chủ thể khác không được sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp trong hoạt động thương mại, và nếu chủ thể kia không chấm dứt hành vi đó thì có thể bị kiện ra tòa và yêu cầu bồi thường thiệt hại như đối với việc bị vi phạm quyền SHTT.
Tình huống: Một doanh nghiệp sáng chế và sản xuất ra 1 loại máy hút bụi mới và đã bán ra trên thị trường được 1 năm. Khi bị các doanh nghiệp khác bắt chước, sản xuất hàng “nhái” thì doanh nghiệp đó mới đi đăng ký sáng chế. Hỏi khi Cục sở hữu tra cứu thì sẽ tra cứu ở đâu, có tra cứu trên thị trường không ?
Trả lời: Cục sở hữu trí tuệ sẽ không tra cứu trên thị trường, họ sẽ tra cứu trong những Đơn đăng ký sáng chế có cùng chỉ số phân loại mà đã nộp trước trong vòng 25 năm. Như vậy quy định của luật có bị “thừa” ? Câu trả lời là không hề thừa. Bởi vì tra cứu trên thị trường chỉ là 1 nguồn thông tin mở rộng chứ không phải là nguồn thông tin bắt buộc khi tra cứu, trường hợp cần thiết sẽ tra cứu nguồn thông tin mở rộng.
Câu hỏi: Tại sao phải công bố đơn trên Công báo SHTT ?
Trả lời: Công bố đơn đăng ký quyền sở hữu trí tuệ là nhằm:
+ để công chúng có thể tiếp cận với đơn đăng ký
+ để tránh lãng phí nếu nghiên cứu trùng lặp
+ là nguồn thông tin quan trọng khi xử lý đơn đăng ký: bất kỳ bên thứ 3 nào cũng có thể gửi ý kiến phản hồi (Điều 112)
II. Xác lập quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở thực tiễn sử dụng
Một số đối tượng sở hữu công nghiệp mà quyền sở hữu công nghiệp được xã lập 1 cách tự động, không cần phải trải qua các trình tự thủ tục xin xác lập quyền:
– Tên thương mại: được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại
– Bí mật kinh doanh: được xác lập dựa trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất cứ cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin bí mật kinh doanh đó
– Nhãn hiệu nổi tiếng: chủ sở hữu nhãn hiệu phải chứng minh nhãn hiệu là nổi tiếng theo quy định tại Điều 75 luật SHTT
III. Chấm dứt hiệu lực và hủy bỏ văn bằng bảo hộ
1. Chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ (Điều 95)
– Văn bằng bảo hộ bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Chủ văn bằng bảo hộ không nộp lệ phí duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định;
b) Chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;
c) Chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp;
d) Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng,trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;
đ) Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;
e) Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát,kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận;
g) Các điều kiện địa lý tạo nên danh tiếng,chất lượng,đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm mất danh tiếng,chất lượng,đặc tính của sản phẩm đó.
2. Hủy bỏ văn bằng bảo hộ (Điều 96)
– Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
a) Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế,kiểu dáng công nghiệp,thiết kế bố trí,nhãn hiệu;
b) Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ
– Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ văn bằng bảo hộ: thường là trước thời hạn bảo hộ, riêng đối với nhãn hiệu thì thời hiệu này là 5 năm
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương IX tập trung vào Điều kiện bảo hộ tên thương mại và chỉ dẫn địa lý, giúp sinh viên hiểu rõ các quy định pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến các đối tượng này. Nội dung chương này làm rõ điều kiện để một tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, như khả năng phân biệt, tính hợp pháp và đặc tính địa lý đặc trưng. Qua đó, sinh viên sẽ có kiến thức cần thiết để áp dụng trong việc bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp và phát triển thương hiệu.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương IX
Chương 9: Điều kiện bảo hộ tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
Điều kiện bảo hộ tên thương mại (Điều 76, 77, 78)
Điều kiện chung về bảo hộ tên thương mại: Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện:
Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng.
Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Không trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại được sử dụng.
VD: “Công ty cổ phần bánh mứt kẹo Hà Nội”, “Công ty cổ phần rượu bia Sài Gòn” dù không chứa thành phần tên riêng nhưng đã tồn tại lâu dài và đã được người tiêu dùng biết đến rộng rãi, do đó vẫn phân biệt được chủ thể kinh doanh đó với chủ thể kinh doanh khác ==> vẫn được bảo hộ
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương IX
Tình huống: Công ty TNHH Secom Việt Nam thành lập và hoạt động từ 01/2006 trên toàn lãnh thổ VN, lĩnh vực dịch vụ tư vấn các giải pháp về an toàn phòng cháy chữa cháy, dịch vụ điện.
Công ty TNHH Se Com được thành lập vào tháng 4/2007 và hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chuyên lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị phòng cháy chữa cháy, camera theo dõi, thiết bị báo động, báo cháy.
Hỏi tên “Công ty TNHH Se Com” có được bảo hộ tên thương mại không ?
Trả lời: Cả 2 tên đều có cùng thành phần chung là “Công ty TNHH”, “Việt Nam” là xuất xứ địa lý ==> do đó chỉ so sánh thành phần tên riêng là “Secom” và “Se Com”
Nếu bảo vệ cho Công ty TNHH Secom Việt Nam:
Về cấu trúc: trùng 5/5 ký tự, trật tự sắp xếp các ký tự cũng trùng nhau
Về cách phát âm: giống nhau, đều có 2 âm và đều phát âm giống nhau
Về khu vực kinh doanh: cùng khu vực kinh doanh, vì thành phố Hồ Chí Minh nằm trong Việt Nam
Về lĩnh vực kinh doanh:
cả 2 cùng có cùng đối tượng kinh doanh là thiết bị phòng cháy chữa cháy và các thiết bị về an ninh;
đây lại là các thiết bị chuyên dụng, người tiêu dùng thông thường sẽ cần tư vấn khi lựa chọn thiết bị nên mặc dù trong lĩnh vực kinh doanh của Công ty Se Com không có hoạt động tư vấn giải pháp thì vẫn hàm chứa hoạt động tư vấn giả pháp trong thực tế kinh doanh;
đối tượng khách hàng đều là người có nhu cầu lắp đặt thiết bị phòng cháy chữa cháy và an ninh
Kết luận: việc sử dụng tên thương mại Se Com là gây nhầm lẫn với tên thương mại Secom đã được bảo hộ trước đó
Nếu bảo vệ cho Công ty TNHH Se Com:
Tên thương mại được dùng chủ yếu trong các giao kết hợp đồng, trong hoạt động quảng cáo, chứ không phải để lựa chọn sản phẩm như đối với nhãn hiệu. Mà trong giao kết hợp đồng hay trong các biển hiệu quảng cáo thì yếu tố cảm nhận là thị giác (không phải cách phát âm). Mà bằng thị giác thì rõ ràng “Secom” và “Se Com” là khác nhau rõ ràng
Nghiên cứu xem Công ty Secom Việt Nam có hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không, nếu không hoạt động hoặc hoạt động rất ít thì sẽ là 1 cơ sở để chứng minh khu vực kinh doanh là không trùng nhau
Lĩnh vực kinh doanh là khác nhau: công ty Secom cung cấp giải pháp tổng thể về phòng cháy chữa cháy và an ninh, trong khi công ty Se Com cung cấp cụ thể các trang thiết bị phòng cháy chữa cháy và an ninh ==> khác nhau
Lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy và an ninh đòi hỏi chi phí khá cao, do đó người tiêu dùng sẽ rất cẩn trọng khi quyết định ==> khả năng nhầm lẫn là rất thấp
Khi nào tên thương mại không được bảo hộ nữa ?
Do tên thương mại được bảo hộ tự động khi tham gia các hoạt động thương mại, thời hạn bảo hộ cho tên thương mại là vô hạn, và sẽ chấm dứt bảo hộ tên thương mại khi chủ thể của tên thương mại không còn tham gia vào hoạt động thương mại nữa.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VIII với nội dung về Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và các loại nhãn hiệu giúp sinh viên hiểu rõ các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu. Chương này cung cấp kiến thức về điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ, bao gồm tính phân biệt, không vi phạm đạo đức xã hội và phù hợp với pháp luật. Ngoài ra, chương cũng phân loại các nhãn hiệu như nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, giúp người học nắm vững và áp dụng trong thực tiễn kinh doanh.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VIII
Chương 8: Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu và các loại nhãn hiệu
Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu (Điều 72):
Nhìn thấy được: phải được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc.
Ở các nước khác: cho phép bảo hộ nhãn hiệu là âm thanh (như nhạc chuông Nokia), màu sắc (như màu đỏ đặc trưng của thuốc lá Dunhill), mùi vị (như nước hoa Chanel 5)
Có khả năng phân biệt với hàng hàng, dịch vụ của chủ thể khác: (không nằm trong các trường hợp thuộc khoản 2 Điều 74)
Có khả năng tự phân biệt:
Không trùng, tương tự, hoặc gây nhầm lẫn:
Không trùng hoặc tương tự
Không gây nhầm lẫn
Một số lưu ý về khoản 2 Điều 74: các trường hợp không được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu:
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VIII
Không trùng hoặc tương tự:
Hình và hình hình học đơn giản (VD hình vuông, hình tròn, …), chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng (để nhằm mục đích thuận lợi cho người tiêu dùng khi nhận dạng nhãn hiệu), trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu (VD bia 333 mặc dù chỉ là chữ số nhưng do đã được sử dụng từ lâu và được rất nhiều người biết đến ==> vẫn được đăng ký bảo hộ)
Dấu hiệu mô tả tính chất hay thành phần của sản phẩm: VD không thể đặt tên xà phòng là “Siêu sạch”, hay đặt tên cho nước khoáng là “Nước kháng tinh khiết”, … vì chúng mô tả dấu hiệu của sản phẩm đó
Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh: không thể đăng ký nhãn hiệu “Văn phòng luật sư Sao Mai” (chỉ có thể đăng ký nhãn hiệu “Sao Mai”), không thể đăng ký nhãn hiệu “Dịch vụ chuyển nhà Kiến Vàng”
Không gây nhầm lẫn:
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của chủ thể khác: VD nhãn hiệu Aquafina có nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn là Aquaria, Aquaffina (chú ý: các nhãn hiệu này vẫn xuất hiện trên thị trường nhưng không được đăng ký, là vấn đề của hàng “nhái” chưa xử lý được)
Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý đã được đăng ký
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá,dịch vụ
Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng. Chú ý: “nổi tiếng” chỉ ở trong lãnh thổ VN, nếu dấu hiệu trùng với nhãn hiệu nổi tiếng ở nước ngoài thì vẫn được đăng ký bảo hộ
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VII với nội dung về Điều kiện bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp mang đặc tính sáng tạo cung cấp kiến thức về những yêu cầu pháp lý để các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu và giống cây trồng có thể được bảo hộ. Để được bảo hộ, các đối tượng này phải đảm bảo tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng trong công nghiệp. Đây là chương quan trọng giúp sinh viên hiểu rõ về cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi của những sáng tạo trí tuệ, thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VII
Chương 7: Điều kiện bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp mang đặc tính sáng tạo
Chương 7 của Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) quy định về điều kiện bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp có đặc tính sáng tạo. Đây là những đối tượng như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, và giống cây trồng – những sản phẩm hoặc ý tưởng mang tính sáng tạo cao, cần được bảo hộ để ngăn chặn việc sao chép, khai thác bất hợp pháp.
1. Sáng chế
Điều kiện bảo hộ:
Tính mới: Sáng chế phải chưa từng được bộc lộ công khai dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ đâu, trước ngày nộp đơn xin bảo hộ.
Tính sáng tạo: Phải có bước sáng tạo so với các giải pháp kỹ thuật đã biết, không hiển nhiên đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.
Khả năng áp dụng công nghiệp: Sáng chế phải có khả năng được sản xuất hoặc áp dụng trong thực tiễn công nghiệp một cách hữu ích.
2. Giải pháp hữu ích
Điều kiện bảo hộ:
Tính mới: Giải pháp hữu ích phải chưa được bộc lộ trước công chúng và không trùng với bất kỳ sáng chế nào đã được công bố trước đó.
Khả năng áp dụng công nghiệp: Tương tự như sáng chế, giải pháp hữu ích cũng cần có khả năng áp dụng vào sản xuất hoặc công nghiệp.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VII
3. Kiểu dáng công nghiệp
Điều kiện bảo hộ:
Tính mới: Kiểu dáng phải khác biệt với các kiểu dáng đã được công bố hoặc sử dụng trước đó.
Tính sáng tạo: Phải có sự khác biệt về hình dáng bên ngoài so với các sản phẩm hiện có, không đơn thuần chỉ là thay đổi nhỏ hoặc không đáng kể.
Khả năng áp dụng công nghiệp: Phải có khả năng sản xuất ra hàng loạt dựa trên kiểu dáng đó.
4. Nhãn hiệu
Điều kiện bảo hộ:
Tính phân biệt: Nhãn hiệu cần có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ sở hữu với các hàng hóa, dịch vụ khác.
Nhãn hiệu không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc sử dụng trước đó.
5. Giống cây trồng
Điều kiện bảo hộ:
Tính mới: Giống cây trồng phải chưa được bán hoặc phổ biến rộng rãi trước ngày nộp đơn.
Tính khác biệt: Giống phải có sự khác biệt rõ ràng về đặc điểm so với các giống đã được biết đến.
Tính đồng nhất và ổn định: Giống cây trồng phải duy trì được các đặc điểm đồng nhất và ổn định qua các thế hệ hoặc chu kỳ sinh trưởng.
Chương 7: Điều kiện bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp mang đặc tính sáng tạo
Bài giảng môn học Luật Sở hữu trí tuệ chương VI tập trung vào việc xác lập và chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan, giúp người học nắm vững quy trình pháp lý để bảo vệ và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ một cách hợp pháp. Chương này cung cấp kiến thức về các điều kiện, thủ tục để xác lập quyền tác giả, quyền liên quan, cùng với các hình thức chuyển nhượng và chuyển giao quyền, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia. Đây là nền tảng quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VI
Chương 6: Hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
Hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong luật sở hữu trí tuệ tập trung vào việc định nghĩa và xử lý các hành vi vi phạm quyền tác giả và quyền liên quan. Đây là một nội dung quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tác giả, chủ sở hữu quyền và các bên liên quan khi có hành vi vi phạm xảy ra.
Khái niệm về quyền tác giả và quyền liên quan
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu. Các tác phẩm có thể bao gồm văn học, nghệ thuật, khoa học, âm nhạc, phim ảnh, phần mềm máy tính, tác phẩm sân khấu, v.v.
Quyền liên quan là quyền của các cá nhân hoặc tổ chức đối với các buổi biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng.
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả
Một số hành vi bị coi là xâm phạm quyền tác giả bao gồm:
Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền (trừ trường hợp sao chép hợp pháp theo quy định pháp luật).
Công bố, phân phối, phổ biến tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
Làm tác phẩm phái sinh mà không có sự chấp thuận của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm, nghĩa là nhận làm tác giả của một tác phẩm mà người khác đã sáng tạo.
Xuất bản, truyền đạt công khai tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương VI
Các hành vi xâm phạm quyền liên quan
Hành vi vi phạm quyền liên quan cũng bao gồm nhiều dạng, như:
Ghi âm, ghi hình hoặc phát sóng buổi biểu diễn mà không được sự cho phép của người biểu diễn. Sao chép, phân phối bản ghi âm, ghi hình mà không có sự đồng ý của người sở hữu quyền liên quan. Khai thác, sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình mà không có sự chấp thuận của người sở hữu quyền liên quan.
Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm
Luật Sở hữu trí tuệ quy định nhiều biện pháp xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, bao gồm:
Biện pháp dân sự: Bên bị xâm phạm có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về kinh tế và tinh thần. Các biện pháp dân sự có thể bao gồm yêu cầu đình chỉ hành vi xâm phạm, xin lỗi công khai, và bồi thường thiệt hại.
Biện pháp hành chính: Các cơ quan có thẩm quyền có thể xử phạt vi phạm hành chính, như cảnh cáo, phạt tiền hoặc tịch thu sản phẩm vi phạm.
Biện pháp hình sự: Đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự.
Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm
Những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan có thể phải chịu:
Trách nhiệm dân sự: Bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính công khai.
Trách nhiệm hành chính: Phạt tiền, thu hồi sản phẩm vi phạm.
Trách nhiệm hình sự: Tùy mức độ vi phạm, người vi phạm có thể bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, và phạt tiền từ 50 triệu đến 300 triệu đồng.
Những hành vi không bị coi là xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
Có một số trường hợp việc sử dụng tác phẩm không bị coi là xâm phạm, bao gồm:
Sử dụng tác phẩm đã công bố mà không nhằm mục đích thương mại, chẳng hạn như sao chép để nghiên cứu khoa học, giảng dạy hoặc sử dụng trong các cơ quan nhà nước.
Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của tác giả.
Biểu diễn tác phẩm trong các sự kiện văn hóa, nghệ thuật mà không thu lợi nhuận.
Bài giảng môn học Luật Sở hữu trí tuệ chương V cung cấp kiến thức về quy trình xác lập và chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan. Nội dung chương học tập trung vào các quy định pháp lý để xác lập quyền tác giả thông qua việc đăng ký, đồng thời giải thích rõ các hình thức chuyển nhượng, chuyển giao quyền sử dụng tác phẩm, quyền liên quan. Đây là phần quan trọng giúp người học hiểu cách thức bảo vệ và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ một cách hợp pháp, đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương V
Chương 5: Xác lập, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan
Xác lập, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan trong Luật Sở hữu trí tuệ quy định về việc xác lập quyền và cách thức chuyển giao các quyền liên quan đến tác phẩm sáng tạo, biểu diễn, ghi âm, ghi hình và chương trình phát sóng.
Xác lập quyền tác giả
Quyền tác giả được xác lập tự động khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký quyền tác giả.
Các tác phẩm có thể bao gồm: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, phần mềm máy tính, tác phẩm tạo hình, kiến trúc, v.v.
Khi một tác phẩm được hoàn thành và có hình thức cố định (ví dụ như được viết ra, ghi âm lại hoặc biểu diễn), quyền tác giả tự động được bảo hộ theo quy định của pháp luật mà không cần bất kỳ thủ tục đăng ký nào.
Quyền tác giả bao gồm:
Quyền nhân thân: Bao gồm quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền công bố tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm và quyền được đứng tên trên tác phẩm. Quyền tài sản: Bao gồm quyền sao chép, phân phối, trưng bày, trình diễn công cộng, chuyển thể, làm tác phẩm phái sinh từ tác phẩm gốc.
Xác lập quyền liên quan
Quyền liên quan bao gồm quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và quyền của tổ chức phát sóng. Quyền này được xác lập dựa trên việc tạo ra hoặc thực hiện các sản phẩm, chương trình mà không cần đăng ký.
Quyền của người biểu diễn: Được xác lập khi người biểu diễn thực hiện việc biểu diễn tác phẩm.
Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình: Được xác lập khi nhà sản xuất thực hiện việc ghi âm, ghi hình.
Quyền của tổ chức phát sóng: Được xác lập khi tổ chức phát sóng thực hiện việc truyền tải chương trình.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương V
Chuyển giao quyền tác giả
Chuyển giao quyền tác giả là việc tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả chuyển nhượng, chuyển giao toàn bộ hoặc một phần các quyền tài sản cho cá nhân, tổ chức khác.
Hình thức chuyển giao: Chuyển giao quyền tác giả phải được lập thành văn bản và có sự thỏa thuận cụ thể giữa bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao. Hợp đồng chuyển giao quyền tác giả phải có nội dung rõ ràng về phạm vi chuyển giao, thời gian chuyển giao và mức phí (nếu có).
Chuyển nhượng quyền tài sản: Quyền tài sản có thể được chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần, và người nhận chuyển nhượng sẽ có quyền khai thác lợi ích từ tác phẩm như sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm.
Các hình thức chuyển giao quyền tác giả bao gồm:
Chuyển nhượng quyền tài sản: Chủ sở hữu quyền tác giả có thể chuyển nhượng quyền khai thác tác phẩm cho tổ chức, cá nhân khác để thu lợi.
Chuyển giao quyền sử dụng: Chủ sở hữu quyền tác giả có thể cho phép người khác sử dụng tác phẩm theo hợp đồng sử dụng, không chuyển nhượng quyền sở hữu.
Lưu ý: Quyền nhân thân không được phép chuyển nhượng, trừ quyền công bố tác phẩm. Nghĩa là tác giả không thể chuyển nhượng các quyền như quyền đặt tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
Chuyển giao quyền liên quan
Tương tự như quyền tác giả, quyền liên quan cũng có thể được chuyển giao thông qua hợp đồng.
Chuyển nhượng quyền tài sản của quyền liên quan: Chủ sở hữu quyền liên quan có thể chuyển nhượng các quyền tài sản như quyền sao chép, quyền phân phối, truyền tải, ghi âm, ghi hình chương trình.
Hợp đồng chuyển giao quyền liên quan: Việc chuyển giao phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản, trong đó nêu rõ các quyền được chuyển giao và các điều khoản khác liên quan đến phạm vi và thời hạn của việc sử dụng quyền.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan
Quyền nhân thân của tác giả được bảo hộ vô thời hạn, trừ quyền công bố tác phẩm.
Quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm được bảo hộ trong thời hạn 50 năm sau khi tác giả mất. Đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm khuyết danh, tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố.
Quyền liên quan được bảo hộ trong thời hạn 50 năm kể từ khi chương trình, sản phẩm ghi âm, ghi hình, hoặc buổi biểu diễn được thực hiện.
Các vấn đề phát sinh trong việc xác lập và chuyển giao quyền
Tranh chấp có thể phát sinh liên quan đến việc xác định quyền sở hữu, việc sử dụng, chuyển nhượng không đúng quy định pháp luật hoặc hợp đồng chuyển nhượng thiếu minh bạch.
Chủ sở hữu quyền cần thực hiện đúng các thủ tục pháp lý khi chuyển giao quyền và tuân thủ các quy định pháp luật để tránh tranh chấp hoặc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Bài giảng môn học Luật Sở hữu trí tuệ chương IV tập trung vào quyền liên quan đến quyền tác giả, bao gồm quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ chức phát sóng. Chương học giải thích các quyền tài sản và quyền nhân thân mà các bên này được hưởng, cũng như các quy định pháp luật liên quan đến việc bảo vệ và khai thác các quyền liên quan. Đây là nền tảng giúp người học nắm bắt được các quy định về quyền liên quan trong hoạt động sáng tạo và phân phối sản phẩm trí tuệ.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương IV
Chương 4: Quyền liên quan đến quyền tác giả
Quyền liên quan đến quyền tác giả
– Để tác phẩm đến được với công chúng đòi hỏi có sự đóng góp của nhiều cá nhân, tổ chức khác bên cạnh tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. VD như nhạc sỹ sáng tác bài hát nhưng để đến được với công chúng thì cần có ca sỹ thể hiện, cần có nhà sản xuất băng đĩa …
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương IV
– Khái niệm (khoản 3 Điều 4): Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
– Đặc điểm:
+ hoạt động của chủ thể quyền liên quan là hành vi sử dụng tác phẩm nên quyền này phát sinh trên cơ sở quyền tác giả
+ đối tượng của quyền liên quan được bảo hộ khi có tính nguyên gốc: tức là chỉ được bảo hộ là quyền liên quan khi đảm bảo 2 yếu tố:
Có dấu ấn riêng của chủ thể quyền liên quan
Được tạo ra lần đầu tiên
VD tổ chức phát sóng trực tiếp 1 cuộc biểu diễn thì được bảo hộ quyền liên quan, nếu chỉ tố chức phát lại hay tiếp sóng cuộc biểu diễn đó thì không được coi là chủ thể của quyền liên quan.
+ quyền liên quan được bảo hộ trong thời gian nhất định: 50 năm (Điều 34 Luật SHTT)
+ quyền liên quan được bảo hộ trên cơ sở không gây phương hại đến quyền tác giả