Bài giảng môn học Luật Sở hữu trí tuệ chương III cung cấp kiến thức quan trọng về nội dung, giới hạn và thời hạn bảo hộ quyền tác giả. Nội dung này bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm, quy định về giới hạn sử dụng tác phẩm nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa quyền lợi của tác giả và cộng đồng. Đồng thời, chương cũng làm rõ thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật, giúp người học hiểu rõ quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc bảo vệ tác phẩm sáng tạo trong môi trường pháp lý hiện nay.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương III
Chương 3: Nội dung, giới hạn và thời hạn bảo hộ quyền tác giả
III. Nội dung của quyền tác giả
Chia làm 2 nhóm quyền:
quyền tinh thần / quyền nhân thân
quyền kinh tế / quyền tài sản
Quyền nhân thân (Điều 19)
– Các quyền nhân thân tuyệt đối:
quyền đặt tên cho tác phẩm: chú ý: tên của tác phẩm không được bảo hộ độc quyền, vì có thể có nhiều tác phẩm trùng tên, ngoài ra còn có trường hợp tác phẩm không có tên nhưng vẫn được bảo hộ
quyền đứng tên trên tác phẩm khi tác phẩm được công bố, biểu diễn: để xác định ai là tác giả, có thể ghi tên thật hoặc bút danh
quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm: ngoại lệ: tác phẩm phái sinh, trích dẫn để bình luận, minh họa
Tại sao lại nói 3 quyền nhân thân trên là 3 quyền nhân thân tuyệt đối ? Vì chúng có các đặc điểm chung sau:
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương III
chỉ mang yếu tố tinh thần, phi vật chất
luôn gắn liền với tác giả, không thể chuyển giao cho người khác
được bảo hộ vĩnh viễn, vô thời hạn
– Quyền công bố: công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng.
– Ý nghĩa của việc công bố tác phẩm:
xác định thời hạn bảo hộ đối với một số loại tác phẩm: thời điểm công bố là điểm bắt đầu của việc bảo hộ quyền tác giả. VD với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, khuyết danh thì thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi công bố
xác định phạm vi lãnh thổ bảo hộ quyền tác giả: (Điều 13) cá nhân nước ngoài nếu công bố lần đầu tiên ở VN, hoặc công bố ở nước ngoài nhưng công bố đồng thời trong 30 ngày tại VN thì tác phẩm đó sẽ được bảo hộ theo PL VN
Quyền tài sản (Điều 20 khoản 1)
– Quyền làm tác phẩm phái sinh: dịch, chuyển thể, cải biên, … tác phẩm từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình nghệ thuật khác
– Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng: có thể biểu diễn trực tiếp trước khán giả, hoặc gián tiếp trong phòng ghi âm, ghi hình. Chú ý: có thể biểu diễn ở bất kỳ đâu ngoại trừ gia đình
– Quyền sao chép tác phẩm: tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, kể cả việc lưu trữ thường xuyên hay tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử.
Sao chép tạm thời: VD xem tác phẩm trực tuyến trên internet
– Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm: đưa tác phẩm vào lưu thông (như hàng hóa thông thường) thông qua mua bán, trao đổi, tặng cho
– Quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm
– Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác
– Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm: chỉ áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính
Câu hỏi: Chủ thể đã thực hiện quyền gì khi:
Sáng tác lời Việt cho bài hát ==> quyền làm tác phẩm phái sinh
Làm tranh thêu, tranh đá từ bức tranh sơn dầu ==> quyền làm tác phẩm phái sinh
Sản xuất đồ chơi từ nhân vật hoạt hình ==> quyền làm tác phẩm phái sinh
Google số hóa tác phẩm văn học trên internet ==> quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng
– Kết luận:
quyền nhân thân tuyệt đối thuộc về tác giả
quyền tài sản và quyền công bố thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả
==> các chủ thể khác khi khai thác, sử dụng quyền công bố hoặc quyền tài sản thì sẽ phải xin phép, trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả
Giới hạn quyền tác giả – Pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và PL về quyền tác giả nói riêng luôn được xây dựng dựa trên nguyên tắc xuyên suốt là nguyên tắc cân bằng lợi ích
Theo đó, bên cạnh việc tôn trọng quyền sở hữu nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo, PL cũng quy định các trường hợp giới hạn quyền tác giả, mục đích là để tạo thuận lợi cho công chúng tiếp cận tác phẩm.
Điều 7 khoản 3: Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng,an ninh,dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật này, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp.
– Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25). Điều kiện:
tác phẩm đã công bố
việc sử dụng không nhằm mục đích thương mại
chỉ giới hạn trong những trường hợp cụ thể, không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác phẩm, không gây phương hại đến quyền tác giả
phải thông tin về tác giả và nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm
– Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 26)
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả
– Các quyền được bảo hộ vô thời hạn: gồm các quyền nhân thân tuyệt đối
– Các quyền được bảo hộ có thời hạn: quyền công bố và quyền tài sản
các tác phẩm được bảo hộ không theo nguyên tắc đời người: tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, khuyết danh: 75 năm kể từ ngày công bố
các tác phẩm được bảo hộ theo nguyên tắc đời người: tác phẩm văn học, nghệ thuật, điêu khắc được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết (tính tròn năm, sẽ kết thúc vào ngày cuối cùng của năm thứ 50). Với tác phẩm có nhiều tác giả thì sẽ căn cứ vào tác giả cuối cùng chết.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IX: Trách nhiệm pháp lý quốc tế tập trung phân tích các nguyên tắc và quy định về trách nhiệm của quốc gia khi vi phạm luật pháp quốc tế. Nội dung bài giảng giải thích về khái niệm, điều kiện phát sinh trách nhiệm, và các hình thức bồi thường thiệt hại khi quốc gia gây ra hành vi vi phạm. Ngoài ra, bài giảng cũng làm rõ vai trò của các cơ quan quốc tế trong việc xử lý các vi phạm và đảm bảo sự công bằng trong quan hệ quốc tế.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương X
Chương 10: Trách nhiệm pháp lý quốc tế
I. Khái niệm trách nhiệm pháp lý quốc tế
1. Định nghĩa
– Trách nhiệm pháp lý quốc tế là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể luật quốc tế phải gánh chịu do thực hiện hành vi vi phạm PL quốc tế, hoặc do thực hiện hành vi mà luật quốc tế không cấm nhưng gây thiệt hại cho chủ thể khác hay cộng đồng quốc tế.
2. Phân loại
– Căn cứ vào hành vi vi phạm:
+ trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan: là trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra từ việc thực hiện các hành vi mà luật quốc tế không cấm. VD: việc các quốc gia phóng vệ tinh vào vũ trụ là việc luật quốc tế không cấm, nhưng nếu không may vệ tinh rơi xuống lãnh thổ 1 quốc gia khác và gây thiệt hại thì quốc gia phóng vệ tinh sẽ có tránh nhiệm bồi thường
+ trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan: là trách nhiệm pháp lý phát sinh từ vi phạm PL quốc tế. VD quốc gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân sát biên giới 1 quốc gia khác, không tuân thủ các tiêu chuẩn về an toàn điện hạt nhân của Tổ chức năng lượng thế giới (IAEA) gây ra thiệt hại (nhiễm phóng xạ) cho lãnh thổ quốc gia láng giềng thì sẽ phải chịu trách nhiệm
– Căn cứ vào hình thức thực hiện trách nhiệm pháp lý:
+ trách nhiệm vật chất: ví dụ như hình thức:
khôi phục nguyên trạng (như lúc chưa xảy ra vi phạm), hình thức này thường chỉ áp dụng khi 1 quốc gia bắt giữ trái phép tàu bay, tàu biển của 1 quốc gia khác, sau đó khôi phục nguyên trạng bằng cách thả ra
bồi thường vật chất (bằng tiền, tài sản khác)
+ trách nhiệm phi vật chất: xin lỗi, cử phái đoàn ngoại giao sang thăm hỏi (nạn nhân), cam kết không vi phạm về sau, …
Chú ý: trách nhiệm pháp lý quốc tế cho đến nay vẫn được coi là chế định hạn chế nhất của luật quốc tế, về cơ sở pháp lý thì đến nay vẫn chưa có văn bản có giá trị pháp lý nào được ban hành, mà mới đang tồn tại ở dạng dự thảo của Ủy ban pháp luật quốc tế của Liên hợp quốc về trách nhiệm pháp lý quốc tế (gồm dự thảo Trách nhiệm pháp lý khách quan, và dự thảo Trách nhiệm pháp lý chủ quan). Các tranh chấp quốc tế đều phải giải quyết thông qua một số cơ quan quốc tế có cơ chế thực thi như Tòa án công lý quốc tế (IJC), tòa án hình sự quốc tế (ICC), …
Thực tế trong đời sống pháp luật quốc tế, thì trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan (tức là không may vi phạm) được các chủ thể luật quốc tế thực hiện rất đầy đủ và chủ động; còn trách nhiệm pháp lý chủ quan (tức là chủ động vi phạm) thì các quốc gia rất miễn cưỡng trong việc thực hiện trách nhiệm.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương X
II. Trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan
1. Định nghĩa
– Trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể luật quốc tế phải gánh chịu do thực hiện hành vi vi phạm PL quốc tế gây thiệt hại cho chủ thể khác
2. Cơ sở xác định
a. Cơ sở pháp lý
– Là những căn cứ pháp lý mà dựa vào đó có thể xác định 1 hành vi của chủ thể luật quốc tế là vi phạm PL quốc tế. Gồm:
+ các điều ước và tập quán quốc tế ghi nhận quyền và nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể luật quốc tế
+ các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế
+ các nghị quyết mang tính bắt buộc của các tổ chức quốc tế liên chính phủ
+ các hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
b. Cơ sở thực tiễn
– Chú ý: trong luật quốc tế không có yếu tố “lỗi”. Vì yếu tố lỗi là “trạng thái tâm lý, tinh thần của người thực hiện hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi”, tức là chỉ áp dụng được đối với con người cụ thể, còn trong luật quốc tế thì trách nhiệm là của quốc gia, của tổ chức quốc tế, nên không thể xem xét được yếu tố “lỗi”
– Có hành vi vi phạm PL quốc tế: hành vi vi phạm PL quốc tế là những hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động trái với các cam kết quốc tế của các chủ thể luật quốc tế.
+ Đối với quốc gia, hành vi được coi là hành vi của quốc gia nếu nó được thực hiện bởi các chủ thể sau:
Là hành vi của bất kỳ cơ quan NN nào
Là hành vi của cá nhân, tập thể được giao thực hiện thẩm quyền của Chính phủ theo đúng quy định của PL quốc gia
Là hành vi của cá nhân, tập thể nếu cá nhân, tập thể đó thực hiện theo chỉ thị hoặc dưới sự kiểm soát của quốc gia khi đang thực hiện hành vi
Ngoài ra, quốc gia cũng phải chịu trách nhiệm đối với các hành vi vi phạm do các cá nhân thực hiện nếu có căn cứ xác đáng khẳng định quốc gia đó đã không thực hiện đầy đủ các biện pháp để trừng trị cá nhân vi phạm theo quy định chung của PL. Ví dụ 1 công dân ám sát 1 viên chức ngoại giao của nước khác mà không bị trừng trị xứng đáng.
+ Đối với tổ chức quốc tế, hành vi vi phạm của tổ chức quốc tế là hành vi vi phạm của các viên chức của cơ quan tổ chức quốc tế đó
– Có thiệt hại thực tế phát sinh
– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm PL và thiệt hại phát sinh
3. Hình thức thực hiện trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan
– Trách nhiệm pháp lý chủ quan được thực hiện bởi cả trách nhiệm vật chất và trách nhiệm phi vật chất
Chú ý: còn có thể thực hiện bằng biện pháp trả đũa (vật chất hoặc phi vật chất), trừng phạt (vũ trang, phi vũ trang như trừng phạt kinh tế, cấm vận ngoại giao, …)
4. Các trường hợp miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan
– Thực hiện hành vi vi phạm trong trường hợp bất khả kháng
– Khi quốc gia thực hiện các biện pháp trả đũa
– Khi quốc gia thực hiện hành vi tự vệ chính đáng
– Khi quốc gia thực hiện hành vi mà được sự đồng ý của các quốc gia hữu quan
III. Trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan
1. Định nghĩa
– Là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể luật quốc tế phải gánh chịu do thực hiện hành vi mà luật quốc tế không cấm nhưng gây thiệt hại cho chủ thể khác.
(tương tự với trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vận hành nguồn nguy hiểm cao độ trong dân sự)
2. Cơ sở xác định
a. Cơ sở pháp lý
– Là các quy phạm PL ghi nhận các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể luật quốc tế được ghi nhận trong các điều ước quốc tế chuyên biệt
VD: Công ước 1972 về trách nhiệm quốc tế đối với thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ gây ra
Công ước 1963 về trách nhiệm của người tác nghiệp trên các tàu hạt nhân
b. Cơ sở thực tiễn
– Có hành vi mà luật quốc tế không cấm nhưng lại làm phát sinh hiệu lực áp dụng của các quy phạm PL trong các điều ước quốc tế chuyên biệt kể trên
– Có thiệt hại thực tế xảy ra
– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm PL và thiệt hại thực tế xảy ra
3. Hình thức thực hiện
– Chỉ áp dụng hình thức vật chất, không áp dụng hình thức phi vật chất
– Hình thức vật chất được áp dụng:
+ bồi thường bằng tiền hoặc hiện vật có giá trị tương đương
+ chuyển giao, thay thế cho chủ thể bị thiệt hại những đối tượng tương ứng về ý nghĩa và giá trị
4. Các trường hợp miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan
– Không có bất kỳ trường hợp nào được miễn
Câu hỏi:
+ So sánh trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan và trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan
+ Vì sao trong trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan lại không áp dụng hình thức phi vật chất ?
(tự trả lời) Vì chủ thể trong trường hợp này không có hành vi vi phạm luật quốc tế mà chỉ “vô tình” gây thiệt hại, tức là nằm ngoài ý muốn của chủ thể, do đó chỉ có thể bồi thường thiệt hại vật chất mà không thể chỉ “xin lỗi” (phi vật chất)
+ Tại sao không đặt ra vấn đề miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan (như đối với các trường hợp miễn trách nhiệm pháp lý quốc tế chủ quan) ?
(tự trả lời) Vì chủ thể trong trường hợp này không có hành vi vi phạm luật quốc tế, hoàn toàn không mong muốn thiệt hại xảy ra, nên không đặt ra vấn đề miễn trách nhiệm pháp lý khách quan; hơn nữa khi có thiệt hại xảy ra thì chủ thể đó chỉ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không bị coi là vi phạm luật quốc tế.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương II: Đối tượng và chủ thể của quyền tác giả tập trung giải thích chi tiết về các đối tượng được bảo hộ dưới quyền tác giả, như tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, và các loại hình sáng tạo khác. Đồng thời, bài giảng cũng làm rõ vai trò của các chủ thể sở hữu quyền tác giả, bao gồm tác giả, tổ chức, cá nhân và các đối tượng có liên quan. Nội dung chương giúp người học nắm vững khái niệm và quy định pháp lý liên quan đến quyền tác giả trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương II
Chương 2: Đối tượng và chủ thể của quyền tác giả
I. Đối tượng của quyền tác giả
1. Khái niệm
– Đối tượng của quyền tác giả là tác phẩm. Có thể là tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, hoặc tác phẩm khoa học ==> Khái niệm: Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào (Khoản 7 Điều 4)
– Quyền tác giả được bảo hộ tự động, tuy nhiên phải đáp ứng 2 điều kiện:
+ có tính sáng tạo nguyên gốc: là kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ trực tiếp của tác giả, được tạo ra lần đầu tiên bởi tác giả và không sao chép từ tác phẩm của người khác (Điều 13, Điều 14)
+ được thể hiện dưới hình thức nhất định: (khoản 1 Điều 6) tức là phải được thể hiện ở 1 hình thức vật chất như viết, in, ghi âm,… để có thể truyền đạt, sao chép được. Như vậy nếu chỉ dừng lại ở ý tưởng thì không được bảo hộ
VD: bài thơ là 1 sáng tạo. Nếu chỉ kể cho người khác về ý tưởng viết bài thơ thì vẫn chưa được bảo hộ. Phải viết bài thơ ra giấy, trên máy tính, ghi âm, … thì mới được bảo hộ
Nếu nhạc sỹ phổ nhạc cho bài thơ, khi đó hình thức thay đổi (vẫn giữ nguyên nội dung) thì bài hát đó vẫn được bảo hộ ==> tính sáng tạo không cần tuyệt đối
VD: bài giảng là kết quả sáng tạo trong khoa học, có tính sáng tạo nguyên gốc, nếu chỉ nói ra mà không ghi lại thì không được bảo hộ. Còn nếu ghi lại (ghi hình, ghi âm) thì sẽ được bảo hộ
VD: bức tranh của bé 3 tuổi ==> vẫn được bảo hộ
– Kết luận: thời điểm bảo hộ tác phẩm là ngay sau khi được thể hiện dưới 1 hình thức vật chất nhất định
2. Phân loại tác phẩm
– Dựa vào lĩnh vực, chia tác phẩm thành:
+ Tác phẩm văn học
+ Tác phẩm nghệ thuật
+ Tác phẩm khoa học
Chú ý: sự phân biệt chỉ mang tính tương đối, có tác phẩm có thể vừa thuộc loại này, lại vừa thuộc lại kia. VD 1 bộ phim tài liệu khoa học vừa có thể là tác phẩm nghệ thuật vừa có thể là tác phẩm khoa học
Chú ý: 1 tác phẩm muốn được bảo hộ phải không được trái đạo đức xã hội
Chú ý: nói chung 1 tác phẩm khoa học cần tính chính xác cao hơn so với tác phẩm văn học, nghệ thuật
– Dựa vào hình thức thể hiện tác phẩm (Điều 14 và Nghị định 100/2006), chia tác phẩm thành:
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương II
+ Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác
+ Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác
+ Tác phẩm báo chí
+ Tác phẩm âm nhạc
+ Tác phẩm sân khấu
+ Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự
+ Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng
+ Tác phẩm nhiếp ảnh
+ Tác phẩm kiến trúc
+ Bản họa đồ,sơ đồ,bản đồ,bản vẽ liên quan đến địa hình,kiến trúc,công trình khoa học
+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian
+ Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu
Chú ý: một số sự khác biệt trong quy định của VN so với các nước khác
+ chương trình máy tính: được bảo hộ như tác phẩm văn học (các nước khác bảo hộ chương trình máy tính là sáng chế)
+ tác phẩm điện ảnh: đối tượng của quyền tác giả (hầu hết các nước khác thì nằm trong Luật điện ảnh)
+ đối tượng của quyền liên quan: theo luật VN gồm có bản ghi âm và ghi hình (ở nước khác chỉ quy định đối tượng của quyền liên quan là bản ghi âm, còn bản ghi hình được coi là 1 tác phẩm điện ảnh)
Như vậy ở VN thì tác phẩm điện ảnh là đối tượng của quyền tác giả, khi phát sóng sẽ phải xin phép; trong khi bản ghi hình lại được coi là đối tượng của quyền liên quan thì khi phát sóng không phải xin phép (Điều 33) ==> dễ gây tranh luận trong thực tế (vì sự phân biệt là tùy theo quan điểm)
+ tác phẩm mỹ thuật ứng dụng: người khác được sao chép phục vụ nghiên cứu, tuy nhiên lại không áp dụng cho tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính, kiến trúc
Phân biệt tác phẩm tạo hình và tác phẩm mỹ thuật ứng dụng:
Tác phẩm tạo hình
Tác phẩm Mỹ thuật ứng dụng
Giống nhau: đều là sự sắp xếp những hình khối, màu sắc
Tổn tại độc bản
Có tính ứng dụng, tồn tại ở nhiều bản
Mang tính nghệ thuật.VD tác phẩm hội học, điêu khắc, bức tranh (nếu chỉ có 1 bản) (nếu nhân bản bức tranh, điêu khắc ==> trở thành tác phẩm mỹ thuật ứng dụng)
Thường gắn liền với 1 đồ vật hữu ích, và được sản xuất hàng loạt. VD hàng thủ công mỹ nghệ, bình gốm, bìa sách, họa tiết gạch men
Không được sao chép cho dù để phục vụ mục đích nghiên cứu
Được sao chép nhằm mục đích nghiên cứu
Thời hạn bảo hộ: suốt cuộc đời tác giả + 50 năm sau khi tác giả chết
Thời hạn bảo hộ: 75 năm kể từ thời điểm được công bố lần đầu tiên, hoặc 100 năm nếu chưa được công bố trong vòng 25 năm kể từ khi định hình
Câu hỏi: Tác phẩm sân khấu được bảo hộ tại thời điểm nào, có cần phải ghi âm, ghi hình để được bảo hộ không?
– Dựa vào nguồn gốc hình thành tác phẩm, chia tác phẩm thành 2 loại:
+ tác phẩm gốc: được tạo ra lần đầu tiên và hình thức thể hiện không trùng lặp với tác phẩm khác
+ tác phẩm phái sinh: được tạo ra từ 1 hay nhiều tác phẩm gốc: được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, hoặc chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn (khoản 8 Điều 4)
3. Tác phẩm gốc và tác phẩm phái sinh
– Tác phẩm phái sinh gồm:
+ dịch: truyền tài trung thực nội dung, tên gọi của tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Sự sáng tạo ở đây thể hiện ở ngôn ngữ thể hiện của người dịch.
+ phóng tác: sự sáng tạo dựa theo nội dung của tác phẩm khác. VD sáng tác bài hát dựa theo bài thơ; làm bộ phim dựa trên tiểu thuyết
+ chuyển thể: chuyển từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình nghệ thuật khác. VD phổ nhạc cho bài thơ, phim từ tiểu thuyết
+ cải biên: viết lại từ 1 tác phẩm đã có, thay đổi hình thức thể hiện của tác phẩm. VD chèo cải biên, tuồng cải biên
+ tuyển chọn: tuyển tập từ những tác phẩm đã có
+ biên soạn: tuyển chọn tác tác phẩm đã có theo 1 chuyên đề
– Chú ý: Bản gốc >< Tác phẩm gốc
+ bản gốc: nằm trong mối quan hệ bản gốc – bản sao
+ tác phẩm gốc: nằm trong mối quan hệ tác phẩm gốc – tác phẩm phái sinh
– Điều kiện để tác phẩm phái sinh được bảo hộ:
+ mang tính sáng tạo nguyên gốc và mang dấu hiệu của tác phẩm gốc
+ được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định
+ hành vi làm tác phẩm phái sinh không được gây hại đến quyền của tác giả, tác phẩm gốc. VD đang trong thời hạn bảo hộ, muốn sử dụng để làm tác phẩm phái sinh thì phải xin phép, trả tiền; nếu hết thời hạn bảo hộ, vẫn phải ghi rõ tác phẩm gốc
– Chú ý: trường hợp đặc biệt: tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian: dù không có hình thức thể hiện (lưu truyền qua hình thức truyền miệng) nhưng vẫn được bảo hộ
4. Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả (Điều 15)
– Tin tức thời sự thuần túy đưa tin: vì mục đích khách quan, không có tính sáng tạo. VD tin vụ tai nạn máy bay
Chú ý: nếu là bài có tính sáng tạo cá nhân thì vẫn được bảo hộ quyền tác giả
– Văn bản quy phạm pháp luật: vì phục vụ cho mục đích công cộng
– Hệ thống, phương pháp, quy trình hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu
II. Chủ thể quyền tác giả
Chủ thể quyền tác giả gồm 2 đối tượng:
+ tác giả
+ chủ sở hữu quyền tác giả
1. Tác giả
– Khái niệm: (Điều 8 Nghị định 100/2006) Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra 1 phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Như vậy người đề xuất ý kiến, làm công việc hỗ trợ, đóng góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được coi là tác giả.
– Tác giả chỉ có thể là cá nhân, không thể là tổ chức. Nếu có từ 2 cá nhân trở lên cùng là tác giả thì gọi là đồng tác giả.
– Theo luật SHTT VN, cá nhân được bảo hộ quyền tác giả gồm:
+ công dân VN có tác phẩm
+ cá nhân nước ngoài:
Có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại VN
Có tác phẩm được công bố lần đầu ở VN, hoặc công bố đồng thời tại VN trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố lần đầu
Có tác phẩm được bảo hộ tại VN theo điều ước quốc tế
2. Chủ sở hữu quyền tác giả
– Khái niệm: (Điều 36): Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc quyền tác giả.
Chủ sở hữu quyền tác giả có thể đồng thời là tác giả hoặc không đồng thời là tác giả
– Chủ sở hữu quyền tác giả có thể thuộc 1 trong các trường hợp sau:
+ chính là tác giả (Điều 37)
+ tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả (Điều 39)
+ là người thừa kế (Điều 40)
+ là người được chuyển giao quyền (Điều 41)
+ là nhà nước (Điều 42)
– Tác phẩm thuộc về công chúng: là tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ, hoặc chủ sở hữu từ chối quyền sở hữu và chuyển tác phẩm thành tác phẩm thuộc về công chúng
a. Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả
– Là khi tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm.
– Khi đó tác giả được hưởng toàn bộ các quyền nhân thân (Điều 19) và các quyền tài sản (Điều 20) của tác phẩm.
b. Chủ sở hữu là người giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng với tác giả
– Người đầu tư kinh phí sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, tức là sở hữu toàn bộ quyền tài sản (khoản 1 Điều 20) và quyền công bố tác phẩm
– Tác giả sáng tác tác phẩm có các quyền nhân thân (Điều 19) trừ quyền công cố tác phẩm.
Chú ý: sự khác nhau giữa “giao nhiệm vụ” (khoản 1 Điều 39) với “giao kết hợp đồng” (khoản 2 Điều 39)
+ giao nhiệm vụ: là quan hệ lao động, là công việc phải thực hiện, nếu không thực hiện được có thể bị kỷ luật. VD trường ĐH Luật giao cho bộ môn Luật SHTT biên soạn giáo trình, nếu không hoàn thành thì sẽ bị kỷ luật
+ giao kết hợp đồng: là quan hệ dân sự, nếu không hoàn thành sẽ phải bồi thường dân sự theo quy định trong hợp đồng
c. Chủ sở hữu quyển tác giả là người thừa kế
– Sau khi tác giả chết thì quyền tác giả vẫn còn 50 năm kể từ khi tác giả chết, và người thừa kế sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó
d. Chủ sở hữu quyền tác giả là nhà nước
– NN là chủ sở hữu quyền tác giả với:
+ tác phẩm khuyết danh,
+ tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển quyền sở hữu cho NN, hoặc
+ tác phẩm còn trong thời gian bảo hộ mà tác giả đã chết nhưng không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản
– Chú ý: sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của NN vẫn phải trả tiền theo quy định
So sánh Tác phẩm thuộc nhà nước với Tác phẩm thuộc công chúng
Tác phẩm thuộc nhà nước
Tác phẩm thuộc công chúng
Gồm: tác phẩm khuyết danh; tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển quyền sở hữu cho NN; tác phẩm còn trong thời gian bảo hộ mà tác giả đã chết nhưng không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản
Là tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ; hoặc chủ sở hữu từ chối quyền sở hữu và chuyển tác phẩm thành tác phẩm thuộc về công chúng
Khi sử dụng phải xin phép và trả tiền
Khi sử dụng không phải xin phép, không phải trả tiền
Chủ sở hữu không đồng thời là tác giả a. Chủ sở hữu là cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giả
– Căn cứ xác định:
quan hệ giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với tác giả là quan hệ lao động: thông qua hợp đồng lao động, hoặc quyết định tuyển dụng (nếu là cơ quan nhà nước)
việc sáng tạo ra tác phẩm là nhiệm vụ mà cơ quan, tổ chức giao cho tác giả: thông qua quyết định giao nhiệm vụ, quyết định phân công công việc, … hoặc có thể quy định ngay trong hợp đồng lao động
người cung cấp kinh phí, tranh thiết bị vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc sáng tác ra tác phẩm
b. Chủ sở hữu là cá nhân, cơ quan tổ chức giao kết hợp đồng với tác giả
– Căn cứ xác định:
quan hệ giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với tác giả là quan hệ dân sự: thỏa thuận về việc tác giả sẽ sáng tạo ra tác phẩm theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó. Khi đó nội dung và phạm vi quyền tác giả sẽ hoàn toàn dựa theo hợp đồng giữa 2 bên.
Tình huống: Một công ty thuê 1 họa sỹ thiết kế tờ quảng cáo cho sản phẩm của công ty để phát trong hội chợ. Công việc được thực hiện và hợp đồng kết thúc, công ty đã thanh toán tiền đầy đủ. Sau đó công ty có lập 1 website để quảng cáo, công ty sử dụng lại những nội dung trong tờ quảng cáo đó để đưa lên website.
Anh họa sỹ cho rằng công ty đã không xin phép để được đưa lên website, rằng công ty đã vi phạm hợp đồng vì hợp đồng chỉ quy định công ty được sử dụng nội dung do anh họa sỹ sáng tác trong hình thức là tờ rơi phát hành trong hội chợ, nên việc công ty sử dụng những nội dung đó cho website là vi phạm quyền tác giả.
Công ty lập luận rằng đã thuê anh họa sỹ sáng tác nên quyền sở hữu thuộc về công ty, và công ty có toàn quyền sử dụng tác phẩm đó.
Hỏi công ty có quyền đó không ?
Trả lời: Nếu hợp đồng chỉ ghi công ty thuê anh họa sỹ sáng tác tờ quảng cáo sản phẩm để in và phát trong hội chợ, mà công ty lại sử dụng nội dung đó trên website, tức là đã sử dụng hình thức thể hiện khác của tác phẩm, thì công ty đã vi phạm thỏa thuận.
==> nội dung thỏa thuận trong hợp đồng là hết sức quan trọng, cần ghi rõ chủ sở hữu có những quyền nào
c. Chủ sở hữu là người thừa kế quyền tác giả
– Thời hạn bảo hộ quyền tác giả là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Do đó khi tác giả chết thì người thừa kế hợp pháp của tác giả sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm.
d. Chủ sở hữu là người được chuyển giao quyền tác giả
– Chú ý: cần xác định rõ quyền được chuyển giao là những quyền nào.
VD: sau khi biên soạn giáo trình, tác giả chuyển giao quyền xuất bản cho Nhà xuất bản
VD: ca sỹ mua độc quyền biểu diễn 1 ca khúc, tức là ở đây ca sỹ chỉ được chuyển giao quyền biểu diễn
e. Chủ sở hữu là Nhà nước
– NN là chủ sở hữu quyền tác giả với tác phẩm khuyết danh, hoặc tác phẩm mà tác giả đã chết nhưng không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản
– Với tác phẩm thuộc sở hữu của nhà nước, khi sử dụng vẫn phải xin phép và vẫn phải trả tiền vào ngân sách nhà nước
f. Tác phẩm thuộc về công chúng
– Tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ
– Tác giả từ bỏ quyền sở hữu của mình, “hiến tặng” cho nhân dân: VD gia đình nhạc sỹ Văn Cao hiến tặng ca khúc “Tiến quân ca”
– Tác phẩm không thuộc đối tượng được bảo hộ quyền tác giả. VD văn bản pháp luật, văn bản hành chính, bản án, quyết định
– Khi sử dụng tác phẩm thuộc về công chúng thì không phải xin phép, không phải trả tiền, nhưng vẫn phải tôn trong các quyền nhân thân của tác giả.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương I: Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ cung cấp cái nhìn tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm các khái niệm cơ bản, phân loại và vai trò của quyền này trong nền kinh tế hiện đại. Nội dung bài giảng giải thích tầm quan trọng của việc bảo vệ sáng tạo trí tuệ, sáng chế, nhãn hiệu, và quyền tác giả, đồng thời làm rõ các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương I
Chương 1: Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ
I. Khái niệm và đặc điểm
1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
– Khái niệm: (Khoản 1 Điều 4) Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm:
+ quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả,
+ quyền sở hữu công nghiệp, và
+ quyền đối với giống cây trồng.
– Trí tuệ: là khả năng nhận thức lý tính đạt đến 1 trình độ nhất định
– Tài sản trí tuệ: tài sản là kết quả sáng tạo trí tuệ của con người
– Sở hữu trí tuệ: việc sở hữu với tài sản trí tuệ
2. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ
– Thứ nhất, khách thể của quyền sở hữu trí tuệ là tài sản trí tuệ. Tài sản trí tuệ là loại tài sản vô hình.
Tài sản thông thường
Tài sản trí tuệ
Cấu tạo
Mang cấu tạo vật chấtVD: cuốn tiểu thuyết (có thể in trên giấy, trên gỗ, bản điện tử, …)Chiếc smart phone
Không mang cấu tạo vật chấtVD: nội dung của cuốn tiểu thuyết Khoảng 700 sáng chế được cấp văn bằng trong mỗi chiếc smart phone
Thời hạn sử dụng
Bị hao mòn, bị cạn kiệt trong quá trình sử dụng
Không bị hao mòn, không bị cạn kiệt trong quá trình sử dụng, ngược lại càng được sử dụng nhiều thì giá trị lại càng tăng lên
Vấn đề bảo vệ
Dễ ngăn chặn chủ thể khác sử dụng.VD chỉ cần cất giữ
Khó ngăn chặn các đối tượng khác sử dụng các tài sản trí tuệ của mình.VD khó ngăn cấm người khác đọc tác phẩm của mình
Quyền chiếm hữu
Mang ý nghĩa quan trọng
Không mang ý nghĩa
Thuộc tính
Phục vụ lợi ích của chủ sở hữu
Thuộc tính công cộng, có tính không biên giới.VD 1 tác phẩm có được xem ở bất kỳ đâu
– Thứ hai, theo truyền thống (và theo luật pháp hầu hết các nước trên thế giới), quyền sở hữu trí tuệ gồm:
+ quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả
+ quyền sở hữu công nghiệp
Bài giảng môn học Luật sở hữu trí tuệ chương I
Ở VN và 1 số nước, quy định quyền quyền sở hữu trí tuệ gồm:
+ quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả ==> Cục bản quyền tác phẩm văn học nghệ thuật – Bộ Văn hóa thể thao và du lịch
+ quyền sở hữu công nghiệp ==> Cục sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học công nghệ môi trường
+ quyền đối với giống cây trồng ==> Cục trồng trọt – Bộ Nông nghiệp
Vấn đề: quyền sở hữu trí tuệ chia làm 3 mảng do 3 bộ khác nhau quản lý ==> chồng chéo (trong khi ở các nước khác chỉ có 1 cơ quan quản lý chung về quyền sở hữu trí tuệ)
Câu hỏi: Tại sao có sự khác nhau ?
Trả lời: Vì luật về quyền sở hữu trí tuệ ở các nước phương tây ra đời và phát triển mạnh vào thế kỷ 16, 17, khi mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, lần thứ 2 ==> chỉ chú trọng đến quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp. Còn ở VN và 1 số nước, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nên đưa thêm quyền với giống cây trồng vào luật sở hữu trí tuệ.
Ở các nước khác thì quyền với giống cây trồng nằm trong 1 luật khác, tách rời khỏi luật sở hữu trí tuệ.
– Thứ ba, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ khó kiểm soát tài sản trí tuệ và khó ngăn chặn chủ thể khác khai thác, sử dụng
– Thứ tư, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện thông qua thừa nhận hệ thống các quyền dành cho tác giả, quyền sở hữu trí tuệ: hệ thống luật quốc gia và các điều ước quốc tế
– Thứ năm, quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là quyền dân sự mà còn có thể là đối tượng của các giao dịch thương mại
– Thứ sáu, quyền sở hữu trí tuệ không phải là quyền tuyệt đối: tức là dù tác giả và chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ được trao các quyền, nhưng những quyền này cũng bị giới hạn trong những trường hợp nhất định, VD bắt buộc phải chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế trong trường hợp tình trạng khẩn cấp quốc gia hoặc các tình huống đặc biệt cho mục đích công cộng
II. Sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ
– Pháp luật về sở hữu trí tuệ đã xuất hiện trên thế giới từ thế kỷ 13: Đạo luật Venice 1474 về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
– Anh ban hành đạo luật về sở hữu trí tuệ từ năm 1710. Pháp ban hành luật về bằng độc quyền sáng chế vào 1791. Hoa Kỳ ban hành luật bảo hộ sáng chế vào 1788
– Các điều ước quốc tế:
+ Công ước Paris 1983 về bảo hộ sở hữu công nghiệp
+ Công ước Berne 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật
+ Hiệp định TRIPS 1994 bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan
– Việt Nam ban hành luật Sở hữu trí tuệ đầu tiên năm 2005
– Sự ra đời của luật Sở hữu trí tuệ VN là quy trình ngược: không phải xuất phát từ nhu cầu giải quyết quan hệ trong xã hội, mà do nhu cầu gia nhập WTO nên VN phải xây dựng luật Sở hữu trí tuệ bằng cách “cóp nhặt” các quy định từ luật pháp các nước khác và từ các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ như Công ước Berne, Hiệp định TRIPs, … Dẫn tới là luật sở hữu trí tuệ không thể áp dụng được trong thực tế VN, và đến 2009 phải sửa đổi bổ sung.
Câu hỏi: Tại sao chỉ nói đến quyền sở hữu trí tuệ mà không nói đến nghĩa vụ sở hữu trí tuệ ?
III. Các bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ
1. Quyền tác giả và quyền liên quan
a. Quyền tác giả
– Khái niệm (Khoản 2 Điều 4): Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
– Đặc điểm của quyền tác giả:
+ được bảo hộ không phụ thuộc vào nội dung, giá trị nghệ thuật: vì sự sáng tạo trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được bảo hộ phải mang tính nguyên gốc (theo Công ước Berne). Hơn nữa việc đánh giá tác phẩm là tùy thuộc vào mỗi người, không thể áp đặt.
+ bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm: tác phẩm là ý tưởng sáng tạo của cá nhân được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, như từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, màu sắc … Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng sáng tạo, chứ không bảo hộ ý tưởng sáng tạo. Nói cách khác ý tưởng sáng tạo phải được thể hiện ra dưới hình thức nhất định thì mới được bảo hộ. VD anh A nghĩ ra 1 câu chuyện hay nhưng mới chỉ nghĩ trong đầu, kể cho anh B anh B liền viết câu chuyện đó ra và gửi đăng báo, khi đó anh A không thể kiện anh B đã vi phạm quyền tác giả.
+ được bảo hộ tự động: vào thời điểm tác phẩm được hoàn thành thì ngay lập tức quyền bảo hộ tác giả đã được xác lập. Việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình là việc mà Nhà nước khuyến khích để thuận tiện hơn cho việc bảo hộ, chứ không làm thay đổi bản chất của việc bảo hộ quyền tác giả.
b. Quyền liên quan đến quyền tác giả
– Để tác phẩm đến được với công chúng đòi hỏi có sự đóng góp của nhiều cá nhân, tổ chức khác bên cạnh tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. VD như nhạc sỹ sáng tác bài hát nhưng để đến được với công chúng thì cần có ca sỹ thể hiện, cần có nhà sản xuất băng đĩa …
– Khái niệm (khoản 3 Điều 4): Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
– Đặc điểm:
+ hoạt động của chủ thể quyền liên quan là hành vi sử dụng tác phẩm nên quyền này phát sinh trên cơ sở quyền tác giả
+ đối tượng của quyền liên quan được bảo hộ khi có tính nguyên gốc: tức là chỉ được bảo hộ là quyền liên quan khi đảm bảo 2 yếu tố:
Có dấu ấn riêng của chủ thể quyền liên quan
Được tạo ra lần đầu tiên
VD tổ chức phát sóng trực tiếp 1 cuộc biểu diễn thì được bảo hộ quyền liên quan, nếu chỉ tố chức phát lại hay tiếp sóng cuộc biểu diễn đó thì không được coi là chủ thể của quyền liên quan.
+ quyền liên quan được bảo hộ trong thời gian nhất định: 50 năm (Điều 34 Luật SHTT)
+ quyền liên quan được bảo hộ trên cơ sở không gây phương hại đến quyền tác giả
2. Quyền sở hữu công nghiệp
– Khái niệm: (khoản 4 Điều 4) Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
– Đặc điểm:
+ đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh: gồm 7 đối tượng
sáng chế: sản phẩm công nghệ
kiểu dáng công nghiệp: hình dáng bên ngoài của sản phẩm
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn: Chip, IC
nhãn hiệu: tên hàng hóa
tên thương mại: tên doanh nghiệp
chỉ dẫn địa lý: chỉ ra nguồn gốc, xuất xứ
bí mật kinh doanh:
+ quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua thủ tục đăng ký
+ quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo thời hạn của văn bằng bảo hộ
Câu hỏi: Tại sao quyền tác giả không cần đăng ký vẫn được bảo hộ, trong khi quyền sở hữu công nghiệp phải đăng ký mới được bảo hộ ?
Trả lời: Vì đối tượng của quyền tác giả là tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đều mang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân, không thể có 2 tác phẩm giống hệt nhau, do đó thủ tục đăng ký bảo hộ không quá cần thiết (vì tác giả thực sự có thể chứng minh được mình là người đã sáng tạo ra tác phẩm đó).
Trong khi đó đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp thì hoàn toàn có thể giống hệt nhau hoặc tương tự nhau đến mức gây nhầm lẫn. Nếu cùng bảo hộ cho 2 đối tượng giống hệt hoặc tương tự nhau thì sẽ gây hại cho hoạt động thương mại, vì vậy quyền sở hữu công nghiệp chỉ dành cho chủ thể đăng ký bảo hộ trước theo ngueyen tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên.
3. Quyền đối với giống cây trồng
– Khái niệm: (khoản 5 Điều 4) Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu.
– Đặc điểm:
+ đối tượng của quyền đối với giống cây trồng gắn liền với hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp
+ để được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng, cần đáp ứng nhiều điều kiện bảo hộ khác nhau
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IX: Giải quyết tranh chấp quốc tế cung cấp kiến thức về các phương thức và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia trong hệ thống luật pháp quốc tế. Bài giảng tập trung vào các biện pháp hòa bình như thương lượng, hòa giải, trọng tài và xét xử tại tòa án quốc tế. Ngoài ra, nội dung còn đề cập đến vai trò của các tổ chức quốc tế trong việc duy trì hòa bình, an ninh và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Đây là kiến thức cốt lõi cho sinh viên nghiên cứu về luật quốc tế.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IX
Chương 9: Giải quyết tranh chấp quốc tế
I. Khái niệm tranh chấp quốc tế
1. Khái niệm
Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu, hay đòi hỏi lề lợi ích trái ngược nhau, cần được giải quyết một cách hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Phân biệt giữa “tình thế” và “tranh chấp quốc tế”:
Tình thế: là hoàn cảnh thực tế mà các chủ thể có quan điểm trái ngược nhau nhưng không có xung đột về mặt lợi ích
Như vậy có những tình thế sẽ dẫn đến tranh chấp quốc tế, và có những tình thế chỉ là tình thế mà thôi.
Ví dụ: về cách hiểu “nội luật hóa” và “áp dụng trực tiếp” luật quốc tế có sự khác nhau giữa các quốc gia. Như trường hợp Nghị quyết 71 của Quốc hội VN quy định áp dụng trực tiếp luật quốc tế khi tham gia WTO, với VN thì coi đó là “áp dụng trực tiếp” luật quốc tế (cụ thể ở đây là các cam kết khi gia nhập WTO); trong khi với một số nước khác thì “áp dụng trực tiếp” là không ban hành bất kỳ văn bản PL nào, và do đó với trường hợp Nghị quyết 71 của VN sẽ được coi là “nội luật hóa” ==> có sự trái ngược nhau về quan điểm ==> là 1 tình thế. Tuy nhiên sự khác nhau về quan điểm này không ảnh hưởng gì đến lợi ích của các chủ thể (dù hiểu “nội luật hóa” theo cách nào thì vẫn thực hiện đầy đủ các cam kết) ==> không dẫn đến tranh chấp quốc tế
Ví dụ: Công ước LHQ về luật biển 1982 có định nghĩa đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, … gây ra những cách hiểu khác nhau giữa Trung Quốc và Philippin ==> cách hiểu về chủ quyền và quyền chủ quyền khác nhau ==> xung đột về lợi ích ==> dẫn đến tranh chấp quốc tế.
Phân biệt giữa “tranh chấp quốc tế” và “tranh chấp có tính chất quốc tế” (khác nhau ở chủ thể)
Tranh chấp có tính chất quốc tế: là tranh chấp có liên quan giữa 2 hay nhiều quốc gia
Ví dụ: tranh chấp giữa Hiệp hội nạn nhân chất độc màu da cam với các công ty hóa chất Hoa Kỳ
2. Phân loại tranh chấp quốc tế
Căn cứ vào số lượng các bên tham gia tranh chấp:
Tranh chấp song phương
Tranh chấp đa phương:
Tranh chấp có tính chất khu vực
Tranh chấp có tính chất toàn cầu
Căn cứ vào lĩnh vực: tranh chấp về thương mại, tranh chấp về biên giới lãnh thổ, …
Căn cứ vào tính chất của tranh chấp:
Tranh chấp mang tính chính trị: là các tranh chấp liên quan đến vấn đề lãnh thổ, vấn đề thực hiện chủ quyền quốc gia
Tranh chấp mang tính pháp lý: là các tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng luật pháp quốc tế
Chú ý: phân biệt chính trị hay pháp lý chỉ mang tính tương đối. VD tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippin về cách hiểu đảo, đá, … trên biển Đông vừa mang tính pháp lý (giải thích luật biển 1982), vừa mang tính chính trị (tranh chấp chủ quyền biển đảo)
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương IX
II. Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
1. Biện pháp đàm phán trực tiếp
Là biện pháp phổ biến nhất, hầu như được sử dụng đầu tiên khi có tranh chấp
Ưu điểm:
Nhanh chóng
Chi phí ít
Giữ gìn được uy tín, bí mật của mỗi bên
Không để bên thứ 3 xen vào ==> tránh được sự ảnh hưởng của bên thứ 3
Giữ gìn được mối quan hệ hòa bình, hợp tác giữa 2 bên
Nhược điểm: cả 2 bên cần thái độ thiện chí thì mới đàm phán được, chỉ cần 1 bên không thiện chí thì biện pháp đàm phán không thực hiện được
2. Biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba
– Gồm:
+ môi giới
+ trung gian
+ hòa giải
+ thông qua ủy ban điều tra
+ thông qua ủy ban hòa giải
– Môi giới, trung gian, hòa giải đều giống nhau là có sự tham gia của bên thứ 3 (bên thứ 3 có thể là quốc gia, tổ chức, thậm chí cá nhân có uy tín), khác nhau về mức độ tham gia của bên thứ 3 vào quá trình giải quyết tranh chấp:
+ với môi giới: chỉ dàn xếp để các bên ngồi vào bàn đàm phán, bên môi giới hoàn toàn không tham gia vào quá trình đàm phán
+ với trung gian: sau khi dàn xếp để các bên ngồi vào bàn đàm phán, bên trung gian có tham gia vào quá trình đàm phán nhưng không nghiên cứu nội dung vụ việc, không quan tâm đến việc giải quyết vụ việc như thế nào, mà chỉ tham gia với vai trò giữ không khí đàm phán hòa bình, hữu nghị giữa các bên
+ với hòa giải: tham gia sâu nhất, dàn xếp để các bên đàm phán, tham gia vào toàn bộ quá trình đàm phán, nghiên cứu nội dung tranh chấp, có thể đề xuất các biện pháp mang tính chất khuyến nghị để các bên tham khảo, thậm chí giữ vai trò chủ trì trong quá trình hòa giải
– Giải quyết tranh chấp thông qua Ủy ban điều tra:
+ ủy ban điều tra được thành lập theo thỏa thuận giữa các bên, với số thành viên là số lẻ. Ví dụ nếu có 2 bên tranh chấp, thì mỗi bên cử 1 người, người thứ 3 sẽ do 2 bên cùng thỏa thuận lựa chọn
+ về mặt thực chất, ủy ban điều tra không giải quyết tranh chấp mà chỉ có chức năng xác minh một cách chính xác và khách quan các sự kiện, các tình tiết có liên quan dẫn đến tranh chấp
+ ủy ban điều tra có quyền yêu cầu các bên tranh chấp đưa ra những chứng cứ, tài liệu liên quan
+ kết luận của ủy ban điều tra chỉ mang tính khuyến nghị, không mang tính bắt buộc, bất kỳ bên nào cũng có thể bác bỏ kết luận của ủy ban điều tra
– Giải quyết tranh chấp thông qua ủy ban hòa giải:
+ ủy ban hòa giải được thành lập theo thỏa thuận giữa các bên, với số lẻ thành viên
+ ủy ban hòa giải có quyền yêu cầu các bên tranh chấp đưa ra những chứng cứ, tài liệu liên quan
+ ủy ban hòa giải xác minh các sự kiện, các tình tiết có liên quan dẫn đến tranh chấp
+ trên cơ sở xác minh các sự kiện và tình tiết, ủy ban hòa giải kiến nghị, đề xuất các biện pháp để giải quyết tranh chấp
+ kết luận của ủy ban hòa giải chỉ mang tính khuyến nghị, không mang tính bắt buộc, bất kỳ bên nào cũng có thể bác bỏ kết luận của ủy ban điều tra
3. Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế
– Tổ chức quốc tế có vai trò ngày càng quan trọng khi quan hệ quốc tế ngày càng phát triển. Tổ chức quốc tế đóng vai trò môi giới, trung gian, hòa giải trong các tranh chấp quốc tế; tạo ra các diễn đàn cho các bên tranh chấp đàm phán, thỏa thuận; xây dựng các cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các thành viên của tổ chức.
– Thực tế, trong quy chế của hầu hết tổ chức quốc tế đều có những cơ chế về giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên
a. Giải quyết tranh chấp trong WTO
– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là DSB (đại hội đồng WTO)
– Trình tự:
+ B1: tham vấn để hòa giải, nếu không hòa giải được thì chuyển qua bước 2
+ B2: gửi đơn lên DSB
+ B3: DSB thành lập Panel (hội thẩm) để xem xét và giải quyết
+ B4: Panel đưa ra kết luận để giải quyết tranh chấp, kết luận này được trình lên DSB phê duyệt qua cơ chế đồng thuận phủ quyết.
Nếu các bên không đồng ý với phán quyết thì có thể yêu cầu phúc thẩm.
+ B5: DSB thành lập cơ quan phúc thẩm (SAB). SAB chỉ xem xét lại các khía cạnh pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm chứ không điều tra lại các yếu tố thực tiễn của tranh chấp. Kết quả làm việc của SAB là một báo cáo trong đó Cơ quan này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc đảo ngược lại các kết luận trong báo cáo của Ban hội thẩm. Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm được thông qua tại DSB và không thể bị phản đối hay khiếu nại tiếp.
Cơ chế đồng thuận phủ quyết: đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉkhông được thông qua khi tất cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua. Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định của DSB hầu như được thông qua tự động vì khó có thể tưởng tượng một quyết định có thể bị bỏ phiếu chống bởi tất cả các thành viên DSB. Nguyên tắc này khắc phục được nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 nơi áp dụng nguyên tắc đồng thuận truyền thống – mọi quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua (mỗi thành viên đều có quyền phủ quyết quyết định) – một rào cản trong việc thông qua các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp.
b. Giải quyết tranh chấp trong Liên hợp quốc (UN)
– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Hội đồng bảo an, Tòa án quốc tế, Đại hội đồng LHQ
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VIII sẽ đi sâu vào Luật quốc tế về hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm, làm rõ các quy định, hiệp định và cơ chế hợp tác quốc tế nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi phạm tội. Nội dung chương này bao gồm các nguyên tắc cơ bản, các thỏa thuận song phương và đa phương về dẫn độ, tương trợ tư pháp hình sự, cùng các biện pháp đặc biệt để đối phó với tội phạm xuyên quốc gia như buôn người, rửa tiền và khủng bố. Đây là kiến thức thiết yếu cho việc hiểu rõ vai trò của luật pháp quốc tế trong duy trì an ninh và công lý toàn cầu.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VIII
Chương 8: Luật quốc tế về hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VII: Luật tổ chức quốc tế cung cấp những kiến thức cơ bản về khái niệm, bản chất và vai trò của các tổ chức quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc tế. Chương này giải thích các nguyên tắc hoạt động, cấu trúc và thẩm quyền của các tổ chức quốc tế quan trọng như Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Qua đó, người học sẽ hiểu rõ hơn về cách thức các tổ chức này thúc đẩy hợp tác và giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VII
Vấn đề 7: Luật tổ chức quốc tế
Tự nghiên cứu. Chú ý nghiên cứu 2 tổ chức là Liên hợp quốc và WTO
Vấn đề 8: Giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế
I. Khái niệm tranh chấp quốc tế
1. Khái niệm
– Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan điểm trái ngược nhau hoặc mâu thuẫn nhau và có những yêu cầu, hay đòi hỏi lề lợi ích trái ngược nhau, cần được giải quyết một cách hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
– Phân biệt giữa “tình thế” và “tranh chấp quốc tế”:
+ tình thế: là hoàn cảnh thực tế mà các chủ thể có quan điểm trái ngược nhau nhưng không có xung đột về mặt lợi ích
Như vậy có những tình thế sẽ dẫn đến tranh chấp quốc tế, và có những tình thế chỉ là tình thế mà thôi.
Ví dụ: về cách hiểu “nội luật hóa” và “áp dụng trực tiếp” luật quốc tế có sự khác nhau giữa các quốc gia. Như trường hợp Nghị quyết 71 của Quốc hội VN quy định áp dụng trực tiếp luật quốc tế khi tham gia WTO, với VN thì coi đó là “áp dụng trực tiếp” luật quốc tế (cụ thể ở đây là các cam kết khi gia nhập WTO); trong khi với một số nước khác thì “áp dụng trực tiếp” là không ban hành bất kỳ văn bản PL nào, và do đó với trường hợp Nghị quyết 71 của VN sẽ được coi là “nội luật hóa” ==> có sự trái ngược nhau về quan điểm ==> là 1 tình thế. Tuy nhiên sự khác nhau về quan điểm này không ảnh hưởng gì đến lợi ích của các chủ thể (dù hiểu “nội luật hóa” theo cách nào thì vẫn thực hiện đầy đủ các cam kết) ==> không dẫn đến tranh chấp quốc tế
Ví dụ: Công ước LHQ về luật biển 1982 có định nghĩa đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, … gây ra những cách hiểu khác nhau giữa Trung Quốc và Philippin ==> cách hiểu về chủ quyền và quyền chủ quyền khác nhau ==> xung đột về lợi ích ==> dẫn đến tranh chấp quốc tế.
– Phân biệt giữa “tranh chấp quốc tế” và “tranh chấp có tính chất quốc tế” (khác nhau ở chủ thể)
+ tranh chấp có tính chất quốc tế: là tranh chấp có liên quan giữa 2 hay nhiều quốc gia
Ví dụ: tranh chấp giữa Hiệp hội nạn nhân chất độc màu da cam với các công ty hóa chất Hoa Kỳ
2. Phân loại tranh chấp quốc tế
– Căn cứ vào số lượng các bên tham gia tranh chấp:
+ tranh chấp song phương
+ tranh chấp đa phương:
Tranh chấp có tính chất khu vực
Tranh chấp có tính chất toàn cầu
– Căn cứ vào lĩnh vực: tranh chấp về thương mại, tranh chấp về biên giới lãnh thổ, …
– Căn cứ vào tính chất của tranh chấp:
+ tranh chấp mang tính chính trị: là các tranh chấp liên quan đến vấn đề lãnh thổ, vấn đề thực hiện chủ quyền quốc gia
+ tranh chấp mang tính pháp lý: là các tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng luật pháp quốc tế
Chú ý: phân biệt chính trị hay pháp lý chỉ mang tính tương đối. VD tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippin về cách hiểu đảo, đá, … trên biển Đông vừa mang tính pháp lý (giải thích luật biển 1982), vừa mang tính chính trị (tranh chấp chủ quyền biển đảo)
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VII
II. Các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
1. Biện pháp đàm phán trực tiếp
– Là biện pháp phổ biến nhất, hầu như được sử dụng đầu tiên khi có tranh chấp
– Ưu điểm:
+ nhanh chóng
+ chi phí ít
+ giữ gìn được uy tín, bí mật của mỗi bên
+ không để bên thứ 3 xen vào ==> tránh được sự ảnh hưởng của bên thứ 3
+ giữ gìn được mối quan hệ hòa bình, hợp tác giữa 2 bên
– Nhược điểm: cả 2 bên cần thái độ thiện chí thì mới đàm phán được, chỉ cần 1 bên không thiện chí thì biện pháp đàm phán không thực hiện được
2. Biện pháp giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba
– Gồm:
+ môi giới
+ trung gian
+ hòa giải
+ thông qua ủy ban điều tra
+ thông qua ủy ban hòa giải
– Môi giới, trung gian, hòa giải đều giống nhau là có sự tham gia của bên thứ 3 (bên thứ 3 có thể là quốc gia, tổ chức, thậm chí cá nhân có uy tín), khác nhau về mức độ tham gia của bên thứ 3 vào quá trình giải quyết tranh chấp:
+ với môi giới: chỉ dàn xếp để các bên ngồi vào bàn đàm phán, bên môi giới hoàn toàn không tham gia vào quá trình đàm phán
+ với trung gian: sau khi dàn xếp để các bên ngồi vào bàn đàm phán, bên trung gian có tham gia vào quá trình đàm phán nhưng không nghiên cứu nội dung vụ việc, không quan tâm đến việc giải quyết vụ việc như thế nào, mà chỉ tham gia với vai trò giữ không khí đàm phán hòa bình, hữu nghị giữa các bên
+ với hòa giải: tham gia sâu nhất, dàn xếp để các bên đàm phán, tham gia vào toàn bộ quá trình đàm phán, nghiên cứu nội dung tranh chấp, có thể đề xuất các biện pháp mang tính chất khuyến nghị để các bên tham khảo, thậm chí giữ vai trò chủ trì trong quá trình hòa giải
– Giải quyết tranh chấp thông qua Ủy ban điều tra:
+ ủy ban điều tra được thành lập theo thỏa thuận giữa các bên, với số thành viên là số lẻ. Ví dụ nếu có 2 bên tranh chấp, thì mỗi bên cử 1 người, người thứ 3 sẽ do 2 bên cùng thỏa thuận lựa chọn
+ về mặt thực chất, ủy ban điều tra không giải quyết tranh chấp mà chỉ có chức năng xác minh một cách chính xác và khách quan các sự kiện, các tình tiết có liên quan dẫn đến tranh chấp
+ ủy ban điều tra có quyền yêu cầu các bên tranh chấp đưa ra những chứng cứ, tài liệu liên quan
+ kết luận của ủy ban điều tra chỉ mang tính khuyến nghị, không mang tính bắt buộc, bất kỳ bên nào cũng có thể bác bỏ kết luận của ủy ban điều tra
– Giải quyết tranh chấp thông qua ủy ban hòa giải:
+ ủy ban hòa giải được thành lập theo thỏa thuận giữa các bên, với số lẻ thành viên
+ ủy ban hòa giải có quyền yêu cầu các bên tranh chấp đưa ra những chứng cứ, tài liệu liên quan
+ ủy ban hòa giải xác minh các sự kiện, các tình tiết có liên quan dẫn đến tranh chấp
+ trên cơ sở xác minh các sự kiện và tình tiết, ủy ban hòa giải kiến nghị, đề xuất các biện pháp để giải quyết tranh chấp
+ kết luận của ủy ban hòa giải chỉ mang tính khuyến nghị, không mang tính bắt buộc, bất kỳ bên nào cũng có thể bác bỏ kết luận của ủy ban điều tra
3. Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế
– Tổ chức quốc tế có vai trò ngày càng quan trọng khi quan hệ quốc tế ngày càng phát triển. Tổ chức quốc tế đóng vai trò môi giới, trung gian, hòa giải trong các tranh chấp quốc tế; tạo ra các diễn đàn cho các bên tranh chấp đàm phán, thỏa thuận; xây dựng các cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các thành viên của tổ chức.
– Thực tế, trong quy chế của hầu hết tổ chức quốc tế đều có những cơ chế về giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên
a. Giải quyết tranh chấp trong WTO
– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là DSB (đại hội đồng WTO)
– Trình tự:
+ B1: tham vấn để hòa giải, nếu không hòa giải được thì chuyển qua bước 2
+ B2: gửi đơn lên DSB
+ B3: DSB thành lập Panel (hội thẩm) để xem xét và giải quyết
+ B4: Panel đưa ra kết luận để giải quyết tranh chấp, kết luận này được trình lên DSB phê duyệt qua cơ chế đồng thuận phủ quyết.
Nếu các bên không đồng ý với phán quyết thì có thể yêu cầu phúc thẩm.
+ B5: DSB thành lập cơ quan phúc thẩm (SAB). SAB chỉ xem xét lại các khía cạnh pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm chứ không điều tra lại các yếu tố thực tiễn của tranh chấp. Kết quả làm việc của SAB là một báo cáo trong đó Cơ quan này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc đảo ngược lại các kết luận trong báo cáo của Ban hội thẩm. Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm được thông qua tại DSB và không thể bị phản đối hay khiếu nại tiếp.
Cơ chế đồng thuận phủ quyết: đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉkhông được thông qua khi tất cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua. Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định của DSB hầu như được thông qua tự động vì khó có thể tưởng tượng một quyết định có thể bị bỏ phiếu chống bởi tất cả các thành viên DSB. Nguyên tắc này khắc phục được nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 nơi áp dụng nguyên tắc đồng thuận truyền thống – mọi quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua (mỗi thành viên đều có quyền phủ quyết quyết định) – một rào cản trong việc thông qua các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp.
b. Giải quyết tranh chấp trong Liên hợp quốc (UN)
– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Hội đồng bảo an, Tòa án quốc tế, Đại hội đồng LHQ
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VI: Luật ngoại giao – lãnh sự tập trung vào việc giải thích các nguyên tắc cơ bản của luật ngoại giao và lãnh sự, bao gồm quyền và nghĩa vụ của các cơ quan đại diện ngoại giao, quy chế miễn trừ và ưu đãi cho nhân viên ngoại giao, cũng như vai trò của các lãnh sự quán. Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định quốc tế liên quan đến hoạt động ngoại giao, giúp người học nắm bắt được tầm quan trọng của quan hệ ngoại giao trong việc duy trì hòa bình và ổn định quốc tế.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VI
Chương 6: Luật ngoại giao – lãnh sự
1. Khái niệm
– Luật ngoại giao – lãnh sự là 1 ngành luật trong hệ thống PL quốc tế. Ngành luật ngoại giao – lãnh sự có từ rất sớm trong lịch sử, vì ngay từ khi các quốc gia xuất hiện thì đã xuất hiện nhu cầu quan hệ với nhau. Một trong những chế định cổ điển nhất của luật ngoại giao là chế định về bất khả xâm phạm đối với sứ giả nước ngoài, xuất hiện trong luật Manu của Ấn Độ cổ đại, trong luật La Mã cổ đại, Hy Lạp cổ đại.
Luật về lãnh sự còn xuất hiện trước cả luật ngoại giao, nguyên nhân do nhu cầu thương mại, hàng hải của các nhà nước cổ đại, các nhà nước cổ đại cần bảo vệ những lợi ích của mình, của công dân nước mình khi quan hệ thương mại với các nước khác ==> các chế định về lãnh sự xuất hiện. Sau đó, các cơ quan về ngoại giao mới xuất hiện.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương VI
– Nguồn của luật ngoại giao – lãnh sự:
+ Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao
+ Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự
– Đối tượng điều chỉnh: là việc thiết lập quan hệ chính thức giữa các quốc gia. Ví dụ khi VN và Mỹ tuyên bố bình thường hóa quan hệ với nhau, thì hai bên sẽ thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau
2. Điều chỉnh pháp lý quốc tế việc thiết lập quan hệ ngoại giao – lãnh sự giữa các quốc gia
– Quan hệ ngoại giao và quan hệ lãnh sự có sự khác nhau về cấp độ quan hệ, nhưng có mối quan hệ qua lại với nhau:
Quan hệ ngoại giao
Quan hệ lãnh sự
Cơ sở
Công nhận de-jure ==> thỏa thuận thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ
Công nhận de-facto (mức độ thấp hơn de-jure ==> mới chỉ thiết lập quan hệ lãnh sự mà chưa thiết lập quan hệ ngoại giao)
Phạm vi đại diện
Mọi lĩnh vực (kể cả an ninh, quốc phòng, văn hóa, …), trên toàn lãnh thổ
Chỉ hoạt động trong 1 số khu vực và 1 số lĩnh vực (thường là quan hệ kinh tế, thương mại). (được ghi rõ trong Giấy chứng nhận lãnh sự )VD lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Đà Nẵng thì chỉ hoạt động tại Đà Nẵng (và những tỉnh lân cận) và chỉ trong 1 số lĩnh vực nhất định
Tính chất
Có tính chính trị, pháp lý
Có tính hành chính, pháp lý
Số lượng
1 cơ quan duy nhất (vì là đại diện ngoại giao của quốc gia), là Đại sứ quán, hoặc Công sứ quán hay Đại biện quán (có phạm vi đại diện hẹp hơn Đại sứ quán).Người đứng đầu Đại sứ quán được gọi đầy đủ là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền
Số lượng: nhiều cơ quan: Tổng lãnh sự quán; Lãnh sự quán; Phó lãnh sự quán; Quản lý lãnh sự quán.Thông thường ở khu vực nào có đông dân cư của nước mình sinh sống (trên nước sở tại) thì sẽ đặt 1 lãnh sự quán ở đó.
Quan hệ với chính quyền sở tại
Trực tiếp với cơ quan TW (Chính phủ, bộ Ngoại giao)
Chỉ quan hệ với chính quyền địa phương. Nếu muốn quan hệ với cơ quan TW thì phải thông qua Đại sứ quán.
Chức năng
Đại diện cho quốc gia (khi 2 nước có tranh chấp, nước sở tại thường triệu đại sứ của nước kia đến để phản đối hoặc yêu cầu)
Bảo vệ, bảo hộ cá nhân, pháp nhân nước mình tại nước sở tại
So sánh thành viên của cơ quan ngoại giao và của cơ quan lãnh sự :
Thành viên cơ quan ngoại giao
Thành viên cơ quan lãnh sự
Gồm:+ đại sứ: do nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm+ công sứ: do nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm+ đại biện: do bộ trưởng ngoại giao bổ nhiệm+ trưởng đoàn đại diện+ tham tán, bí thư, tùy viên
Gồm:+ tổng lãnh sự: do bộ trưởng ngoại giao bổ nhiệm+ lãnh sự: do bộ trưởng ngoại giao bổ nhiệm+ trưởng phòng lãnh sự của đại sứ quán+ tham tán, bí thư, tùy viên lãnh sự
Phân biệt: hàm, cấp, chức vụ:+ cấp bậc ngoại giao: đại sứ, công sứ, đại biện+ hàm ngoại giao: đại sứ, công sứ, tham tán, bí thư, tùy viên+ chức vụ: đại sứ / công sứ đặc mệnh toàn quyền, đại biện, trưởng đoàn đại diện (tại các tổ chức quốc tế liên chính phủ), tham tán, bí thư, tùy viên
Phân biệt: hàm, cấp, chức vụ:+ cấp bậc lãnh sự: tổng lãnh sự, lãnh sự, trưởng phòng lãnh sự+ hàm lãnh sự: tổng lãnh sự, lãnh sự, tham tán, bí thư, tùy viên+ chức vụ: tổng lãnh sự, lãnh sự, trưởng phòng lãnh sự (của đại sứ quán), tham tán, bí thư, tùy viên
Phân loại:+ viên chức ngoại giao: là những người có hàm, có cấp ngoại giao (phải được bổ nhiệm vào bậc, ngạch ngoại giao), có vai trò đại diện cho quốc gia (gọi là có thân phận ngoại giao, được cấp hộ chiếu ngoại giao)+ nhân viên hành chính – kỹ thuật: làm việc trong cơ quan ngoại giao nhưng không được bổ nhiệm viên chức, không là đại diện cho quốc gia, như phiên dịch, tài vụ, văn thư, …+ nhân viên phục vụ: như bảo vệ, lái xe, nấu ăn, tạp vụ, …
Phân loại:+ viên chức lãnh sự: là những người có hàm, có cấp lãnh sự (phải được bổ nhiệm vào bậc, ngạch), có vai trò đại diện cho quốc gia (gọi là có thân phận ngoại giao, được cấp hộ chiếu ngoại giao)+ nhân viên hành chính – kỹ thuật: làm việc trong cơ quan lãnh sự nhưng không được bổ nhiệm viên chức, không đại diện cho quốc gia+ nhân viên phục vụ
Đoàn ngoại giao:+ theo nghĩa hẹp, đoàn ngoại giao gồm tất cả những người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của các nước khác tại nước nhận đại diện+ theo nghĩa rộng: đoàn ngoại giao gồm tất cả những người có hộ chiếu ngoại giao và thẻ ngoại giao do nước nhận đại diện cấpChức năng: đoàn ngoại giao không phải là 1 tổ chức, không hoạt động hàng ngày, mà chỉ thực hiện chức năng lễ tân trong hoạt động tại nước sở tại. Trưởng đoàn ngoại giao là người có cấp bậc ngoại giao cao nhất và công tác lâu nhất ở nước sở tại. VD nhân ngày quốc khánh 2/9, đoàn ngoại giao tại VN, đứng đầu là đại sứ Lào, người đã có 5 nhiệm kỳ tại VN (lâu nhất trong số các đại sứ) đứng đầu đã đến phủ Chủ tịch nước chúc mừng nhân dân VN.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương V: Lãnh thổ trong luật quốc tế cung cấp kiến thức về khái niệm lãnh thổ và vai trò của nó trong luật pháp quốc tế. Chương này giải thích cách xác định, phân loại các loại lãnh thổ như đất liền, biển, không gian vũ trụ, và nêu rõ quyền tài phán, chủ quyền của quốc gia đối với các vùng lãnh thổ. Đồng thời, chương cũng phân tích các quy định quốc tế về giải quyết tranh chấp lãnh thổ và nguyên tắc bất khả xâm phạm, giúp người học hiểu rõ hơn về vai trò của lãnh thổ trong quan hệ quốc tế.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương V
Chương 5: Lãnh thổ trong luật quốc tế
I. Khái niệm
1. Định nghĩa
– Lãnh thổ được hiểu là toàn bộ vùng đất, vùng nước, vùng trời, vùng lòng đất và vùng khoảng không vũ trụ.
2. Phân loại
– Căn cứ vào quy chế pháp lý, chia thành:
+ lãnh thổ quốc gia: thuộc chủ quyền quốc gia
+ lãnh thổ quốc tế: không thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào, gồm vùng biển quốc tế, vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế, vùng trời quốc tế, vùng đáy biển quốc tế, châu Nam cực, vùng khoảng không vũ trụ (gồm mặt trăng và các hành tinh). Tất cả các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế đều có quyền bình đẳng sử dụng lãnh thổ quốc tế vào mục đích hòa bình và phát triển. Điều này đã được luật hóa thành các ngành luật trong luật quốc tế như Nguyên tắc tự do biển cả (trong Luật biển quốc tế), Nguyên tắc tự do bay vào vùng trời quốc tế ( trong Luật hàng không quốc tế), Nguyên tắc không thiết lập chủ quyền quốc gia đối với khoảng không vũ trụ (trong Luật vũ trụ quốc tế), …
+ lãnh thổ có quy chế hỗn hợp: là vùng lãnh thổ không phải của quốc gia nào, nhưng cũng không phải là lãnh thổ quốc tế, gồm có: vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa (quốc gia được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán tại vùng lãnh thổ này). Quy chế pháp lý của vùng lãnh thổ này được xác định hỗn hợp theo cả luật quốc gia và luật quốc tế (luật biển quốc tế)
+ lãnh thổ quốc gia được sử dụng quốc tế: là những bộ phận của lãnh thổ quốc gia nhưng do sự đặc thù về vị trí địa lý, chính trị, kinh tế, nên được quốc tế hóa một phần nhằm phục vụ cho lợi ích quốc tế, bao gồm các kênh đào quốc tế, sông quốc tế, eo biển quốc tế
II. Lãnh thổ quốc gia
1. Định nghĩa
– Lãnh thổ quốc gia được hiểu là toàn bộ vùng đất, vùng nước, vùng trời, vùng lòng đất thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối hay riêng biệt của quốc gia.
2. Cấu trúc lãnh thổ quốc gia
a. Vùng đất
– Là toàn bộ đất liền lục địa, các đảo và hải đảo thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia.
b. Vùng nước
– Bao gồm 2 vùng:
+ vùng nội thủy
+ vùng lãnh hải
Chú ý: vùng nước nội địa như ao, hồ, sông, ngòi do nằm hoàn toàn trong vùng đất của lãnh thổ nên quy chế pháp lý được gộp chung với quy chế của vùng đất.
Do đó vùng nước nói đến ở đây là vùng biển.
– Ngoài ra còn có vùng nước biên giới là các sông, suối biên giới, mà các quốc gia thỏa thuận sử dụng sông suối đó làm đường ranh giới phân định lãnh thổ quốc gia, quy chế pháp lý của vùng nước biên giới sẽ theo thỏa thuận riêng giữa các quốc gia.
b.1. Vùng nội thủy
– Định nghĩa: Nội thủy là toàn bộ vùng nước nằm phía trong đường cơ sở để tính bề rộng lãnh hải.
– Cách xác định:
+ ranh giới trong là đường bờ biển
+ ranh giới ngoài là đường cơ sở để tính bề rộng lãnh hải
– Cấu trúc của nội thủy:
+ cửa sông
+ cảng biển
+ vịnh thiên nhiên: phải đáp ứng cáct tiêu chí cụ thể của vịnh
+ vịnh lịch sử: là vịnh nhưng không đáp ứng được các tiêu chuẩn của vịnh thiên nhiên nhưng từ trước đến nay thì quốc gia đó đã sử dụng nó như vịnh thiên nhiên và cho nó quy chế pháp lý của vịnh thiên nhiên
+ vũng đậu tàu
– Quy chế pháp lý: tại vùng nội thủy, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Mọi sự ra vào của tàu thuyền nước ngoài đều phải xin phép.
Về thẩm quyền tài phán dân sự: quốc gia ven biển có thẩm quyền tài phán về mặt dân sự đối với mọi tàu thuyền có hành vi vi phạm trong vùng nội thủy. Tàu nhà nước (của quốc gia khác) sử dụng vào mục đích phi quân sự được hưởng quyền miễn trừ tài phán. Trong trường hợp tàu này có hành vi vi phạm, quốc gia ven biển có quyền yêu cầu con tàu đó rời khỏi vùng nội thủy của mình và quốc gia mà tàu mang cờ sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do con tàu đó gây ra.
Về thẩm quyền tài phán hình sự: quốc gia ven biển có thẩm quyền tài phán hình sự đối với mọi hành vi vi phạm (vi phạm PL của quốc gia ven biển) của tàu thuyền trong vùng nội thủy của mình, nhưng không có thẩm quyền tài phán đối với các cuộc xung đột xảy ra trong nội bộ thủy thủ đoàn, trừ các trường hợp:
+ tàu đó vi phạm gây ảnh hưởng về trật tự, an ninh của quốc gia ven biển
+ do thuyền trưởng tàu đó yêu cầu
+ do người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của quốc gia mà tàu đó mang cờ yêu cầu quốc gia ven biển can thiệp
Đối với tàu quân sự, tàu nhà nước sử dụng vào mục đích phi thương mại cũng được hưởng quyền miễn trừ tài phán hình sự. Trong trường hợp tàu này có hành vi vi phạm, quốc gia ven biển có quyền yêu cầu con tàu đó rời khỏi vùng nội thủy của mình và quốc gia mà tàu mang cờ sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do con tàu đó gây ra.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương V
b.2. Vùng lãnh hải
– Định nghĩa: lãnh hải là vùng nước nằm bên ngoài nội thủy, tiếp liền với nội thủy, có bề rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở.
1 hải lý = 1852 m (~ 1.85 km)
– Cách xác định:
+ ranh giới trong là đường cơ sở
+ ranh giới ngoài là đường nối liền các điểm cách điểm gần nhất của đường cơ sở 1 khoảng bằng bề rộng lãnh hải. Ranh giới ngoài này chính là đường biên giới quốc gia trên biển.
Chú ý: “Phao số 0” không phải là điểm mốc của đường biên giới quốc gia trên biển. Phao số 0 chỉ là điểm đầu tiên của hệ thống mốc tiêu dẫn luồng vào cảng, được đặt theo quy định của Luật Hàng hải, chứ không liên quan gì đến đường biên giới quốc gia trên biển.
– Các phương pháp xác định đường cơ sở: 2 phương pháp:
+ phương pháp đường cơ sở thông thường: đường cơ sở là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển, được thể hiện trên hải đồ tỷ lệ lớn và được các quốc gia ven biển chính thức công nhận (theo Điều 5 Công ước luật biển 1982).
Việc xác định ngấn nước thủy triều thấp nhất phải do các chuyên gia về địa lý, địa chất, khí tượng đo đạc, theo dõi trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm của các loại chu kỳ.
Ưu điểm: phản ánh chính xác nhất hình dáng của bờ biển
Nhược điểm: đối với quốc gia có bờ biển khúc khửu, lồi lõm, khoét sâu, hoặc có các đảo gần bờ, hoặc có đường bờ biển không ổn định thì việc xác định đường cơ sở theo phương pháp này rất khó khăn
+ phương pháp đường cơ sở thẳng: đường cơ sở là đường nối liền các điểm ngoài cùng, nhô ra xa nhất tại ngấn nước thủy triều thấp nhất của quốc gia ven biển. Đường cơ sở thẳng phải thỏa mãn 2 điều kiện:
Đường cơ sở thẳng phải phản ánh được xu hướng chung của đường bờ biển, không được đi chệch quá xa, các vùng nước phía trong vùng cơ sở phải gắn liền với đất liền đủ để đặt ở quy chế pháp lý của vùng nội thủy
Đường cơ sở thẳng không được xuất phát hoặc chạy qua các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp trên các bãi cạn đó có xây dựng các công trình đèn biển thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước
Để áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, quốc gia phải đáp ứng ít nhất 1 trong 3 điều kiện sau:
có địa hình bờ biển khúc khửu, lồi lõm, khoét sâu
có chuỗi đảo nằm sát bờ biển
có địa hình bờ biển bất thường, không ổn định (thể hiện rõ nhất bằng những đồng bằng châu thổ lớn ven biển, mà đồng bằng châu thổ do phù sa bồi đắp, bên lở bên bồi nên không thể ổn định)
Phương pháp đường cơ sở thẳng xuất phát từ việc tranh chấp ngư trường giữa Anh và Na Uy năm 1951, và Tòa án quốc tế đã thừa nhận dùng phương pháp đường cơ sở thẳng để xác định đường cơ sở. Phán quyết này đã được pháp điển hóa và được đưa vào Công ước luật biển 1982.
VN dùng phương pháp đường cơ sở thẳng để xác định đường cơ sở, theo đó theo Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/11/1982, hệ thống đường cơ sở của Việt Nam gồm 11 điểm có tọa độ xác định.
– Quy chế pháp lý của vùng lãnh hải: tại vùng lãnh hải, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, tàu thuyền nước ngoài có quyền đi qua không gây hại ở trong vùng lãnh hải (Điều 17-26 Công ước luật biển 1982), tức là có quyền đi qua mà không cần phải xin phép quốc gia ven biển (như đối với vùng nội thủy)
+ “đi qua”: tức là đi ở trong lãnh hải, không đi vào vùng nội thủy; đi liên tục, nhanh chóng, không dừng lại thả neo, không cập mạn tiếp xúc với các tàu khác, không gây ô nhiễm biển (không thải chất thải ra biển). Việc đi qua có thể bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn.
+ “không gây hại”: không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển. Theo Công ước luật biển 1982, việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi như phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào sau đây:
Đe dọa hoặc dùng vũ lục chống lại chính quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc;
Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;
Thu nhập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;
Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;
Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển;
Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển;
Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;
Đánh bắt hải sản;
Nghiên cứu hay đo đạc;
Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;
Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua.
Chú ý: trong lãnh hải, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác cũng được quyền đi qua không gây hại nhưng buộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch.
Chú ý: phương pháp xác định đường cơ sở thẳng mới xuất hiện từ 1951, như vậy sẽ nảy sinh vấn đề những vùng biển trước kia được xác định là vùng lãnh hải theo phương pháp đường cơ sở thông thường, khi quốc gia chuyển sang xác định bằng phương pháp đường cơ sở thẳng thì vùng biển đó trở thành vùng nội thủy, mà quy chế pháp lý của 2 vùng biển này là khác nhau.
==> luật quốc tế quy định đối với những vùng biển đó, tàu thuyền các quốc gia khác vẫn được hưởng quyền đi qua không gây hại.
Câu hỏi: Trong vùng nội thủy, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối, không bao giờ các tàu thuyền nước ngoài có quyền đi qua không gây hại ?
Trả lời: Sai. Vì trường hợp nêu trên là ngoại lệ.
Chú ý: ở những cảng biển quốc tế, để tạo thuận lợi cho thương mại, các quốc gia có thể thỏa thuận với nhau cho phép tàu thuyền của các quốc gia đó có quyền đi qua không gây hại, thì đây là những thỏa thuận riêng của các quốc gia, không phải là luật quốc tế.
Câu hỏi: Luật biển Việt Nam 2012 quy định chỉ tàu thuyền dân sự mới được đi qua không gây hại trong vùng lãnh hải VN, còn với tàu quân sự thì phải thông báo trước 48 tiếng khi đi qua không gây hại. Hỏi luật biển 2012 của VN có mâu thuẫn với luật quốc tế ?
– Thẩm quyền tài phán hình sự (Điều 27 Công ước luật biển 1982): quốc gia ven biển có thẩm quyền tài phán đối với hành vi vi phạm của con tàu đó, còn đối với với những hành vi trong nội bộ thủy thủ đoàn thì quốc gia ven biển không có thẩm quyền tài phán, trừ một số trường hợp:
+ tàu đó vi phạm gây ảnh hưởng về trật tự, an ninh của quốc gia ven biển
+ do thuyền trưởng tàu đó yêu cầu
+ do người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của quốc gia mà tàu đó mang cờ yêu cầu quốc gia ven biển can thiệp
Quốc gia ven biển được quyền dừng tàu thuyền khi nó đang đi quan không gây hại tại vùng lãnh hải của mình.
– Thẩm quyền tài phán dân sự (Điều 28 Công ước luật biển 1982): Quốc gia ven biển không được bắt một tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi hành trình của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối với một người ở trên con tàu đó
c. Vùng trời
– Định nghĩa: là toàn bộ khoảng không gian bao trùm lên vùng đất và vùng nước của quốc gia
– Cách xác định: vùng trời được giới hạn bởi biên giới xung quanh và biên giới trên cao.
+ biên giới xung quanh: là mặt cắt thẳng đứng của biên giới vùng đất và biên giới vùng nước
+ biên giới trên cao: luật quốc tế chưa quy định, nhưng theo tập quán quốc tế thì biên giới trên cao là khoảng cách 100 km (có thể sai số 10km) (trên 110km là khoảng không vũ trụ, không thuộc quốc gia nào)
– Quy chế pháp lý: tại vùng trời, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt
Chú ý: “chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt” ở đây có tính chất hoàn toàn giống với “chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối”, sở dĩ sử dụng 2 thuật ngữ “riêng biệt” và “tuyệt đối” chỉ để phân biệt chủ quyền vùng trời và chủ quyền vùng đất.
d. Vùng lòng đất
– Định nghĩa: là toàn bộ đáy và lòng đất nằm phía dưới vùng đất và vùng nước của quốc gia kéo dài đến tận tâm trái đất
– Tại vùng lòng đất, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối
3. Chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ
– Các học thuyết về chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ:
+ thuyết tài vật: hình thành trong thời phong kiến, theo đó quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là quyền sở hữu của NN và quyền sở hữu này được đặt trong tay Vua. Hệ quả là lãnh thổ quốc gia trở thành vật được đem trao đổi, mua bán, chuyển nhượng, thừa kế, hay thành tặng vật để cầu hôn, cầu hòa, … (như trường hợp vua Chế Mân của nước Chăm dâng 2 châu Ô, châu Lý cho Đại Việt để làm sính lễ cầu hôn công chúa Huyền Trân nhà Trần)
+ thuyết cai trị: ra đời trong thời kỳ đầu của CNTB, theo đó coi lãnh thổ quốc gia là khoảng không gian thực hiện quyền lực quốc gia, đồng thời là tài sản vật chất đặc biệt
+ thuyết thẩm quyền: do Rumiski đề xướn vào năm 1906, theo đó mặt vật chất của lãnh thổ chỉ được đề cập một cách tương đối, còn nội dung cốt lõi là thừa nhận một tổng thể quyền lực của quốc gia sở tại và các quốc gia khác có công dân ở nước sở tại đó.
– Nội dung của chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ thể hiện trên 2 phương diện cơ bản:
+ phương diện quyền lực: quốc gia thực hiện quyền tài phán đối với người và tài sản trong phạm vi lãnh thổ một cách không hạn chế. Trên phạm vi lãnh thổ, quốc gia được quyền tiến hành mọi hoạt động với điều kiện các hành vi đó không bị luật quốc tế cấm. Tuy nhiên theo tập quán quốc tế, quốc gia không được sử dụng chủ quyền lãnh thổ của mình làm thiệt hại đến chủ quyền lãnh thổ của quốc gia khác.
Một số ngoại lệ:
Không áp dụng luật quốc gia đối với viên chức ngoại giao, lãnh sự trên lãnh thổ quốc gia (hay còn gọi là quyền miễn trừ trách nhiệm đối với nhân viên ngoại giao)
Không loại bỏ hiệu lực của luật nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mình nếu đã có sự thỏa thuận
+ phương diện vật chất: vật chất ở đây là môi trường tự nhiên của quốc gia, gồm đất đai, nước, không gian, rừng, khoáng sản, tài nguyên, … trong phạm vi biên giới quốc gia. Quốc gia có quyền sở hữu một cách đầy đủ, trọn vẹn những vật chất này.
Chú ý: với trường hợp 1 quốc gia thuê lãnh thổ 1 quốc gia khác thì vùng lãnh thổ cho thuê vẫn là 1 bộ phận lãnh thổ quốc gia của nước cho thuê, nước thuê vùng lãnh thổ có quyền áp dụng quyền tài phán của mình phù hợp với thỏa thuận được ghi nhận giữa 2 bên.
– Quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia, gồm:
+ quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với nguyện vọng của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ
+ quyền tự do lựa chọn phương hướng phát triển đất nước, thực hiện những cải cách kinh tế – XH phù hợp với quốc gia mình. Các quốc gia khác có nghĩa vụ phải tôn trọng sự lựa chọn này
+ quyền tự do quy định chế độ pháp lý đối với từng vùng lãnh thổ quốc gia
+ quyền sở hữu hoàn toàn đối với tất cả tài nguyên thiên nhiên trong lãnh thổ quốc gia
+ thực hiện quyền tài phán đối với mọi công dân, tổ chức, người nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
+ quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, điều chỉnh, kiểm soát hoạt động của các pháp nhân và người nước ngoài, kể cả trường hợp quốc hữu hóa, tịch thu, trưng thu tài sản của tổ chức, cá nhân nước ngoài
+ quyền quyết định sử dụng, thay đổi lãnh thổ phù hợp với PL và lợi ích của cộng đồng dân cư của quốc gia
– Các phương thức xác lập chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ: có 2 phương thức:
+ phương thức chiếm cứ hữu hiệu: quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên 1 vùng lãnh thổ vô chủ hoặc bị bỏ rơi.
Lãnh thổ vô chủ là lãnh thổ thỏa mãn:
Không có người ở vào thời điểm quốc gia thực hiện hành động chiếm cứ
Chưa từng thuộc quyền sở hữu của bất cứ quốc gia nào vào thời điểm quốc gia thực hiện hành động chiếm cứ
Lãnh thổ bị bỏ rơi khi thỏa mãn phương diện vật chất (không có sự quản lý thực sự trên lãnh thổ) và phương diện tâm lý (là ý định từ bỏ lãnh thổ của quốc gia đã từng là chủ của lãnh thổ đó), cụ thể gồm:
Lãnh thổ này không còn là đối tượng điều chỉnh, áp dụng của PL quốc gia
Quốc gia từ bỏ sự duy trì đời sống kinh tế, không tiến hành thu thuế, khai thác tài nguyên, …
Quốc gia xóa bỏ các thiết chế quản lý trên lãnh thổ
Quốc gia không thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ bỏ việc bảo hộ lợi ích của cư dân sống trên lãnh thổ
Việc chiếm cứ hữu hiệu phải do NN hoặc tổ chức công được NN ủy quyền thực hiện, gồm:
Phải là sự chiếm cứ hợp pháp, tức là đúng đối tượng (lãnh thổ phải vô chủ hoặc bị bỏ rơi) và bằng biện pháp hòa bình (không được sử dụng vũ lực)
Phải có sự chiếm cứ thực sự: bằng cách hành vi như đưa công dân nước mình đến định cư, thiết lập bộ máy quản lý hành chính, đưa vaoò bản đồ quốc gia vùng lãnh thổ đó, …
Chiếm cứ phải liên tục, hòa bình trong 1 thời gian dài không có tranh chấp
Việc chiếm cứ phải được thực hiện với mục đích nhằm tạo ra 1 danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ
+ phương thức chuyển nhượng tự nguyện: là việc quốc gia này tự nguyện chuyển nhượng 1 vùng lãnh thổ của mình cho 1 quốc gia khác thông quan các hình thức như điều ước quốc tế, trao đổi, mua bán. Ví dụ Nga bán vùng Alaska cho Mỹ
III. Biên giới quốc gia
1. Định nghĩa
– Biên giới quốc gia là đường ranh giới để phân định giữa lãnh thổ quốc gia này với lãnh thổ quốc gia khác, hoặc phân định giữa lãnh thổ quốc gia và vùng lãnh thổ quốc gia có quyền chủ quyền trên biển.
2. Các bộ phận của biên giới quốc gia
Gồm:
+ biên giới trên bộ: là đường biên giới được xác định trên đất liền, đảo, sông, hồ, kênh, biển nội địa, …
+ biên giới trên biển: là đường phân định vùng lãnh hải của quốc gia với vùng biển tiếp liền mà quốc gia ven biển có quyền chủ quyền; hoặc là đường phân định giữa lãnh hải quốc gia này với lãnh hải quốc gia khác trong trường hợp vùng biển của các quốc gia có sự chồng lấn, liền kề.
+ biên giới vùng trời và biên giới vùng lòng đất: được xác định dựa vào biên giới trên bộ và biên giới trên biển
3. Xác định biên giới quốc gia
a. Biên giới trên bộ
– Biên giới trên bộ bao giờ cũng được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia. Các bước xác định:
+ B1: hoạch định: là giai đoạn các quốc gia đàm phán, thỏa thuận về nguyên tắc, phương pháp và cách thức xác định đường biên giới. Các bên có thể lựa chọn 1 trong 2 nguyên tắc:
Nguyên tắc uti possidetis: thừa nhận những đường ranh giới đã có. Theo nguyên tắc này, các quốc gia thuộc địa trước đây sau khi gành được độc lập, thỏa thuận, thừa nhận đường ranh giới mà quốc gia đô hộ trước đây nhằm mục đích quản lý về mặt hành chính, nâng chúng lên thành đường biên giới quốc gia. VD trường hợp VN và Trung Quốc khi phân định biên giới trên bộ đã thỏa thuận dùng nguyên tắc uti possidetis khi hai bên thừa nhận đường biên giới lịch sử do Công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 để lại
Nguyên tắc hoạch định đường biên giới mới: có thể áp dụng biên giới tự nhiên (dựa theo địa hình thực tế như núi, sông, hồ, …) và biên giới nhân tạo (gồm biên giới thiên văn xác định theo các đường kinh tuyến, vĩ tuyến, và biên giới hình học xác định bằng các đường nối các điểm do hai bên thỏa thuận)
+ B2: phân giới: là việc các quốc gia thỏa thuận xác lập đường biên giới ở trên bản đồ (tức là vẽ bản đồ biên giới)
+ B3: cắm mốc thực địa: xây dựng các cột mốc biên giới
b. Biên giới trên biển
– Trong trường hợp bờ biển của quốc gia không có sự chồng lấn liền kề với bờ biến của quốc gia khác thì đường biên giới quốc gia trên biển được xác định dựa trên tuyên bố đơn phương của quốc gia ven biển. Trong trường hợp này, đường biên giới quốc gia trên biển chính là đường ranh giới ngoài của lãnh hải.
– Trong trường hợp bờ biển của quốc gia có sự chồng lấn, liền kề với bờ biển của quốc gia khác thì đường biên giới quốc gia trên biển được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia hữu quan trên cơ sở phương pháp đường trung tuyến cách đều kết hợp với nguyên tắc công bằng.
+ đường trung tuyến cách đều: là đường nằm giữa hai bên
+ công bằng: có tính đến lợi ích của các quốc gia, đảm bảo công bằng trong lợi ích khi phân giới (tức là công bằng không phải cào bằng, không chỉ đơn giản là chia đôi).
Câu hỏi: Chỉ ra sự khác biệt giữa đường biên giới quốc gia trên bộ và đường biên giới quốc gia trên biển ?
Câu hỏi: Đường biên giới quốc gia trên bộ và đường biên giới quốc gia trên biển có tính chất bất khả xâm phạm giống nhau, Đúng hay Sai?
Trả lời: Sai. Vì đường biên giới quốc gia trên bộ có tính chất bất khả xâm phạm một cách tuyệt đối, tức là mọi sự xâm nhập từ bên ngoài đều phải xin phép. Còn đường biên giới quốc gia trên biển là đường ranh giới ngoài của vùng lãnh hải, mà trong vùng lãnh hải thì tàu thuyền của các quốc gia khác có quyền đi qua không gây hại mà không cần phải xin phép, do đó tính chất bất khả xâm phạm ít hơn so với đường biên giới trên bộ.
4. Quy chế pháp lý của biên giới quốc gia
– Quy chế pháp lý của biên giới quốc gia do PL quốc gia và các điều ước quốc tế về biên giới ký kết với các quốc gia có chung đường biên giới quy định.
Chú ý: Các điều ước về biên giới bao giờ cũng là những điều ước vô thời hạn.
– Quy chế pháp lý của biên giới quốc gia thường bao gồm những nội dung:
+ những nguyên tắc và quy định chung về biên giới quốc gia
+ các quy chế qua lại, hoạt động ở khu vực biên giới
+ các quy chế sử dụng nguồn nước, sông suối, khai thác tài nguyên tại biên giới
+ quy chế quản lý, bảo vệ biên giới
+ quy chế giải quyết tranh chấp nảy sinh ở khu vực biên giới
– Thẩm quyền giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ: chính phủ, quốc hội (nghị viện)
– Việc kiểm soát biên phòng, hải quan, kiểm tra vệ sinh dịch tễ, … ở cửa khẩu nước nào sẽ theo quy định của nước đó (trừ khi 2 bên có thỏa thuận khác)
IV. Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển
1. Vùng tiếp giáp lãnh hải
– Định nghĩa: Là vùng biển nằm bên ngoài lãnh hải, tiếp liền với lãnh hải và có bề rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở. Tại vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền riêng biệt và hạn chế đối với tàu thuyền nước ngoài.
– Cách xác định:
+ ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển
+ ranh giới ngoài là đường nối liền các điểm cách điểm gần nhất của đường cơ sở 1 khoảng cách không quá 24 hải lý
– Quy chế pháp lý (Điều 33 Công ước luật biển 1982): Tại vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền áp dụng tất cả các biện pháp nhằm ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm trong 4 lĩnh vực là hải quan, thuế, y tế, nhập cư.
Ngoài ra, quốc gia ven biển có thẩm quyền đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ nằm trên đáy biển của vùng tiếp giáp lãnh hải, các quốc gia khác không được khai thác những hiện vật này mà không có sự thỏa thuận với quốc gia ven biển.
2. Vùng đặc quyền kinh tế
– Định nghĩa: Là vùng biển nằm bên ngoài lãnh hải, tiếp liền với lãnh hải, có bề rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở
– Cách xác định:
+ ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển
+ ranh giới ngoài là là đường nối liền các điểm cách điểm gần nhất của đường cơ sở 1 khoảng cách không quá 200 hải lý
Chú ý: Từ cách xác định trên cho thấy vùng tiếp giáp lãnh hải có vị trí nằm trọn trong vùng đặc quyền kinh tế nên vùng tiếp giáp lãnh hải được hưởng đồng thời quy chế pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, nên người ta còn gọi vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển có quy chế pháp lý kép (hoặc quy chế hỗn hợp)
– Quy chế pháp lý:
+ Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển:
Quốc gia ven biển có đặc quyền đối với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, có quyền áp dụng tất cả các biện pháp nhằm khai thác và bảo tồn tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế. Các đặc quyền này được xác định dựa trên tuyên bố của quốc gia ven biển về xác định vùng đặc quyền kinh tế cũng như tuyên bố xác lập quyền chủ quyền của quốc gia ven biển
Đối với tài nguyên cá, quốc gia ven biển có nghĩa vụ phải xác định trữ lượng cá và khả năng khai thác. Trong trường hợp khai thác không hết, quốc gia ven biển có nghĩa vụ san sẻ cho các quốc gia khác trên cơ sở thỏa thuận có tính tới ưu tiên các quốc gia đang phát triển và quốc gia không có biển
Quốc gia ven biển có đặc quyền lắp đặt, sử dụng các công trình nhân tạo tại vùng đặc quyền kinh tế
Việc nghiên cứu khoa học biển tại vùng đặc quyền kinh tế chỉ được tiến hành nếu được sự đồng ý của quốc gia ven biển
+ Quyền của các quốc gia khác: được hưởng 3 quyền tự do cơ bản
Tự do hàng hải
Tự do hàng không
Tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm
3. Thềm lục địa
– Định nghĩa: Bao gồm toàn bộ đáy và lòng đất nằm bên ngoài lãnh hải, tiếp liền với lãnh hải, trải dài cho tới bờ ngoài của rìa lục địa hoặc cho tới vị trí cách đường cơ sở 1 khoảng cách 200 hải lý nếu bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn.
– Cách xác định:
+ ranh giới trong là đường biên giới quốc gia trên biển
+ ranh giới ngoài: có 2 trường hợp:
TH1: khi bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở nhỏ hơn hoặc bằng 200 hải lý thì ranh giới ngoài của thềm lục địa là đường cách đường cơ sở 1 khoảng cách bằng 200 hải lý
TH2: khi bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở lớn hơn 200 hải lý thì ranh giới ngoài của thềm lục địa được xác định dựa trên 1 trong 2 phương pháp sau:
Phương pháp chân dốc lục địa: ranh giới ngoài của thềm lục địa là đường cách chân dốc lục địa 1 khoảng bằng 60 hải lý
Phương pháp dựa vào độ dày trầm tích: ranh giới ngoài của thềm lục địa là đường nối liền các điểm mà tại đó bề dày lớp đá trầm tích ít nhất bằng 1/100 so với khoảng cách từ điểm được xét tới chân dốc lục địa
Chú ý: ranh giới ngoài của thềm lục địa được xác định theo 1 trong 2 phương pháp trên phải thỏa mãn 1 trong 2 điều kiện sau:
Cách đường cơ sở không quá 350 hải lý
Cách đường đẳng sâu 2500m không quá 100 hải lý (đường đẳng sâu 2500m là đường nối liền các điểm ở đáy biển có độ sâu 2500m)
– Quy chế pháp lý:
+ Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển:
Quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa tồn tại một cách đương nhiên, không phụ thuộc vào bất kỳ tuyên bố thực sự hay danh nghĩa nào của quốc gia ven biển
Tại thềm lục địa, quốc gia ven biển có đặc quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, không có nghĩa vụ san sẻ khi khai thác không hết, và kể cả khi không khai thác thì quốc gia khác cũng không được quyền khai thác
Quốc gia ven biển có đặc quyền khoan và cho phép khoan tại thềm lục địa
Các quốc gia khác khi đặt dây cáp và ống dẫn ngầm tại thềm lục địa thì phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của tuyến dây cáp và ống dẫn ngầm
Trong trường hợp các quốc gia có bờ ngoài của rìa lục địa trải dài quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, khi khai thác tài nguyên tại vùng vượt quá này, quốc gia ven biển có nghĩa vụ nộp 1 khoản phí cho cơ quan quyền lực biển (quy định cụ thể trong Công ước luật biển 1982)
+ Quyền của các quốc gia khác: được hưởng các quyền:
Tự do hàng hải
Tự do hàng không
Tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm (phải thỏa thuận với quốc gia ven biển tuyến đường đi của dây cáp và ống dẫn ngầm)
tắc “Đất thống trị biển”, thềm lục địa về bản chất vẫn là lãnh thổ đất liền trải dài ra phía biển, nên quốc gia có quyền chủ quyền 1 cách đương nhiên.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương III tập trung vào các nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia. Những nguyên tắc này không chỉ đảm bảo sự bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mà còn thúc đẩy hợp tác quốc tế, bảo vệ nhân quyền và duy trì hòa bình, an ninh trên toàn cầu. Hãy cùng tìm hiểu sâu hơn về những quy định nền tảng này để nắm vững kiến thức cơ bản trong lĩnh vực luật Quốc tế.
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương III
Vấn đề 3: Các nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế
I. Khái niệm
1. Định nghĩa
– Nguyên tắc cơ bản của luật Quốc tế được hiểu là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chủ đạo, bao trùm và có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể trong mọi lĩnh vực của đời sống PL quốc tế.
– Có 7 nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế:
+ Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
+ Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế
+ Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế
+ Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác
+ Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda)
+ Nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết
+ Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau
2. Đặc điểm
– Có tính mệnh lệnh bắt buộc chung: 7 nguyên tắc cơ bản này mang tính bắt buộc đối với mọi chủ thể trong mọi lĩnh vực. Bảy nguyên tắc cơ bản này là thước đo tính hợp pháp của tất cả các quy phạm PL khác cũng như tất cả các hành vi của các chủ thể PL luật quốc tế. Luật quốc tế đề cao sự thỏa thuận, nhưng nếu sự thỏa thuận đó vi phạm bất kỳ nguyên tức nào trong 7 nguyên tắc cơ bản này thì đều bị coi là vi phạm nghiêm trong PL quốc tế.
– Có tính phổ cập: nội dung của các nguyên tắc cơ bản này được ghi nhận trong hầu hết các điều ước quốc tế. Văn bản pháp lý quốc tế quan trọng nhất ghi nhận 7 nguyên tắc này chính là Hiến chương Liên hợp quốc
– Có tính hệ thống: 7 nguyên tắc này có nội dung không độc lập với nhau, phải thực hiện được nguyên tắc này thì mới thực hiện được nguyên tắc kia, và ngược lại. Ví dụ nguyên tắc cấm dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế có liên quan chặt chẽ với nhau: muốn dùng biện pháp hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế thì phải đảm bảo không dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, và ngược lại.
II. Nội dung của các nguyên tắc cơ bản
1. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
– Đây là 1 trong 2 nguyên tắc truyền thống được hình thành từ luật quốc tế cổ đại (cùng với nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế), 5 nguyên tắc còn lại được hình thành trong giai đoạn luật quốc tế hiện đại sau này.
– Chủ quyền quốc gia là thuộc tính chính trị, pháp lý tự nhiên, vốn có của quốc gia, bao gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế
– Ngay từ thời cổ đại, luật pháp quốc tế đã thừa nhận các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền. Đến pháp luật quốc tế hiện đại thì bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là nền tảng quan trọng nhất của quan hệ quốc tế hiện đại.
– Hiến chương Liên hợp quốc đã lấy nguyên tắc này làm cơ sở cho hoạt động của mình, được ghi nhận trong Khoản 1 Điều 2 của Hiến chương: “Liên hợp quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên”.
– Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia:
+ các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
+ mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ
+ mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác
+ sự toàn vẹn về lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch
+ mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế, và văn hóa của mình
+ mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hòa bình cùng các quốc gia khác
Chú ý: bình đẳng không phải là cào bằng, mà là bình đẳng tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ. Ví dụ 5 quốc gia trong Hội đồng bảo an LHQ có nhiều quyền hơn hẳn các quốc gia khác, tuy nhiên họ cũng phải gánh vác những trách nhiệm vô cùng to lớn, hơn rất nhiều so với các quốc gia khác, như nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ đóng góp lực lượng vũ trang để duy trì hòa bình và an ninh trên toàn thế giới,… Hơn nữa khi tham gia các điều ước quốc tế, các thành viên đều cam kết tự nguyện chấp hành điều ước ==> bình đẳng tự nguyện
Bài giảng môn học Công pháp quốc tế chương III
– Ngoại lệ:
+ trường hợp các quốc gia bị hạn chế chủ quyền do có hành vi vi phạm nghiêm trọng PL quốc tế. VD Irắc bị cấm vận xuất khẩu dầu mỏ, chỉ được đổi dầu lấy lương thực (da xâm lược Coet); Triền Tiên bị cấm vận do vi phạm điều ước không phổ biến vũ khí hạt nhân
Chú ý: việc hạn chế chủ quyền ở đây phải do Liên hợp quốc thực hiện (thông qua Nghị quyết của LHQ), không phải là trường hợp 1 hay một số quốc gia áp dụng lệnh trừng phạt với 1 quốc gia. VD Nga bị các nước phương Tây trừng phạt do xâm lược Ucraina
+ trường hợp quốc gia tự hạn chế chủ quyền: đây là trường hợp quốc gia tuyên bố trung lập. Có 2 loại trung lập:
Trung lập tạm thời: tức là giữ thái độ trong lập trong 1 vụ việc cụ thể
Trung lập vĩnh viễn: không tham gia vào bất kỳ tổ chức chính trị nào, và trong tất cả các cuộc tranh chấp quốc tế thì không được bày tỏ chính kiến, không được tham gia vào bất kỳ phe phái nào. Ví dụ Thụy Sỹ là quốc gia trung lập. (tuy nhiên hiện nay đang có sự tranh cãi về tính trung lập của Thụy Sỹ do Thụy Sỹ đã làm đơn xin gia nhập EU)
2. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế
– Đây là nguyên tắc jus cogens mới được đưa vào luật quốc tế từ năm 1945. Trước đó 1 nguyên tắc jus cogens từ luật quốc tế cổ đại là quyền được sử dụng chiến tranh: “Bất kỳ quốc gia nào cũng có quyền sử dụng sức mạnh vũ trang để giải quyết mọi tranh chấp liên quan đến mình”.
– Khoản 4 Điều 2 của Hiến chương LHQ 1970: Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc.
– Nội dung của nguyên tắc này:
+ cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác trái với các quy định của luật quốc tế
+ cấm các hành vi trấn áp bằng vũ lực
+ không được cho quốc gia khác sử dụng lãnh thổ nước mình để tiến hành xâm lược chống lại quốc gia thứ ba
+ không tổ chức, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố tại quốc gia khác
+ không tổ chức hoặc khuyến khích việc tổ chức các băng nhóm vũ trang, lực lượng vũ trang phi chính quy, lính đánh thuê để đột nhập vào lãnh thổ quốc gia khác
– Dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực:
+ theo nghĩa trước đây là dùng sức mạnh vũ trang hoặc đe dọa sử dụng sức mạnh vũ trang để buộc quốc gia khác phải theo ý mình
+ theo nghĩa hiện đại: là dùng sức mạnh vũ trang và phi vũ trang như sức mạnh kinh tế, chính trị, … để buộc quốc gia khác phải phục tùng mình
– Ngoại lệ:
+ khi quốc gia thực hiện quyền tự vệ hợp pháp
+ khi quốc gia sử dụng sức mạnh vũ trang để trừng phạt quốc gia có hành vi vi phạm nghiêm trọng PL quốc tế theo Nghị quyết của Hội đồng bảo an LHQ
+ các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết có quyền sử dụng sức mạnh vũ trang để giành quyền dân tộc tự quyết của mình
Câu hỏi: Trường hợp 1 quốc gia tập trận sát biên giới một quốc gia khác thì có bị coi là đe dọa dùng vũ lực ?
Trả lời: Không. Vì quốc gia có quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mình (tất nhiên phải đảm bảo không ảnh hưởng đến láng giềng như không để đạn bay sang lãnh thổ láng giềng). Trừ trường hợp 2 quốc gia đã thỏa thuận với nhau về vùng biên giới phi quân sự (thường sau khi đàm phán phân chia lãnh thổ), khi đó nếu tập trận trong vùng phi quân sự sẽ bị coi là đe dọa dùng vũ lực.
– Khi nào được tự vệ hợp pháp:
+ phải bị tấn công trước
+ hành vi tự vệ phải tương ứng với hành vi tấn công
+ ngay khi thực hiện hành vi tự vệ, quốc gia phải thông báo cho Hội đồng bảo an LHQ, và hành vi tự vệ này phải chấm dứt ngay lập tức khi Hội đồng bảo an áp dụng các biện pháp cần thiết tạm thời
3. Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế
– Tranh chấp quốc tế là những hoàn cảnh thực tế mà các quốc gia và các chủ thể khác của luật Quốc tế có quan điểm mâu thuẫn trái ngược nhau, đồng thời có những yêu cầu đòi hỏi về mặt lợi ích trái ngược nhau không thể dung hòa cần phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở PL quốc tế
– Khoản 3 Điều 2 Hiến chương LHQ: Tất cả các thành viên của Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý
– Nội dung của nguyên tắc: khi có tranh chấp quốc tế nảy sinh, các quốc gia có nghĩa vụ phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình.
Theo Hiến chương LHQ, các biện pháp hòa bình gồm: đàm phán, trung gian, hòa giải, thông qua ủy ban điều tra, thông qua ủy ban hòa giải, thông qua cơ quan tài phán quốc tế.
Chú ý: trong thực tế các quốc gia có thể sử dụng các biện khác miễn không phải là sử dụng vũ lực, VD có thể sử dụng biện pháp môi giới để giải quyết tranh chấp (giống với môi giới trong thương mại)
– Ngoại lệ: không có
4. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác
– Công việc nội bộ của quốc gia được hiểu là những công việc thuộc thẩm quyền tự quyết của quốc gia. Nó không chỉ bao hàm các công việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, mà còn bao hàm các công việc nằm ngoài phạm vi lãnh thổ nhưng thuộc thẩm quyền tự quyết của quốc gia.
– Khoản 7 Điều 2 Hiến chương LHQ: “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép Liên hợp quốc được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, và không đòi hỏi các thành viên của Liên hợp quốc phải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến chương.”
– Nội dung:
+ cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe dọa can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, nền tảng chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia
+ cấm dùng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biện pháp khác để bắt buộc quốc gia khác phụ thuộc mình
+ cấm tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ chính quyền của quốc gia khác
+ cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở quốc gia khác
+ tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa phù hợp với nguyện vọng của dân tộc.
– Trên cơ sở chủ quyền, quốc gia có toàn quyền quyết định mọi việc đối nội, đối ngoại của quốc gia mình, nhưng phải phù hợp với luật quốc tế, nhất là trong các lĩnh vực nhân quyền, nhân đạo, kinh tế quốc tế, môi trường, …
– Ngoại lệ:
+ khi quốc gia có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người thì các quốc gia khác có quyền áp dụng các biện pháp nhằm can thiệp, bảo đảm các quyền, giá trị chung của con người. VD năm 1979 tại Campuchia xảy ra nạn diệt chủng ==> xâm phạm quyền cơ bản của con người (quyền được sống) nên quốc gia khác có quyền can thiệp.
+ khi trong nội bộ quốc gia xảy ra các cuộc xung đột vũ trang mà các cuộc xung đột này có nguy cơ lan rộng gây ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh quốc tế thì trên cơ sở Nghị quyết của Hội đồng bảo an LHQ, các quốc gia khác có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia đó
+ 1 quốc gia có quyền can thiệp vào nội bộ 1 quốc gia khác nếu quốc gia đó yêu cầu
Chú ý: để xác định 1 quốc gia “có hành vi vi phạm nghiêm trọng các quyền cơ bản của con người”, hiện nay luật quốc tế chưa có quy định rõ ràng ==> các quốc gia có thể lợi dụng điểm này để can thiệp vào nội bộ của nước khác (dưới chiêu bài “can thiệp nhân đạo”).
5. Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda)
– Khoản 2 Điều 2 Hiến chương LHQ: “Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đều phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo Hiến chương này để được đảm bảo hưởng toàn bộ các quyền và ưu đãi do tư cách thành viên mà có”
– Nội dung:
+ Theo nguyên tắc này, các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện 1 cách tận tâm, thiện chí, trung thực, đầy đủ tất cả các cam kết quốc tế của mình, bao gồm:
các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế có giá trị pháp lý ràng buộc đối với quốc gia đó
hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế mà quốc gia đó là 1 trong các bên tranh chấp
+ Các quốc gia không được phép viện dẫn sự khác biệt giữa luật quốc tế và luật quốc gia để từ chối thực hiện cam kết quốc tế của mình
+ Các quốc gia không được phép ký kết tham gia các điều ước quốc tế có nội dung mâu thuẫn với các cam kết quốc tế mà quốc gia đã là thành viên
– Ngoại lệ:
+ khi 1 bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ điều ước thì bên còn lại có quyền viện dẫn sự vi phạm đó để từ chối thực hiện nghĩa vụ của mình
+ khi xuất hiện sự thay đổi cơ bản về hoàn cảnh khách quan
+ khi xuất hiện quy phạm jus cogens mới có nội dung mâu thuẫn với các cam kết quốc tế
6. Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết
– Nội dung: quyền dân tộc tự quyết bao gồm:
+ được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang trên cơ sở tự nguyện
+ tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội
+ tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp của bên ngoài
+ quyền của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự
+ tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý, …
– Ngoại lệ: không có
7. Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
– Các quốc gia có nghĩa vụ tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo trên phạm vi quốc tế, cũng như duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả.
– Các quốc gia phải hành động phù hợp với nguyên tắc của LHQ, ngay cả các quốc gia chưa phải thành viên của LHQ của phải tôn trọng các nguyên tắc này.
– Nội dung:
+ các quốc gia phải hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng chung và tuân thủ quyền con người và các quyền tự do cơ bản khác của cá nhân, thủ tiêu các hình thức phân biệt tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc
+ các quốc gia phải tiến hành quan hệ quốc tế trong lĩnh vực kinh tế xã hội văn hóa, thương mại và kỹ thuật, công nghệ theo các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau
+ các quốc gia thành viên LHQ phải thực hiện các hành động chung hay riêng trong việc hợp tác với LHQ theo quy định của Hiến chương
+ các quốc gia phải hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học, công nghệ nhằm khuyến khích sự tiến bộ về văn hóa, giáo dục, phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển