Tác giả: Thanh Loan

  • Bài giảng môn học Luật Lao động chương III

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương III

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương III: Hợp đồng lao động sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về một trong những yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ lao động. Hợp đồng lao động không chỉ là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động mà còn là công cụ thiết lập mối quan hệ lao động rõ ràng, minh bạch. Chương III giúp bạn hiểu rõ các loại hợp đồng lao động, quy định về nội dung, hình thức hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cùng với các vấn đề pháp lý liên quan đến việc thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động.

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương III

    Chương 3: Hợp đồng lao động

    I. Khái niệm và và đặc trưng của HĐLĐ

    1. Khái niệm HĐLĐ

    – Điều 15 luật Lao động: HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động

    – Đặc điểm:

    + về mặt bản chất, HĐLĐ là 1 loại khế ước xã hội (vì được hình thành trên cơ sở thỏa thuận)

    + chủ thể của quan hệ: người lao động, người sử dụng lao động

    ==> hình thức pháp lý là quan hệ lao động cá nhân

    + nội dung: đây là quan hệ về việc làm có trả lương, quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ đó

    Chú ý: 4 yếu tố quan trọng nhất của HĐLĐ: thỏa thuận, thực hiện, thay đổi, chấm dứt

    Ví dụ: theo “thỏa thuận” thì NSDLĐ có quyền điều động NLĐ tới các địa điểm làm việc khác nhau của doanh nghiệp, có thể là ở các tỉnh thành khác nhau, nhưng đâu là giới hạn cho quyền đó. Liệu 1 người tuyển dụng ở Hà Nội thì có điều động vào Cà Mau làm việc liên tục trong 3 năm được không ?

    2. Đặc trưng của quan hệ HĐLĐ

    – Trong HĐLĐ có sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ với NSDLĐ: đây là đặc trưng tiêu biểu nhất của HĐLĐ, theo đó NSDLĐ có quyền đưa ra các mệnh lệnh, chỉ thị và NLĐ có nghĩa vụ phải tuân theo

    – Đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công

    – HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện

    – Trong HĐLĐ, sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế bởi những giới hạn pháp lý nhất định: tức là phải tuân theo PL, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể

    – HĐLĐ được thực hiện liên tục trong thời gian nhất định hay vô hạn định

    II. Các yếu tố của HĐLĐ

    1. Chủ thể trong quan hệ HĐLĐ

    – Người lao động:

    + đủ năng lực lao động: từ đủ 15 tuổi

    + với lao động là người nước ngoài thì ngoài yêu cầu đủ 15 tuổi còn phải có Giấy phép lao động tại VN

    – Người sử dụng lao động:

    + người đủ thẩm quyền ký HĐLĐ là người đại diện theo PL hoặc người được ủy quyền hợp pháp

    + NSDLĐ là cá nhân thì không được ủy quyền (Nghị định 05)

    2. Hình thức của HĐLĐ (Điều 16 luật Lao động)

    – Hình thức bằng văn bản, áp dụng với:

    + hợp đồng không xác định thời hạn

    + hợp đồng từ 3 tháng trở lên

    + người lao động dưới 15 tuổi (xem Điều 164 luật Lao động)

    + HĐLĐ với người giúp việc gia đình (Điều 180 luật Lao động)

    – Hình thức bằng lời nói: áp dụng với những trường hợp còn lại (chủ yếu là HĐLĐ dưới 3 tháng)

    – Hình thức bằng hành vi (rất hãn hữu): là trường hợp quan hệ lao động thực tế, ví dụ trường hợp ký HĐLĐ có thời hạn, khi hết thời hạn, cả 2 bên đều không ký tiếp, cũng không nói gì (có thể do “quên”) nhưng NLĐ vẫn tiếp tục làm việc và NSDLĐ vẫn tiếp tục trả lương.

    Chú ý: từ 2003, luật đã bỏ quy định phải ký HĐLĐ theo mẫu, mà sẽ do NSDLĐ soạn thảo

    ==> như vậy theo luật thì việc xác lập HĐLĐ là sự thỏa thuận của 2 bên, nhưng thực tế thì doanh nghiệp giữ quyền soạn thảo mẫu HĐLĐ, NLĐ hầu hết chỉ có thể điền thông tin cá nhân, thông tin tiền lương nếu theo thỏa thuận mà rất ít có khả năng đàm phán các điều khoản trong hợp đồng ==> về bản chất giống như loại “hợp đồng gia nhập” như trường hợp ký hợp đồng mua điện, nước, hợp đồng bảo hiểm

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương III
    Bài giảng môn học Luật Lao động chương III

    3. Nội dung của HĐLD

    – Nội dung HĐLĐ là toàn bộ các yếu tố cấu thành HĐLĐ: lời nói đầu, thể thức, các bên, các điều khoản

    – Nếu xem xét nội dung HĐLĐ là các điều khoản thì nội dung HĐLĐ là tập hợp các điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. Có thể phân chia thành:

    + điều khoản bắt buộc / điều khoản không bắt buộc

    + điều khoản bắt buộc / điều khoản tùy nghi

    – Luật lao động có quy định các nội dung chính của HĐLĐ, tuy nhiên việc quy định này bị nhiều ý kiến phản đối vì cho rằng vi phạm quyền tự do thỏa thuận giữa các bên.

    – Nội dung chủ yếu của HĐLĐ (Điều 23, khoản 1, xem chi tiết trong Điều 4 Nghị định 05/2015): gồm 10 nội dung:

    a) Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp;

    b) Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động;

    c) Công việc và địa điểm làm việc;

    d) Thời hạn của hợp đồng lao động;

       đ) Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

    e) Chế độ nâng bậc, nâng lương;

    g) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

    h) Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;

    i) Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế;

    k) Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

    Chú ý:

    + về vấn đề “địa điểm làm việc”, theo Nghị định 05/2015 thì Địa điểm làm việc của NLĐ là phạm vi, địa điểm NLĐ làm công việc đã thỏa thuận; trường hợp NLĐ làm việc ở nhiều địa điểm khác nhau thì ghi các địa điểm chính NLĐ làm việc

    nhưng với trường hợp doanh nghiêp xây dựng thì NLĐ phải làm việc theo công trình, năm nay ký được công trình ở tỉnh này, năm sau có được công trình ở tỉnh khác, không thể biết rõ sẽ ký được những công trình nào khi ký kết HĐLĐ; hoặc như lái xe thì địa điểm làm việc là không thể ghi cụ thể được

    + về “thời hạn của HĐLĐ”: theo quy định tại Điều 22 thì có 3 loại, nhưng trong thực tế có nhiều điểm không phù hợp. VD tuyển dụng NLĐ vào làm cho 1 dự án / công trình kéo dài 4 năm thì ký HĐLĐ thế nào, theo quy định thì chỉ có thể ký 1 HĐ 3 năm, sau đó ký tiếp 1 năm (==> rắc rối, không đúng bản chất của quan hệ lao động, lại chứa đựng rủi ro, như nếu sau khi kết thúc 3 năm NLĐ không đồng ý ký tiếp thì sẽ rất khó cho NSDLĐ)

    – Thời hạn của HĐLĐ: theo Điều 22, HĐLĐ phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

    + HĐLĐ không xác định thời hạn: là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

    + HĐLĐ xác định thời hạn: là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

    + HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

    Khi HĐLĐ xác định thời hạn hết hạn, NLĐ tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày HĐ hết hạn, 2 bên phải ký kết HĐLĐ mới, nếu không ký kết HĐ mới thì HĐ đã giao kết với thời hạn 12 -36 tháng sẽ tự động chuyển thành HĐLĐ không xác định thời hạn, còn HĐ dưới 12 tháng sẽ tự động trở thành HĐLĐ 24 tháng

    Trường hợp 2 bên giao kết HĐ mới là HĐ xác định thời hạn thì cũng chỉ ký thêm 1 lần nữa, sau đó nếu tiếp tục ký HĐLĐ thì phải ký HĐLĐ không xác định thời hạn.

    Chú ý: Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

    – Khi NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của PL, thì NSDLĐ có quyền thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp NLĐ vi phạm (khoản 2 Điều 23) ==> đây là điều khoản hạn chế cạnh tranh không công bằng, được đưa vào Luật lao động 2012 theo yêu cầu của các doanh nghiệp nước ngoài.

    Hạn chế cạnh tranh không công bằng: ví dụ không để đối thủ cạnh tranh mua chuộc để tiết lệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; hoặc sau khi kết thúc HĐLĐ 1 thời gian (1 năm, 2 năm, …) thì NLĐ đó không được làm việc cho doanh nghiệp cạnh tranh.

    Tuy nhiên, trong thực tế việc chứng minh vi phạm tiết lộ bí mật gây thiệt hại là vô cùng khó khăn, ngay cả với nước ngoài. Ở nước có trình độ lao động cao thì NLĐ và NSDLĐ rất chú trọng đến “danh diện” của bản thân, nên sẽ không vi phạm điều khoản cạnh tranh không công bằng này (vì nếu vi phạm sẽ bị cộng đồng lên án). Còn ở VN thì “danh diện” (hay danh dự và thể diện) vẫn là thứ xa xỉ, NLĐ và cả NSDLĐ thường bất chấp tất cả để kiếm lời, do đó cần có PL can thiệp.

    – Đối với người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì tùy theo loại công việc mà hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết trong trường hợp thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hoả hoạn, thời tiết. (khoản 3 Điều 23)

    III. Quá trình xác lập, duy trì và chấm dứt HĐLĐ

    1. Xác lập quan hệ HĐLĐ

    a. Nguyên tắc xác lập quan hệ lao động (Điều 17)

    – Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

    Chú ý: ở VN thì nguyên tắc “tự nguyện, bình đẳng” đã được thực hiện, nhưng “thiện chí, hợp tác và trung thực” thì rất ít được thực hiện.

    VD: anh A từ chối đi công tác vì lý do vợ đẻ, doanh nghiệp đòi kỷ luật A, tranh chấp xảy ra, thì tòa có thể sử dụng nguyên tắc “thiện chí” để yêu cầu không kỷ luật A.

    ==> các nguyên tắc “thiện chí, hợp tác và trung thực” là cơ sở cho 1 xã hội có trình độ lao động cao, trong đó tính tự giác, danh diện là 1 trong những giá trị vốn có của xã hội, cần cần luật hóa.

    – Tự do giao kết HĐLĐ nhưng không được trái PL, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức XH.

    b. Trình tự xác lập HĐLĐ

    – Gồm 3 bước chính:

    + bày tỏ ý chí

    + đàm phán, thương lượng

    + ký kết HĐLĐ

    – Bày tỏ ý chí: các bên bằng cách thức nào đó thể hiện ý chí của mình, ví dụ:

    + với NSDLĐ thì có thể là đăng tin tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng, dán thông báo chuyển dụng ở cổng doanh nghiệp, sử dụng dịch vụ tuyển nhân sự của các công ty giới thiệu việc làm, …

    + với NLĐ thì bày tỏ ý chí bằng cách nộp Hồ sơ tuyển dụng

    – Đàm phán, thương lượng: bước này thường không được thể hiện rõ ràng trong thực tế, vì thông thường NSDLĐ sẽ chủ động đưa ra các tiêu chí tuyển dụng, mức lương, phúc lợi, và mẫu hợp đồng; nếu NLĐ đồng ý thì sẽ ký kết HĐLĐ, nếu không đồng ý thì sẽ tìm việc làm tại doanh nghiệp khác

    – Ký kết HĐLĐ: là bước để chính thức phát sinh quan hệ lao động

    – Chú ý:

    + về nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết HĐLĐ (Điều 19)

    • NSDLĐ phải cung cấp thông tin cho NLĐ về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà NLĐ yêu cầu.
    • NLĐ phải cung cấp thông tin cho NSDLĐ về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết HĐLĐ mà NSDLĐ yêu cầu.

    Nếu NLĐ cung cấp hồ sơ không đúng với thực tế (giả mạo giấy tờ, khai khống, hoặc cố tình không khai những yếu tố nhạy cảm như kỷ luật, tiền án, tiền sự, …) thì khi phát hiện ra NSDLĐ có quyền chấm dứt HĐLĐ và yêu cầu bồi thường (nếu có)

    + những hành vi NSDLĐ không được làm khi giao kết và thực hiện HĐLĐ (Điều 20):

    • Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của NLĐ. (kể cả với văn bằng, chứng chỉ NLĐ có được do NSDLĐ cử đi học)
    • Yêu cầu NLĐ phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện HĐLĐ.

    + NLĐ có thể giao kết HĐLĐ với nhiều NSDLĐ, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết. Trong trường hợp giao kết HĐLĐ với nhiều NSDLĐ, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của NLĐ được thực hiện theo quy định của Chính phủ (Nghị định 44).

    + HĐLĐ có thể được ký giữa NSDLĐ với người được ủy quyền cho 1 nhóm NLĐ. Tuy nhiên chỉ áp dụng cho HĐLĐ dưới 12 tháng và HĐ này có trị như HĐ đối với từng người (Điều 18). VD phổ biến nhất là cai thầu xây dựng

    2. Duy trì quan hệ HĐLD (Điều 32)

    a. Thực hiện, thay đổi HĐLĐ

    – Hiệu lực của HĐLĐ (Điều 25): có hiệu lực kể từ ngày các bên giao kết, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác hoặc PL có quy định khác.

    – Về nguyên tắc, việc thực hiện HĐLĐ trên cơ sở nội dung HĐLĐ đã giao kết, tuy nhiên, trên thực tế NSDLĐ vẫn thường điều động, phân công công tác cho NLĐ ngoài HĐ

    – Thay đổi HĐLĐ (Điều 35): nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung HĐLĐ thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung. Sau khi thỏa thuận xong, hai nên ký kết phụ lục HĐLĐ hoặc giao kết HĐLĐ mới.

    Tức là về mặt PL thì NSDLĐ không được tùy ý thay đổi công việc của NLĐ, điều chuyển NLĐ khỏi địa điểm làm việc như đã ký trong HĐ, nếu muốn thay đổi thì phải thỏa thuận lại với NLĐ. Tuy nhiên thực tế lại khác hẳn.

    Giới chủ cho rằng quy định như vậy là bó buộc đối với NSDLĐ vì tình hình sản xuất kinh doanh liên tục thay đổi.

    – Quyền thay đổi HĐLĐ của NSDLĐ (Điều 31): luật Lao động cho phép NSDLĐ có quyền chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ khi:

    + gặp điều kiện khách quan: thiên tai, hỏa hoạn, bệnh dịch, …

    + do nhu cầu sản xuất, kinh doanh

    Trước khi chuyển phải báo trước ít nhất 3 ngày nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của NLĐ.

    Công việc mới phải phù hợp với sức khoẻ, giới tính của NLĐ.

    Lương sẽ được trả theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.

    b. Tạm hoãn HĐLĐ (Điều 32)

    – Đây là trạng thái đặc biệt của HĐLĐ: không chấm dứt, cũng không thực hiện. Đến khi hết thời hạn tạm hoãn, HĐLĐ sẽ được thực hiện tiếp.

    – Các trường hợp được tạm hoãn HĐLĐ:

    + Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự.

    + Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

    + Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

    + Lao động nữ mang thai mà có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận nếu tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.

    + Các trường hợp khác do hai bên thoả thuận.

    – Hết thời hạn tạm hoãn, trong vòng 15 ngày, NLĐ phải có mặt tại nơi làm việc và NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm việc, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

    Nếu sau 15 ngày mà NLĐ không có mặt tại nơi làm việc thì bị coi là tự ý nghỉ việc.

    Tình huống: A làm việc theo HĐLĐ thời hạn 3 năm cho doanh nghiệp X, theo HĐ thì đến tháng 6/2016 là hết hạn HĐLĐ, tuy nhiên đến tháng 4/2016 thì A được/bị gọi đi làm nghĩa vụ quân sự 18 tháng. Sau 18 tháng A về thì có được làm việc tiếp tại doanh nghiệp X không ?

    Trả lời: Theo Điều 32 Luật lao động 2012 thì trường hợp A được gọi đi làm nghĩa vụ quân sự thuộc trường hợp tạm hoãn HĐLĐ, và sau 18 tháng, A quay trả lại nơi làm việc và doanh nghiệp X có nghĩa vụ phải nhận lại A vào làm việc cho đến khi hết HĐLĐ (tức là làm việc tiếp 2 tháng còn lại của HĐLĐ).

    Tuy nhiên, vấn đề phát sinh ở những quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động, ví dụ như việc đóng BHXH, thì 2 tháng A làm nốt cho doanh nghiệp X sẽ không được cơ quan bảo hiểm đồng ý cho nộp bảo hiểm (vì không có căn cứ HĐ). Nếu A và doanh nghiệp X ký thêm HĐLĐ 2 tháng thì lại vi phạm Khoản 3 Điều 22 (“Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên”) vì công việc của A tại doanh nghiệp X đang là công việc theo HĐLĐ 3 năm, tức là công việc có tính chất thường xuyên.

    Vụ việc kiểu này gặp khá nhiều trong thực tế, và được giải quyết như sau: A sẽ được doanh nghiệp X “bồi thường” cho 2 tháng tiền lương + bảo hiểm (mà không phải làm việc 2 tháng đó) và HĐLĐ chấm dứt kể từ khi A tạm hoãn.

    3. Chấm dứt HĐLĐ (Điều 36)

    – Đây là sự kiện pháp lý có khả năng gây ra tranh chấp lao động cao nhất.

    – Nếu căn cứ vào ý chí và sự biểu lộ ý chí các bên thì có 3 trường hợp chấm dứt HĐLĐ:

    + chấm dứt HĐLĐ do ý chí của cả 2 bên (khoản 1, 2, 3 Điều 36): là 2 bên đều tự nguyện chấm dứt HĐLĐ, cụ thể gồm:

    • Hết hạn HĐLĐ, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này (tức là trường hợp NLĐ là cán bộ công đoàn không chuyên trách, tuy hết hạn HĐLĐ nhưng vẫn còn nhiệm ký công đoàn thì được kéo dài HĐLĐ đến khi kết thúc nhiệm kỳ công đoàn)
    • Đã hoàn thành công việc theo HĐLĐ
    • Hai bên thoả thuận chấm dứt HĐLĐ

    Tình huống: Khi giao kết HĐLĐ, hai bên thỏa thuận đưa vào điều khoản, đại ý: mỗi bên đều có quyền chấm dứt HĐLĐ bất cứ lúc nào, chỉ cần thông báo trước cho bên kia 30 ngày làm việc và phải chịu 1 khoản bồi thường bằng tiền lương trong 30 ngày làm việc đó. Sau khi HĐLĐ được thực hiện 1 thời gian thì NSDLĐ yêu cầu chấm dứt HĐLĐ, NLĐ kiện ra tòa. Hỏi Tòa giải quyết thế nào ?

    Trả lời: Tòa (tòa ở VN) sẽ tuyên bố điều khoản về chấm dứt HĐLĐ trên là vô hiệu, tòa chỉ công nhận vệc thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ tại thời điểm 2 bên thỏa thuận để chấm dứt, chứ không phải thời điểm 2 bên thỏa thuận để giao kết HĐLĐ.

                  Nhưng với tòa nước ngoài thì lại cho phép 2 bên thỏa thuận như trên là hoàn toàn hợp pháp. Lý do là tuân thủ nguyên tắc “quyền tự do định đoạt” của các chủ thể.

    + chấm dứt HĐLĐ do ý chí của bên thứ 3 (khoản 5, 6, 7 Điều 36), cụ thể gồm:

    • NLĐ bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong HĐLĐ theo bản án, quyết định có hiệu lực PL của Toà án.
    • NLĐ chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.
    • NSDLĐ là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; NSDLĐ không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

    + chấm dứt HĐLĐ do ý chí của 1 bên:

    • Do ý chí của NLĐ (khoản 9 Điều 36): NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 37 của Luật Lao động, chú ý:
      • Với HĐ xác định thời hạn: phải có lý do và báo trước một số ngày nhất định theo quy định tại Điều 37 (chú ý: nếu số ngày báo trước ít hơn số ngày quy định thì bị coi là trái luật)
      • Với HĐ không xác định thời hạn: báo trước 45 ngày và không cần lý do.

    Giới chủ doanh nghiệp rất phản đối điều này, cho rằng không công bằng vì NSDLĐ không hề vi phạm cam kết nào, hơn nữa những NLĐ có HĐ không xác định thời hạn thường là người có tay nghề cao mà doanh nghiệp muốn giữ.

    Tuy nhiên điều luật này ILO khuyến nghị và hầu hết các nước cũng quy định như vậy, mục đích là nhằm bảo vệ NLĐ khỏi sự “cưỡng bức lao động” (là trường hợp tuy công việc tốt, đãi ngộ tốt, NSDLĐ đối xử tốt, nhưng theo thời gian, NLĐ cảm thấy cần thay đổi, nên nghỉ việc; nếu không có quy định này thì có khả năng NLĐ sẽ phải làm việc trọn đời tại doanh nghiệp).

    • Do ý chí của NSDLĐ (khoản 8, 10 Điều 36):
      • NLĐ bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này.
      • NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này:
        • NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ
        • NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người làm theo HĐLĐ xác định thời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục
        • Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của PL, mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc
        • NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định
      • NSDLĐ cho NLĐ thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

    Chú ý: nghĩa vụ của NSDLĐ trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế được quy định trong Điều 44: NSDLĐ có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động (quy định tại Điều 46); trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại NLĐ để tiếp tục sử dụng. Trong trường hợp NSDLĐ không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho NLĐ thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho NLĐ (nay đã được thay bằng Bảo hiểm thất nghiệp)

    Chú ý: NSDLĐ có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ theo quy định thì không phải thảo luận với Công đoàn (luật Lao động trước 2012 thì quy định NSDLĐ luôn phải hỏi ý kiến Công đoàn trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ) ==> chỉ còn 1 trường hợp duy nhất mà NSDLĐ phải hỏi ý kiến Công đoàn là khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ là cán bộ công đoàn (khoản 7 Điều 192).

    – Còn 1 trường hợp chấm dứt HĐLĐ quy định tại khoản 4 Điều 36: NLĐ đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu quy định tại Điều 187:

    Tuổi hưởng lương hưu: Nam đủ 60, nữ đủ 55 tuổi. Trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu sớm hơn (như bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo); hoặc có thể nghỉ hưu muộn hơn (không quá 05 năm) với người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác.

    – Giải quyết hậu quả pháp lý khi chấm dứt HĐLĐ: quy định trong các Điều 42, 43, 47, 48, 49

    Chú ý: Điều 47 quy định NSDLĐ phải thông báo chấm dứt HĐLĐ trước ít nhất 15 ngày cho NLĐ, mục đích để cho NLĐ có thời gian chuẩn bị. Tuy nhiên với thực tế tại VN thì giới chủ phản đối quy định này, vì “tính xấu” của lao động VN khi biết tin mình bị mất việc sẽ có thể có những hành vi phá hoại. Do đó thực tế NSDLĐ yêu cầu NLĐ ngừng việc ngay khi được thông báo chấm dứt HĐLĐ (khi đó chấp nhận trả tiền công cho 15 ngày không làm việc của NLĐ).

    – Nghĩa vụ của NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (Điều 42)

    + Phải nhận NLĐ trở lại làm việc theo HĐLĐ đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.

    + Nếu NLĐ không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này NSDLĐ phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

    + Nếu NSDLĐ không muốn nhận lại NLĐ và NLĐ đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ để chấm dứt HĐLĐ.

    + Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong HĐLĐ mà NLĐ vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ.

    + Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho NLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước.

    – Nghĩa vụ của NLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (Điều 43)

    + Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ.

    + Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho NSDLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương của NLĐ trong những ngày không báo trước.

    + Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho NSDLĐ theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này

    III. Hợp đồng lao động vô hiệu (Điều 50)

    – HĐLĐ vô hiệu toàn bộ khi:

    + Toàn bộ nội dung của HĐLĐ trái pháp luật

    + Người ký kết HĐLĐ không đúng thẩm quyền: ví dụ Phó Giám đốc ký HĐLĐ mà không có ủy quyền của Giám đốc

    Chú ý: khi xảy ra tranh chấp trong trường hợp này thì Tòa án tuyên bố HĐ vô hiệu nhưng không tuyên hủy HĐ mà yêu cầu các bên ký lại theo đúng thẩm quyền. (khoản 2 Điều 52)

    + Công việc mà hai bên đã giao kết trong HĐLĐ là công việc bị pháp luật cấm

    + Nội dung của HĐLĐ hạn chế hoặc ngăn cản quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của NLĐ

    – HĐLĐ vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm PL nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.

    – Thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu: chú ý chỉ tòa án có quyền tuyên vô hiệu (bỏ quy định Thanh tra nhân dân được quyền tuyên vô hiệu tại Điều 51, vì quy định trong Luật Tố tụng dân sự 2015 đã sửa Điều 51 của Luật lao động 2012)

    Mời bạn xem thêm:

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật lao động: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-lao-dong?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật Lao động chương II

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương II

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương II: Quan hệ pháp luật lao động sẽ giúp bạn khám phá những yếu tố cấu thành và đặc điểm của quan hệ lao động trong hệ thống pháp lý. Giống như một bản hợp đồng xã hội, quan hệ pháp luật lao động chính là mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của mỗi bên. Chương II sẽ làm rõ các yếu tố cần thiết để tạo nên một quan hệ lao động hợp pháp, từ hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên, đến cách giải quyết tranh chấp lao động.

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương II

    Chương 2: Quan hệ pháp luật lao động

    I. Quan hệ pháp luật lao động cá nhân

    1. Khái niệm

    – Là mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ được các quy phạm PL lao động điều chỉnh.

    Chú ý: có rất nhiều quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ, nhưng chỉ có những quan hệ được quy phạm PL lao động điều chỉnh thì mới là quan hệ lao động cá nhân.

    2. Đặc điểm của quan hệ PL lao động cá nhân

    Chú ý: có sự “vênh” về khái niệm giữa VN và thế giới

    + quan hệ lao động cá nhân = quan hệ việc làm (theo thuật ngữ quốc tế, ILO-tổ chức lao động quốc tế)

    + quan hệ lao động tập thể = quan hệ lao động

    Vì:

    + quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ thực chất quan hệ dân sự thông thường

    + người lao động chỉ có thể đạt được mong muốn của mình (về tiền lương, chế độ làm việc, phúc lợi …) thông qua tập thể (công đoàn) ==> quan hệ lao động chính là quan hệ giữa NSDLĐ với tập thể lao động

    Việc gán “quan hệ lao động” = “quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ” của PL VN đã gây ra hậu quả là NLĐ ở VN gần như không được bảo vệ từ PL (là 1 trong những nguyên nhân dẫn tới đánh giá nhân quyền ở VN rất thấp). Do cách hiểu như vậy nên PL lao động VN chỉ tập trung vào điều chỉnh mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ, trong khi rất ít quy định về quan hệ giữa tập thể lao động với NSDLĐ ==> hậu quả là tập thể lao động VN không thể đình công 1 cách hợp pháp (cho tới nay tất cả các cuộc đình công ở VN đều bất hợp pháp) ==> quyền lợi của NLĐ không được PL bảo vệ ==> chất lượng lao động VN ngày càng thụt lùi so với thế giới.

    Với thế giới thì ngược lại, quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ được coi là quan hệ dân sự thông thường, còn luật lao động tập trung xử lý quan hệ giữa tập thể lao động với NSDLĐ.

    Các đặc điểm:

    – NLĐ phải tự mình hoàn thành các trách nhiệm, nghĩa vụ đã cam kết trong quan hệ, vì các lý do (xem Khuyến nghị ILO về quan hệ việc làm năm 2006, trong đó đưa ra các tiêu chí để xác định 1 quan hệ việc làm):

    + quan hệ lao động ở đây có tính xã hội hóa: NLĐ không chỉ làm việc với tư cách cá nhân mà làm việc có sự phối hợp với những người khác, do đó khi tuyển dụng, ngoài năng lực chuyên môn, NSDLĐ còn quan tâm đến thái độ, phẩm chất, ý thức làm việc (nói chung là năng lực xã hội, tức là khả năng hợp tác).

    ==> đó là lý do trong Hồ sơ tuyển dụng thường có các thông tin cá nhân phản ánh năng lực, thái độ, phẩm chất, … của NLĐ

    ==> đó là lý do trong quá trình sử dụng thường có sự “đánh giá lao động”

    Chú ý: cần phân biệt với quan hệ lao động trong dân sự vốn chỉ quan tâm đến kết quả công việc, ví dụ thuê khoán công việc thì chỉ quan tâm đến kết quả thực hiện công việc được thuê khoán (không cần Hồ sơ tuyển dụng)

    + ngoài tiền lương, thưởng đã thỏa thuận với NSDLĐ, NLĐ còn được hưởng các quyền lợi khác do PL quy định (dù không được ghi trong hợp đồng lao động), VD 1 tuần được nghỉ ít nhất 1 ngày, được nghỉ 12 ngày / năm mà vẫn hưởng lương, được đóng bảo hiểm, thai sản được nghỉ 6 tháng, khi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, … Tuy nhiên NLĐ muốn được hưởng các quyền này thì phải thỏa mãn các yêu cầu nhất định (như muốn có 12 ngày nghỉ phép / năm thì phải có hợp đồng lao động từ 12 tháng trở lên, muốn nghỉ hưu có lương hưu phải đạt đủ số năm đóng BHXH theo quy định và phải đủ tuổi về hưu), và hầu hết các quyền này là quyền nhân thân, không thể chuyển nhượng, tặng cho được.

    – NLĐ có trách nhiệm thực hiện mệnh lệnh, chỉ thị hợp pháp của NSDLĐ và tuân thủ nội quy, quy chế của NSDLĐ (tức là trong quan hệ lao động cá nhân, tồn tại yếu tố quan hệ quản lý lao động: 1 bên có quyền ra mệnh lệnh, 1 bên có nghĩa vụ phải tuân thủ) (mặc dù khi ký kết HĐLĐ thì quan hệ giữa 2 bên là bình đẳng, tự nguyện)

    Khác với hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận, tự nguyện, không bên nào có quyền đối với bên nào, thì hợp đồng lao động có sự khác biệt. Lý do: sự tồn tại của quản lý lao động là nhu cầu khách quan của NLĐ (không phải do PL quy định): tập thể lao động chỉ có thể làm việc được khi có sự quản lý.

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương II
    Bài giảng môn học Luật Lao động chương II

    Lưu ý: Theo ILO thì đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt quan hệ lao động với quan hệ dân sự.

    Ở VN sau 1975 đã có thời gian trao quyền quản lý cho NLĐ (Lê Duẩn đã “phát minh” ra “quyền làm chủ tập thể”), không còn người quản lý. Tuy nhiên chỉ sau thời gian rất ngắn thì “giấc mơ” này đã sụp đổ hoàn toàn, VN buộc phải khôi phục lại sự quản lý trong lao động.

    – Quá trình tồn tại, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL lao động có sự tham gia của tổ chức đại diện lao động (công đoàn, nghiệp đoàn). Sự tham gia của công đoàn được PL quy định.

    3. Chủ thể của quan hệ PL lao động cá nhân

    a. Người lao động

    – Người lao động: là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ (khoản 1 Điều 3)

    – Điều kiện để trở thành NLĐ:

    + phải có năng lực PL lao động

    + phải có năng lực hành vi lao động

    – Xác định điều kiện: thông qua độ tuổi. Theo luật Lao động 2012 thì NLĐ là người đủ 15 tuổi trở lên. Tức là khi đủ 15 tuổi, người đó có đủ điều kiện để tham gia vào quan hệ PL lao động, tức là đã có thể ký HĐLĐ.

    Câu hỏi: Tại sao VN lại quy định độ tuổi lao động là 15, trong khi luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em lại quy định “trẻ em là người từ 16 tuổi trở xuống”, hỏi có phải VN cho phép sử dụng lao động trẻ em ?

    Trả lời: ILO cũng khuyến cáo độ tuổi lao động là đủ 15 tuổi, mặt khác theo thực tế VN thì độ tuổi 15 là phù hợp với sự phát triển của thể chất, tinh thần của người VN. Một thực tế khác là tuổi 15 là tuổi kết thúc bậc học THCS, đã có thể nhận thức được hành vi của mình ==> đã có thể đi làm.

    Chú ý:

    + không được giao kết HĐLĐ với NLĐ chưa thành niên (dưới 18 tuổi), lao động nữ hoặc khi họ đang có thai, đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, lao động cao tuổi, lao động khuyết tật làm công việc thuộc danh mục công việc mà PL cấm (là các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại)

    Theo luật thì các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại gồm công nhân các ngành dệt may, da giày, chế biến thủy hải sản, xây dựng, … nhưng thực tế đây lại là các ngành thu hút lao động nữ, lao động dưới 18 tuổi rất nhiều.

    Theo luật thì các công việc không nặng nhọc, không nguy hiểm, không độc hại chỉ bao gồm các công việc trong văn phòng như văn thư, kế toán, … mà thực tế những công việc này đều đòi hỏi có bằng cấp ==> lao động dưới 18 tuổi không thể đáp ứng.

    ==> như vậy theo PL thì với việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm không được làm, còn việc không nặng nhọc, không nguy hiểm, không độc hại thì không làm được ==> bất cập, không phù hợp với thực tế

    + NLĐ có hành vi vi phạm PL, đạo đức nghề nghiệp, … có thể bị PL cấm hoặc hạn chế tham gia 1 số quan hệ lao động nhất định. Trường hợp này được gọi là hạn chế năng lực chủ thể. Ví dụ: lái ô tô gây tai nạn nghiêm trọng có thể bị cấm lái xe, bác sỹ gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị tước giấy phép hành nghề.

    Câu hỏi: Có trường hợp nào NLĐ có đủ năng lực PL và đủ năng lực hành vi lao động, có kỹ năng nghề nghiệp đầy đủ mà vẫn không được tham gia quan hệ lao động ?

    Trả lời: đó là trường hợp bị hạn chế năng lực chủ thể (nêu trên)

    b. Người sử dụng lao động

    – Người sử dụng lao động: là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. (khoản 2 Điều 3)

    – Tất cả các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, … muốn tham gia quan hệ với tư cách NSDLĐ cần có 1 trong các điều kiện sau:

    + có tư cách pháp nhân: các cơ quan NN, các tổ chức chính trị xã hội

    + có đăng ký kinh doanh: doanh nghiệp

    Chú ý: doanh nghiệp thường có tư cách pháp nhân, ngoại trừ doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân (mặc dù có đăng ký kinh doanh)

    + có quyết định, giấy phép mở văn phòng đại diện

    + NSDLĐ là cá nhân thì phải đủ 18 tuổi trở lên

    – Trường hợp thuê người giúp việc gia đình, cần có các điều kiện:

    + có địa chỉ và nơi cư trú hợp pháp

    + có khả năng trả lương cho NLĐ

    + có khả năng đảm bảo các điều kiện lao động

    + phải đủ 18 tuổi trở lên

    Chú ý: quan hệ thuê người giúp việc gia đình là quan hệ lao động (quy định trong Luật lao động 1994) chứ không phải quan hệ dân sự ==> người thuê giúp việc phải tuân theo các quy định của luật lao động trong quan hệ với người giúp việc (như thời giờ làm việc, chế độ nghỉ ngơi, chế độ bảo hiểm, …, không thể tùy tiện giao những việc không trong Hợp đồng cho người giúp việc)

    4. Nội dung quan hệ PL lao động cá nhân

    – Là quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ (Điều 5, Điều 6)

    Chú ý :

    + quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong luật Lao động là những quyền và nghĩa vụ cơ bản, tức là các chủ thể của quan hệ lao động có thể thỏa thuận những quyền và nghĩa vụ khác

    + về mặt nhận thức chung thì không phải Quyền = [được] , và Nghĩa vụ = [mất]

    ==> không hiểu được bản chất của quyền và nghĩa vụ, dẫn đến thực tế NLĐ và NSDLĐ chỉ chăm chăm giành cái lợi trước mắt cho bản thân mình.

    Ví dụ: NLĐ chỉ chăm chăm xem tiền lương, thưởng, phúc lợi, mà không quan tâm tới việc mình đóng góp gì cho doanh nghiệp ==> doanh nghiệp không phát triển được ==> lợi ích lâu dài cho bản thân không được đảm bảo

    Ví dụ: NSDLĐ chỉ chăm chăm bớt xén tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, tưởng như vậy là khôn ngoan, là thu lợi về mình, nhưng về lâu dài thì không bồi dưỡng được NLĐ ==> NLĐ không toàn tâm toàn ý với doanh nghiệp ==> doanh nghiệp không phát triển được

    So sánh rõ nhất là quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ ở VN và Nhật. Chẳng hạn công nhận VN nhìn thấy 1 linh kiện bị rơi xuống sàn thì mặc kệ, trong khi công nhân Nhật khi nhìn thấy dù chỉ mẩu vải thừa bị rơi cũng nhặt lên và tìm cách sử dụng nó, làm lợi cho doanh nghiệp. Công nhân VN khi nghỉ (tết) thì tìm đủ mọi lý do để hoãn thời gian quay trở lại làm việc, coi việc quay trở lại làm việc sau kỳ nghỉ như sự “ban ơn” cho doanh nghiệp; còn công nhân Nhật Bản thì coi doanh nghiệp là nhà, luôn tìm cách làm thêm. Ngược lại, chủ doanh nghiệp ở Nhật luôn tìm cách đảm bảo lợi ích tối đa cho NLĐ, trong khi chủ doanh nghiệp VN phần nhiều là “chộp giật”, “đánh quả”, không có kỳ vọng doanh nghiệp sẽ phát triển lâu dài nên hầu như không đầu tư cho NLĐ.

    Như vậy, phải hiểu quyền và nghĩa vụ có mối quan hệ tương hỗ với nhau, thực hiện nghĩa vụ là tiền đề để đảm bảo quyền, ngược lại trong quyền đã hàm chứa nghĩa vụ

    5. Khách thể của quan hệ PL lao động cá nhân

    – Theo Lý luận NN và PL thì khách thể trong 1 quan hệ là cái mà các chủ thể quan tâm, hướng tới, mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ đó.

    – Khách thể của quan hệ PL lao động cá nhân là sức lao động của NLĐ được sử dụng trong quá trình lao động: tức là sức lao động của NLĐ phải được sử dụng trong quá trình lao động mới được coi là khách thể của quan hệ lao động. Ví dụ: NLĐ được doanh nghiệp cử đi học để nâng cao tay nghề, khi đi học thì NLĐ cũng phải bỏ “sức lao động” ra để học, nhưng đó không phải là khách thể của quan hệ lao động vì việc học không nằm trong quá trình lao động của doanh nghiệp.

    – Ý nghĩa của khách thể: để xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể

    Nếu trong quá trình lao động thì NSDLĐ có trách nhiệm hoàn toàn đối với NLĐ, ví dụ cô văn thư được cử đi mua văn phòng phẩm, trên đường đi bị tai nạn thì doanh nghiệp có trách nhiệm đối với tai nạn đó (vì được coi là trong quá trình lao động). Còn nếu cô văn thư đó trốn giờ làm việc đi gội đầu thì nếu xảy ra tai nạn, doanh nghiệp không có trách nhiệm.

    6. Căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL luật lao động cá nhân

    – Là các sự kiện pháp lý mà khi nó xuất hiện hay mất đi được PL lao động gắn liền với việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL lao động cá nhân.

    VD sự kiện ký kết HĐLD làm phát sinh quan hệ PL lao động cá nhân

    II. Quan hệ pháp luật lao động tập thể

    1. Khái niệm

    – Là mối quan hệ giữa đại diện tập thể lao động với NSDLĐ (hoặc đại diện NSDLĐ), và được các quy phạm PL lao động điều chỉnh.

    2. Chủ thể

    – Chủ thể của quan hệ PL lao động tập thể gồm:

    + đại diện tập thể lao động

    + NSDLĐ (hoặc đại diện NSDLĐ)

    – Điều kiện chủ thể: Công ước số 67 của ILO quy định về quyền tự do lập hội đại diện cho chính mình của NLĐ và NSDLĐ, chỉ cần thỏa mãn 2 yếu tố:

    + tự nguyện: tự nguyện gia nhập

    + hợp pháp: theo PL quy định của từng nước

    – Tại VN, tổ chức đại diện cho NLĐ được quy định thống nhất trên cả nước là Công đoàn lao động VN.

    – Theo PL VN hiện tại thì công đoàn cũng đã đáp ứng được các yêu cầu của ILO, nhưng có điểm khác biệt:

    + chỉ có 1 công đoàn ==> NLĐ không có lựa chọn. Trong khi ở các nước khác thì NLĐ có thể lựa chọn công đoàn để tham gia.

    Chú ý: Điều lệ của Công đoàn VN quy định NLĐ tự nguyện tham gia công đoàn, không bị bắt buộc phải tham gia

    + địa vị pháp lý của công đoàn rất cao, là 1 tổ chức chính trị xã hội (ở hầu hết các nước khác thì công đoàn chỉ là 1 tổ chức xã hội)

    + NLĐ không có quyền bầu ra người đại diện cho mình, mà người này do NN ấn định

    – Đại diện cho NSDLĐ ở VN hiện tại hoạt động khá mờ nhạt, không thực chất, ít vai trò ngay cả trong PL. Hiện nay có 3 tổ chức đại diện cho NSDLĐ chính thức được công nhận tại VN:

    + VCCI: Phòng thương mại và công nghiệp VN

    + VCA: Liên minh Hợp tác xã VN

    + VINASME: Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa VN

    Cũng giống như với NLĐ, NSDLĐ ở VN không có quyền bầu ra người đại diện cho mình, mà người này cũng do NN ấn định.

    Tuy nhiên, tự bản thân NSDLĐ cũng đủ sức giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp, nên vấn đề đại diện cho NSDLĐ không phải là vấn đề “nóng” như đối với vấn đề đại diện cho NLĐ.

    3. Nội dung của quan hệ

    – Là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.

    – Phạm vi quan hệ: các bên quan hệ với nhau về những vấn đề liên quan đến tập thể lao động trong quan hệ lao động.

    Tức là PL VN chỉ công nhận những vấn đề của tập thể lao động trong doanh nghiệp, không công nhận những vấn đề liên quan đến tập thể lao động ngoài doanh nghiệp. Ví dụ PL VN quy định chỉ được phép đình công khi có sự tranh chấp giữa tập thể lao động với NSDLĐ, tức là nếu cuộc đình công của tập thể lao động nhằm phản đối chính sách của NN như phản đối mức lương tối thiểu không công bằng, phản đối chính sách bảo hiểm xã hội thì là bất hợp pháp. Điều này trái ngược với thế giới, NLĐ ở các nước trên thế giới có thể đình công về bất kỳ vấn đề gì có liên quan đến tập thể lao động, bất kể là phản đối giới chủ hay phải đối NN.

    Tuy nhiên, dù PL VN quy định như vậy, nhưng thực tế lại diễn ra khác hẳn. Thực tế các cuộc đình công ở VN hoàn toàn giống với các cuộc đình công trên thế giới, tức là có thể phản đối cả giới chủ và phản đối cả NN. Điển hình là cuộc đình công những năm 2000s về phản đối mức lương tối thiểu của doanh nghiệp trong nước thấp hơn mức lương tối thiểu của doanh nghiệp FDI, hay như năm 2015 có cuộc đình công phản đối chính sách chi trả bảo hiểm xã hội 1 lần ==> những cuộc đình công này dù trái luật nhưng vẫn được (thậm chí đích thân Thủ tướng) giải quyết.

    4. Các hình thức tương tác của quan hệ lao động tập thể

    (hay Các hình thức pháp lý của quan hệ lao động tập thể)

    – Có 3 hình thức chính:

    + đối thoại tại nơi làm việc (thế giới gọi là “đối thoại xã hội”)

    + thương lượng tập thể

    + thỏa ước lao động tập thể

    – Đây là các hình thức pháp lý biểu hiện của quan hệ lao động tập thể thông qua các cấp độ khác nhau: đối thoại, thương lượng, thỏa ước

    – ILO chỉ khuyến cáo các hình thức tương tác của quan hệ lao động tập thể, còn các nội dung cụ thể sẽ do luật quốc gia quy định, cụ thể luật quốc gia sẽ phải quy định:

    + thẩm quyền thực hiện: ai có thẩm quyền đối thoại, thương lượng, xây dựng và ký kết thỏa ước

    + nội dung

    + thủ tục, trình tự

    + giá trị pháp lý của kết quả đối thoại, thương lượng, thỏa ước

    + cơ chế đảm bảo thi hành sau khi đạt được kết quả

    III. Quan hệ PL liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động

    Là các quan hệ phái sinh từ quan hệ lao động, gồm:

    + quan hệ PL về việc làm

    + quan hệ PL về đào tạo nghề (học nghề, hoặc giáo dục nghề nghiệp)

    + quan hệ PL về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động

    + quan hệ PL về giải quyết tranh chấp lao động

    + quan hệ PL về đình công và giải quyết đình công

    + quan hệ PL quản lý NN về lao động

    Vấn đề 3: Cơ chế ba bên

    – Với các ngành luật khác, chỉ có 2 cơ chế (hay phương pháp) điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể là:

    + cơ chế mệnh lệnh: như trong luật hành chính, hình sự, …

    + cơ chế thỏa thuận: như trong luật dân sự, thương mại, …

    – Chỉ riêng có luật lao động, ngoài 2 cơ chế mệnh lệnh và thỏa thuận, còn có cơ chế ba bên. Đây là cơ chế đặc thù của quan hệ PL lao động, do ILO đưa ra, và được các quốc gia nội luật hóa.

    – Ba bên gồm:

    + Nhà nước

    + người sử dụng lao động (hoặc đại diện NSDLĐ)

    + người lao động (hoặc tập thể lao động)

    Câu hỏi: Tại sao NN lại tham gia (một cách sâu sắc) vào quan hệ lao động (đối với các quan hệ khác như dân sự, kinh doanh, thương mại, … thì NN chỉ tham gia một cách hạn chế) ?

    Trả lời: Vì quan hệ lao động mặc dù phạm vi trong doanh nghiệp nhưng lại có tính chất xã hội sâu sắc, sức lao động được coi là 1 loại “hàng hóa” đặc biệt, các xung đột trong quan hệ lao động không thuần túy là xung đột giữa các bên mà trong rất nhiều trường hợp mang tính chất xã hội (tức là có ảnh hưởng đến xã hội) như vấn đề lao động, việc làm, thất nghiệp, đây là những vấn đề xã hội, thậm chí vấn đề chính trị của quốc gia. Lịch sử thế giới đã chứng minh có nhiều NN sụp đổ về vấn đề lao động (như Nhà nước cộng sản Ba Lan đã sụp đổ vì các cuộc đình công liên miên, rộng khắp của Công đoàn Đoàn kết Ba Lan lãnh đạo). Như vậy, quan hệ lao động không chỉ có tác động trong phạm vi doanh nghiệp mà trong nhiều trường hợp có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội. Đặc biệt là vấn đề đình công: không chỉ là tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ, mà nhiều cuộc đình công có sức ảnh hưởng lớn đến kinh tế xã hội, đến chính trị.

    Do đó ILO nhận thấy phải đưa vai trò của NN vào quan hệ lao động, và được tất cả các quốc gia đồng tình và nội luật hóa vào luật quốc gia.

    – Như vậy NN trở thành 1 chủ thể của quan hệ lao động, với vai trò đưa ra các quy phạm PL để NLĐ và NSDLĐ căn cứ vào đó để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

    Lịch sử cho thấy, nếu PL do NN đưa ra phù hợp với trình độ lao động thì sẽ thúc đẩy quan hệ lao động. Ngược lại sẽ gây ra những biến cố xã hội.

    Do đó, khi đưa ra các quyết sách về lao động, việc làm, tiền lương, NN cần tính đến ý kiến, lợi ích của các chủ thể còn lại, tức là giới chủ và giới thợ.

    – Cơ chế ba bên: là mối quan hệ của NN với giới chủ và với giới thợ trong việc điều chỉnh quan hệ lao động. Theo đó, khi đưa ra các quy định PL về lao động, để tránh xung đột, mâu thuẫn thì các chủ thể phải trao đổi, thảo luận, tham vấn với nhau.

    – Ý nghĩa của cơ chế ba bên:

    + NN, NLĐ, NSDLĐ là 3 chủ thể của quan hệ lao động có vai trò bình đẳng, NN không thể tự coi mình có vai trò đứng trên NLĐ và NSDLĐ, mà NN là 1 bộ phận của quan hệ lao động. (tránh sự “độc tài” của NN, hoặc tránh sự phản ứng “tiêu cực” của NLĐ vì NLĐ thường tự coi mình “thấp kém” so với NN và NSDLĐ)

    + mục đích nhằm xây dựng quan hệ lao động ổn định, hài hòa, bền vững. ILO đặc biệt nhấn mạnh đến mục tiêu hài hòa, được hiểu là cân bằng lợi ích giữa các bên.

    – Ai sẽ đại diện cho mỗi bên:

    + Nhà nước: Chính phủ, cụ thể là bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

    + người lao động: là Tổng Liên đoàn Lao động VN

    + người sử dụng lao động: VCCI (Phòng Thương mại và Công nghiệp VN), VCA (Liên minh hợp tác xã), VINASME (Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ)

    Chú ý: Ở VN, với NSDLĐ (giới chủ), có những tổ chức đại diện có vai trò thực sự và rất lớn, như Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư Hàn Quốc, Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư Nhật Bản, Hiệp hội doanh nghiệp EU, các hiệp hội này có ảnh hưởng quyết định đến việc đầu tư của nước ngoài vào VN.

    – Cơ chế pháp lý vận hành: thông qua các hình thức (từ thấp đến cao)

    + hỏi ý kiến: Chính phủ hỏi công đoàn, hỏi đại diện NSDLĐ về chính sách PL sắp / sẽ ban hành (tức là đã soạn thảo sẵn, chỉ hỏi ý kiến để tham khảo trước khi ban hành, hoặc có thể chỉnh sửa lại rồi ban hành)

    + đối thoại: Chính phủ tạo ra diễn đàn với công đoàn, với đại diện NSDLĐ để các bên đối thoại về chính sách, sau đối thoại thì Chính phủ mới soạn thảo chính sách PL dựa trên những thông tin từ đối thoại, tuy nhiên Chính phủ vẫn nắm vai trò quyết định cuối cùng

    + cùng quyết định: là cấp độ cao nhất, dân chủ nhất của cơ chế 3 bên, theo đó mỗi bên đều có quyền đưa ra ý kiến về quan hệ lao động, và chính sách PL chỉ được NN ban hành nếu được đồng thuận của cả 3 bên

    Theo ILO thì hiện nay mới có Singapor đạt cấp độ 3 (cùng quyết định), hầu hết các quốc gia khác ở cấp độ 1 hoặc cấp độ 2 (chủ yếu ở cấp độ 2)

    VN từ sau 2012 (năm ban hành luật Lao động và luật Công đoàn) đã tiến lên cấp độ 2, biểu hiện rõ nhất ở Hội đồng Tiền lương quốc gia (Điều 92):  Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, bao gồm các thành viên là đại diện của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở trung ương. Cả 3 bên sẽ cũng nhau thảo luận về chính sách tiền lương, ví dụ như tăng lương tối thiểu bao nhiêu phần trăm. Hiện tại Hội đồng tiền lương quốc gia gồm 15 thành viên, gồm 5 thành viên đại diện cho Bộ Lao động, 5 thành viên đại diện cho Công đoàn, 5 thành viên đại diện cho giới chủ (VCCI, VCA, VNSME), cơ chế hoạt động là cùng thảo luận để đề ra chính sách, sau đó trình Thủ tướng Chính phủ; trường hợp Công đoàn và đại diện NSDLĐ không thống nhất được với nhau, thì Bộ Lao động sẽ xin ý kiến Thủ tướng Chính chủ.

    Mời bạn xem thêm:

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật lao động: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-lao-dong?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật Lao động chương I

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương I

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương I: Khái niệm Luật Lao động Việt Nam cung cấp nền tảng cơ bản về lĩnh vực pháp lý quan trọng này. Luật Lao động Việt Nam quy định các quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong môi trường lao động. Chương I của bài giảng sẽ giúp bạn hiểu rõ khái niệm, các nguyên lý cơ bản, và phạm vi điều chỉnh của luật lao động, đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ giữa pháp luật và thực tiễn lao động tại Việt Nam.

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương I

    Chương 1: Khái niệm luật Lao động Việt Nam

    I. Phạm vi điều chỉnh của luật Lao động

    1. Quan hệ lao động

    a. Quan hệ lao động cá nhân

    – Là quan hệ giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) phát sinh trong quá trình thuê mướn, sử dụng lao động và trả lương cho NLĐ ở các đơn vị sử dụng lao động.

    Chú ý: nếu quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ mà không liên quan đến việc thuê mướn, sử dụng lao động thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Lao động, ví dụ như quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ trong việc góp vốn để kinh doanh và cùng chia lợi nhuận thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thương mại.

    – Hình thức pháp lý để xác lập quan hệ lao động: hợp đồng lao động (==> còn gọi quan hệ lao động cá nhân là quan hệ hợp đồng lao động)

    – Đặc điểm:

    + trong quan hệ lao động cá nhân, NLĐ luôn phụ thuộc vào NSDLĐ:

    • Phụ thuộc về mặt kinh tế: tiền lương, thưởng, phụ cấp, hình thức trả lương,… hoàn toàn do NSDLĐ quyết định (có tham khảo ý kiến công đoàn và NLĐ, nhưng quyết định chính vẫn là NSDLĐ)
    • Phụ thuộc về mặt tổ chức (pháp lý): NLĐ chịu sự quản lý của NSDLĐ trong phân công công việc, địa điểm làm việc, đi công tác, … theo sự phân công của NSDLĐ

    + trong quan hệ lao động cá nhân, luôn chứa đựng đồng bộ yếu tố kinh tế và yếu tố XH:

    • yếu tố kinh tế với NSDLĐ là doanh thu, lợi nhuận, …; còn với NLĐ là tiền lương, thưởng, thu nhập,…
    • yếu tố xã hội với NSDLĐ là khi hoạt động thì tổ chức sẽ phải quan tâm thực hiện các vấn đề xã hội do NN quy định, như giải quyết việc làm cho NLĐ, đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLĐ, trả trợ cấp hoặc bồi thường khi NLĐ gặp rủi ro trong quá trình lao động,…; còn với NLĐ thì yếu tố XH là mối quan hệ giữa NLĐ này với NLĐ khác, giữa NLĐ với NSDLĐ, ví dụ NLĐ và NSDLĐ phải tôn trọng nhau, nếu 1 bên thiếu tôn trọng bên kia thì bên không được tôn trọng sẽ có quyền chấm dứt HĐLĐ

    – Phạm vi điều chỉnh của quan hệ lao động cá nhân: thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế XH

    + quan hệ lao động cá nhân trong các danh nghiệp: được thiết lập trên cơ sở nhu cầu nhân lực cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trừ các đối tượng Giám đốc / Phó Giám đốc, kế toán trưởng trong doanh nghiệp NN hạch toán độc lập (tức là những đối tượng này sẽ không có HĐLĐ, vì là cán bộ được NN bổ nhiệm sang doanh nghiệp). Chú ý: nếu là doanh nghiệp NN nhưng không hạch toán độc lập thì Giám đốc / Phó Giám đốc, kế toán trưởng vẫn có thể được thuê thông qua HĐLĐ.

    + quan hệ lao động cá nhân trong các cơ quan quản lý NN, đơn vị sự nghiệp (còn gọi là các cơ quan hành chính NN): được thiết lập trên cơ sở nhu cầu, nhưng chỉ để thực hiện một số công việc có tính chất phục vụ như tạp vụ, lái xe, bảo vệ, … (HĐLĐ sẽ được ký theo Nghị định 68/2000), trừ 2 nhóm đối tượng là cán bộ công chức (theo luật Cán bộ công chức) và viên chức (theo luật Viên chức). Chú ý: cán bộ, công chức, viên chức không ký HĐLĐ với cơ quan hành chính NN, nhưng vẫn có thể ký HĐLĐ với các chủ thể khác

    + quan hệ lao động cá nhân trong các tổ chức đoàn thể: được thiết lập quan hệ lao động cá nhân theo nhu cầu và phạm vi hoạt động của tổ chức cho các công việc có tính chất phục vụ theo Nghị định 68, trừ 2 đối tượng:

    • Những người được bầu ra trong các kỳ Đại hội của tổ chức đó: những người này sẽ làm việc theo nhiệm kỳ, được hưởng những quyền lợi theo Điều lệ của tổ chức
    • Những người được tuyển chọn vào làm việc thường xuyên trong tổ chức: theo chỉ tiêu, giống như cán bộ, viên chức, VD cán bộ chuyên trách phụ trách công tác Đảng, Đoàn thanh niên, …

    + quan hệ lao động cá nhân trong các hợp tác xã: được thiết lập trên cơ sở nhu cầu của hợp tác xã, trừ xã viên hợp tác xã. VD hợp tác xã vận tải có 5 xã viên, đầu tư 100 ô tô tải ==> thuê lái xe theo HĐLĐ

    Bài giảng môn học Luật Lao động chương I
    Bài giảng môn học Luật Lao động chương I

    + quan hệ lao động cá nhân trong các hộ gia đình và cá nhân sử dụng lao động: ví dụ làm việc trong các trang trại, giúp việc gia đình

    + quan hệ lao động cá nhân có yếu tố nước ngoài: khi 1 trong 2 bên chủ thể của quan hệ có yếu tố nước ngoài:

    • Quan hệ lao động cá nhân giữa NLĐ VN với NSDLĐ là người nước ngoài tại VN: ví dụ các doanh nghiệp nước ngoài (doanh nghiệp FDI), cơ quan nước ngoài (lãnh sự quán, đại sứ quán, tổ chức quốc tế), …

    Chú ý: trường hợp người VN ra nước ngoài làm việc cho người nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo đó người VN sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại (chú ý không dùng khái niệm “xuất khẩu lao động” vì nói vậy sẽ coi người lao động là món hàng để xuất khẩu ==> vi phạm nhân quyền)

    • Quan hệ lao động cá nhân giữa NLĐ nước ngoài với NSDLĐ VN tại VN: ví dụ các câu lạc bộ bóng đá VN thuê cầu thủ nước ngoài, doanh nghiệp VN thuê chuyên gia người nước ngoài, …

    Chú ý: hiện nay luật Lao động VN không điều chỉnh quan hệ lao động giữa NLĐ nước ngoài với NSDLĐ người nước ngoài tại VN (ví dụ 1 người có quốc tịch Pháp làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư của Mỹ tại VN) ==> khi có tranh chấp phát sinh thì sẽ do 2 bên tự chọn luật để áp dụng (có thể chọn luật của quốc gia người lao động, quốc gia người sử dụng lao động, hoặc luật VN)

    Câu hỏi trắc nghiệm:

    (1) Quan hệ lao động giữa NLĐ VN với NSDLĐ người nước ngoài do luật Lao động VN điều chỉnh.

    (2) Một người có quốc tịch Anh làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư Đài Loan tại VN thì sẽ do luật Lao động VN điều chỉnh

    Trả lời:

    (1) Sai. Vì thiếu địa điểm là “tại Việt Nam”. Nếu NLĐ VN làm việc cho NSDLĐ người nước ngoài tại nước ngoài sẽ do luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng điều chỉnh.

    (2) Sai. Vì sẽ áp dụng luật Anh hoặc luật Đài Loan theo tùy chọn của 2 bên, chỉ trường hợp 2 bên cùng thỏa thuận chọn luật Lao động VN để giải quyết thì mới áp dụng luật Lao động VN

    – Lưu ý: (khoản 3 Điều 240: Chế độ lao động đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, tổ chức xã hội khác và xã viên hợp tác xã do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tuỳ từng đối tượng mà được áp dụng một số quy định trong Bộ luật này. Chính phủ ban hành chính sách lương cụ thể để áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân.)

    Theo đó, mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ không trên cơ sở HĐLĐ thì sẽ do luật khác điều chỉnh, tuy nhiên tùy từng đối tượng mà vẫn áp dụng một số quy định của luật Lao động. Để hiểu vấn đề này cần trả lời 3 câu hỏi:

    + Những nhóm quan hệ lao động nào giữa NLĐ và NSDLĐ không được xác lập trên cơ sở HĐLĐ ? Gồm 4 nhóm quan hệ:

    • Cán bộ, công chức, viên chức với NN: với cán bộ và công chức là Quyết định tuyển dụng và điều chỉnh bằng Luật Cán bộ, Công chức, với viên chức là Hợp đồng làm việc và được điều chỉnh bằng Luật Viên chức
    • Những người làm việc trong lực lượng vũ trang với NN: điều chỉnh bằng luật Nghĩa vụ quân sự, luật Quân đội nhân dân
    • Những người làm việc trong tổ chức đoàn thể với tổ chức đoàn thể đó: điều chỉnh bằng luật Công an nhân dân
    • Xã viên hợp tác xã với hợp tác xã đó: điều chỉnh bằng luật Hợp tác xã

    + Tại sao đã có luật khác điều chỉnh mà vẫn áp dụng luật Lao động ? Vì bản chất của những quan hệ này vẫn liên quan đến việc sử dụng sức lao động, nên có những quy định như bảo vệ sức lao động thì sẽ vẫn áp dụng luật Lao động, ví dụ quy định về thời giờ làm việc không quá 8 giờ / ngày, nghỉ lễ (nghỉ 2/9, tết, …), chế độ thai sản đối với phụ nữ, … thì được áp dụng theo luật Lao động (các luật khác không quy định)

    + Phạm vi áp dụng ? Những vấn đề trong lao động mà các luật khác không quy định, ví dụ quy định về tuổi lao động và tuổi nghỉ hưu, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ thai sản, chế độ nghỉ phép, công đoàn, phúc lợi, bảo hiểm, … đều tuân theo luật Lao động.

    Câu hỏi: Tại sao quan hệ lao động cá nhân trên cơ sở Hợp đồng lao động lại là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật Lao động ? (tức là phạm vi điều chỉnh chủ yếu của luật Lao động là quan hệ lao động cá nhân)

    Trả lời (tự trả lời): Vì phạm vi điều chỉnh của luật Lao động là các quan hệ lao động, trong quan hệ lao động có quan hệ lao động dựa trên HĐLĐ và quan hệ lao động không dựa trên HĐLĐ. Với quan hệ lao động không dựa trên HĐLĐ thì đều thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật khác như Luật Cán bộ Công chức, Luật Viên chức, Luật Quân đội nhân dân, Luật Công an nhân dân, Luật hợp tác xã. Ngoài ra với quan hệ lao động tập thể lại được quy định chi tiết trong Luật Công đoàn. Do đó Luật Lao động chỉ tập trung vào điều chỉnh quan hệ lao động cá nhân dựa trên HĐLD.

    b. Quan hệ lao động tập thể

    – Là quan hệ lao động giữa 1 bên là tập thể lao động với 1 bên là NSDLĐ phát sinh trong quá trình đại diện và giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của tập thể lao động.

    – Tập thể lao động (Điều 3): là tập hợp có tổ chức của NLĐ cùng làm việc cho một NSDLĐ hoặc trong một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của NSDLĐ.

    Tức là ở VN không có chuyện NLĐ ở doanh nghiệp này đòi quyền lợi cho NLĐ ở doanh nghiệp khác như ở nước ngoài (thuật ngữ “đình công góp”)

    Ở VN tập thể lao động thường hoạt động thông qua tổ chức Công đoàn (cũng có ngoại lệ khi thông qua Nghị quyết tập thể)

    Chú ý: ở nước ngoài, khi nói đến quan hệ lao động là nói đến quan hệ lao động tập thể

    – Đặc điểm (để phân biệt với quan hệ lao động cá nhân):

    + 1 bên trong quan hệ lao động tập thể bao giờ cũng là tập thể lao động. Ở VN mọi hoạt động của tập thể lao động đều phải thông qua Công đoàn, trừ 1 ngoại lệ là trường hợp tranh chấp lao động tập thể thì có thể giải quyết không nhất thiết phải qua công đoàn.

    + nội dung của quan hệ lao động lao động tập thể liên quan đến quyền và lợi ích của tập thể lao động

    – Phạm vi điều chỉnh:

    + đối thoại tại nơi làm việc (với thế giới thì là “đối thoại xã hội”)

    + thương lượng tập thể

    + thông tin, tham vấn

    2. Các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động

    – Là quan hệ XH phát sinh, gắn liền, ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ lao động: ví dụ, sau khi 2 bên đã xác lập quan hệ lao động (như sự kiện 2 bên ký HĐLĐ), nếu có tranh chấp xảy ra thì sẽ phát sinh quan hệ giữa 2 bên với cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án, thanh tra lao động, …); hoặc NLĐ và NSDLĐ sẽ có quan hệ với cơ quan bảo hiểm về việc thực hiện các chế độ bảo hiểm cho NLĐ, …

    – Gồm 7 quan hệ liên quan:

    + quan hệ về việc làm: (được điểu chỉnh trong Luật việc làm) là tiền đề cho quan hệ lao động, là quan hệ giữa NN và NSDLĐ trong việc giải quyết việc làm cho NLĐ

    + quan hệ về học nghề: (được điều chỉnh trong Luật Giáo dục nghề nghiệp) khi NSDLĐ yêu cầu NLĐ học nghề để nâng cao trình độ chuyên môn phục vụ cho công việc

    + quan hệ về bồi thường thiệt hại: khi NLĐ được NSDLĐ giao công cụ, dụng cụ lao động mà làm hư hỏng, mất mát thì sẽ phải bồi thường theo quy định

    + quan hệ về bảo hiểm: (luật An sinh xã hội) NSDLĐ có nghĩa vụ đóng các loại bảo hiểm cho NSD lao động

    + quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động: cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết những tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ (do Luật Tố tụng dân sự điều chỉnh)

    + quan hệ về giải quyết đình công: là khi tranh chấp lao động không được giải quyết hoặc NLĐ không đồng tình với cách giải quyết của cơ quan có thẩm quyền thì NLĐ được quyền nghỉ việc để gây áp lực với NSDLĐ mà được gọi là “đình công” (do Luật Tố tụng dân sự điều chỉnh)

    + quan hệ về quản lý NN trong lĩnh vực lao động: NN thực hiện quản lý lĩnh vực lao động thông qua các quy định như mẫu HĐLĐ, mẫu thỏa ước lao động tập thể, cấp phép cho người nước ngoài làm việc, … NN thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm, giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực lao động, …

    Chú ý: trong 7 lĩnh vực quan hệ XH trên, luật lao động không điều chỉnh toàn bộ chúng, mà chỉ điều chỉnh trong phạm vi liên quan đến quan hệ lao động.

    3. Tiêu chuẩn lao động

    – Là tập hợp các điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động tối thiểu được áp dụng trong 1 phạm vi nhất định. Tức là:

    + điều kiện lao động: là điều kiện cần có cho quá trình lao động, như máy móc thiết bị, an toàn vệ sinh, chế độ bảo vệ NLĐ, …

    + điều kiện sử dụng lao động: các vấn đề cần phải có để sử dụng NLĐ một cách hiệu quả, ví dụ trả lương cho NLĐ, quy định thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, các vấn đề kỷ luật, khen thưởng, …

    Tức là ở đây Luật lao động quy định các điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động 1 cách tối thiểu để các bên áp dụng.

    Chú ý: các Tiêu chuẩn lao động đều được xây dựng dựa trên khuyến nghị của ILO

    – Phạm vi điều chỉnh:

    + các tiêu chuẩn về việc làm, HĐLĐ: ví dụ quy định như thế nào là việc làm hợp pháp, đưa ra các tiêu chuẩn, điều kiện để các bên có thể ký kết HĐLĐ

    + các tiêu chuẩn về điều kiện lao động: an toàn vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe NLĐ, bồi thường hoặc trợ cấp khi NLĐ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, …

    + các tiêu chuẩn về sử dụng lao động: tiền lương, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, …

    + các tiêu chuẩn về kỷ luật lao động:

    + các tiêu chuẩn khác: ví dụ như việc các tổ chức của NLĐ ngoài công đoàn (như khi đàm phán TPP, các nước yêu cầu VN phải cho phép thành lập Công đoàn ngoài NN), các tiêu chuẩn về đào tạo nghề, …

    III. Các nguyên tắc cơ bản của luật Lao động

    1. Nguyên tắc tự do lao động và tự do thuê mướn lao động

    – NLĐ có quyền tự do lao động:

    + NLĐ được tự do tự tạo việc làm

    + NLĐ được tự do tìm việc làm: qua các thiết chế dịch vụ công (các Trung tâm giới thiệu việc làm của NN) hoặc dịch vụ tư (doanh nghiệp giới thiệu, môi giới việc làm)

    + NLĐ được tự do trong việc lựa chọn đối tác, địa điểm, thời điểm làm việc, …

    – NSDLĐ có quyền tự do thuê mướn lao động:

    + toàn quyền tuyển chọn và sử dụng lao động

    • Được đưa ra các điều kiện để tuyển dụng, miễn là không trái với quy định của luật lao động
    • Được toàn quyền quyết định nhận / không nhận người lao động vào làm việc

    + có quyền chấm dứt quan hệ lao động với NLĐ mà không trái với quy định của PL

    – Lý do của nguyên tắc này ?

    + lao động là 1 thị trường, do đó các bên có toàn quyền tự do thỏa thuận, tự định đoạt để thỏa mãn nhu cầu của mỗi bên

    + xuất phát từ nhu cầu của NLĐ và của NSDLĐ

    2. Nguyên tắc bảo vệ người lao động

    – Có quan điểm cho rằng Luât lao động là Luật bảo vệ người lao động.

    – Các nội dung bảo vệ NLĐ:

    + bảo vệ về việc làm

    + bảo vệ về thu nhập

    + bảo vệ về sức khỏe

    + bảo vệ về nhân thân: danh dự, nhân phẩm, uy tín của NLĐ

    + được tham gia các tổ chức đoàn thể: công đoàn, hội phụ nữ, đoàn thanh niên

    – Lý do phải bảo vệ NLĐ ?

    + xuất phát từ vai trò của sức lao động: nếu không có sức lao động thì không thể có hàng hóa, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của con người

    + xuất phát từ ảnh hưởng của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường. VD quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, …

    + xuất phát từ vị thế yếu của NLĐ (so với vị thế của NSDLĐ)

    + xuất phát từ hành vi trực tiếp thực hiện nghĩa vụ lao động: NLĐ trực tiếp thực hiện hành vi lao động sẽ có nguy cơ gặp nguy hiểm như tai nạn lao động, hao mòn sức khỏe, …

    + xuất phát từ quan điểm của đảng và NN: thể hiện trong các văn kiện đại hội, hội nghị, … theo đó chủ trương phát triển kinh tế xã hội để nâng cao đời sống của nhân dân, trong đó NLĐ luôn chiếm số lượng đông đảo nhất

    3. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ

    – Quyền được tuyển chọn và sử dụng lao động

    – Quyền quản lý lao động: được bố trí, sắp xếp công việc cho NLĐ

    – Quyền ban hành các quy định để NLĐ phải tuân theo: nội quy lao động, quy chế làm việc, … Có quyền xử lý kỷ luật hoặc khen thưởng với NLĐ

    – Quyền được tự do tham gia các tổ chức đại diện của NSDLĐ (Nghị định 53/2014) để được các tổ chức đó bảo vệ quyền và lợi ích trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiện nay có 3 tổ chức đại diện cho NSDLĐ chính thức được công nhận tại VN:

    + VCCI: Phòng thương mại và công nghiệp VN

    + VCA: Liên minh Hợp tác xã VN

    + VINASME: Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ và vừa VN

    4. Nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm sự thỏa thuận hợp pháp của các bên

    – Tôn trọng: là bảo đảm sự tự nguyện của các bên, gồm NLĐ và NSDLĐ

    – Bảo đảm sự thỏa thuận hợp pháp:

    + phải xuất phát từ ý chí của các bên, tức là các bên phải tự nguyện

    + phải trên cơ sở quy định của PL: khung pháp lý của quan hệ lao động hẹp hơn khung pháp lý trong dân sự rất nhiều, khung này được giới hạn bằng quyền tối thiểu và nghĩa vụ tối đa. Tức là luật lao động quy định các quyền ở mức tối thiểu và quy định nghĩa vụ ở mức tối đa, VD lương tối thiểu vùng (lương trong HĐLĐ sẽ phải bằng hoặc cao hơn mức này), thời giờ làm việc tối đa 8 giờ/ngày, 48 giờ/tuần, 26 ngày/tháng, làm thêm tối đa 200 giờ/năm

    + phải có lợi cho NLĐ theo quy định của luật: ví dụ luật quy định mức lương tối thiểu vùng là 3.5 triệu, thỏa thuận trả lương 5 triệu ==> hợp pháp; ví dụ luật quy định NSDLĐ phải đóng bảo hiểm cho NLĐ, tuy nhiên NLĐ và NSDLĐ thỏa thuận không đóng bảo hiểm mà số tiền bảo hiểm sẽ được trả hết vào lương cho NLĐ ==> không hợp pháp (vì không có lợi cho NLĐ, vì nếu trường hợp NLĐ bị tai nạn, ốm đau thì sẽ không được bảo hiểm)

    5. Nguyên tắc kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội

    – Trong luật Lao động, chính sách kinh tế và chính sách xã hội luôn đi liền với nhau, hài hòa với nhau. Theo đó NSDLĐ hướng đến mục tiêu lợi nhuận (mục tiêu kinh tế) nhưng cũng phải đồng thời hướng đến các mục tiêu xã hội, như tạo ra việc làm, đóng bảo hiểm cho NLĐ, trợ cấp cho NLĐ khi họ gặp rủi ro; với NLĐ thì ngoài mục tiêu tiền lương thu được, cũng phải thực hiện các công tác xã hội như ủng hộ đồng bào gặp thiên tai (VD toàn thể nhân viên ủng hộ 1 ngày lương)

    6. Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế

    – VN là thành viên của ILO (Tổ chức Lao động quốc tế) từ 1992

    – Luật Lao động VN đã nội luật hóa các quy định của PL quốc tế, ví dụ:

    + quy định độ tuổi tối thiểu của người lao động là 15 tuổi

    + tham gia ký kết, phê chuẩn các Công ước quốc tế về lao động (ILO có khoảng 200 công ước, hiện VN mới ký kết tham gia 18 công ước)

    + sử dụng các nguyên tắc, thuật ngữ của luật quốc tế trong PL lao động VN, ví dụ thuật ngữ an sinh xã hội, cơ chế ba bên, …

    Chú ý: khi nghiên cứu các nguyên tắc, cần trả lời 2 câu hỏi:

    + làm rõ cơ sở xác định nguyên tắc, trả lời câu hỏi: tại sao ? Ví dụ: tại sao bảo vệ NLĐ là nguyên tắc cơ bản của luật Lao động ?

    + làm rõ nội dung của nguyên tắc, trả lời câu hỏi: như thế nào ? Tức là rà soát các quy định của luật, khái quát thành các luận điểm và phân tích. Ví dụ: với câu hỏi trên thì bảo vệ NLĐ tức là bảo vệ việc làm, thu nhập, sức khỏe, … cho NLĐ

    IV. Nguồn của luật lao động

    – Gồm các văn bản PL do cơ quan có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ XH thuộc phạm vi điều chỉnh của luật lao động

    – Nguồn của luật Lao động:

    + Hiến pháp

    + các luật: luật lao động 2012, luật công đoàn 2012, luật việc làm, …

    + văn bản dưới luật: các nghị định, thông tư, quyết định

    – Lưu ý: có 2 văn bản:

    + nội quy lao động

    + thỏa ước lao động tập thể

    tuy không do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhưng vẫn được coi là nguồn đặc biệt của luật lao động

    Câu hỏi: Tại sao Nội quy lao động và Thỏa ước lao động tập thể là nguồn đặc biệt của luật lao động ?

    Trả lời: Nguồn của luật Lao động chỉ có thể là Văn bản quy phạm PL hoặc tập quán. Nội quy lao động và Thỏa ước lao động tập thể không phải là tập quán, cũng không phải là văn bản quy phạm PL do chủ thể ban hành là NLĐ và NSDLĐ cùng thỏa thuận chứ không phải là chủ thể có thẩm quyền NN ban hành, cũng không thể hiện ý chí của NN. Do đó Nội quy lao động và Thỏa ước lao động tập thể là nguồn đặc biệt của luật lao động.

    Mời bạn xem thêm:

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật lao động: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-lao-dong?ref=lnpc

  • Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương V

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương V

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương V tập trung vào pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, một lĩnh vực quan trọng trong giao dịch thương mại toàn cầu. Chương V sẽ giúp sinh viên nắm bắt các nguyên tắc pháp lý cơ bản, bao gồm các quy định về việc hình thành, thực hiện và chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên đến từ các quốc gia khác nhau. Nội dung bài giảng cũng sẽ trình bày về các điều ước quốc tế như Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) và vai trò của nó trong việc harmonize các quy tắc hợp đồng toàn cầu.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương V

    Chương 5: Pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

    Thương mại hàng hóa là 1 trong 4 lĩnh vực của WTO, gồm:

    • thương mại hàng hóa: gồm mua bán, đại lý, môi giới, … tuy nhiên mua bán hàng hóa quốc tế là lĩnh vực chủ đạo của thương mại quốc tế
    • thương mại dịch vụ
    • sở hữu trí tuệ
    • đầu tư nước ngoài

    I. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)

    1. Giới thiệu về CISG
      – Công ước Viên 1980 về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế của Liên hợp quốc (CISG):
    • CISG là công ước trong khuôn khổ của Liên hợp quốc
    • CISG do Ủy ban luật thương mại quốc tế của LHQ soạn thảo và ban hành (UNCITRAL – United Nations Commission on International Trade Law)
    • CISG ra đời dựa trên nhu cầu cần có 1 hệ luật chung để điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế (để tránh xung đột luật)

    – Ý nghĩa của CISG:

    • thống nhất về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trong đó quy định các vấn đề về hình thức, về quyền và nghĩa vụ của các bên.
    • giúp hạn chế những vấn đề về chọn luật áp dụng trong thương mại quốc tế
    • đòi hỏi mỗi quốc gia thành viên WTO phải hài hòa hóa luật thương mại trong nước với CISG ==> tăng sự minh bạch, tính dễ dự đoán trong môi trường kinh doanh ==> CISG vừa có tính chất là luật thống nhất, vừa có tính chất là “luật mẫu” cho các quốc gia thành viên

    – Hiện nay CISG có 85 thành viên, VN gia nhập ngày 18/12/2015, có hiệu lực trên lãnh thổ VN từ 01/012017

    – Nội dung CISG: quy định về hình thức hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng, trong việc giao – nhận hàng, các nghĩa vụ cơ bản, các quy định về trường hợp bất khả kháng về hợp đồng

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương V
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương V

    – Cấu trúc của CISG gồm 4 phần:

    • phạm vi áp dụng
    • giao kết hợp đồng
    • quyền và nghĩa vụ các bên (tự nghiên cứu)
    • bảo lưu (tự nghiên cứu)
    1. Phạm vi áp dụng của CISG
      – Trong thương mại quốc tế có nhiều loại hợp đồng, CISG không điều chỉnh tất cả các loại hợp đồng đó, như Hợp đồng dịch vụ không thuộc phạm vi áp dụng của CISG

    – CISG chỉ áp dụng với Hợp đồng mua bán, và CISG cũng chỉ áp dụng đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (tức là có yếu tố nước ngoài), CISG không điều chỉnh đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa.

    Tuy nhiên CISG cũng không điều chỉnh tất cả các loại hàng hóa quốc tế, mà chỉ điều chỉnh 1 nhóm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: đó là nhóm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có luật áp dụng là CISG.

    Chú ý: “luật áp dụng” là luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên. Một hợp đồng có thể nhiều nguồn luật được sử dụng, ví dụ: nguồn luật điều chỉnh chỉnh thức hợp đồng, nguồn luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên, nguồn luật điều chỉnh trình tự tố tụng (thủ tục giải quyết tranh chấp), nguồn luật điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến năng lực chủ thể.

    – CISG trở thành luật áp dụng trong các trường hợp:

    • các bên đều có trụ sở thương mại tại các nước thành viên CISG và không viện dẫn Điều 6 CISG (Ðiều 6: Các bên có thể loại bỏ việc áp dụng Công ước này hoặc với điều kiện tuân thủ điều 12, có thể làm trái với bất cứ điều khoản nào của Công ước hay sửa đổi hiệu lực của các điều khoản đó.)

    VD: thương nhân VN ký kết HĐ với thương nhân Singapore (cả 2 đều là thành viên của CISG), nếu trong HĐ không nêu thì mặc nhiên CISG sẽ được áp dụng, các bên cũng có thể áp dụng luật khác, nhưng phải tuyên bố ngay trong HĐ.

    • có nguyên tắc tư pháp quốc tế dẫn chiếu áp dụng PL nước thành viên không tuyên bố bảo lưu (gọi là “dẫn chiếu tiếp”). VD nước A là thành viên CISG, nước B không là thành viên CISG, thương nhân nước A ký kết hợp đồng với thương nhân nước B, trong đó quy định luật áp dụng là luật nước A, mà trong khi tư pháp quốc tế nước A quy định dẫn chiếu đến CISG thì hợp đồng ký giữa thương nhân nước A và thương nhân nước B sẽ áp dụng CISG. Chú ý: nếu A tuyên bố bảo lưu việc “dẫn chiếu tiếp” thì luật áp dụng sẽ là luật nước A chứ không phải là CISG.
    • các bên có trụ sở thương mại tại các nước không là thành viên CISG nhưng thỏa thuận áp dụng CISG
    • do cơ quan giải quyết tranh chấp lựa chọn CISG

    – Phạm vi không áp dụng trong CISG:

    • hiệu lực của hợp đồng
    • quyền sở hữu: thời điểm chuyển giao quyền sở hữu giữa các bên (vấn đề này thường do luật trong nước điều chỉnh) và vấn đề phân chia chi phí như thông quan, vận chuyển (sẽ do Incoterms điều chỉnh)

    – Dạng hợp đồng mua bán không áp dụng CISG:

    • hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm mục đích tiêu dùng (tức là không sinh lời ==> không phải thương mại) hoặc thi hành văn kiện ủy thác (VD bán đấu giá lô hàng vi phạm do nợ thuế để trả khoản thuế mà họ đang nợ ==> không sinh lời)
    • hợp đồng mua bán những hàng hóa đặc biệt: cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán, chứng từ lưu thông tiền tệ (đây là các loại hàng hóa đặc biệt nên sẽ do luật riêng trong nước điều chỉnh), tàu thủy, máy bay, vật chạy đệm không khí
    • hợp đồng bán đấu giá: vì đây là loại hợp đồng theo trình tự ngược nên sẽ do PL bán đấu giá (trong nước) điều chỉnh
    • hợp đồng mua bán điện năng: về bản chất thì điện năng là 1 loại dịch vụ (CISG chỉ điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa)
    • hợp đồng mặc dù có tên là “mua bán” nhưng bên mua cung cấp phần lớn nguyên vật liệu để sản xuất. VD thương nhân A ký hợp mua bán giày với thương nhân B, nhưng A lại cung cấp hầu như toàn bộ nguyên vật liệu để B sản xuất giày
    • hợp đồng mà phần lớn nghĩa vụ của bên bán là cung cấp lao động và dịch vụ: gọi là hợp đồng gia công

    – Ngoài ra CISG cũng không điều chỉnh một số vấn đề hậu quả của việc thực hiện hợp đồng như thiệt hại ngoài hợp đồng (thiệt hại do thực hiện hợp đồng gây ra liên quan đến tính mạng, sức khỏe con người)

    1. Hình thức của hợp đồng
      – CISG đề cao tuyệt đối tính tự do thỏa thuận về hình thức của hợp đồng, thể hiện trong Điều 11 và Điều 29:
    • Điều 11 CISG: Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng.

    ==> tức là hợp đồng có thể được giao kết dưới mọi hình thức

    • Điều 29 CISG:

    Một hợp đồng có thể được sửa đổi hay chấm dứt bằng thỏa thuận đơn thuần giữa các bên.
    Một hợp đồng bằng văn bản chứa đựng một điều khoản quy định rằng mọi sự sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng phải được các bên làm bằng văn bản thì không thể bị sửa đổi hay chấm dứt theo thỏa thuận giữa các bên dưới một hình thức khác. Tuy nhiên hành vi của mỗi bên có thể không cho phép họ được viện dẫn điều khoản ấy trong chừng mực nếu bên kia căn cứ vào hành vi này.
    ==> tức là hợp đồng có thể sửa đổi hoặc chấm dứt tùy ý bằng bất cứ hình thức nào theo thỏa thuận các bên, trừ khi trong hợp đồng có điều khoản quy định bắt buộc sửa đổi hoặc chấm dứt phải bằng văn bản.

    Trong luật VN (và trong hầu hết các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law) thì quan điểm chung là hợp đồng phải bằng văn bản.

    – Để tránh xung đột với PL quốc gia (mà quy định hình thức hợp đồng phải bằng văn bản), CISG đưa ra điều khoản bảo lưu theo Điều 96 CISG: Nếu luật của một quốc gia thành viên quy định hợp đồng mua bán phải được ký kết hay xác nhận bằng văn bản thì quốc gia đó có thể bất cứ lúc nào tuyên bố chiếu theo Điều 12, rằng mọi quy định của các Điều 11, 29 hay của phần thứ hai Công ước này cho phép một hình thức khác với hình thức văn bản cho việc ký kết, sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng mua bán, hay cho mọi chào hàng, chấp nhận chào hàng hay sự thể hiện ý định nào khác sẽ không áp dụng nếu như chỉ cần một trong các bên có trụ sở thương mại tại quốc gia.

    ==> quốc gia có quyền bảo lưu Điều 11 và Điều 29 CISG, tức là chỉ cần 1 bên ký kết thuộc quốc gia thành viên đó thì bắt buộc hình thức hợp đồng phải theo quy định của luật quốc gia. (VN và hầu hết các nước theo Cival law đều đã thực hiện việc bảo lưu này)

    1. Giao kết hợp đồng
      – Quy trình: Chào hàng ==> Chấp nhận chào hàng ==> Giao kết hợp đồng

    – Trình tự giao kết hợp đồng trong CISG là trình tự giao kết hợp đồng vắng mặt, tức là 2 bên không hề gặp mặt nhau vẫn giao kết hợp đồng ==> phải tuân thủ trình tự hết sức nhiêm ngặt để đảm bảo hợp đồng đã được giao kết.

    – Công ước Viên 1980 về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế của Liên hợp quốc (CISG), được thông qua năm 1980, đến nay đã gần 40 năm nhưng vẫn chưa 1 lần bổ sung, sửa đổi. Hiện nay CISG vẫn được đánh giá là bộ quy định về hợp đồng rất hiện đại, lô-gic, dễ hiểu và hợp lý, nó phân chia nghĩa vụ của các bên 1 cách hết sức công bằng và khách quan, và đặc biệt CISG sử dụng những từ ngữ, thuật ngữ rất gần gũi với đời sống thương mại quốc tế.

    Chính vì vậy mặc dù CISG là 1 văn bản có tính liên chính phủ do 1 tổ chức công là Liên hợp quốc đưa ra, nhưng lại được rất nhiều thương nhân nhận định nó như là 1 tập quán, tức là nó quá gần gũi với đời sống của doanh nghiệp. Lý do là thực chất CISG cũng được xây dựng từ những tập quán.

    4.1. Chào hàng
    a. Khái niệm chào hàng
    – Chào hàng là 1 đề nghị ký kết hợp đồng của 1 người gửi cho 1 hay nhiều người xác định (Điều 14 CISG)

    – Điều kiện của chào hàng:

    • nêu được nội dung cơ bản của hợp đồng: nêu rõ hàng hóa, ấn định số lượng, giá cả, phương thức giao nhận, … 1 cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này
    • người được chào hàng xác định: có địa chỉ rõ ràng

    b. Các loại chào hàng

    – Căn cứ vào việc có thể hay không thể hủy bỏ, có 2 loại chào hàng:

    • Chào hàng không thể hủy bỏ (khoản 2 Điều 16)

    chào hàng chỉ rõ thời hạn xác định để gửi chấp nhận, hay bằng cách khác, rằng nó không thể bị thu hồi, hoặc
    nếu 1 cách hợp lý người được chào hàng coi chào hàng là không thể thu hồi được và đã hành động theo chiều hướng đó
    ==> ý nghĩa: trong thời hạn xác định để gửi chấp nhận, người chào hàng phải giữ lời hứa của mình

    • Chào hàng có thể bị hủy bỏ: các chào hàng ngoài chào hàng không thể bị hủy bỏ. Hủy bỏ bằng cách gửi Thư hủy chào hàng.

    – Căn cứ vào tính chất của chào hàng, có 2 loại:

    • chào hàng ban đầu: là chào hàng đầu tiên đưa ra
    • hoàn giá chào (Điều 19 CISG): là chào hàng thứ phát, tức là chào hàng thứ 2 sau chào hàng đầu tiên. Là sự phúc đáp của người được chào hàng với mục đích muốn giao kết hợp đồng nhưng đưa ra thay đổi, bổ sung 1 số điều khoản cơ bản của chào hàng

    VD: doanh nghiệp A gửi chào hàng bán sản phẩm giày cho doanh nghiệp B với giá là 12$ / đôi. Doanh nghiệp B trả lời rằng cam kết sẽ mua hết chỗ giày của A với điều kiện giá là 10$ / đôi. Khi đó chào hàng ban đầu của A (với giá 12$ / đôi) đã hết giá trị pháp lý, nội dung cơ bản của hợp đồng sẽ là nội dung trong bản Hoàn giá chào của B. Đồng thời vai trò của A và B đảo ngược, B trở thành người chào hàng với bản Hoàn giá chào; còn A trở thành người nhận chào hàng. Và A có quyền từ chối / chấp nhận bản Hoàn giá chào. Nếu A chấp nhận thì coi như hợp đồng đã được ký kết.

    c. Giá trị pháp lý của chào hàng

    – Thời điểm phát sinh giá trị pháp lý của việc chào hàng: khi người được chào hàng chấp nhận chào hàng.

    – Trong thực tế có phát sinh trường hợp phải hủy thư chào hàng. Nguyên nhân hủy thư chào hàng: đã gửi chào hàng, nhưng sau đó lại gặp đối tác khác trả giá cao hơn; hoặc do sự kiện bất khả kháng không thể có hàng để bán như đã cam kết.

    – Thư hủy chào hàng phải tới tay người được chào hàng trước hoặc cùng lúc người được chào hàng nhận chào hàng thì Thư chào hàng sẽ hết giá trị pháp lý

    Tình huống: A gửi thư chào hàng cho B vào ngày 1/3, trong thư chào hàng nêu thời gian chấp nhận chào hàng là 15/3

    B nhận được thư chào hàng của A vào ngày 8/3

    Thư hủy chào hàng của A đến tay B vào ngày 10/3

    Hỏi thư hủy có hủy được chào hàng không ?

    Trả lời: đây là chào hàng không thể hủy bỏ, tức là trong thư chào hàng A đã quy định B có thời hạn để chấp nhận chào hàng ==> thư hủy vô giá trị, A sẽ bắt buộc phải chờ đến hết thời hạn 15/3.

    Thư hủy chào hàng của A chỉ có giá trị hủy thư chào hàng nếu thư hủy này đến trước hoặc trong ngày 8/3, tức là ngày B nhận được chào hàng.

    Nếu thư hủy đến vào ngày 16/3: thư hủy này cũng không có ý nghĩa vì đến hết ngày 15/3, B không trả lời thư chào hàng thì thư chào hàng đã tự hết hiệu lực (nên việc hủy 1 thư chào hàng đã hết hiệu lực là vô nghĩa)

    – Đối với chào hàng không thể hủy bỏ, nếu hết thời hạn được ấn định trong chào hàng về việc gửi chấp nhận chào hàng mà người được chào hàng không gửi chấp nhận chào hàng thì chào hàng tự hết hiệu lực

    – Đối với chào hàng có thể hủy bỏ, người chào hàng có thể hủy chào hàng nếu Thư hủy tới tay người được chào hàng trước khi người này gửi chấp nhận chào hàng

    Bài tập: Ngày gửi chào hàng: 10h ngày 1/8/2012

    Ngày nhận chào hàng: 9h ngày 03/08/2012

    Ngày gửi chấp nhận chào hàng: 9h ngày 24/8/2012

    Nếu chào hàng quy định: thời hạn gửi chấp nhận chào hàng là trước 10h ngày 25/8/2012

    Người bán có thể hủy chào hàng nếu thông báo hủy tới tay người được chào hàng:

    Trước 9h ngày 24/08/2012
    Trước 9h ngày 03/08/2012
    Trước 10h ngày 2082012
    Trả lời: Đây là chào hàng không thể hủy bỏ, thư hủy chỉ có thể hủy chào hàng nếu nó đến được tay người nhận chào hàng trước khi người này nhận được thư chào hàng ==> phương án B

    4.2. Chấp nhận chào hàng
    a. Khái niệm
    – Khoản 2 Điều 19 Công ước Viên 1980 (CISG): Chấp nhận chào hàng là sự trả lời của người được chào hàng với mục đích giao kết hợp đồng và có thể chứa đựng những điều khoản bổ sung nhưng không làm thay đổi nội dung cơ bản của chào hàng

    – Điều kiện của chấp nhận chào hàng:

    • phải đồng ý vô điều kiện với những nội dung cơ bản của chào hàng (hàng hóa, số lượng, giá cả, đồng tiền thanh toán): có thể thay đổi hoặc bổ sung điều khoản nhưng chỉ ở những điều khoản không cơ bản (vì nếu thay đổi điều khoản cơ bản thì sẽ trở thành Hoàn giá chào)
    • nếu chào hàng đưa ra thời hạn để chấp nhận chào hàng thì thư chấp nhận chào hàng phải được gửi trong thời hạn chấp nhận đó
    • nếu chào hàng không bằng văn bản, tức là chào hàng bằng lời nói (qua điện thoại) thì chấp nhận chào hàng phải được trả lời ngay lập tức
    • chấp nhận chào hàng phải được thể hiện dưới dạng mà người chào hàng có thể nhận biết được

    Chú ý: thực tế có xảy ra trường hợp bên chào hàng tuy nhận được thư chấp nhận chào hàng nhưng lại cố tình coi là không nhận được (để từ chối giao kết hợp đồng)

    Chú ý: im lặng không được coi là đồng ý. Theo CISG thì có trường hợp im lặng là đồng ý, có trường hợp là không đồng ý

    b. Giá trị pháp lý

    – Chấp nhận chào hàng phát sinh giá trị pháp lý vào thời điểm người chào hàng nhận được thư chấp nhận chào hàng.

    4.3. Thời điểm phát sinh giá trị pháp lý của Hợp đồng
    – Là thời điểm người chào hàng nhận được chấp nhận chào hàng

    – Chấp nhận chào hàng có thể bị hủy nếu Thư hủy chấp nhận chào hàng được gửi tới người chào hàng trước hoặc cùng lúc với thư chấp nhận chào hàng

    II. Incoterms 2010
    – Bộ 3 nguồn cơ bản thường được áp dụng trong thương mại quốc tế:

    • Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Tuy nhiên CISG không điều chỉnh đầy đủ các vấn đề của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, như :

    hiệu lực của hợp đồng
    trách nhiệm ngoài hợp đồng
    phân chia rủi ro, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu

    • Incoterms: bổ sung các vấn đề chưa được điều chỉnh trong CISG. Có nhiều bản Incoterms như bản Incoterms của phòng thương mại quốc tế (ICC), bản Incoterms của Hòa Kỳ, bản Incoterms của Anh
    • PICC: là bộ các nguyên tắc chung, mang tính tổng thể về hợp đồng thương mại quốc tế chung (trong khi CISG, Incoterms là chuyên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế), tức là bao gồm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng đại lý, hợp đồng môi giới, … PICC do 1 tổ chức phi chính phủ ở Châu Âu soạn thảo. Tuy nhiên PICC ít được áp dụng so với Incoterms vì nó quá rộng, không chuyên biệt như Incoterms; hơn nữa PICC được soạn thảo bằng tiếng Pháp nên khó phổ biến như tiếng Anh của Incoterms; và trong PICC có nhiều thỏa thuận mang tính lý thuyết, không mang tính thực tiễn. Trong thực tế, PICC mang tính “luật mẫu” để các quốc gia tham khảo và đưa ra luật của mình cho phù hợp với luật quốc tế.
    1. Giới thiệu chung về Incoterms
      – Incoterms (International Comercial Terms – Tập quán (điều kiện) thương mại quốc tế) là văn bản tập hợp các tập quán về mua bán hàng hóa quốc tế. Đây là nguồn luật cơ bản được các bên áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

    – Cơ quan soạn thảo và ban hành: Ủy ban luật và tập quán thương mại quốc tế – Phòng thương mại quốc tế (ICC)

    ICC là 1 tổ chức phi chính phủ. Ngoài việc soạn thảo và ban hành Incoterms thì ICC còn có nhiều hoạt động khác, nổi bật nhất là với vai trò Trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế.

    – Nội dung của Incoterms:

    • các dạng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: mỗi dạng là 1 quy tắc giáo nhận hàng hóa quốc tế
    • không điều chỉnh tất cả các vấn đề của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, mà tập trung chủ yếu vào công đoạn giao – nhận hàng hóa quốc tế: nghĩa vụ, chi phí và rủi ro trong quá trình giao hàng

    – Lịch sử:

    • bắt đầu soạn thảo: 1921
    • bản Incoterms đầu tiên: 1936
    • đã sửa đổi bổ sung 6 lần

    – Giá trị pháp lý của Incoterms:

    • về mặt pháp lý, các bản Incoterms có giá trị ngang nhau, các bên có thể lựa chọn bất kỳ bản Incoterms nào để áp dụng. Tuy nhiên trên thực tế các bên thường chọn bản Incoterms mới nhất. Bản Incoterms mới nhất hiện nay là Incoterms 2010
    • Incoterms không phải là luật, nên chỉ phát sinh giá trị pháp lý khi các bên thỏa thuận áp dụng trong hợp đồng, các bên sẽ phải ghi rõ bản Incoterms nào được sử dụng
    • thỏa thuận của các bên vẫn có giá trị cao nhất. Tức là mặc dù các bên đã thỏa thuận áp dụng Incoterms, nhưng vẫn có thể thỏa thuận 1 số điều khoản khác với quy định trong Incoterms, thậm chí có thể thỏa thuận trái ngược với Incoterms (tuy nhiên chỉ nên thỏa thuận khác với Incoterms ở những điểm “nhỏ”). VD các bên lựa chọn dạng hợp đồng EXW, trong đó quy định “người bán không có nghĩa vụ bốc xếp hàng hóa lên phương tiện vận tải của người mua”, thì các bên có thể thỏa thuận “người bán bốc xếp hàng hóa lên phương tiện vận tải của người mua”

    – Cấu tạo chung của Incoterms: mỗi bản Incoterms đưa ra 1 số điều kiện giao hàng khác nhau. VD: trong Incoterms 2010 có 11 điều kiện giao hàng.

    – Cấu tạo từng điều kiện của Incoterms:

    • mỗi điều kiện trong Incoterms có thể được coi là 1 dạng hợp đồng. Tuy nhiên vì Incoterms không điều chỉnh tất cả các vấn đề của hợp đồng nên các bên thường áp dụng đồng thời 1 nguồn khác, thường là CISG. Ví dụ trong Incoterms không điều chỉnh vấn đề trường hợp bất khả kháng, nhưng trong CISG lại điều chỉnh.
    • mỗi điều chứa 10 nghĩa vụ cơ bản của người bán và 10 nghĩa vụ cơ bản của người mua: liên quan tới thủ tục thông quan, chi phí vận tải, bảo hiểm, và các thủ tục khác

    – Các vấn đề cơ bản khi sử dụng Incoterms:

    • thời điểm phân chia chi phí và thời điểm phân chia rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: tức là quy định từ thời điểm nào bên bán sẽ hết trách nhiệm, từ thời điểm nào người bán thoát khỏi trách nhiệm rủi ro. Tuy nhiên Incoterms lại không quy định thời điểm nào sẽ chuyển giao quyền sở hữu giữa các bên.
    • các chi phí cần quan tâm: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, chi phí thông quan, chi phí vận tải, chi phí bảo hiểm, chi phí phát sinh, … Trong đó quan trọng nhất là chi phí thông quan (thuế và các loại phí) và chi phí vận tải (trong Incoterms là vận tải quốc tế)
    • phương tiện vận tải: đường biển, đường bộ, đường hàng không …
    • Incoterms không điều chỉnh hợp đồng vận tải và hợp đồng bảo hiểm (Incoterms chỉ đưa ra ai (bên mua hay bên bán) có nghĩa vụ phải thực hiện vận tải hay nghĩa vụ mua bảo hiểm)
    1. Giới thiệu chung về Incoterms 2010
      – Được sửa đổi bổ sung dựa trên Incoterms 2000

    – Các thay đổi (so với Incoterms 2000):

    • giảm số điều kiện: còn 11 điều kiện (so với 13 của Incoterms 2000)
    • tạo thêm điều kiện mới: DAT và DAP
    • tính đến các khu vực miễn thủ tục hải quan
    • tính đến thương mại điện tử, an ninh hàng hải
    1. Nội dung Incoterms 2010
      Chú ý: mặc dù tìm hiểu Incoterms 2010 nhưng sẽ sử dụng cách sắp xếp các điều kiện trong Incoterms 2000 (vì logic hơn, dễ hiểu hơn), theo đó các điều kiện được sắp xếp theo thứ tự: tăng dần nghĩa vụ của người bán, giảm dần nghĩa vụ của người mua.

    Trong Incoterms 2010, 11 điều kiện được chia làm 4 nhóm là Nhóm E, Nhóm F, Nhóm C, và Nhóm D

    a. Nhóm E

    – Chỉ gồm 1 điều kiện là EXW, trong đó người bán chỉ việc thu tiền, còn lại toàn bộ các việc khác (như xin giấy phép xuất khẩu, thuê phương tiện vận chuyển, thuê tàu, bốc xếp hàng hóa,…) đều do người mua thực hiện

    (1) EXW: (Ex Works – Giao tại xưởng) điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải

    • người bán có nghĩa vụ đặt hàng hóa dưới sự định đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc địa điểm đã chỉ định của người bán
    • người bán không xếp hàng lên phương tiện tiếp nhận
    • thủ tục thông quan xuất khẩu, nhập khẩu: người mua thực thiện

    Trong hợp đồng cần thể hiện rõ: EXW – [Tên địa điểm giao hàng] – Incoterms 2010.

    Ví dụ: EXW – Công ty TNHH ABC, 87 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội, Việt Nam – Incoterms 2010

    Nhược điểm: tại xưởng hay địa điểm của người bán thường là nơi có sẵn nhân lực, phương tiện bốc xếp của người bán, nhưng lại không được sử dụng để bốc hàng lên phương tiện tiếp nhận (của người mua)

    Hai bên có thể thỏa thuận để người bán bốc hàng lên phương tiện tiếp nhận của người mua

    ==> gọi là điều kiện EXW-Bốc xếp

    Nhận xét: người bán chỉ có sản xuất, không có bất kỳ nghĩa vụ nào khác ==> do đó giá bán hàng theo EXW là mức giá thấp nhất

    Trong thực tế, EXW rất ít được sử dụng trong thương mại quốc tế, nó thường được dùng trong các hợp đồng trung gian, tức là bên mua đi mua hàng để bán lại cho người khác.

    b. Nhóm F

    – Gồm 3 điều kiện là FCA, FAS, và FOB. Cả 3 điều kiện này đều có chung từ Free, tức là không có trách nhiệm với chặng vận tải chính (là việc vận chuyển từ cảng bốc hàng đến cảng dỡ hàng); còn khác nhau là trách nhiệm vận chuyển hàng từ cơ sở của người bán lên tàu:

    (2) FCA: (Free Carrier – Giao hàng cho người chuyên chở) điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải

    • người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc người khác do người mua chỉ định tại cơ sở của người bán hoặc địa điểm chỉ định khác

    Giao tại cơ sở của người bán: người bán có trách nhiệm bốc hàng lên phương tiện chuyên chở của người mua
    Giao tại địa điểm khác: người bán có trách nhiệm chở hàng đến địa điểm đó, và tình trạng của hàng hóa là sẵn sàng để dỡ ==> trách nhiệm dỡ hàng xuống và bốc hàng lên phương tiện vận tải của người mua thuộc về người mua

    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu

    (3) FAS: (Free alongside – Giao dọc mạn tàu) điều kiện dùng cho vận tải đường biển hoặc đường thủy nội địa

    • người bán có nghĩa vụ giao hàng khi hàng hóa được đặt dọc con tàu mà người mua chỉ định tại cảng giao hàng: tức là người mua ký hợp đồng vận tải, trong hợp đồng vận tải sẽ chỉ định con tàu, người bán dùng phương tiện vận tải của mình đưa hàng đến cảng, dỡ hàng khỏi phương tiện vận tải của mình và xếp dọc mạn tàu
    • nếu hàng đóng trong container: nên giao theo FCA-bến
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu

    (4) FOB: (Free on Board – Giao trên tàu) điều kiện dùng cho vận tải đường biển hoặc đường thủy nội địa

    • người bán có nghĩa vụ giao hàng lên con tàu mà người mua chỉ định tại cảng giao hàng hoặc mua được hàng hóa đã sẵn sàng để giao như vậy: tương tự như FAS, nhưng khác ở chỗ là người mua sẽ giao hàng lên hẳn tàu (chứ không để dọc lan can tàu như FAS)
    • nếu hàng đóng trong container: nên giao theo FCA-bến
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu

    c. Nhóm C

    – Gồm 4 điều kiện là CFR, CIF, CPT, CIP. Trong nhóm điều kiện này, người bán ngoài việc chuyên chở hàng hóa lên tàu, thì còn đảm nhiệm luôn cả việc vận chuyển hàng hóa đến cảng của người mua. Khác với nhóm E và nhóm F khi mà người bán kết thúc trách nhiệm rủi ro cũng là thời điểm kết thúc trách nhiệm chi phí, thì đối với các tập quán của nhóm C, thời điểm phân chia rủi ro không phải là thời điểm kết thúc trách nhiệm chi phí.

    (5) CFR: (Cost and Freight – Tiền hàng và cước phí vận tải) điều kiện dùng cho vận tải đường biển hoặc đường thủy nội địa

    • người bán có nghĩa vụ giao hàng lên con tàu tại cảng giao hàng hoặc mua được hàng hóa đã sẵn sàng để giao như vậy và phải trả các chi phí cần thiết để đưa hàng hóa tới nơi đến.
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu
    • người mua làm thủ tục nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu
    • chú ý 2 điểm tới hạn:

    thời điểm phân chia rủi ro: thời điểm người bán hoàn thành giao hàng lên tàu (giống với FOB)
    thời điểm phân chia chi phí: người bán phải trả chi phí cho đến khi hàng đến được cảng của người mua (chi phí dỡ hàng do người mua chịu)
    Tức là nếu hàng hóa đang trên đường vận chuyển mà bị chìm, bị cướp thì cũng không phải trách nhiệm của người bán (mà người mua phải chịu)

    Bất cập của các tập quán nhóm C: người bán chọn nhà vận tải để vận chuyển hàng hóa, nhưng lại không chịu rủi ro trên đường vận tải. Như vậy nếu địch vụ vận tải không đảm bảo thì người mua sẽ phải chịu hoàn toàn rủi ro.

    (6) CIF: (Cost,Insurance and Freight – Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí vận tải) điều kiện dùng cho vận tải đường biển hoặc đường thủy nội địa

    • người bán có nghĩa vụ giao hàng lên con tàu tại cảng giao hàng hoặc mua được hàng hóa đã sẵn sàng để giao như vậy và phải trả các chi phí cần thiết để đưa hàng tới nơi đến và trả chi phí bảo hiểm ở mức tối thiểu (thường giá trị bảo hiểm bằng 110% giá trị hàng hóa).
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu
    • người mua làm thủ tục nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu
    • chú ý 2 điểm tới hạn:

    thời điểm phân chia rủi ro: thời điểm người bán hoàn thành giao hàng lên tàu (giống với FOB)
    thời điểm phân chia chi phí: người bán phải trả chi phí cho đến khi hàng đến được cảng của người mua và trả chi phí bảo hiểm (chi phí dỡ hàng do người mua chịu)
    (7) CPT: (Carriage paid to – Cước phí trả tới) điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải

    • người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc người khác do người bán chỉ định tại nơi thỏa thuận, người bán ký hợp đồng vận tải và thanh toán cho đến khi hàng đến đại điểm người mua
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu
    • người mua làm thủ tục nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu

    Đặc điểm nổi bật của CPT là ở chỗ giống hệt CFR, ngoài ra còn thêm cước phí vận chuyển từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người mua chỉ định nằm trong nội địa nước nhập khẩu:

    CPT= CFR + f (Cước phí vận chuyển từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người mua chỉ định nằm trong nội địa nước nhập khẩu).

    • chú ý 2 điểm tới hạn:

    thời điểm phân chia rủi ro: thời điểm người bán giao hàng cho người chuyên chở
    thời điểm phân chia chi phí: người bán phải trả chi phí cho đến khi hàng đến được địa điểm của người mua (thường nằm sâu trong nội địa của nước nhập khẩu chi phí dỡ hàng do người mua chịu)
    Tức là nếu hàng hóa đang trên đường vận chuyển mà bị chìm, bị cướp thì cũng không phải trách nhiệm của người bán (mà người mua phải chịu)

    (8) CIP: (Carriage and insurance paid to – Cước phí và bảo hiểm trả tới) điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải

    • người bán giao hàng cho người chuyên chở do người bán lựa chọn và người bán trả chi phí cho tới khi hàng tới địa điểm người mua và người bán trả chi phí bảo hiểm ở mức tối thiểu (thường giá trị bảo hiểm bằng 110% giá trị hàng hóa)
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu
    • người mua làm thủ tục nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu

    Chú ý: CIP khác CIF ở chỗ CIP không đòi hỏi vận đơn đường biển ==> CIP không áp dụng cho vận tải đường biển hoặc đường thủy nội địa.

    Việc người bán phải mua bảo hiểm thường trong tập quán mà người bán chọn hãng vận tải mà người mua phải chịu rủi ro (trong CIF, CIP)

    d. Nhóm D

    – Gồm 3 tập quán (điều kiện) là DAT, DAP, và DDP. Đối với nhóm E, F, C thì việc bàn giao hàng hóa diễn ra ở nước xuất khẩu, còn đặc trưng của nhóm D là việc bàn giao hàng hóa diễn ra ở nước nhập khẩu. Tức là người bán có trách nhiệm vận chuyển hàng đến tận địa điểm của người mua.

    (9) DAT: (Delireres at terminal – Giao tại bến) điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải

    • người bán giao hàng khi hàng hóa đã được dỡ khỏi phương tiện vận tải, được đặt dưới sự định đoạt của người mua tại 1 bến chỉ định tại cảng hoặc nơi đến chỉ định
    • bến: bất kỳ địa điểm nào trong bến hay trong cảng, dù có mái che hay không, có thể là cầu tàu, nhà kho, bãi container hay đường bộ, đường sắt hay nhà ga sân bay
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu
    • người mua làm thông quan nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu

    (10) DAP: (Delivered at place – Giao tại nơi đến) (tức là giao hàng tại kho bãi của người mua) điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải

    • người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới sự định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải, sẵn sàng để dỡ tại nơi đến quy định
    • người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu
    • người mua làm thông quan nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu

    Chú ý: với tập quán DAP thì người bán sẽ phải chuyển hàng vào sâu trong nội địa của nước nhập khẩu, trong khi việc làm thủ tục thông quan nhập khẩu lại là của người mua ==> người bán sẽ phải chờ người mua làm thủ tục thông quan nhập khẩu để có thể hoàn thành trách nhiệm. Như vậy nếu người mua vì lý do nào đó làm chậm thủ tục thông quan nhập khẩu thì hàng hóa sẽ phải lưu kho, lưu bãi ==> các chi phí này cần được thỏa thuận rõ trong hợp đồng (thường do người mua chịu)

    (11) DDP: (Delivered duty paid – Giao hàng đã thông quan nhập khẩu) điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải

    • người bán giao hàng khi hàng hóa đó đã được thông quan nhập khẩu, được đặt dưới sự định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải, sẵn sàng để dỡ tại nơi đến quy định
    • người bán làm thông quan nhập khẩu: nộp thuế nhập khẩu, thuế VAT, … và các thủ tục khác

    Như vậy, tập quán DDP thể hiện nghĩa vụ tối đa của người bán. Ngược hẳn với EXW thể hiện nghĩa vụ tối thiểu của người bán.

    Bài tập:

    (1) Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa bên VN và Singapore xảy ra tranh chấp trong khi dỡ hàng tại cảng đến, hàng bị rơi từ cần cẩu xuống nước, xác định rủi ro thuộc về bên mua hay bên bán trong các dạng hợp đồng: FOB, CIF, DAT, DAP ?

    Trả lời:

    • FOB: thời điểm phân chia rủi ro là khi người bán hoàn thành giao hàng lên tàu ==> rủi ro thuộc về người mua
    • CIF: thời điểm phân chia rủi ro là khi người bán hoàn thành giao hàng lên tàu ==> rủi ro thuộc về người mua
    • DAT: thời điểm phân chia rủi ro là khi hàng hóa đã được dỡ khỏi phương tiện vận tải và được đặt dưới sự định đoạt của người mua tại bến ==> rủi ro thuộc về người bán (vì hàng hóa chưa được đặt xuống bến)
    • DAP: thời điểm phân chia rủi ro là khi hàng hóa đã được vận chuyển đến tận địa chỉ người mua, tức là đã phải qua bến cảng ==> rủi ro thuộc về người bán

    (2) Hợp đồng xuất khẩu gạo giữa bên VN và bên Singapore xảy ra tranh chấp, trên đường vận chuyển từ VN sang Singapore gạo bị ngấm nước biển và hư hại. Xác định rủi ro thuộc về bên mua hay bên bán trong các dạng hợp đồng: FOB, CIF, DAT, DAP ?

    Trả lời:

    • FOB: bên mua
    • CIF: bên mua
    • DAT: bên bán
    • DAP: bên bán

    (3) Một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa bên VN và Singapore xảy ra tranh chấp khi dỡ hàng từ phương tiện chuyên chở ra bến tại cảng đến, người chuyên chở yêu cầu thanh toán các chi phí phát sinh ngoài hợp đồng vận tải. Xác định chi phí thuộc về bên mua hay bên bán trong các dạng hợp đồng FOB, CIF, DAT, DAT ?

    Trả lời:

    • FOB: người mua
    • CIF: người mua
    • DAT: người bán
    • DAP: người bán

    (4) Một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa A và B theo đó hàng hóa được chuyên chở theo lộ trình A – C – B. Tại cảng C, khi dỡ hàng từ phương tiện cũ sang phương tiện vận tải mới thì hàng bị rơi xuống nước. Xác định rủi ro thuộc về bên nào trong các dạng hợp đồng FOB, FAS, CFR, DDP ?

    Trả lời:

    • FOB: bên mua
    • FAS: bên mua
    • CFR: bên mua
    • DDP: bên bán

    (5) Một hợp đồng mua bán quặng FOB – Cảng X – Incoterms 2010 được giao kết giữa A và B. Khi hàng được vận chuyển từ cảng X đến cảng Y, bên B đã giao kết hợp đồng CFR-Float (giao hàng nổi) với bên C, bán lại toàn bộ số hàng hóa trên. Tuy nhiên, ngay sau đó có tin quặng ngậm nước và bị chìm, rủi ro xảy ra trước thời điểm bên B giao kết hợp đồng với bên C. Xác định rủi ro thuộc về ai, A, B hay C ?

    Trả lời: C phải chịu rủi ro. Vì theo hợp đồng FOB giữa A và B thì rủi ro thuộc về B (vì A đã hoàn thành giao hàng lên tàu); theo hợp đồng CFR giữa B và C thì rủi ro thuộc về C vì thời điểm phân chia rủi ro là khi người bán (là B) đã hoàn thành giao hàng lên tàu, mà ở đây thì hàng đương nhiên đã được giao trên tàu (vì B bán theo kiểu “trao tay” từ A sang C). (mặc dù ở đây thời điểm ký hợp đồng thì hàng hóa đã bị chìm trước đó, theo lý lẽ thông thường thì rất bất công cho C, rằng B đã “lừa dối” khi bán hàng hóa đã bị chìm cho C)

    Đây là vấn đề gây rất nhiều tranh chấp trong thực tế, nguyên nhân của rắc rối này là do trong Incoterms không hề đề cập đến vấn đề hiệu lực của hợp đồng, đến mức ICC (phòng thương mại quốc tế) đã phải ra khuyến cáo riêng về CFR-Float, theo đó các bên phải ghi rõ trong hợp đồng thỏa thuận về tình huống nêu trên, thông thường các bên sẽ quy định thêm ngoài việc áp dụng tập quán CFR-Float là việc sẽ áp dụng thêm pháp luật quốc gia (tùy 2 bên thỏa thuận, thường sẽ chọn PL quốc gia bên mua) về điều kiện và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, và hầu hết các quốc gia đều quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng đều là từ thời điểm 2 bên ký kết hợp đồng.

    (6) Thực tiễn các hợp đồng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp VN là “mua CIF bán FOB” (tức là hợp đồng nhập khẩu thường dùng CIF, hợp đồng xuất khẩu thường dùng FOB). Xác định các khẳng định đúng theo thực tiễn này:

    (a) Thúc đẩy ngành hàng hải của VN phát triển

    (b) Doanh nghiệp VN muốn tận dụng quyền chọn công ty vận chuyển

    (c) Doanh nghiệp tránh chọn công ty vận chuyển

    (d) Nguyên nhân khiến ngành hàng hải không có cơ hội phát triển

    (e) Mua rẻ – bán đắt (chi phí nhập khẩu thấp – chi phí xuất khẩu cao) ==> xuất siêu

    (f) Mua đắt – bán rẻ (chi phí nhập khẩu cao – chi phí xuất khẩu thấp) ==> nhập siêu

    Trả lời:

    • Khẳng định A, B sai.
    • Khẳng định C là đúng, nguyên nhân là doanh nghiệp VN có rất ít kinh nghiệm về vấn đề vận tải hàng hải, lo sợ gặp rủi ro ==> do đó “nhường” quyền chọn nhà cung cấp dịch vụ vận tải cho đối tác nước ngoài
    • Khẳng định D là đúng. Vì khi doanh nghiệp VN đã nhường quyền chọn nhà cung cấp dịch vụ vận tải cho đối tác nước ngoài thì đương nhiên đối tác nước ngoài sẽ chọn công ty ở nước họ hoặc những công ty vận chuyển mà họ quen biết. Do đó ngành hàng hải VN không có cơ hội để phát triển.
    • Khẳng định E sai
    • Khẳng định F đúng

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VI

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VI

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VI cung cấp cái nhìn tổng quan về thanh toán quốc tế, một yếu tố thiết yếu trong giao dịch thương mại toàn cầu. Chương VI sẽ giải thích các phương thức thanh toán quốc tế phổ biến, bao gồm tín dụng chứng từ, chuyển tiền, và thanh toán bằng thư tín dụng, đồng thời phân tích ưu và nhược điểm của từng phương thức. Bên cạnh đó, sinh viên sẽ tìm hiểu về các quy định pháp lý liên quan đến thanh toán quốc tế, các tổ chức tài chính tham gia và vai trò của họ trong việc đảm bảo an toàn và minh bạch trong giao dịch.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VI

    Chương 6: Thanh toán quốc tế

    I. Phương tiện thanh toán quốc tế

    1. Séc (Check)
      – Là phương tiện thanh toán truyền thống, ra đời gần như sớm nhất trong các phương tiện thanh toán, đồng thời séc cũng là cơ sở để phát triển các phương tiện thanh toán khác như hối phiếu.

    a. Cơ sở pháp lý

    – Công ước Geneva 1931 về séc

    – Luật mẫu về séc quốc tế của UNCITRAL 1982

    – Quy định của mỗi quốc gia về séc (trong đó Luật về séc của Anh rất phát triển, đã được nhiều nước tham khảo)

    b. Khái niệm

    – Theo luật thống nhất về séc – Công ước Geneva 1931: Séc là tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do 1 khách hàng của ngân hàng ký phát cho ngân hàng đó, yêu cầu ngân hàng đó phải trả 1 khoản tiền từ tài khoản của mình cho người mang séc hoặc người được chỉ định trên séc.

    – Theo luật hối phiếu của Anh 1982: séc là hối phiếu được lập ra đối với ngân hàng để thanh toán khi có yêu cầu.

    – Các bên liên quan:

    • người phát hành séc – người ký phát: chủ tài khoản, người mua, người trả tiền
    • người bị ký phát: người bị yêu cầu phải chi trả khoản tiền (thường là ngân hàng)
    • người hưởng lợi: là người được ngân hàng trả tiền
    • người chuyển nhượng séc: là người chuyển quyền thụ hưởng séc cho người khác

    c. Các đặc điểm của séc

    – Séc có giá trị như tiền mặt:

    • séc ra đời từ chức năng phương tiện thanh toán của tiền tệ
    • có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền mặt: khi người được hưởng lợi nhận séc có thể coi như việc thanh toán đã xong (có thể mang ra ngân hàng đổi lấy tiền mặt)

    – Séc là 1 loại hối phiếu trả ngay: khi trình séc với ngân hàng thì sẽ được nhận tiền ngay lập tức

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VI'
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương VI’

    d. Điều kiện ký phát séc

    – Có tiền trong tài khoản của người ký phát:

    • tại thời điểm ký phát
    • tại thời điểm séc được xuất trình nhận thanh toán

    – Số tiền ghi trên séc phải nhỏ hơn số tiền có trong tài khoản. Nếu không có đủ tiền trong tài khoản thì người ký phát séc phải có tài khoản thấu chi tại ngân hàng.

    – Người phát hành séc phải có đủ năng lực pháp lý

    – Séc phát hành phải trên mẫu in sẵn của ngân hàng

    e. Sử dụng séc

    – Tại VN: thông dụng trong thanh toán nội địa, trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hầu như không dùng séc (lý do là vì các bên thường không gặp nhau trực tiếp để trao séc, thời điểm phân chia rủi ro và thời điểm thanh toán không trùng nhau ==> sẽ bất lợi cho 1 bên)

    – Trên phạm vi quốc tế: được dùng trong thanh toán các khoản tiền nhỏ

    1. Hối phiếu (Bill of Exchange)
      – Khái niệm: là tờ lệnh đòi tiền vô điều kiện do 1 người ký phát cho 1 người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy lệnh, hoặc đến ngày cụ thể nhất định, hoặc đến ngày có thể xác định trong tương lai, phải trả số tiền nhất định cho người nào đó, hoặc theo yêu cầu của người này trả cho người khác, hoặc trả cho người cầm tờ lệnh đó.

    Như vậy séc về bản chất là 1 loại hối phiếu, và là 1 loại hối phiếu “trả ngay”.

    – Hối phiếu được sử dụng khá thông dụng trong thanh toán quốc tế hiện nay.

    1. Kỳ phiếu (Pronissory note)
      – Là 1 giấy nhận nợ do người lập phiếu phát ra cam kết trả tiền vô điều kiện vào 1 ngày nhất định cho người hưởng lợi, hoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho người khác được quy định trong kỳ phiếu đó.

    – Đặc điểm:

    • là 1 công cụ hứa trả tiền: chú ý: kỳ phiếu không phải là công cụ để buộc bên có nghĩa vụ thanh toán phải chi trả tiền ngay lập tức
    • thường kèm theo yêu cầu bảo lãnh cho kỳ phiếu: đây là giấy nhận nợ, VD bên mua ký hợp đồng nhập khẩu và có nghĩa vụ phải thanh toán nhưng họ lại chưa có khả năng chi trả vào lúc đó, nên họ sẽ ký 1 kỳ phiếu để hứa sẽ trả vào 1 ngày nhất định, và để có giá trị thì kỳ phiếu phải được bên thứ 3 bảo lãnh, thường là Chính phủ sẽ đứng ra bảo lãnh.
    • không yêu cầu chấp nhận kỳ phiếu trong quá trình lưu thông: kỳ phiếu thường chỉ được sử dụng ở những bước đầu tiên trong quá trình xuất nhập khẩu khi các bên chưa có khả năng chi trả, và khi đến thời hạn chi trả thì bên bán hàng sẽ mang kỳ phiếu đến để yêu cầu lập hối phiếu.
    • kỳ phiếu được ký phát trước cho người thụ hưởng trước khi người này thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
    • So sánh séc, hối phiếu, kỳ phiếu: Séc Hối phiếu Kỳ phiếu
      Bản chất
      Điều kiện thanh toán
      Tính chuyển nhượng Không được phép chuyển nhượng
      Phạm vi sử dụng
      Vị trí của người ký phát

    II. Phương thức thanh toán

    1. Chuyển tiền (chuyển khoản)
      – Nội dung:
    • 1 người yêu cầu ngân hàng chuyển số tiền nhất định cho người hưởng lợi ở địa điểm nhất định
    • chuyển tiền: người yêu cầu có thể đến ngân hàng để viết giất chuyển tiền, hoặc có thể thực hiện qua điện báo hoặc thư báo

    – Chuyển tiền là phương pháp đơn giản, được áp dụng khi 2 bên mua bán có lòng tin với nhau rất cao, nên phù hợp với các giao dịch nội địa, rất ít được sử dụng trong xuất nhập khẩu.

    1. Nhờ thu
      – Là phương thức thanh toán trong đó người bán, sau khi giao hàng hóa hoặc dịch vụ cho người mua, ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hóa hoặc dịch vụ đó.

    – Điều chỉnh bởi:

    • các quy tắc thống nhất về nhờ thu của ICC
    • các quy định trong nước

    – Phân loại nhờ thu:

    • căn cứ vào thời hạn:

    Nhờ thu trả ngay: người mua / người nhập khẩu phải thanh toán tiền ngay khi nhận bộ chứng từ
    Nhờ thu trả chậm: người mua không phải thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được ký phát bởi người bán / người xuất khẩu

    • căn cứ theo chứng từ:

    Nhờ thu phiếu trơn: chỉ gồm Hối phiếu và yêu cầu nhờ thu của ngân hàng của người xuất khẩu
    Nhờ thu kèm chứng từ: ngoài Hối phiếu, Yêu cầu nhờ thu của ngân hàng, còn có bộ chứng từ gửi hàng. Khi đó người nhập khẩu muốn nhận hàng hóa thì phải đồng ý trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu (để được ngân hàng giao cho bộ chứng từ gửi hàng)
    Hiện nay, hầu hết nhờ thu là nhờ thu trả ngay, hoặc nhờ thu kèm chứng từ

    1. Phương thức tín dụng chứng từ (L/C – Letter of Credit – Thư tín dụng)
      – Đây là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, mặc dù khá phức tạp nhưng nó đảm bảo sự an toàn cho cả bên bán và bên mua. Phương thức này ra đời vào năm 1993.

    – Nội dung: 1 ngân hàng (phát hành – nơi mở L/C) theo yêu cầu của 1 khách hàng sẽ trả tiền cho người thứ 3 hoặc theo lệnh của người thứ 3 (người hưởng lợi); hoặc trả, chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người hưởng lợi phát hành; hoặc ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán; chấp nhận, thanh toán hoặc cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ.

    – Trong các hợp đồng xuất, nhập khẩu, thì việc mở Thư tín dụng thường là 1 trong các điều khoản bảo lưu của hợp đồng, tức là kiều kiện đó được thực hiện thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý.

    Thông thường bên nhập khẩu phải mở L/C thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý và khi đó bên xuất khẩu mới phát sinh nghĩa vụ gửi hàng. Sau khi gửi hàng, bên xuất khẩu sẽ mang bộ chứng từ tới ngân hàng tại nước xuất khẩu (thường là đại lý hoặc chi nhánh của ngân hàng đã mở L/C) để được nhận thanh toán. Chú ý: để được thanh toán thì bộ chứng từ phải là bộ chứng từ “sạch”, tức là bộ chứng từ mà nhà vận chuyển xác nhận rằng:

    • hàng hóa đủ số lượng, đúng chủng loại hợp đồng
    • phải đóng gói đúng theo quy chuẩn

    Tình huống: 1 thương nhân VN ký hợp đồng xuất khẩu với 1 thương nhân nước ngoài, trong đó có quy định điều kiện bảo lưu là mở L/C, tuy nhiên khi bên nhập khẩu chưa mở L/C thì bên xuất khẩu đã gửi hàng. Khi bên xuất khẩu mang bộ chứng từ tới ngân hàng để thanh toán thì bên nhập khẩu cho rằng hợp đồng vô hiệu vì điều khoản bảo lưu đã không được thực hiện. Hỏi khi đó thì ngân hàng có thanh toán cho bên xuất khẩu không ? Các mốc thời gian: ngày 20/3 ký hợp đồng, ngày 24/3 bên xuất khẩu gửi hàng, ngày 26/3 bên nhập khẩu mở L/C, ngày 27/3 bên xuất khẩu mang chứng từ ra ngân hàng yêu cầu thanh toán.

    Trả lời: Đây là 1 tranh chấp “mẫu” rất phổ biến trong thời điểm đầu áp dụng L/C.

    Ở đây, nếu theo đúng điều kiện bảo lưu thì hợp đồng xuất nhập khẩu chưa có hiệu lực vào ngày 24/3, do đó số hàng hóa được gửi từ ngày 24/3 là hàng hóa không có trong hợp đồng, và bên nhập khẩu không có nghĩa vụ phải thanh toán.

    Trong thực tế, khi vụ việc được đưa ra trọng tài thương mại, thì theo phán quyết của trọng tài, ngày 26/3 là ngày hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp lý, chứ không phải là từ ngày 26/3 các bên mới được phép thực hiện các công việc của hợp đồng, như vậy bên xuất khẩu thực hiện giao hàng từ ngày 24/3 vẫn được coi là thực hiện công việc của hợp đồng, và bên nhập khẩu vẫn phải chấp nhận lô hàng và phải thanh toán cho bên xuất khẩu.

    Tình huống: Nhà xuất khẩu ở thành phố Hồ Chí Minh, người mua hàng ở Ấn Độ, nơi đưa hàng đến là thành phố Osaka, Nhật Bản. Hãy lựa chọn điều kiện thương mại Incoterms 2010 thích hợp cho các trường hợp sau:

    (1) Hàng hóa là gạo 8000 tấn, người bán sau khi làm thủ tục xuất khẩu thuê phương tiện vận tải, trả cước phí vận tải, mua bảo hiểm cho hàng hóa. Địa điểm chuyển rủi ro về hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua sau khi hàng giao lên phương tiện vận tải ở nước xuất khẩu.

    (2) Hai bên mua bán hoàn toàn chấp thuận các điều kiện đã nêu ở mục (a), nhưng thay đổi địa điểm chuyển rủi ro: sau khi người bán giao hàng an toàn trên phương tiện vận tải ở nước nhập khẩu.

    (3) Nếu người bán sau khi làm thủ tục xuất khẩu sẽ giúp người mua thuê phương tiện vận tải để chuyên chở gạo đến thành phố Osaka, Nhật Bản nhưng cước phí vận tải người mua sẽ trả ở cảng tới. Bảo hiểm vận chuyển hàng hóa người mua tự thực hiện.

    (4) Hàng hóa là gốm sứ mỹ nghệ 10 tấn. Người bán sau khi làm thủ tục xuất khẩu giao hàng cho người vận tải là hết nghĩa vụ. Người mua thực hiện các công việc khác để đưa hàng đến nơi nhập khẩu tại Osaka, Nhật Bản.

    (5) Hai bên mua bán chấp nhận hoàn toàn các điều kiện nêu ở mục (d) nhưng đề nghị người bán thực hiện các công việc có liên quan đến vận tải và mua bảo hiểm cho hàng hóa, rủi ro về hàng hóa được chuyển từ người bán sáng người mua sau khi người bán giao hàng cho người vận tải tại nước xuất khẩu.

    Trả lời:

    (1) CIP-Thành phố Hồ Chí Minh – Incoterms 2010. Chú ý: nếu sử dụng vận tải đường biển thì sẽ dùng CIF

    (2) DAP-[địa điểm của người mua]-Incoterms 2010. Chú ý: địa điểm của người mua phải chính xác, VD “87 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội”, chứ không được ghi chung chung là “Hà Nội”

    (3) Có thể chọn bất kỳ tập quán nào trong nhóm F và có sự thỏa thuận thêm là người bán sẽ giúp người mua thuê phương tiện vận tải và người mua sẽ trả cước phí đó. Nếu không nói rõ vận tải bằng đường biển thì dùng FCA

    (4) Có thể chọn bất kỳ tập quán nào trong nhóm F. Nếu không nói rõ vận tải bằng đường biển thì dùng FCA

    (5) Có thể sử dụng tập quán CIP hoặc CIF. Nếu không nói rõ sử dụng vận tải bằng đường biển thì dùng CIP

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương IV

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương IV

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương IV đi sâu vào cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), một phần không thể thiếu trong hệ thống thương mại toàn cầu. Chương IV sẽ trình bày các quy trình, bước đi và phương thức giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, bao gồm từ giai đoạn tham vấn đến việc thành lập các ban hội thẩm và thực hiện phán quyết. Ngoài ra, sinh viên sẽ tìm hiểu về vai trò của cơ quan giải quyết tranh chấp và những thách thức mà nó đối mặt trong thực tiễn.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương IV

    Chương 4: Cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO

    – Tranh chấp trong TMQT xảy ra khi:

    • thành viên vi phạm nghĩa vụ
    • thành viên không vi phạm nghĩa vụ nhưng gây thiệt hại cho thành viên khác

    – Có 4 nhóm giải quyết tranh chấp:

    • tham vấn
    • môi giới / trung gian / hòa giải
    • giải quyết tranh chấp trước DSB
    • giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

    – Giải quyết tranh chấp TMQT trong khuôn khổ WTO là cách thức hóa giải mâu thuẫn một cách “hòa bình”, nhằm đưa mọi thứ trở về đúng quy định đã thỏa thuận trong WTO chứ không nhằm “trừng phạt” thành viên vi phạm. WTO cũng không có chế tài để cưỡng chế thành viên vi phạm, mà WTO trao quyền thực thi phán quyết cho chính các thành viên của mình. (khác với quy định về trừng phạt rất nghiêm khắc của Tòa án công lý của Liên minh châu Âu như buộc phải nộp tiền phạt)

    – Trước 1995, cách thức giải quyết tranh chấp của WTO còn mang nặng tính “ngoại giao”, phụ thuộc vào kết quả đàm phán giữa các bên, vai trò của WTO khá mờ nhạt. Tuy nhiên, kể từ 1/1/1995, khi WTO chính thức ra dời dựa trên GATT 1947, thì WTO đã đặt ra 1 hệ thống giải quyết công bằng và tăng tính tư pháp.

    Tuy nhiên về bản chất thì cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO vẫn là cơ quan “bán tư pháp” chứ chưa hoàn toàn là tư pháp, và tính hiệu quả của cơ quan này không được đánh giá cao khi tham gia giải quyết những tranh chấp phức tạp.

    Mặc dù vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO vẫn được coi là hiệu quả trong giai đoạn hiện nay, và là hình mẫu của các tổ chức quốc tế khác (như ASEAN hầu như áp dụng nguyên cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO)

    I. Thẩm quyền, nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp tại cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

    1. Giới thiệu DSB
      a. Khái niệm
      – DSB (Dispute Settlement Body) là cơ quan giải quyết tranh chấp được thành lập theo thỏa thuận DSU (Điều 1 DSU)

    – DSB là Đại hội đồng WTO (Khoản 3 Điều 4 Hiệp định Marrakesh): WTO không thành lập cơ quan giải quyết tranh chấp hoàn toàn độc lập và tách rời khỏi cơ cấu tổ chức chung của WTO (như với Tòa công lý trong EU), mà Đại hội đồng WTO vừa là cơ quan thường trực, vừa là cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Nghĩa là các thành viên của DSB cũng chính là đại diện của các nước thành viên trong Đại hội đồng. DSB có 1 Chủ tịch riêng độc lập hoàn toàn với Giám đốc WTO và được hỗ trợ bởi Ban thư ký của WTO trong quá trình tiến hành các thủ tục giải quyết tranh chấp.

    – Tuy nhiên DSB chỉ tham gia một số bước trong quá trình của thủ tục giải quyết tranh chấp, phần lớn các bước do 2 cơ quan giúp việc của DSB thực hiện: là Panel và Cơ quan phúc thẩm.

    b. Cơ quan giúp việc cho DSB

    – Panel: Ban hội thẩm / Nhóm chuyên gia

    • khái niệm: là cơ quan do DSB thành lập theo yêu cầu của ít nhất 1 bên trong từng vụ kiện, giúp DSB làm tròn chức năng giải quyết tranh chấp. Panel là cấp xét xử đầu tiên của hệ thống giải quyết tranh chấp.

    Chú ý: Panel có đặc điểm giống với Tòa ad-hoc khi đều được thành lập theo từng vụ việc tranh chấp. Tuy nhiên với khác với tòa ad-hoc, panel không có thẩm quyền đưa ra phán quyết để giải quyết tranh chấp mà chỉ đưa ra tư vấn, khuyến nghị giúp DSB giải quyết tranh chấp.

    • tính chất: là cơ quan vụ việc, tự giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ
    • Panel hoạt động theo đúng trình tự quy định trong DSU – Thỏa thuận các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding).
    • thành viên Panel: với mỗi tranh chấp, có thể lựa chọn 3-5 chuyên gia tham gia vào Panel, theo nguyên tắc các chuyên gia này không được mang quốc tịch của các bên tranh chấp và các bên liên quan

    – Cơ quan phúc thẩm (AB – Appelate Body)

    • khái niệm: là cơ quan thường trực do DSB thành lập để xem xét kháng cáo về các vụ việc của Panel. AB là cấp xét xử thứ 2 của hệ thống giải quyết tranh chấp.
    • tính chất: là cơ quan thường trực
    • thành viên AB: gồm 7 chuyên gia có nhiệm kỳ 4 năm và mỗi người có thể được tái bổ nhiệm 1 lần, mỗi vụ việc sẽ do 3 chuyên gia xét xử
    1. Thẩm quyền
      a. Thẩm quyền của DBS
      – Giải quyết các tranh chấp xảy ra khi 1 thành viên nhận thấy 1 lợi ích thu được 1 cách trực tiếp hay gián tiếp bị vô hiệu hay vi phạm do:
    • 1 thành viên không hoàn thành các nghĩa vụ đã cam kết (gọi là Tranh chấp do vi phạm)
    • 1 thành viên áp dụng 1 biện pháp nào đó, dù biện pháp này có thể trái với quy định của WTO hay không, nhưng gây thiệt hại cho thành viên khác (gọi là Tranh chấp không do vi phạm)
    • sự tồn tại 1 tình huống bất kỳ nào khác (thực tế đến nay chưa xảy ra)

    – Phạm vi tranh chấp: giải quyết các tranh chấp liên quan đến các “hiệp định liên quan”, gồm:

    • hiệp định thành lập WTO
    • các hiệp định thương mại đa phương
    • các hiệp định thương mại tùy nghi của 1 số thành viên

    Ngoại trừ cơ chế rà soát thương mại (Điều 1 DSU)

    Chú ý: các thành viên của WTO cũng có thể tham gia 1 hiệp định đa phương khác, khi đó thành viên đó chịu 2 sự ràng buộc: WTO và hiệp định khác đó. Khi xảy ra tranh chấp thì quốc gia thành viên có thể lựa chọn hoặc giải quyết theo Hiệp định đa phương, hoặc giải quyết tranh chấp theo WTO. Và khi đã lựa chọn giải quyết giải quyết theo Hiệp định rồi, nếu thấy không thỏa mãn thì cũng sẽ không được phép yêu cầu giải quyết lại tại WTO nữa (theo nguyên tắc tôn trong phán quyết của tổ chức ngang cấp). Mặt khác các quy định của WTO được cho là có sự “ưu tiên” các nước đang phát triển, do đó hầu hết các vụ kiện, bên yếu thế đều lựa chọn giải quyết theo luật WTO.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương IV
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương IV

    b. Thẩm quyền của Panel (Điều 11 DSU)

    – Tiếp xúc với các bên tranh chấp: tiếp nhận đơn kiện và bản bào chữa của các bên, tổ chức họp giữa các bên, …

    – Đánh giá khách quan các tình tiết, khả năng áp dụng các hiệp định liên quan, đưa ra kết luận giúp DSB đưa ra phán quyết:

    • đánh giá các tình tiết là đúng / không đúng
    • lựa chọn điều khoản áp dụng trong các hiệp định liên quan (VD Hiệp định chống bán phá giá, Hiệp định về tự vệ, …)
    • kết quả làm việc của Panel là 1 bản Báo cáo được nộp lên cho DBS, nếu được DSB thông qua thì bản Báo cáo đó được coi như phán quyết của DSB và có giá trị pháp lý rằng buộc các bên tranh chấp, buộc các bên tranh chấp phải thi hành.

    – Như vậy với mỗi vụ kiện, DSB chỉ tham gia vào 2 khâu: khâu đầu tiên, là khi thành lập Panel, và khâu cuối cùng, thông qua hoặc không thông qua báo cáo đó.

    c. Thẩm quyền của cơ quan phúc thẩm (Khoản 6 Điều 17 DSU)

    – Xem xét kháng cáo: chỉ được giới hạn về những vấn đề pháp lý được đề cập đến trong báo cáo của ban hội thẩm và những giải thích pháp luật của Panel. (tức là chỉ được xem xét việc áp dụng luật có đúng hay không)

    1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp
      – Nguyên tắc bình đẳng:
    • các thành viên WTO trong tranh chấp, không phân biệt vị thế chính trị, sức mạnh tài chính, đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, đều có quyền trình bày ý kiến ở các phiên họp, đều có quyền kháng cáo
    • sự bình đẳng thể hiện ngay trong chính các thành viên của các cơ quan tham gia giải quyết tranh chấp: các thành viên của Panel hay AB đều có sự bình đẳng khi đưa ra ý kiến của mình trong giải quyết tranh chấp
    • trong các cuộc họp của DSB, mỗi thành viên có 1 lá phiếu bình đẳng như nhau

    – Nguyên tắc bí mật:

    • quá trình tham vấn được giữ bí mật: các bên tranh chấp được quyền quyết định có cho phép bên thứ 3 tham gia hay không (mặc dù bên thứ 3 có quyền đề nghị được tham gia)
    • giai đoạn hội thẩm: có thể từ chối bên thứ 3 tham gia
    • nội dung họp của ban hội thẩm, ban phúc thẩm được giữ bí mật đối với các bên tranh chấp và các bên thứ ba

    Vụ tranh chấp chỉ được công khai khi DSB đã đưa ra phán quyết cuối cùng.

    – Nguyên tắc đồng thuận: 1 vấn đề chỉ được thông qua khi không có ý kiến phản đối (có thể có phiếu trắng): tất cả các vấn đề trong WTO đều được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận, ngoại trừ một số trường hợp sẽ áp dụng nguyên tắc đồng thuận phủ quyết.

    – Nguyên tắc đồng thuận phủ quyết: (còn gọi là cơ chế thông qua tự động) vấn đề được thông qua khi có ít nhất 1 thành viên đồng ý thông qua. Được áp dụng trong việc ra quyết định thành lập Panel, thông qua báo cáo của Panel và AB.

    Câu hỏi: VN gửi đơn kiện Mỹ áp thuế chống bán phá giá sai nguyên tắc của WTO. DSB sẽ họp để xem xét thành lập Panel giải quyết vụ việc theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết. Hỏi có bao nhiêu % khả năng Panel sẽ được thành lập theo yêu cầu của VN ?

    Trả lời: gần như 100% Panel sẽ được thành lập, vì chỉ cần VN ủng hộ việc thành lập Panel thì DSB bắt buộc phải thành lập panel. (nếu muốn DSB phủ quyết việc thành lập Panel thì đòi hỏi 100% thành viên WTO phải phủ quyết, mà VN là 1 thành viên của WTO, không có việc VN tự phản đối chính mình)

    Nhận xét: Panel và AB bề ngoài là các cơ quan tham vấn, giúp việc cho DBS, nhưng quyền lực của họ là rất lớn vì với cơ chế đồng thuận phủ quyết thì ý kiến của họ hầu như sẽ là ý kiến của DSB.

    1. Thủ tục trước DSB
      a. Giai đoạn tham vấn
      – Khái niệm: tham vấn là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế giữa các thành viên WTO chỉ có sự tham dự của 2 bên tranh chấp.

    Các bên thứ 3 có quyền nộp đơn xin tham dự tham vấn, nhưng các bên tranh chấp có quyền từ chối.

    – Tham vấn là thủ tục bắt buộc, đầu tiên trong quy trình giải quyết tranh chấp của WTO ==> gọi là thủ tục mở tố tụng. Tuy nhiên tham vấn cũng là 1 phương thức giải quyết tranh chấp độc lập, tức là nếu trong khi thực hiện tham vấn, các bên tranh chấp đã hóa giải được mâu thuẫn thì tranh chấp coi như đã được giải quyết và không cần phải thực hiện các bước tiếp theo.

    Như vậy tham vấn có thể tồn tại dưới 2 hình thức:

    • là thủ tục đầu tiên trong quy trình giải quyết tranh chấp (thủ tục mở tố tụng)
    • là 1 phương thức giải quyết tranh chấp độc lập

    – Đặc điểm của giai đoạn tham vấn:

    • tuân thủ nguyên tắc bí mật, tự do ý chí của 2 bên tranh chấp
    • chỉ có 2 bên tranh chấp, bên thứ 3 muốn tham dự phải được2 beên tranh chấp đồng ý
    • cơ hội tham vấn luôn mở ra cho các bên tranh chấp trong mọi thời điểm của quy trình giải quyết tranh chấp (ngay cả khi DSB đã ra phán quyết thì các bên vẫn có thể tiếp tục tham vấn; hoặc khi đang trong quá trình giải quyết tranh chấp mà các bên thông báo đã tham vấn thành công thì quá trình giải quyết tranh chấp sẽ bị đình chỉ). Chú ý: đây là đặc điểm quan trọng nhất của tham vấn, thể hiện nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO là đề cao phương pháp “hòa bình”, đồng thời cũng thể hiện tính “bán tư pháp” trong quy trình giải quyết tranh chấp của WTO.

    – Thời gian tham vấn:

    • không xác định thời gian tham vấn: các bên không bị giới hạn thời gian tham vấn
    • Quy định 60 ngày: trong trường hợp bị đơn vẫn muốn tham vấn, thì trong vòng 60 ngày kể từ ngày bắt đầu tham vấn, bên nguyên đơn không thể đề nghị thành lập Panel. Tức là bên nguyên đơn sẽ phải đợi ít nhất 60 ngày thì mới được yêu cầu thành lập Panel.

    Ngoại lệ: trong vòng 60 ngày, nguyên đơn có thể đề nghị thành lập Panel nếu 2 bên cùng cho rằng tham vấn không thành công

    – Thủ tục tham vấn:

    • Một bên gửi yêu cầu tham vấn cho DSB
    • Bên được yêu cầu tham vấn – nhận được tham tham vấn:

    Trả lời tham vấn trong 10 ngày.
    Tham gia tham vấn tích cực trong vòng 30 ngày
    Nếu bên nhận yêu cầu tham vấn không trả lời trong 10 ngày, hoặc không tiến hành tham vấn trong 30 ngày thì nguyên đơn có thể trưc tiếp yêu cầu DSB thành lập Panel.

    • Các bên có thể đề nghị thành lập Panel khi:

    Sau 60 ngày đã tham vấn mà không thành công
    Trước 60 ngày nếu cả 2 bên cho rằng tham vấn không thành công
    Chú ý: quy định 10 ngày, 30 ngày, 60 ngày như trên là quy định chung của WTO, các bên có thể thỏa thuận để thay đổi các mốc thời gian này.

    Trường hợp khẩn cấp, hoặc với hàng hóa dễ hư hỏng, các bên phải tiến hành tham vấn trong thời gian không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, nếu việc tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong thời hạn 20 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu tham vấn, thì nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập Panel.

    Câu hỏi: Các khẳng định sau là Đúng / Sai

    (1) Theo quy định của WTO, các bên tranh chấp bắt buộc phải tiến hành tham vấn trước khi nguyên đơn yêu cầu thành lập ban hội thẩm

    (2) Theo quy định của WTO, hai bên tranh chấp chỉ được tham vấn trong 60 ngày

    (3) Theo quy định của WTO, khi các bên đã kết thúc tham vấn và kết quả là tham vấn không thành công thì sau này các bên không còn có cơ hội tham vấn

    Trả lời:

    (1) Sai. Vì các bên chỉ bắt buộc phải tiến hành thủ tục tham vấn, chứ không bắt buộc tham vấn. Tức là chỉ cần nguyên đơn thực hiện thủ tục Gửi yêu cầu tham vấn là đã hoàn thành thủ tục tham vấn, bên bị đơn có thể đồng ý tham vấn hay không đồng ý tham vấn, hoặc tham vấn thành công hay không thành công, đều là quyền của các bên, không bắt buộc.

    (2) Sai. Vì tham vấn là hoạt động không giới hạn thời gian. Quy định 60 ngày chỉ được áp dụng khi tham vấn không thành công, nguyên đơn có quyền đề nghị thành lập Panel

    (3) Sai. Vì cơ hội tham vấn luôn mở ra cho các bên trong mọi giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp, các bên hoàn toàn có thể khởi động lại tham vấn cho dù đã kết thúc giai đoạn tham vấn và kết quả là tham vấn không thành công.

    b. Giai đoạn hội thẩm

    – Khái niệm:

    • là giai đoạn sau tham vấn
    • giai đoạn làm việc giữa Panel và các bên tranh chấp / các bên liên quan
    • bắt đầu khi có Đơn yêu cầu thành lập Panel
    • kết thúc bằng Báo cáo cuối cùng của Panel trình lên DSB

    – Thời gian:

    • thông thường: 06 tháng
    • khẩn cấp: 3 tháng
    • đặc biệt: 9 tháng

    Chú ý: quy định về thời hạn trên là quy định chung, các bên có thể thỏa thuận để kéo dài hay rút gọn các mốc thời gian này.

    c. Giai đoạn phúc thẩm

    – Khái niệm:

    • giai đoạn xét xử sau giai đoạn hội thẩm – khi có kháng cáo đối với báo cáo cuối cùng của Panel, các bên sẽ có 1 khoảng thời gian để kháng cáo
    • do cơ quan phúc thẩm thực hiện
    • kết thúc bằng Báo cáo của cơ quan phúc thẩm lên DSB

    Chú ý: cơ quan phúc thẩm không có thẩm quyền đối với toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, mà chỉ xem xét lại trong nội dung kháng cáo, và các bên cũng chỉ kháng cáo đối với những nội dung áp dụng luật của Panel

    – Thời gian:

    • thông thường: 60 ngày
    • đặc biệt: 90 ngày

    – Thủ tục:

    • AB làm việc độc lập – không tham vấn cùng các bên
    • các báo cáo của AB soạn thảo theo nguyên tắc bí mật
    1. Thẩm quyền, nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài
      a. Khái niệm
      – Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là việc các bên tranh chấp nhờ đến trọng tài viên để hóa giải mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên.

    Chú ý: khác với tòa án hay DSB, các bên tranh chấp có toàn quyền lựa chọn trung tâm trọng tài, lựa chọn trọng tài viên để giải quyết tranh chấp. Và trọng tài chỉ phát sinh thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi cả 2 bên công nhận thẩm quyền của trọng tài.

    – Các trường hợp sử dụng trọng tài trong WTO:

    • giải quyết “toàn bộ” tranh chấp thay cho thủ tục trước DSB (Điều 25 DSU): các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận áp dụng thủ tục trọng tài thay cho thủ tục tố tụng của DSU
    • giải quyết tranh chấp về “khoảng thời gian hợp lý” (Điều 21 DSU): sau khi DSB đưa ra phán quyết, các bên sẽ có 1 “khoảng thời gian hợp lý” để thực thi phán quyết, nếu các bên không tự thỏa thuận được “khoảng thời gian hợp lý” là bao lâu thì sẽ nhờ đến trọng tài
    • giải quyết tranh chấp về “mức độ tạm hoãn thi hành nhượng bộ” (Điều 22 DSU): (còn gọi là biện pháp trả đũa) khi 1 thành viên bị kết luận vi phạm luật WTO và phải thực thi phán quyết của DSB nhưng lại không thực thi phán quyết đó, thì thành viên bị vi phạm có thể sử dụng các biện pháp trả đũa. Khi trả đũa có thể “quá” so với thiệt hại do thành viên kia vi phạm gây ra ==> cần có trọng tài để thỏa thuận biện pháp trả đũa phù hợp

    b. Thẩm quyền của trọng tài

    – Tùy theo vụ việc:

    • nếu áp dụng trọng tài theo Điều 21 và Điều 22 của DSU: thẩm quyền của trọng tài sẽ do WTO quy định
    • nếu áp dụng trọng tài theo Điều 25 DSU: thẩm quyền của trọng tài sẽ do các bên tranh chấp thỏa thuận

    – Thủ tục trọng tài:

    • nếu theo Điều 25: do 2 bên thỏa thuận
    • nếu theo Điều 21, Điều 22: do WTO quy định

    c. Thực thi phán quyết

    – Các bên tranh chấp thỏa thuận tuân thủ phán quyết

    – Phán quyết của trọng tài được DSB bảo đảm thực thi theo Điều 21, Điều 22 DSU

    1. Thực thi phán quyết của DSB
      – Phán quyết của DSB: báo cáo cuối cùng của Panel hoặc báo cáo của AB

    – Giai đoạn thực thi phán quyết của DSB là giai đoạn mà các bên tranh chấp phải thực hiện những khuyến nghị của DSB, bắt đầu từ khi DSB đưa ra phán quyết và kết thúc khi các bên đã hoàn thành những khuyến nghị trong phán quyết đó.

    – Nội dung phán quyết:

    • DSB kết luận rằng 1 biện pháp nào đó là không phù hợp với hiệp định có liên quan
    • DSB khuyến nghị rằng: thành viên đã sử dụng biện pháp đó cần điều chỉnh cho phù hợp với Hiệp định có liên quan
    • DSB có thể đề xuất các cách mà theo đó thành viên có liên quan có thể thực hiện các khuyến nghị

    II. Chế tài trong tranh chấp thương mại quốc tế công

    1. Buộc chấm dứt biện pháp vi phạm
      – Là việc cơ quan giải quyết tranh chấp yêu cầu bên vi phạm dừng thực hiện biện pháp vi phạm Điều ước thương mại quốc tế đã được thỏa thuận giữa các bên

    Chú ý: mặc dù biện pháp buộc chấm dứt biện pháp vi phạm này không mang tính chế tài rõ rệt, tuy nhiên WTO lại rất chú trọng đến biện pháp này, coi đây là biện pháp ưu tiên để giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, thể hiện qua toàn bộ quy trình khiếu kiện đều hướng tới mục đích này (mục đích cuối cùng của WTO là duy trì trật tự thương mại thế giới)

    1. Bồi thường thương mại (đền bù)
      – Là việc 1 bên thực hiện các biện pháp có lợi cho bên kia

    – Bồi thường thương mại không có nghĩa là thanh toán tiền tệ, chính xác hơn là bên vi phạm có nghĩa vụ phải cung cấp 1 lợi ích, ví dụ như giảm thuế, tương đương với lợi ích mà bên kia đã bị mất đi hoặc suy yếu do biện pháp vi phạm được áp dụng.

    Tuy nhiên nếu áp dụng biện pháp này thì sẽ vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc (các nước thành viên khác không quan tâm đến việc các nước tranh chấp bồi thường cho nhau, mà họ quan tâm tới việc nước này giảm thuế cho sản phẩm nhập khẩu từ nước kia thì tại sao lại không giảm thuế tương ứng cho nước mình) ==> đây là chế tài hầu như chỉ có trên lý thuyết.

    – Bồi thường thương mại chỉ được áp dụng tạm thời. Và sẽ chấm dứt khi bên vi phạm chấm dứt biện pháp vi phạm.

    1. Tạm hoãn thi hành nhượng bộ (trả đũa thương mại)
      – Là việc bên có quyền lợi bị xâm phạm tạm dừng việc áp dụng các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ của mình cho bên vi phạm

    – Điều kiện áp dụng:

    • bên vi phạm không thực hiện chấm dứt biện pháp vi phạm
    • bên vi phạm không thực hiện phán quyết trong thời gian quy định
    • các trường hợp khác do DSB cho phép

    – Tạm hoãn thi hành nhượng bộ cũng chỉ được áp dụng tạm thời. Và sẽ chấm dứt khi bên vi phạm chấm dứt biện pháp vi phạm.

    Câu hỏi:

    (1) Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, chỉ có các bên tranh chấp mới có quyền kháng cáo đối với báo cáo của ban hội thẩm

    (2) Các bên tranh chấp là thành viên của WTO có thể lựa chọn thủ tục trọng tài để áp dụng thay thế cho thủ tục tố tụng của DSU

    (3) Theo quy định của WTO, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu vẫn có thể tiến hành điều tra đối với hàng nhập khẩu bán phá giá ngay cả khi không có đơn đề nghị điều tra bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước

    (4) Thuế suất nhượng bộ theo cam kết của 1 thành viên trong khuôn khổ WTO sẽ được thay đổi hoặc hủy bỏ khi nước này gia nhập khu vực mậu dịch tự do

    (5) Thuế suất nhượng bộ theo cam kết của 1 thành viên trong khuôn khổ WTO sẽ được thay đổi hoặc hủy bỏ khi nước này gia nhập khu vực đồng minh thuế quan

    Trả lời:

    (1) Đúng. Chỉ có các bên tranh chấp mới có quyền kháng cáo đối với báo cáo của ban hội thẩm, các bên thứ 3 không có quyền kháng cáo

    (2) Đúng. Theo Điều 25 DSU

    (3) Đúng. Vì cơ quan điều tra có thể tự tiến hành điều tra khi thấy có hiện tượng bán phá giá mà không cần phải có đơn đề nghị điều tra của ngành sản xuất trong nước.

    (4) Sai. Vì khi gia nhập khu vực mậu dịch tự do, vẫn cho phép mỗi quốc gia thành viên duy trì danh mục thuế quan của mình.

    (5) Đúng.Vì khi gia nhập khu vực đồng minh thuế quan thì sẽ phải chấp nhận danh mục thuế quan chung của toàn bộ đồng minh thuế quan đó

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương III

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương III

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương III cung cấp cái nhìn chi tiết về các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là những khung pháp lý thiết yếu cho hoạt động thương mại quốc tế. Nội dung chương III bao gồm các hiệp định chủ yếu như Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS), và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS). Sinh viên sẽ tìm hiểu về nội dung, mục tiêu và tác động của từng hiệp định, cũng như cách thức các hiệp định này tạo ra môi trường thương mại công bằng và ổn định giữa các quốc gia. Đây là kiến thức quan trọng giúp người học áp dụng hiệu quả trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương III

    Chương 3: Các hiệp định của WTO

    – WTO là tổ chức thương mại tự do lớn nhất hành tinh, nhưng mức độ tự do trong WTO không cao. Sự tự do trong WTO mới được thể hiện trong thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, còn những vấn đề quan trọng khác như dịch chuyển vốn, dịch chuyển lao động, giải quyết tranh chấp giữa quốc gia sở tại với nhà đầu tư nước ngoài, … thì chưa được WTO đề cập đến.

    I. Pháp luật điều chỉnh của WTO trong lĩnh vực hàng hóa

    1. Hàng hóa và thuế quan
      a. Hàng hóa

    – Khái niệm: Hàng hóa trong thương mại quốc tế là sản phẩm được liệt kê, mô tả và mã hóa trong Danh mục HS của Công ước HS.

    – Công ước HS: Công ước của Tổ chức hải quan thế giới, trong đó quy định Danh mục HS liệt kê, mô tả và mã hóa tất cả các sản phẩm được coi là hàng hóa trên thế giới. (VN gia nhập Công ước HS từ năm 2000)

    Mục đích: hài hòa hóa danh mục hàng hóa, thuế quan giữa các nước với nhau

    b. Thuế quan

    – Khái niệm: thuế quan là 1 khoản thu của NN đối với hàng hóa khi hàng hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác

    – Lãnh thổ hải quan là:

    • 1 vùng lãnh thổ có chính sách thuế quan riêng biệt
    • Có thể nằm trong lãnh thổ quốc gia (VD khu chế xuất) hoặc có thể là quốc gia
    • Có thể nằm ngoài quốc gia, VD liên minh Châu Âu

    – Mục đích của thuế quan:

    • Tăng ngân sách của nước nhập khẩu
    • Quản lý xuất nhập khẩu
    • Bảo vệ sản xuất trong nước: vì phải chia sẻ thị trường trong nước cho nước ngoài (đây là mục đích quan trọng nhất)

    – Danh mục thuế quan: là danh mục HS quốc gia được xây dựng trên cơ sở Danh mục HS quốc tế, trong đó ghi rõ mức thuế đối với mỗi sản phẩm khi nhập khẩu vào quốc gia.

    • danh mục thuế quan quốc gia được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
    • đối với khu vực mậu dịch tự do (FTA) hay liên minh thuế quan (CU) cũng có danh mục thuế quan cam kết của các nước thành viên. VD trong ASEAN (là 1 FTA) có danh mục thuế quan cam kết của mỗi nước theo trình đọ phát triển kinh tế của mỗi nước.

    – Mức thuế trần: là cam kết không vượt quá 1 mức thuế nhất định.

    Ngoại lệ: 1 nước có thể phá vỡ mức thuế trần, tức là áp thuế cao hơn mức thuế trần đã cam kết, với điều kiện phải đàm phán với các nước liên quan và có thể bị buộc bồi thường thiệt hại thương mại cho các nước liên quan.

    – Lộ trình cắt giảm thuế quan: các nước tham gia WTO đều phải ca kết lộ trình cắt giảm thuế quan phù hợp với nền kinh tế của nước mình.

    – WTO:

    • ủng hộ thuế quan
    • nó không phải là tự do hoàn toàn
    • các thành viên được phép duy trì hàng rào thuế quan, thậm chí có thể tăng mức thuế quan để đỏi lấy việc gỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan.

    c. Biểu thuế suất nhượng bộ

    – Biểu cam kết nhượng bộ:

    • là văn bản ghi lại kết quả đàm phán về thuế trong các thỏa thuận thương mại tự do
    • 164 quốc gia thuộc WTO có 164 biểu cam kết nhượng bộ, đính kèm vào trong GATT
    • nội dung:

    Cam kết giảm, mức giảm, thời gian giảm

    Đưa ra mức thuế trần

    – Biểu thuế suất hiện hành:

    • là các mức thuế tại Danh mục HS quốc gia đang được áp dụng hiện hành
    • VD: sản phẩm Xe cứu thương

    Mã HS: 8703.32.10

    Mức thuế theo WTO 20% ; ATIGA 0% ; FTA ASEAN-China 20%

    1. Hiệp định nông nghiệp
      (đây là hiệp định cơ bản, đầu tiên của GATT 1947)

    – Nội dung của hiệp định:

    • tiếp cận thị trường nông sản của các quốc gia
    • quy định về trợ cấp xuất khẩu
    • quy định về hỗ trợ trong nước
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương III
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương III

    – Vì sao có Hiệp định nông nghiệp:

    • vì nông sản là hàng hóa “nhạy cảm” trong thương mại: đây là loại hàng hóa thiết yếu nhất đối với sự sinh tồn của con người ==> các nước đều có nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực trước tiên. Hơn nữa, thương mại nong nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến người sản xuất ra nông nghiệp, vốn chiếm đa số dân số thế giới, và thường có thu nhập không cao.
    • vì 2/3 quốc gia trên thế giới là đang phát triển và kém phát triển, sản phẩm làm ra phần lớn là nông sản
    • phục vụ nhu cầu của các nước phát triển: bảo vệ sức khỏe người dân
    • nông nghiệp phải có đất để sản xuất, trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp ==> cần quan tâm đến nông sản

    – Mâu thuẫn giữa 2 bên: các nước đang phát triển tìm ưu đãi từ các nước phát triển để vào thị trường, còn các nước phát triển trợ cấp cho nông sản của họ ==> vòng đàm phán DOHA đổ vỡ, vì các nước đang phát triển không có điều kiện để phát triển ==> rơi vào bế tắc

    – Nhóm các nước G20 yêu cầu xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản hoàn toàn ==> hy vọng các thành viên WTO xóa bỏ hỗ trợ để thị trường tự do hơn, công bằng hơn

    – Mục đích của Hiệp định nông nghiệp:

    • giảm bớt hỗ trợ của các nước phát triển cho nông nghiệp
    • khuyến khích áp dụng thuế hóa thay cho các biện pháp phi thuế quan

    a. Tiếp cận thị trường

    – Bằng phương pháp thuế quan hoặc phi thuế quan

    – Nghĩa vụ giảm thuế: không nhiều

    • giảm 36% trong 6 năm đối với các nước phát triển
    • giảm 24% trong 10 năm đối với các nước đang phát triển

    Ví dụ: nước phát triển: hiện tại mức thuế là 40%, sau 6 năm mức thuế mới là 30% = 36% của 40%

    – Phi thuế quan: (khoản 2) xóa bỏ hoàn toàn các biện pháp phi thuế quan (như hạn ngạch, các biện pháp hành chính, …)

    b. Trợ cấp xuất khẩu

    – Biểu cam kết của các thành viên:

    • các nước phát triển: từ 36% xuống 21%
    • các nước đang phát triển: từ 24% xuống 14%

    c. Hỗ trợ trong nước

    – Không phải cắt hoàn toàn mà tùy từng trường hợp có sự cắt giảm hoặc không cắt giảm.

    – Khoản chi ngân sách cho khu vực nông thôn được chia thành các nhóm:

    • Green box (hộp màu xanh lá cây): là các biện pháp hỗ trợ của NN dành cho cơ sở hạ tầng, nghiên cứu về nông nghiệp, y tế công cộng, an ninh lương thực
    • Blue box (hộp màu xanh lam): là các chính sách trợ cấp của các nước đang phát triển, khoản chi trực tiếp nhằm hạn chế sản xuất nông nghiệp không mong muốn, VD thu hẹp đất trồng cây thuốc phiện
    • Amiber box (hộp màu bìa phách): các quốc gia phát triển cắt giảm 20% trong 5 năm; các quốc gia đang phát triển cắt giảm 13% trong 9 năm

    Câu hỏi trắc nghiệm:

    (1) Các thành viên WTO có nhiệm vụ xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản và hàng phi nông sản

    (2) Theo Hiệp định nông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp được hiểu là tất cả các sản phẩm được sản xuất ở khu vực nông thôn, bao gồm: ngũ cốc, thịt, gia súc và thủy sản

    (3) Theo Hiệp định nông nghiệp, các khoản trợ cấp có mục đích giúp người dân có thói quen trồng cây thuốc phiện sang trồng cây nông nghiệp nằm trong các khoản hỗ trợ phải cắt giảm.

    (4) Theo Hiệp định nông nghiệp, các khoản trợ cấp dành cho nghiên cứu môi trường nông thôn hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đều là những khoản trợ cấp cần xóa bỏ

    Trả lời:

    (1) Sai. Không xóa bỏ hoàn toàn mà chỉ xóa bỏ theo cam kết trong Hiệp định: 36% số hàng được trợ cấp và 10% giá trị trợ cấp

    (2) Sai. Vì thủy sản không được coi là hàng nông sản tron thương mại quốc tế.

    (3) Sai. Các khoản hỗ trợ này nằm trong nhóm xanh lam, tức là mang tính chính sách và không bị xóa bỏ

    (4) Sai. Vì các khoản trợ cấp đó nằm trong nhóm xanh lá cây, tức là không phải xóa bỏ

    1. Hiệp định SPS – Hiệp định kiểm dịch động thực vật
      – Đây là hiệp định nhằm điều chỉnh các hoạt động kiểm dịch động thực vật của các thành viên WTO.

    a. Khái niệm biện pháp SPS

    – Khái niệm: là các biên pháp nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người khỏi:

    • động, thực vật bị bệnh hay mang mầm bệnh
    • các bệnh do động thực vật hay sản phẩm từ động thực vật gây ra
    • chất phụ gia thực phẩm, độc chất hoặc vật gây bệnh
    • ngăn chặn hay hạn chế tác hại khác của sâu bệnh

    VD: các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thịt bò nhập khẩu: có chứng nhận nguồn gốc xuất xứ, có chứng nhận về kiểm tra an toàn vệ sinh dịch tễ, dư lượng kháng sinh phải trong ngưỡng cho phép, …

    Chú ý: Biện pháp kiểm dịch động thực vật chỉ áp dụng đối với hàng hóa nông sản

    – Khác với quy định về thuế quan được quy định rất rõ ràng, thì các quy định trong SPS rất mơ hồ, không rõ ràng, mỗi quốc gia có quy định riêng, chia ra các mức độ khác nhau.

    • có thể quy định ở mức bằng quy định trong SPS
    • có thể quy định ở mức cao hơn quy định trong SPS: gọi là thị trường “khó tính”
    • có thể quy định ở mức thấp hơn quy định trong SPS: gọi là thị trường “dễ tính”

    – WTO quy định về SPS:

    • mỗi quốc gia thành viên đều có thể xây dựng và áp dụng SPS riêng: không thành viên nào bị ngăn cấm thông qua hoặc thi hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người, động vật và thực vật.
    • các thành viên khi xây dựng SPS quốc gia phải cố gắng hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khuyến nghị sẵn có

    Ví dụ: tiêu chuẩn quốc tế quy định về hàm lượng chì trong sữa trẻ em là không quá 0.02 mg/kg

    • SPS của nước A quy định phải nhỏ hơn 0.0002 mg/kg ==> tiêu chuẩn cao hơn
    • SPS của nước B quy định không vượt quá 0.02 mg/kg ==> bằng tiêu chuẩn quốc tế
    • SPS của nước C quy định không vượt quá 0.2 mg/kg ==> tiêu chuẩn thấp hơn

    Chú ý: nếu 1 quốc gia xây dựng tiêu chuẩn SPS thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế, thì WTO cũng không can thiệp (vì nó không cản trở dòng chảy thương mại, mục đích của WTO làm “khơi thông” các dòng chảy thương mại hàng hóa, còn vấn đề sản phẩm an toàn thuộc lĩnh vực khác, nằm ngoài phạm vi quy định của WTO)

    Nếu 1 quốc gia xây dựng tiêu chuẩn SPS cao hơn so với tiêu chuẩn quốc tế thì sẽ là đối tượng xem xét của WTO (vì nó là rào cản thương mại), và WTO sẽ đặt ra các tiêu chuẩn với nhóm này.

    – Điều kiện đối với biện pháp SPS quốc gia trong trường hợp quy định cao hơn tiêu chuẩn thế giới:

    • Sự cần thiết: phải chứng minh được sự cần thiết
    • Phải có căn cứ khoa học: đây là điều kiện quan trọng nhất

    Ngoại lệ: là trường hợp áp dụng “nguyên tắc phòng ngừa”, theo đó 1 quốc gia có thể áp dụng tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn của thế giới với mục đích phòng ngừa (theo kiểu “an toàn là trên hết”) cho dù chưa có căn cứ khoa học chắc chắn, tuy nhiên đây chỉ là biện pháp tạm thời trong thời gian hợp lý.

    • Các thông tin chuyên môn
    • Không phân biệt chế độ tối huệ quốc (MFN)
    1. Hiệp định về hàng rào kỹ thuật – TBT
      – Đây là hiệp định điều chỉnh về hàng rào kỹ thuật của mỗi quốc gia áp dụng cho hàng nhập khẩu, bao gồm cả hàng nông sản và hàng phi nông sản.

    Theo quan điểm như trên thì TBT sẽ bao gồm SPS

    – Quy định kỹ thuật: là các văn bản quy định về các thủ tục hành chính bắt buộc nhằm xác định đặc tính của sản phẩm hoặc quy trình và các phương pháp sản xuất.

    Ví dụ: đối với thịt hun khói đóng gói phải đảm bảo các tiêu chí:

    • hàm lượng chất bảo quản, phẩm màu thực phẩm, chất tạo giòn ==> là biện pháp SPS (vì nhằm bảo vệ sức khỏe con người)
    • quy cách đóng gói: phải được hút chân không và đặt trong túi nhựa ==> là biện pháp TBT

    Nếu thêm yêu cầu túi nhựa phải thân thiện với môi trường ==> là SPS

    • giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm ==> là biện pháp TBT

    – (Quy định về TBT cũng tương tự như quy định về SPS)

    – WTO quy định về TBT:

    • mỗi quốc gia thành viên đều có thể xây dựng và áp dụng TBT riêng: không thành viên nào bị ngăn cấm thông qua hoặc thi hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người, động – thực vật, bảo vệ môi trường, hay các quyền lợi khác của người tiêu dùng.
    • các thành viên khi xây dựng TBT quốc gia phải cố gắng hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khuyến nghị sẵn có.

    Chú ý: nếu 1 quốc gia xây dựng tiêu chuẩn TBT thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế, thì WTO cũng không can thiệp. Nhưng nếu 1 quốc gia xây dựng tiêu chuẩn SPS cao hơn so với tiêu chuẩn quốc tế thì sẽ là đối tượng xem xét của WTO (vì nó là rào cản thương mại), và WTO sẽ đặt ra các tiêu chuẩn với nhóm này.

    – Điều kiện đối với biện pháp TBT quốc gia trong trường hợp quy định cao hơn tiêu chuẩn thế giới: phải tuân thủ nguyên tắc đối tử quốc gia (nguyên tắc NT), tức là quy định đối với hàng nhập khẩu như thế nào thì cũng phải quy định đối với hàng trong nước như thế.

    Lý do là vì TBT là hiệp định quy định về thủ tục, không quan tâm tới “nội dung” bên trong (tức là không cần quan tâm đến căn cứ khoa học, đến sự cần thiết, … mà chỉ quan tâm đến “hình thức” là các thủ tục)

    VD: trong 1 thời gian dài, Trung Quốc áp dụng biện pháp kiểm tra đối với ô tô nhập khẩu, theo đó với mỗi mẫu ô tô nhập khẩu phải thông qua 1 cơ quan của nhà nước TQ kiểm tra, thời gian kiểm ra là 1 tháng, phí kiểm tra là 10.000 USD. Hỏi quy định này có vi phạm TBT ?

    Trả lời: Quy định này không vi phạm TBT nếu Trung Quốc quy định thủ tục kiểm tra này áp dụng đối với cả ô tô nhập khẩu và ô tô sản xuất trong nước.

    Chú ý: SPS không quy định về nguyên tắc đối xử quốc gia, tức là 1 quốc gia có thể quy định về tiêu chuẩn đối với thịt bò nhập khẩu ví dụ là phải không có hóc môn tăng trưởng, không được biến đổi gen; tuy nhiên đối với thịt bò sản xuất trong nước thì vẫn có thể có hóc môn tăng trưởng, có biến đổi gen.

    1. Hiệp định dệt may (đã hết hiệu lực từ năm 2000)
    2. Các quy định về chống bán phá giá
      a. Cơ sở pháp lý
      – Điều 6 GATT 1994: Các bên ký kết nhận thấy rằng bán phá giá, tức là việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho một ngành sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm chễ sự thành lập một ngành sản xuất trong nước.

    – Hiệp định thực thi điều 6 của GATT: hiệp định chống bán phá giá (Hiệp định AD; hay ADA)

    b. Các khái niệm

    – Hiệp định AD có hiệu lực với tất cả 164 thành viên của WTO, theo đó mỗi thành viên sẽ tự xây dựng PL quốc gia về chống bán phá giá sao cho phù hợp với những quy định của Hiệp định AD.

    – Sản phẩm bán phá giá: là sản phẩm có giá xuất khẩu của 1 sản phẩm thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm tương tự tại thị trường xuất khẩu.

    • giá xuất khẩu: là giá của sản phẩm bán cho nước ngoài, tức là giá nhà xuất khẩu bán tại nước nhập khẩu

    Các phương pháp xác định giá xuất khẩu: Giá xuất khẩu được xác định thông qua hợp đồng xuất khẩu (tức là giá nhà xuất khẩu bán cho nhà nhập khẩu)

    Trong trường hợp không có giá xuất khẩu (là trường hợp Hợp đồng không tin cậy, VD chuyển giá), thì cơ quan có thẩm quyền xác định Giá xuất khẩu là giá sản phẩm nhập khẩu được bán lại lần đầu cho 1 người mua hàng khác (không liên quan đến nhà nhập khẩu). Nếu vẫn không xác định được thì giá xuất khẩu sẽ do cơ quan có thẩm quyền xác định (dựa trên chi phí sản xuất, phí vạn chuyển, thuế, lãi kinh doanh, …)

    Giá xuất khẩu thông dụng nhất hiện nay là giá FOB (Giá giao trên tàu)

    • giá trị thông thường: là giá trị của sản phẩm trong điều kiện thương mại bình thường

    Giá trị thông thường của sản phẩm đã xác định: là giá bán trong nước của sản phẩm tương tự, tức là giá mà nhà xuất khẩu bán tại thị trường nội địa.

    Trường hợp chưa xác định được (trường hợp hàng hóa sản xuất ra chỉ để xuất khẩu, không bán trong nước, hoặc chỉ bán trong nước với số lượng rất ít, không đủ tạo thành giá trong nước. Quy định chung là số lượng bán trong nước phải chiếm ít nhất 5% lượng hàng xuất khẩu thì mới tạo thành giá bán thông thường) thì giá thông thường là giá sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm 1 khoản chi phí vận chuyển, chi phí bán hàng, các chi phí chung và lợi nhuận.

    Điều kiện thương mại bình thường: do mỗi quốc gia quy định. Quan điểm chung là điều kiện thương mại bình thường phải là trong nền kinh tế thị trường. Như vậy những nước chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường thường bị coi là có điều kiện thương mại không bình thường. Trong trường hợp nước xuất xứ của hàng hóa là nước có nền kinh tế phi thị trường, thì nước nhập khẩu có quyền lựa chọn nước thay thế để xác định giá thành sản xuất.

    Ví dụ: trong vụ kiện bán phá giá cá tra – cá ba sa giữa VN và Mỹ, do VN chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường nên Mỹ đã lựa chọn nước thứ 3 để xác định giá thông thường của cá tra – cá ba sa VN, nước được lựa chọn đó là Banglades. Một lý do nữa của VN khi nuôi cá tra – cá basa (và tất cả các loại thủy sản khác) là trong quá trình nuôi đều phải sử dụng điện và xăng, trong khi ở VN thì cả điện và xăng đều được NN trợ cấp giá ==> giá thành của cá tra – cá basa đã không còn chính xác.

    Hiệp định Marrakesh (là hiệp định thành lập WTO), gồm 4 phụ lục:

    – Phụ lục 1:

    • Phụ lục 1a: gồm 13 hiệp định đa biên về thương mại hàng hóa:

    Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
    Hiệp định Nông nghiệp
    Hiệp định về Áp dụng các Biện pháp Kiểm dịch Động thực vật (SPS)
    Hiệp định về Hàng dệt may (Lưu ý: Hiệp định này đã hết hiệu lực từ ngày 01/01/2005)
    Hiệp định về các Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT)
    Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMs)
    Hiệp định về Chống bán phá giá (Điều VI của GATT 1994) (ADA)
    Hiệp định về Xác định Trị giá tính thuế hải quan (Điều VII của GATT 1994)
    Hiệp định về Giám định hàng hóa trước khi gửi hàng (PSI)
    Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ
    Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu
    Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng
    Hiệp định về các Biện pháp tự vệ

    • Phụ lục 1b: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (hiệp định GATS)
    • Phụ lục 1c: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (hiệp định TRIPs)

    – Phụ lục 2: Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục Giải quyết Tranh chấp trong khuôn khổ WTO (hiệp định DSU)

    – Phụ lục 3: Hiệp định về Cơ chế Rà soát Chính sách thương mại (Hiệp định TPRM)

    – Phụ lục 4: Các Hiệp định thương mại nhiều bên

    Phụ lục 4a: Hiệp định về Thương mại Máy bay Dân dụng
    Phụ lục 4b: Hiệp định về Mua sắm Chính phủ
    Phụ lục 4c: Hiệp định quốc tế về sữa (Lưu ý: Hiệp định này đã chấm dứt năm 1997)
    Phụ lục 4d: Hiệp định quốc tế về thịt bò ( Lưu ý: Hiệp định này đã chấm dứt năm 1997)

    II. Hiệp định chống bán phá giá (ADA)

    1. Khái quát
      – ADA thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994)

    – Nằm trong nhóm Hiệp định điều chỉnh các biện pháp khắc phục thương mại

    – ADA bao gồm 18 điều và 2 phụ lục

    – Mục đích ra đời của ADA:

    • cho phép các nước thành viên được quy định các biện pháp, thủ tục điều tra chống lại hành vi bán phá giá
    • ngăn cản các thành viên lạm dụng biện pháp chống bán giá để tại ra rào cản thương mại với các quốc gia thành viên của WTO

    – Các nội dung cơ bản của ADA:

    • định nghĩa sản phẩm bán phá giá
    • căn cứ để xác định hành vi bán phá giá
    • nguyên tắc điều tra bán phá giá
    • cơ sở của việc áp thuế đối kháng đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá
    1. Khái niệm 1 sản phẩm bị coi là bán phá giá
      – Khoản 1 Điều 2 Hiệp định ADA: Một sản phẩm được coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu (EP) của sản phẩm được xuất khẩu từ nước này sang nước khác thấp hơn giá trị thông thường (NV) của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước đó theo những điều kiện thương mại thông thường.

    X = NV – EP

    Nếu X > 0 thì có hiện tượng bán phá giá

    • NV: giá trị thông thường
    • EP: giá xuất khẩu
    • X: biên độ bán phá giá

    Ví dụ: mặt hàng tôm đông lạnh của nước A bán tại trường nước A với giá 15$/kg, khi xuất khẩu sang nước B và bán với giá 10$kg tại thị trường nước B. Trường hợp này đã xảy ra hiện tượng bán phá giá với sản phẩm tôm đông lạnh tại thị trường nước B vì giá xuất khẩu (10$) thấp hơn giá .

    – Nguyên nhân của hiện tượng bán phá giá: muốn chiếm thị phần tại nước xuất khẩu, chèn ép các nhà sản xuất địa phương, đẩy các nhà sản xuất địa phương đến phá sản, và khi đã không còn đối thủ cạnh tranh thì sẽ nâng giá để kiếm lợi nhuận.

    a. Giá xuất khẩu (EP)

    – Khái niệm: là giá bán sản phẩm từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu

    – Cách tính giá xuất khẩu: 1 trong các cách (theo thứ tự ưu tiên)

    • giá trong giao dịch mua bán giữa người xuất khẩu với nhà nhập khẩu, hoặc
    • giá bán sản phẩm nhập khẩu đó cho người mua độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu, hoặc
    • giá do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định

    b. Giá trị thông thường (NV)

    – Khái niệm: là giá trị của 1 sản phẩm ở điều kiện thương mại thông thường

    – Cách xác định: 1 trong các cách (theo thứ tự ưu tiên)

    • giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nước xuất khẩu
    • giá bán của sản phẩm tương tự mà nhà xuất khẩu áp dụng tại 1 nước khác
    • theo chi phí sản xuất, các chi phí khác và mức mợi nhuận thông thường của nhà xuất khẩu

    VD: Việt Nam nhập khẩu xe máy Dream được sản xuất tại Nhật. Vì người Nhật không sử dụng xe máy Dream nên không thể lấy giá bán xe máy Dream tại Nhật, khi đó có thể so sánh với giá bán xe máy Dream tại Thái Lan, Indonexia

    VD: Iran là 1 nước theo đạo Hồi, nhập khăn choàng đầu sản xuất tại VN. Khi điều tra xem khăn choàng đầu từ VN có bán phá giá tại Iran không, thì Iran không xác định giá trị thông thường của khăn choàng đầu tại VN, vì VN có rất ít người theo đạo Hồi. Thay vào đó Iran sẽ só sánh với giá mà VN bán khăn choàng đầu tại một số nước cũng theo đạo Hồi như Indonexia, Paskistan

    VD: trong vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá ba sa xuất xứ từ VN, vì Mỹ xem VN là nước có nền kinh tế phi thị trường (NME) nên sẽ không sử dụng chi phí sản xuất thực tế của các nhà sản xuất thủy sản VN để xác định giá trị thông thường của sản phẩm. Thay vào đó, Mỹ sẽ sử dụng các giá trị từ 1 nước thay thế để xác định giá trị của các “yếu tố sản xuất” dùng để sản xuất ra mặt hàng bị điều tra, nước được chọn là nước có điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên gần với VN và đã có nền kinh tế thị trường, Mỹ đã chọn Banglades.

    c. Sản phẩm tương tự (like product) (Điều 2.6 ADA)

    – Sản phẩm giống hệt: là sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang xem xét

    – Nếu không có sản phẩm nào như vậy thì là sản phẩm khác có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩm được xem xét

    – WTO không đưa ra các tiêu chí để xác định 2 sản phẩm có là sản phẩm tương tự không, mà trong quá trình giải quyết tranh chấp, sẽ dựa vào các án lệ.

    Để xem xét 2 sản phẩm có phải sản phẩm tương tự, thông thường xem xét 4 yếu tố:

    • đặc tính vật lý của sản phẩm
    • thị hiếu của người tiêu dùng
    • mục đích tiêu dùng sản phẩm
    • phân loại các biểu thuế quan

    d. Biên độ bán phá giá (Margin of dumping)

    – Khái niệm: là khoảng chênh lệch giữa giá xuất khẩu (EP) với giá trị thông thường (NV) của sản phẩm

    – Biên độ bán phá giá được tính theo tỷ lệ % giá xuất khẩu:

    BĐPG = (NV – EP) / EP x 100%

    nếu BĐPG >= 2% thì bị coi là bán phá giá

    VD: giá trị thông thường là 140 Eur, giá bán tại thị trường EU là 100 Eur

    ==> BĐPG = (140 – 100) / 100 x 100% = 40%

    ==> bị coi là bán phá giá

    – Chú ý: 1 sản phẩm chỉ được coi là bán phá giá khi có biên độ bán phá giá lơn hơn hoặc bằng 2%. Trường hợp mới chỉ xác định giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường thì chỉ được coi là có hiện tượng bán phá giá (tức là cần điều tra thêm, chưa thể kết luận).

    1. Quá trình 1 vụ kiện chống bán phá giá
      – Một vụ kiện chống bán phá giá thực chất là tổng hợp các bước điều tra xác minh các yêu cầu trong đơn kiện để kết luận có đủ điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá bị kiện hay không.

    – Theo quy định của ADA, các bước cơ bản của “vụ kiện chống bán phá giá” như sau:

    • B1: Ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nộp đơn kiện (kèm theo chứng cứ ban đầu)
    • B2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra (hoặc từ chối đơn kiện, không điều tra)
    • B3: Điều tra sơ bộ về việc bán phá giá và về thiệt hại (qua bảng câu hỏi gửi cho các bên liên quan, thu thập, xác minh thông tin, thông tin do các bên tự cung cấp)
    • B4: Kết luận sơ bộ (có thể kèm theo quyết định áp dụng biện pháp tạm thời như buộc đặt cọc, ký quỹ…)
    • B5: Tiếp tục điều tra về việc bán phá giá và về thiệt hại (có thể bao gồm điều tra thực địa tại nước xuất khẩu)
    • B6: Kết luận cuối cùng
    • B7: Quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nếu kết luận cuối cùng khẳng định có việc bán phá giá gây thiệt hại)
    • B8: Rà soát lại biện pháp chống bán phá giá (hàng năm cơ quan điều tra có thể sẽ điều tra lại biên phá giá thực tế của từng nhà xuất khẩu và điều chỉnh mức thuế)
    • B9: Rà soát hoàng hôn (5 năm kể từ ngày có quyết định áp thuế chống bán phá giá hoặc rà soát lại, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra lại để xem xét chấm dứt việc áp thuế hay tiếp tục áp thuế thêm 5 năm nữa).

    Từ bước 1 đến bước 7 của một vụ điều tra chống bán phá giá thường kéo dài khoảng 18 tháng đến 2 năm. Tuy nhiên, bước 8 và 9 có thể kéo rất dài sau đó.

    VD: trong vụ kiện cá tra, cá basa ở Hoa Kỳ chẳng hạn, đơn kiện nộp ngày 28/6/2002, quyết định áp thuế ban hành ngày 7/8/2003. Sau đó 2005 và 2006 đều đã có rà soát lần 1, 2 đối với một số công ty xuất khẩu của VN.

    1. Điều tra chống bán phá giá
      a. Tư cách nguyên đơn
      – Chủ thể có quyền khởi kiện:
    • cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu. VD ở VN là Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương
    • ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu

    Hầu hết các vụ kiện chống bán phá giá trên thực tế đều được khởi xướng từ đơn kiện của ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu.

    – Nếu chủ thể khởi kiện là cơ quan có thẩm quyền thì đơn kiện sẽ được thụ lý ngay. Nếu chủ thể là ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu thì Đơn kiện phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    • các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm ít nhất 50% tổng sản lượng sản xuất ra bởi tất cả các nhà sản xuất đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện, và
    • các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện phải có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của toàn bộ ngành sản xuất trong nước

    Tình huống: có 3 nhà sản xuất thép, A chiếm 35%, B chiếm 20%, C chiếm 45% tổng sản lượng sản xuất thép tại VN. Thị trường thép VN có sự tham gia của thép nhập khẩu từ Hoa Kỳ.

    • A cho rằng sản phẩm thép của Hoa Kỳ có hiện tượng bán phá giá và muốn khởi kiện
    • B cho rằng sản phẩm thép của Hoa Kỳ không bán phá giá và không đồng ý khởi kiện
    • C không đưa ra ý kiến

    Hỏi trong trường hợp này, khi đơn khởi kiện của A gửi đến cơ quan có thẩm quyền của VN, cụ thể là Bộ Công thương thì có được chấp nhận không ?

    Trả lời: Bộ Công thương chỉ chấp nhận đơn kiện khi đáp ứng đủ 2 điều kiện:

    • các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm ít nhất 50% tổng sản lượng sản xuất ra bởi tất cả các nhà sản xuất đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối đơn kiện ==> chỉ có A và B bày tỏ ý kiến với tổng sản lượng là 35% + 20% = 55%, và A chiếm 35% lớn hơn 50% của 55% ==> đáp ứng điều kiện thứ nhất
    • các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện phải có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của toàn bộ ngành sản xuất trong nước ==> chỉ có A ủng hộ, và A chiếm sản lượng 35% lớn hơn 25% theo yêu cầu ==> đáp ứng điều kiện thứ hai

    Như vậy Bộ Công thương sẽ chấp nhận đơn khởi kiện của A.

    Nếu trong trường hợp chỉ có B khởi kiện, A có ý kiến không khởi kiện, và C không đưa ra ý kiến ==> đơn khởi kiện của B sẽ không được chấp nhận vì đã không đáp ứng điều kiện đầu tiên, vì chỉ có A và B bày tỏ ý kiến với tổng sản lượng là 35% + 20% = 55%, B chiếm 20% nhỏ hơn 50% của 55%. Ngay cả với điều kiện hai thì sản lượng của A ủng hộ đơn kiện chỉ là 20% nhỏ hơn 25 % theo yêu cầu.

    Nếu A yêu cầu khởi kiện, cả B và C đều không đồng ý khởi kiện, thì điều kiện thứ nhất đã không đạt, vì tổng sản lượng của tất cả các nhà sản xuất đã bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc phản đối là 35% + 20% + 45% = 100%, trong khi sản lượng của nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện là A chỉ có 35%, ít hơn 50% của 100% ==> đơn khởi kiện của A sẽ bị bác bỏ.

    b. Các trường hợp chấm dứt điều tra bán phá giá

    – Có 3 trường hợp trong quá trình điều tra bán phá giá, nước nhập khẩu nhận thấy 1 trong các điều kiện sau:

    • biên độ phá giá dưới 2%
    • kim ngạch nhập khẩu hàng bán phá giá dưới 3% tổng lượng nhập khẩu sản phẩm tương tự (chỉ áp dụng đối với nước xuất khẩu là nước đang phát triển)
    • biên độ bán phá giá lớn hơn 2% nhưng thiệt hại không đáng kể

    – Lưu ý: điều tra vẫn có thể được tiến hành nếu tổng cộng hàng nhập khẩu của 1 số nước có hoàn cảnh tương tự (như cùng là nước đang phát triển) chiếm trên 7% tổng khối lượng nhập khẩu cho dù lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước chiếm dưới 3% tổng khối lượng nhập khẩu nói trên.

    Ví dụ: nước A nhập khẩu gạo từ nước B, trong B có 3 doanh nghiệp xuất khẩu gạo vào A là doanh nghiệp C, D, E với sản lượng tương ứng là 0.5%, 2%, 0.4% ==> tổng lượng gạo nhập khẩu từ C, D, E là 0.5% + 2% + 0.4% = 2.9% nhỏ hơn 3% ==> A chấm dứt điều tra bán phá giá đối với các doanh nghiệp của B

    Ví dụ: cũng với ví dụ trên, thêm thông tin là A còn nhập khẩu gạo từ các quốc gia khác, H, G, và K với lượng nhập khẩu của H là 1.9%, của G là 1.8%, của K là 1% ==> tổng sản lượng nhập khẩu của B, H, G, K là 2.9% + 1.9% + 1.8% + 1% = 7.6% lớn hơn 7% ==> A vẫn tiến hành điều tra

    – Trường hợp đặc biệt: Cam kết giá (Điều 8 ADA) là hành vi tự nguyện của nhà xuất khẩu cam kết tăng giá hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào thị trường đang điều tra

    VD: đang trong quá trình điều tra sơ bộ, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu đưa ra kết luận sản phẩm nhập khẩu có hiện tượng bán phá giá, thì doanh nghiệp xuất khẩu cam kết tăng giá bán lên sao cho biên độ phá giá nhỏ hơn 2% ==> chấm dứt điều tra

    c. Áp dụng các biện pháp tạm thời (Điều 7 ADA)

    – Căn cứ:

    • khi có kết luận sơ bộ của cơ quan điều tra về việc bán phá giá dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước, và
    • việc áp dụng là cần thiết trong quá trình điều tra để ngăn chặn tồn tại đang xảy ra

    – Các biện pháp tạm thời có thể được áp dụng:

    • áp thuế tạm thời: ví dụ áp thuế bổ sung lên sản phẩm nhập khẩu bị coi là bán phá giá
    • áp dụng hình thức đảm bảo: yêu cầu doanh nghiệp bị coi là bán phá giá nộp 1 khoản tiền (để đảm bảo cho việc điều tra bán phá giá)
    • cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến áp dụng
    1. Áp thuế chống bán phá giá
      a. Thuế chống bán phá giá
      – Khái niệm: Là khoản thuế được áp bổ sung lên sản phẩm bị coi là bán phá giá (bên cạnh thuế nhập khẩu)

    – Mục đích:

    • đẩy giá của sản phẩm đó ngang bằng “giá trị thông thường” nhằm chấm dứt sự cạnh tranh không lành mạnh
    • bù đắp thiệt hại cho ngành sản xuất tương tự của nước nhập khẩu

    b. Điều kiện để áp thuế chống phá giá (Điều 5.2 ADA)

    – Có hành vi bán phá giá đã xảy ra

    – Gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại “đáng kể” đối với ngành sản xuất sản phẩm tương tự trong nước nhập khẩu

    – Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại

    c. Cách xác định mức thuế AD (Điều 8 ADA)

    – Thuế chống bán phá giá (thuế AD) do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định

    – Thuế AD được xác định cho từng nhà xuất khẩu 1 cách hợp lý (tùy theo mức độ bán phá giá)

    – Biện pháp AD thường được quy định là áp thuế nhập khẩu bổ sung

    – Mức thuế chống bán phá giá không được vượt quá biên độ bán phá giá. VD 1 sản phẩm bán phá giá 5% thì mức thuế chống bán phá giá không được vượt quá 5%

    d. Thời hạn áp dụng và xem lại thuế AD (Điều 11 ADA)

    – Thời hạn áp dụng thuế AD:

    • tối đa 5 năm kể từ khi được áp dụng
    • có thể áp dụng tiếp tục (sau 5 năm) nếu có cơ sở pháp lý

    – Thời gian tiến hành rà soát:

    • rà soát hàng năm: để tiến hành điều chỉnh mức bán phá giá cho phù hợp
    • rà soát cuối kỳ (rà soát hoàng hôn): kiểm tra xem có còn hiện tượng bán phá giá không, nếu vẫn còn sẽ tiếp tục gia hạn thêm 1 chu kỳ (tối đa 5 năm)

    III. Hiệp định SCM về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

    1. Khái quát về hiệp định SCM
      – Nằm trong nhóm Hiệp định điều chỉnh các biện pháp khắc phục thương mại

    a. Mục đích

    – Đưa ra khuôn khổ cho việc áp dụng trợ cấp

    – Điều chỉnh các hoạt động có thể được các nước thành viên thực hiện để đối kháng lại các tác động của trợ cấp

    b. Nội dung chủ yếu của SCM

    – Xác định khái niệm trợ cấp, các loại trợ cấp

    – Các điều kiện áp dụng biện pháp đối kháng

    – Trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đối kháng

    – Đối xử đặc biệt với các nước đang phát triển

    c. Phạm vi điều chỉnh SCM

    – Chỉ áp dụng đối với các trợ cấp cá biệt cho 1 doanh nghiệp hoặc 1 ngành kinh tế hoặc 1 nhóm doanh nghiệp

    – Áp dụng với hàng hóa công nghiệp và hàng hóa nông nghiệp

    1. Định nghĩa trợ cấp (Điều 1 SCM)
      – Là 1 khoản tài chính của Chính phủ hay cơ quan công quyền cấp cho tổ chức thương mại hoặc doanh nghiệp theo 1 trong các cách mang lại lợi nhuận:
    • chuyển kinh phí trực tiếp
    • miễn giảm 1 khoản thu của NN
    • cung cấp miễn phí 1 dịch vụ hay hàng hóa thay vì cơ sở hạ tầng chung

    Ví dụ: Để phát triển ngành sản xuất lúa gạo, chính phủ VN đã cho phép các doanh nghiệp sản xuất lúa gạo được vay vốn để sản xuất với lãi suất thấp hơn so với thị trường. Trường hợp này nghĩa là NN đã thay doanh nghiệp trả 1 phần lãi suất cho ngân hàng ==> Chính phủ VN đã thực hiện hành vi trợ cấp.

    Ví dụ: Cũng để hỗ trợ ngành sản xuất lúa gạo, Chính phủ VN miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất lúa gạo ==> đã thực hiện hành vi trợ cấp.

    – Tại sao hành vi trợ cấp của NN lại bị coi là hành vi bóp méo thương mại quốc tế ?

    Tại vi khi được trợ cấp, giá thành sản phẩm sẽ giảm so với sản phẩm tương tự tại quốc gia không được NN trợ cấp, sẽ gây ra sự không công bằng trong cạnh tranh.

    – Sự khác biệt giữa hành vi bán phá giá và hành vi trợ cấp ?

    Khi bán phá giá thì sự khác biệt về giá bán ở nước nhập khẩu, do doanh nghiệp xuất khẩu “cố tình” bán giá thấp để chiếm lĩnh thị trường. Còn khi thực hiện hành vi trợ cấp thì sự khác biệt về giá bán diễn ra ngay tại thị trường nước xuất khẩu, và do giá bán trong nước đã thấp thì giá xuất khẩu cũng sẽ rất cạnh tranh so với sản phẩm tương tự không được trợ cấp.

     Bán phá giá Trợ cấp
     Giống nhau: đều là hành vi bóp méo thương mại

    Chủ thể thực hiện Doanh nghiệp xuất khẩu Chính phủ của nước xuất khẩu
    Hành vi diễn ra Tại thị trường nước nhập khẩu Ngay tại thị trường nước xuất khẩu

    1. Các loại trợ cấp
      – Trợ cấp bị cấm: là “trợ cấp đèn đỏ” (Điều 3 SCM)

    – Trợ cấp có thể bị kiện: là trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị kiện (Điều 5 SCM), gọi là “trợ cấp đèn vàng”

    Chú ý: không còn quy định về loại trợ cấp “đèn xanh” – trợ cấp không bị kiện (quy định này chỉ tồn tại từ 01/01/1995 đến 31/12/1999)

    a. Trợ cấp bị cấm (Điều 3 SCM)

    – Định nghĩa: là trợ cấp có điều kiện, theo đó:

    • người được trợ cấp phải đáp ứng được những mục tiêu xuất khẩu nhất định (trợ cấp xuất khẩu): đây là loại trợ cấp gây ra bóp méo thương mại một cách hoàn toàn

    VD: Chính phủ VN ra chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo cho các doanh nghiệp VN, thưởng 10 triệu USD cho doanh nghiệp nào đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ USD

    VD: Chính phủ VN cung cấp miễn phí giống lúa gạo cho các doanh nghiệp sản xuất gạo cho doanh nghiệp có thành tích xuất khẩu tốt.

    • phải dùng hàng nội địa thay cho hàng nhập khẩu (trợ cấp thay thế nhập khẩu)

    – Các loại trợ cấp này bị cấm theo thương mại quốc tế

    b. Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị kiện (Điều 5 SCM)

    – Định nghĩa: là trợ cấp không bị cấm, nhưng có thể bị kiện hoặc áp dụng biện pháp đối kháng, nếu các trợ cấp này gây tác động xấu cho lợi ích của thành viên khác, như:

    • gây thiệt hại cho ngành kinh tế trong nước
    • gây thiệt hại nghiêm trọng
    • làm vô hiệu hoặc suy yếu các lợi ích có được từ GATT 1994
    1. Các biện pháp xử lý khi có trợ cấp
      – Gồm 2 cách:
    • giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO
    • áp dụng biện pháp đối kháng (Phần 5 SCM): hầu hết các quốc gia lựa chọn hình thức này

    a. Giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO (sẽ học sau)

    b. Áp dụng biện pháp đối kháng

    – Cơ sở pháp luật: Phần 5 SCM

    – Định nghĩa: là việc áp đặt 1 khoản thuế bổ sung (bên cạnh thuế nhập khẩu) nhằm vào hàng hóa nhập khẩu nhằm làm cân bằng, đối kháng lại các khoản trợ cấp.

    – Nguyên tắc và thủ tục áp thuế đối kháng: giống với ADA

    – Áp thuế đối kháng (Điều 19 SCM):

    • quyết định áp thuế đối kháng do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu quy định
    • số tiền thuế đối kháng sẽ thu có thể bằng mức trợ cấp hay thấp hơn mức trợ cấp
    • thuế đối kháng được xác định phù hợp với từng trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các sản phẩm nhập khẩu

    – Thời hạn áp dụng các biện pháp đối kháng: tối đa 5 năm kể từ ngày áp dụng

    • rà soát hàng năm: để điều chỉnh biện pháp đối kháng
    • rà soát hoàng hôn: quyết định có xóa bỏ biện pháp đối kháng hay không

    IV. Hiệp định tự vệ thương mại (SA)
    (Hiệp định thực thi điều 19 của GATT 1994)

    1. Khái quát
      – Nằm trong nhóm Hiệp định điều chỉnh các biện pháp khắc phục thương mại cùng với ADA và SCM.

    – Khác với hiệp Hiệp định ADA và SCM, hiệp định SA điều chỉnh hành vi trong trường hợp không có hành vi gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh, không có hành vi gây ra sự bóp méo thương mại như đã quy định trong ADA và SCM, nhưng trong trường hợp 1 quốc gia bị thiệt hại bởi quá trình tự do hóa thương mại thì quốc gia đó có quyền được áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại.

    a. Mục đích

    – Cho phép áp dụng các biện pháp tự vệ để bảo hộ tạm thời

    – Đưa ra khuôn khổ về điều kiện và thủ tục áp dụng để tránh lạm dụng biện pháp tự vệ để bảo hộ sản xuất trong nước.

    b. Nội dung chủ yếu của SA

    – Xác định khái niệm biện pháp tự vệ: thế nào là tự vệ, và trong trường hợp nào quốc gia được phép áp dụng biện pháp tự vệ

    – Quy định các loại biện pháp tự vệ có thể được áp dụng

    – Quy định về điều kiện, thủ tục, thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ

    c. Phạm vi điều chỉnh của SA

    – Chỉ áp dụng đối với thương mại hàng hóa, không áp dụng đối với thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ

    1. Nội dung của hiệp định SA
      a. Định nghĩa về biện pháp tự vệ
      – Là khi số lượng hàng nhập khẩu tăng đột ngột, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành kinh tế trong nước, nước nhập khẩu được phép tạm thời hạn chế nhập khẩu mặt hàng đó bằng cách:
    • tăng thuế nhập khẩu cao hơn mức thuế quan ràng buộc, hoặc
    • áp dụng các biện pháp hạn chế số lượng, trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc MFN

    – Ví dụ: nước A là nước có ngành sản xuất gạo, và cũng nhập khẩu gạo từ các nước khác. Trong 1 khoảng thời gian ngắn, lượng gạo nhập khẩu về nước A tăng đột biến, khiến cung cao hơn cầu, làm giảm giá gạo, ảnh hưởng đến ngành sản xuất gạo trong nước. Khi đó mặc dù không có bất kỳ hành vi bóp méo thương mại nào nhưng theo luật WTO thì nước A có thể áp dụng biện pháp tự vệ để bảo hộ tạm thời ngành sản xuất gạo trong nước, chẳng hạn áp thuế bổ sung, áp dụng hạn ngạch.

    b. Điều kiện để áp dụng biện pháp tự vệ

    – Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau:

    • số lượng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột
    • việc gia tăng hàng nhập khẩu đột ngột đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước
    • có mối quan hệ nhân quả: số lượng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột là nguyên nhân cơ bản gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước

    – Nguyên tắc chung của việc áp dụng các biện pháp tự vệ:

    • áp dụng ở mức độ cần thiết (Điều 5 SA): nhằm ngăn chặn thiệt hại nghiêm trọng xảy ra với ngành sản xuất trong nước
    • việc áp dụng các biện pháp tự vệ phải tuân thủ nguyên tắc MFN (Điều 5 SA), tuy nhiên vẫn có ngoại lệ ưu đãi cho quốc gia đang phát triển

    VD: A nhập khẩu từ B, C và D. Nếu A tuyên bố áp dụng biện pháp tự vệ bằng cách áp dụng hạn ngạch với B và C nhưng lại không áp dụng hạn ngạch với D thì khi đó A đã vi phạm nguyên tắc MFN. Tuy nhiên nếu B và C là quốc gia phát triển, còn D là quốc gia đang phát triển thì việc A làm như trên lại không vi phạm SA.

    c. Bồi thường thiệt hại thương mại khi áp dụng biện pháp tự vệ (Điều 8)

    – Tự vệ thương mại không phải là công cụ “miễn phí”, vì nó được sử dụng để “đối phó” với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường (không có hành vi vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh) nên về hình thức, việc áp dụng biện pháp tự vệ bị coi là đi ngược lại chính sách tự do hoá thương mại của WTO.

    Do đó biện pháp tự vệ là một công cụ “phải trả tiền”. Điều này có nghĩa là các nước được phép áp dụng nó bảo vệ ngành sản xuất của nước mình nhưng phải “trả giá” cho những thiệt hại mà biện pháp này gây ra cho các nhà sản xuất nước ngoài (như một hình thức cân bằng cam kết thương mại với nước khác).

    Cụ thể, nước áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ theo các điều kiện nhất định. Nếu nước này không tuân thủ, WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa.

    – Khái niệm:

    • “bồi thường” được hiểu là sự nhượng bộ dưới dạng giảm thuế quan đối với 1 hoặc nhiều mặt hàng khác của thành viên bị tác động bất lợi vì biện pháp tự vệ thương mại
    • nếu 2 bên không đạt được thỏa thuận về bồi thường thiệt hại, thì bên bị áp dụng biện pháp tự vệ thương mại có quyền khởi kiện hoặc áp dụng biện pháp “trả đũa”, bằng cách đánh thuế cao hơn, áp hạn ngạch, hoặc cấm các mặt hàng nhập khẩu từ nước đã áp dụng biện pháp tự vệ:

    Trả đũa song hành: ví dụ A áp biện pháp tự vệ với sản phẩm gạo từ B, B trả đũa bằng cách áp thêm thuế vào sản phẩm gạo nhập từ A
    Trả đũa chéo: ví dụ A áp biện pháp tự vệ với sản phẩm gạo từ B, trong khi B không xuất gạo sang A, mà B xuất khẩu thép sang A, thì B có thể trả đũa bằng cách áp thêm thuế với thép nhập từ A
    “Trả đũa” được hiểu là sự rút nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác cho nước áp dụng biện pháp tự vệ. Tuy nhiên không được thực hiện quyền trả đũa trong thời hạn 3 năm kể từ biện pháp tự vệ có hiệu lực, nếu biện pháp tự vệ này được thực hiện theo đúng quy định của SA.

    Quy định 3 năm sau mới được thực hiện quyền trả đũa là 1 kẻ hở để các nước lợi dụng. Ví dụ A muốn bảo hộ ngành sản xuất trong nước, A áp dụng biện pháp tự vệ theo đúng quy định của SA, sau 2 năm, A rút lại biện pháp tự vệ. Sau 3 năm B muốn trả đũa thì sẽ không có căn cứ. Hành vi của A đã giúp cho ngành sản xuất của A được 2 năm thuận lợi, nhưng lại gây thiệt hại cho B.

    WTO không khuyến khích thành viên áp dụng tự vệ thương mại.

    d. Các biện pháp tự vệ có thể được áp dụng

    – Tăng thuế nhập khẩu

    – Các biện pháp hạn chế số lượng hàng nhập khẩu

    e. Thời hạn áp dụng biện pháp tự vệ

    – Căn cứ pháp luật: Điều 7 SA

    • thời hạn tối đa: 8 năm, với các nước đang phát triển là 10 năm
    • quy định về “điều khoản hoàng hôn” tương tự ADA, SCM

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương II

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương II

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương II tập trung vào các nguyên tắc cơ bản của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cung cấp cho sinh viên cái nhìn sâu sắc về nền tảng hoạt động của hệ thống thương mại quốc tế. Chương II làm rõ các nguyên tắc cốt lõi như không phân biệt đối xử, minh bạch hóa, tự do hóa thương mại, và đối xử công bằng, giúp sinh viên hiểu cách WTO thúc đẩy sự ổn định, công bằng và phát triển bền vững trong thương mại toàn cầu. Đây là nội dung thiết yếu giúp người học áp dụng các nguyên tắc của WTO vào thực tiễn thương mại quốc tế.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương II

    Chương 2: Các nguyên tắc cơ bản của WTO

    I. Nguyên tắc tối huệ quốc

    1. Khái quát về nguyên tắc tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation)
      a. Khái niệm
      – Quy chế tối huệ quốc là cam kết của 1 quốc gia sẽ dành cho nước đối tác những ưu đãi có lợi nhất, tốt đẹp nhất.

    b. Sự phát triển của MFN

    – MFN ra đời từ thế kỷ 17, xuất phát từ nhu cầu mở rộng thương mại giữa các quốc gia, sau đó được quy định trong các hiệp định thương mại hàng hải song phương.

    – Đến năm 1947, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã sử dụng MFN một cách rộng rãi, và là 1 nguyên tắc cơ bản để thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại của WTO. Theo nguyên tắc này, bất kỳ ưu đãi, ưu tiên, đặc quyền hoặc miễn trừ nào mà nước thành viên dành cho sản phẩm của nước thành viên khác sẽ phải được dành cho sản phẩm cùng loại của tất các nước thành viên còn lại.

    Ví dụ: WTO có 162 thành viên, nếu nước A dành cho sản phẩm thịt gà của nước B ưu đãi (như mức thuế nhập khẩu ưu đãi) thì nước A cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho sản phẩm thịt gà của tất cả 160 nước thành viên còn lại của WTO.

    – MFN là sự ưu đãi như nhau, tức là đảm bảo sản phẩm nhập khẩu cùng loại sẽ được đối xử bình đẳng và không phân biệt tại nước nhập khẩu ==> MFN còn được gọi là nguyên tắc đối xử không phân biệt.

    – Thông thường các quốc gia áp dụng MFN theo nguyên tắc có đi có lại. Tuy nhiên với những quốc gia có nền kinh tế phát triển, thì MFN được họ áp dụng một cách vô điều kiện, tức là không cần quan tâm đến nước đối tác có ưu đãi tương tự cho sản phẩm của nước mình hay không.

    Điển hình là Mỹ, nước Mỹ đã trao quy chế MFN cho hầu hết các quốc gia trên thế giới (kể cả các quốc gia là thành viên của WTO và chưa là thành viên của WTO), do đó ở Mỹ thì MFN được coi là “đối xử bình thường”. Chú ý: ở Mỹ dùng thuật ngữ PNTR (Permanent Normal Trade Relations) – Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn, và thuật ngữ NTR (Normal Trade Relations) – Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường, 2 quy chế này được Mỹ áp dụng cho 2 nhóm quốc gia:

    • nhóm đạt được PNTR: tức là đạt được MFN vô điều kiện
    • nhóm chỉ đạt được NTR: tức là MFN có điều kiện, theo đó Mỹ sẽ tiến hành rà soát quy chế này hàng năm bằng những báo cáo liên quan VD báo cáo về nhân quyền, báo cáo về kinh tế thị trường, …
    1. Nội dung nguyên tắc tối huệ quốc trong WTO
      – Nội dung: dựa trên cam kết thương mại, 1 nước cam kết dành cho nước đối tác ưu đãi có lợi nhất mà nước đó đang và sẽ dành cho nước thứ 3 khác trong tương lai.
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương II
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương II

    – Bản chất của MFN trong WTO:

    • không phân biệt đối xử
    • vô điều kiện

    – Mục đích: hướng tới tự do hóa thương mại

    – Hiện WTO đã có 162 thành viên

    – Mức độ ưu đãi cao hơn MFN: đó là chế độ ưu đãi đặc biệt tại các thỏa thuận FTA thế hệ mới

    1. Nguyên tắc MFN trong thương mại hàng hóa
      – Cơ sở pháp lý: Điều 1 GATT 1994 Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại nào nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất – nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III, mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức và một cách không điều kiện.

    – Đối tượng áp dụng:

    • nhóm biện pháp tại cửa khẩu:

    Thuế quan: chủ yếu thuế nhập khẩu (thuế xuất khẩu thường = 0)
    Phí hải quan thuộc bất kỳ loại nào được áp dụng đối với hoặc có liên quan đến: hoạt động nhập khẩu, hoạt động xuất khẩu, hoạt động chuyển tiền thanh toán trong xuất nhập khẩu
    Các phương pháp đánh thuế và các phương pháp tính phụ thu
    Các biện pháp phi thuế quan khác: phí, lệ phí, phụ thu

    • nhóm biện pháp nội địa:

    Thuế trong nước hay các khoản thu nội địa
    Quy chế mua bán: luật pháp, quy tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở hoặc phân phối hàng trên thị trường nội địa
    – Ngoại lệ không áp dụng MFN: có 3 ngoại lệ

    • chế độ ưu đãi thuế quan đặc biệt
    • hội nhập kinh tế khu vực
    • chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập

    a. Chế độ ưu đãi thuế quan đặc biệt

    – Đây là chế độ ưu đãi thuế quan riêng dành cho 1 nhóm các quốc gia có quan hệ mật thiết với nhau, hình thành trước khi GATT 1947 ra đời, ví dụ như các quốc gia có đường biên giới chung ở châu Âu, Khối thịnh vượng chung, ưu đãi giữa Mỹ và Philipin (quan hệ chính quốc – thuộc địa), …

    Tuy nhiên sau đó thì các quốc gia có đường biên giới chung ở châu Âu thành lập EU, các quốc gia có quan hệ chính quốc – thuộc địa hình thành các FTA ==> chế độ này gần như không còn ý nghĩa thực tiễn

    – Hơn nữa chế độ này chỉ giới hạn trong số 23 thành viên sáng lập GATT 1947, các nước tham gia sau này không thể áp dụng chế độ này.

    – Tóm lại, hiện nay chế độ này gần như không còn ý nghĩa trong thương mại quốc tế hiện nay.

    b. Hội nhập kinh tế khu vực

    – Là 1 trong các ngoại lệ của GATT cho phép các thành viên vi phạm nguyên tắc MFN, tức là được phép có sự ưu đãi hơn cho 1 nhóm các nước thuộc khu vực mậu dịch tự do (FTA) hoặc đồng minh thuế quan (CU)

    VD: ASEAN, NAFTA là các khu vực mậu dịch tự do, EC là khu vực đồng minh thuế quan

    – Điều 24 GATT: các ưu đãi cao hơn MFN được xây dựng giữa các thành viên thuộc:

    • liên minh thuế quan (CU – Custom Union)
    • khu vực mậu dịch tự do (FTA – Free Trade Area)
    • hiệp định tạm thời sẽ không áp dụng cho các thành viên ngoại khối

    Chú ý: các FTA thế hệ mới hiện nay (như TTP, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hàn Quốc, Hiệp định thương mại VN-EU, …) không chỉ giới hạn trong lĩnh vực thuế quan mà còn mở rộng sang các ưu đãi trong thương mại dịch vụ, đầu tư, thậm chí có thể cả dịch chuyển thể nhân. Mặc dù trong các FTA đó đều có lời “Căn cứ vào Điều 24 GATT 1994”, tuy nhiên Điều 24 chỉ quy định về vấn đề thuế quan ==> nhu cầu sửa đổi bổ sung vào Điều 24 hiện nay.

    c. Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP (Generalized System of Preferences)

    – Là chế độ nhằm ưu đãi hơn cho các quốc gia đang phát triển.

    – Nước phát triển đơn phương tự nguyện dành cho hàng hóa xuất khẩu từ các nước đang phát triển mức thuế nhập khẩu ưu đãi

    – Chế độ này mang tính đơn phương, phụ thuộc vào quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia

    Chú ý: đây không phải nguyên tắc bắt buộc nên không nằm trong bất cứ điều khoản nào của GATT, mà quan hệ này hoàn toàn mang tính tự nguyện, cũng không mang tính song phương theo kiểu “có đi có lại”, mà mang tính ngoại giao rất lớn.

    Việt Nam là 1 trong các nước nhận được ít GSP nhất trong số các nước đang phát triển.

    II. Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT – National Treatment)

    1. Khái niệm
      – Khái niệm: Đối xử với hàng hóa nước ngoài như đối với hàng hóa tương tự của nước mình.

    VD: ở VN trước năm 1995 áp dụng chế độ 2 giá ở các điểm du lịch, đó là giá vé thăm quan cho người nước ngoài và giá vé cho người VN (thấp hơn). Sau 1995 thì đã bỏ chế độ 2 giá đó.

    Câu hỏi: MFN là đối xử bình đẳng giữa những “người khách” với nhau, còn NT là đối xử bình đẳng giữa “người khách” với “người nhà”, vậy nguyên tắc nào khó thực hiện hơn ?

    Trả lời: Nguyên tắc NT khó thực hiện hơn rất nhiều. Trong thương mại quốc tế có tự do hóa thương mại, và cũng có bảo hộ mậu dịch. Bất kỳ quốc gia nào cũng phải bảo hộ mậu dịch ở mức độ nào đó, tức là bảo hộ nền sản xuất trong nước, hay nói chính xác hơn là bảo vệ lợi ích của công dân nước mình. Thực tế các nước mặc dù cam kết thực hiện NT nhưng thường dựng lên những rào cản kỹ thuật tinh vi để bảo hộ nền sản xuất trong nước, nghĩa là tránh thực hiện NT một cách tinh vi, khó nhận biết.

    Chính vì vậy, MFN luôn dễ dàng được các quốc gia thông qua, trong khi NT lại là mục tiêu của các cuộc đàm phán rất căng thẳng giữa các quốc gia. Và như vậy NT là sự thể hiện rõ nhất của tự do hóa thương mại.

    1. Nội dung
      – Dựa trên cam kết thương mại, 1 nước sẽ dành cho sản phẩm, dịch vụ nhà cung cấp của nước khác những ưu đãi không kém hơn so với ưu đãi mà nước đó đang và sẽ dành cho sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp của nước mình.

    – Bản chất: không phân biệt đối xử

    – Mục đích: hướng tới tự do hóa thương mại

    • Sản phẩm tương tự (Like products):

    Cả MFN và NT đều hướng tới sự bình đẳng, và sự bình đẳng chỉ có ý nghĩa đối với các “sản phẩm tương tự” (nghĩa là sản phẩm thịt gà không thể “bình đẳng” với sản phẩm ô tô được). Như vậy có nghĩa là 1 sản phẩm muốn được đối xử bình đẳng thì phải chứng minh được sản phẩm đó là tương tự với 1 sản phẩm đang dược ưu đãi. Và 1 quốc gia có thể từ chối đối xử bình đẳng (tức là áp thuế cao hơn) với 1 sản phẩm bằng cách coi đó không phải là sản phẩm tương tự. Đây chính là điểm gây tranh cãi nhiều nhất trong WTO. Rất tiếc trong WTO lại không định nghĩa thế nào là “sản phẩm tương tự” mặc dù nhắc tới khái niệm này nhiều lần.

    Ví dụ: 1 vụ kiện điển hình về thịt bò giữa các nước Âu, Mỹ và Nhật Bản, theo đó Nhật Bản đã quy định thịt bò từ các nước châu Âu, Mỹ vào Nhật Bản phải qua 1 Ủy ban phân phối, còn thịt bò trong nước thì không phải qua Ủy ban phân phối này, việc qua Ủy ban phân phối làm tăng giá trị của thịt bò nhập khẩu ==> các nước châu Âu, Mỹ kiện Nhật Bản không tuân thủ nguyên tắc NT, đối xử bất bình đẳng.

    Lý lẽ của Nhật Bản đưa ra là thịt bò (Kobe) của Nhật khác với thịt bò nhập khẩu từ các nước Âu, Mỹ bởi vì thịt bò của Nhật trải qua quy trình chăn nuôi và giết mổ khác với ở châu Âu, Mỹ. Đó là bò Nhật Bản được massage hàng ngày, được ăn cỏ sạch, được nghe nhạc, … và khi giết mổ thì bằng phương pháp sốc điện (gọi là phương pháp nhân đạo), khác so với phương pháp truyền thống của các nước Âu, Mỹ (dùng búa đập vào đầu). Do đó Nhật coi 2 sản phẩm thịt bò là khác nhau, và áp dụng 2 chế độ khác nhau.

    Vụ việc này được đưa lên WTO, và WTO đã kết luận cho dù con bò có được nuôi dưỡng và giết mổ như thế nào thì những đặc tính cơ bản của nó vẫn giống nhau, và mục đích của thịt bò vẫn là để ăn, do đó WTO kết luận sản phẩm thịt bò của Nhật và sản phẩm thịt bò của châu Ân, Mỹ là sản phẩm tương tự. Kết quả là Nhật Bản phải rút lại biện pháp quản lý đối với sản phẩm thịt bò nhập khẩu.

    Sản phẩm tương tự được quy định trong HS – (Harmony System): hệ thống hài hòa của Liên minh hải quan quốc tế, theo đó những sản phẩm được coi là tương tự khi có cùng mã HS.

    Trong điều 2.6 ADA: sản phẩm tương tự là sản phẩm giống hệt, tức là sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét. Trong tường hợp không có sản phẩm giống hệt, thì có thể thay thế bằng sản phẩm gần giống, tức là sản phẩm có hầu hết các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét, và có thể thay thế hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm đang được xem xét.

    Như vậy, sản phẩm tương tự là:

    • sản phẩm giống hệt
    • sản phẩm gần giống
    • sản phẩm cạnh tranh trực tiếp hoặc có thể thay thế được
    1. Nguyên tắc NT trong thương mại hàng hóa
      – Cơ sở pháp lý: Điều 3 GATT 1994

    – Đối tượng áp dụng nguyên tắc NT:

    • thuế trong nước hay các khoản thu nội địa (Điều 3.2 GATT 1994)

    Hàng nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết nào sẽ không phải chịu, dù trực tiếp hay gián tiếp, các khoản thuế hay các khoản thu nội địa thuộc bất cứ loại nào vượt quá mức chúng được áp dụng, dù trực tiếp hay gián tiếp, với sản phẩm nội tương tự.

    • quy chế mua bán (Điều 3.4 GATT 1994) Sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết nào vào lãnh thổ của bất cứ một bên ký kết khác sẽ được hưởng đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ dành cho sản phẩm tương tự có xuất xứ nội về mặt luật pháp, quy tắc và các quy định tác động đến bán hàng, chào bán, mua, chuyên chở, phân phối hoặc sử dụng hàng trên thị trường nội địa.
    • quy chế số lượng (Điều 3.5 GATT 1994): cấm hoàn toàn yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa Không 1 bên ký kết nào sẽ áp dụng hay duy trì 1 quy tắc định lượng nội địa nào với pha trộn, chế biến, hay sử dụng sản phẩm tính theo khối lượng cụ thể hay theo tỷ lệ, trực tiếp hay gián tiếp đòi hỏi 1 khối lượng hay tỷ lệ nhất định của bất cứ 1 sản phẩm nào chịu sự điều chỉnh của quy tắc đó phải được cung cấp từ nguồn nội địa.

    VD: trước đây VN có yêu cầu các nhà sản xuất xe máy phải đáp ứng tỷ lệ nội địa hóa nhất định, sau khi gia nhập WTO thì VN đã bỏ quy định này.

    – Ngoại lệ không áp dụng NT:

    • Điều 3.8.a GATT: (Hiệp định mua sắm chính phủ) không nhằm mục đích thương mại, theo đó Chính phủ có thể ưu tiên mua hàng hóa nội địa hơn hàng hóa nhập khẩu, có thể ưu tiên cho các nhà thầu trong nước hơn so với nhà thầu nước ngoài.
    • Điều 3.8.b GATT: (Hiệp định SCM) WTO cho phép các nước thành viên chi trả các khoản trợ cấp cho sản xuất nội địa mà không chi trả những khoản này cho sản xuất của nước ngoài
    • Điều 4 GATT: (phân bổ thời gian trình chiếu phim về mục đích thương mại) thành viên WTO có thể đưa ra hay duy trì các quy định về số lượng phim ảnh trình chiếu, các quy tắc này sẽ có hình thức hạn ngạch về thời gian trình chiếu và đáp ứng các quy định tại GATT 1994.

    VD: rạp chiếu phim của nhà đầu tư nước ngoài phải đảm bảo thời lượng chiếu phim VN một số giờ nhất định; tương tự đối với các kênh truyền hình.

    Lý do là vì phim ảnh là sản phẩm đặc biệt, liên quan đến văn hóa xã hội.

    Trên thế giới hầu hết các quốc gia đều triệt để áp dụng ngoại lệ này để phát triển ngành phim ảnh quốc nội, cũng là hình thức để gìn giữ bản sắc văn hóa. Rất tiếc VN lại gần như không hề tận dụng quy tắc này, các rạp chiếu phim nước ngoài (như CGV) gần như không chiếu phim VN, hoặc nếu có thì với những điều khoản rất bất lợi cho nhà sản xuất phim VN, dẫn đến ngành điện ảnh của VN bị lép vế hoàn toàn ngay tại VN.

    III. Nguyên tắc mở cửa thị trường

    1. Nội dung
      – Cơ sở lý luận của nguyên tắc mở cửa thị trường:
    • lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
    • lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo

    theo đó, các nước không nên phát triển cách ngành sản xuất, dịch vụ giống như nhau, mà phải dựa trên điều kiện tự nhiên của mỗi nước để tập trung phát triển một số ngành công nghiệp nhất định, sau đó xuất khẩu sang nhau (nguyên tắc chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động quốc tế)

    – Nội dung của nguyên tắc: Các thành viên dựa trên cam kết của mình, thực hiện giảm dần và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại để tăng cơ hội tiếp cận thị trường trong nước cho hàng hóa, dịch vụ và nhà đầu tư nước ngoài.

    – Đây là nguyên tắc cơ bản, là nền tảng của các tổ chức, hiệp định thương mại tự do.

    – Chú ý: các nước thành viên sẽ không mở cửa ngay lập tức mà mở cửa từ từ theo lộ trình cam kết.

    – Nguyên tắc mở cửa thị trường đặt ra với tất cả các lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư lao động, vốn, … Trong WTO mới chỉ áp dụng nguyên tắc mở cửa thị trường với thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ.

    – Mở cửa thị trường được thực hiện thông qua các cam kết về:

    • cấm áp dụng biện pháp hạn chế về số lượng
    • giảm và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan
    • xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan
    1. Nguyên tắc mở cửa thị trường
      – Phần này sẽ nói về nguyên tắc mở cửa thị trường đối với thương mại hàng hóa, trong đó chủ yếu là xóa bỏ các biện pháp thuế quan và xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan.

    a. Thuế quan

    – Khái niệm: là khoản thu ngân sách áp dụng với hàng hóa khi nó dịch chuyển qua lãnh thổ hải quan.

    Chú ý: lãnh thổ hải quan không trùng với lãnh thổ quốc gia, VD liên minh châu Âu là 1 lãnh thổ hải quan, Đài Loan, Hồng Kong, Macau, …

    – Đặc điểm:

    • là 1 biện pháp tài chính
    • rất linh hoạt: mức thuế có thể thay đổi
    • minh bạch: danh mục thuế quan của mỗi quốc gia được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng
    • bảo hộ: bảo vệ sản xuất trong nước. Bản chất kinh tế hoạc của thuế quan là bảo hộ mậu dịch: khi mở cửa thị trường cho sản phẩm nước ngoài, có nghĩa là đã chia sẻ thị phần về sản phẩm đó, việc thu thuế nhập khẩu là 1 cách để bù đắp lại thiệt hại do việc nhường thị phần cho sản phẩm nước ngoài. Ngành nào cần bảo hộ thì mức thuế sẽ cao, ngành nào không cần bảo hộ thì mức thuế sẽ gần như không có.

    – Tự do hóa thương mại về thuế quan:

    • WTO chấp nhận việc duy trì hàng rào thuế quan ở tất cả các thành viên như là hàng rào bảo hộ duy nhất và hợp pháp
    • WTO khuyến khích thuế hóa: vì thuế là biện pháp minh bạch nhất trong các biện pháp bảo hộ (là cách “đánh đổi” của WTO, theo đó WTO sẵn sàng chấp nhận cho thành viên tăng thuế để đổi lấy việc bỏ hàng rào phi thuế quan)
    • nghĩa vụ: giảm thuế theo Hiệp định (tuy nhiên mức giảm này rất thấp)

    b. Phi thuế quan

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương I

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương I

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương I giới thiệu tổng quan về Luật thương mại quốc tế, giúp sinh viên nắm bắt những kiến thức cơ bản về khái niệm, phạm vi điều chỉnh, và vai trò của luật này trong nền kinh tế toàn cầu. Nội dung chương I cũng đề cập đến các nguyên tắc quan trọng trong thương mại quốc tế, các tổ chức thương mại hàng đầu như WTO, UNCITRAL, và các hiệp định thương mại song phương, đa phương. Đây là nền tảng lý thuyết quan trọng cho sinh viên trước khi đi sâu vào các quy định và thỏa thuận pháp lý chi phối hoạt động thương mại giữa các quốc gia.

    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương I

    Chương 1: Tổng quan về Luật thương mại quốc tế

    I. Các khái niệm

    1. Thương mại
      – Khái niệm (khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005) : Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm :
    • mua bán hàng hoá,
    • cung ứng dịch vụ,
    • đầu tư,
    • xúc tiến thương mại, và
    • các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

    Câu hỏi: Hoạt động giáo dục đào tạo có phải là hoạt động thương mại không ?

    Trả lời: Nếu mục đích là sinh lời thì sẽ là hoạt động thương mại, ngược lại sẽ là hoạt động phi thương mại. Ví dụ hoạt động đào tạo sinh viên của Đại học luật Hà Nội là hoạt động phi thương mại, vì hàng năm trường đại học luật vẫn nhận được kinh phí hỗ trợ từ NN để đảm bảo cho hoạt động của trường, tức là hoạt động của trường đại học luật không sinh ra lợi nhuận.

    Chú ý: có quan điểm cho rằng mọi hoạt động cung ứng, mua bán đều là hoạt động thương mại, theo đó thì giáo dục cũng là hoạt động thương mại

    Ở VN hiện nay, với quan điểm xã hội hóa giáo dục, NN đã mở cửa (tức là cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực giáo dục) với giáo dục ở một số lĩnh vực, VD lĩnh vực quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin, … và không mở cửa với một số lĩnh vực, VD không mở cửa với đào tạo luật, triết học, báo chí, … hoặc chỉ mở cửa với đào tạo luật quốc tế, không mở cửa với đào tạo luật dân sự, hình sự

    – Trong quan hệ quốc tế “công” (khi gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế, hay các hiệp định thương mại), việc xác định 1 hoạt động là thương mại hay phi thương mại là rất quan trọng. Vì nếu xác định là hoạt động thương mại thì sẽ phải mở cửa cho đối tác nước ngoài đầu tư vào. Nếu VN coi 1 hoạt động là phi thương mại, nhưng quốc gia khác lại không coi đó là phi thương mại, mà VN không bảo vệ được quan điểm thì sẽ phải chấp nhận hoạt động đó là thương mại, và sẽ phải mở cửa hoạt động đó.

    Bản chất của việc xác định hoạt động thương mại / phi thương mại là để NN bảo vệ “miếng bánh” của hoạt động đó trong nước.

    – Trong quan hệ quốc tế “tư” (quan hệ giữa thương nhân – thương nhân), việc xác định 1 hoạt động là thương mại hay phi thương mại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của cơ quan giải quyết tranh chấp. Nếu các bên muốn sử dụng trọng tài thì tranh chấp đó phải là tranh chấp thương mại. Nếu các bên xác định đó là tranh chấp phi thương mại thì phải yêu cầu tòa án giải quyết.

    1. Thương mại quốc tế
      – Khái niệm: Là hoạt động thương mại vượt ra khỏi biên giới của 1 quốc gia hoặc biên giới hải quan

    – Hoặc: thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài

    1. Luật thương mại quốc tế
      – Là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể trong quan hệ thương mại quốc tế
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương I;,
    Bài giảng môn học Luật thương mại quốc tế chương I;,

    – Nguồn của luật thương mại quốc tế:

    • điều ước quốc tế
    • luật quốc gia
    • án lệ
    1. Tự do hóa thương mại
      – Là xu hướng được khởi xướng từ sau thế chiến II

    – Tự do hóa thương mại là giảm bớt sự can thiệp của NN vào hoạt động thương mại. Ví dụ: giảm thuế, phí, dỡ bỏ thuế quan, giảm bớt các biện pháp kiểm dịch động, thực vật, giảm bớt các biện pháp va tiêu chuẩn chất lượng, giảm bớt các thủ tục hành chính, …

    – Gồm:

    • tự do lưu thông hàng hóa
    • tự do cung cấp dịch vụ
    • tự do dịch chuyển nguồn vốn
    • tự do chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
    • tự do dịch chuyển thể nhân: dịch chuyển người lao động

    Câu hỏi: trong các nội dung của tự do hóa thương mại trên thì nội dung nào là khó thực hiện nhất ?

    Trả lời: Tự do dịch chuyển thể nhân là khó nhất. Thực tế cho đến nay thì các nước đều không mở cửa cho việc dịch chuyển thể nhân (mở cửa thị trường lao động), mà chỉ mở cửa một cách rất hạn chế và có chọn lọc. Ở VN chỉ mở cửa cho nhân sự cấp cao mà VN không đáp ứng được, và cũng chỉ trong một số lĩnh vực nhất định.

    Ngay cả trong WTO thì hiện mới chỉ thực hiện được tự do lưu thông hàng hóa và tự do cung cấp dịch vụ.

    1. Bảo hộ mậu dịch
      – Là việc chính phủ 1 nước tăng cường các biện pháp tác động đến thương mại nhằm mục đích bảo vệ các ngành sản xuất, dịch vụ trong nước.

    – Nguyên nhân (lý do) của bảo hộ mậu dịch trong khi cả thế giới đang đi theo tự do hóa thương mại: tự do hóa thương mại yêu cầu sự bình đẳng giữa các quốc gia, tuy nhiên “sự bình đẳng giữa những nước có xuất phát điểm khác nhau lại là sự không bình đẳng”, các nước đều có hoàn cảnh kinh tế xã hội khác nhau, việc đòi hỏi bình đẳng hòa toàn trong thương mại quốc tế là không khả thi, và ở góc độ nào đó là không công bằng.

    Bản chất của tự do hóa thương mại là do các nước phát triển đặt ra, dẫn dắt “cuộc chơi”, do đó họ sẽ thiết kế các luật lệ để sao cho có lợi cho họ.

    – Chú ý: Tự do hóa thương mại và Bảo hộ mậu dịch là 2 xu hướng trái ngược nhau, mâu thuẫn với nhau, nhưng lại luôn song hành với nhau. Bất kỳ quốc gia nào cũng thực hiện bảo hộ mậu dịch để bảo vệ nền sản xuất trong nước, nhưng lại đều muốn hưởng lợi ích từ tự do hóa thương mại.

    WTO hướng tới tự do hóa thương mại, nhưng vẫn chấp nhận bảo hộ mậu dịch ở mức độ nhất định, cụ thể là WTO vẫn chấp nhận và khuyến khích các nước thực hiện bảo hộ mậu dịch bằng biện pháp thuế quan.

    II. Chủ thể của thương mại quốc tế
    Gồm: thể nhân, pháp nhân, quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức kinh tế quốc tế

    1. Thể nhân
      – Thể nhân là chủ thể “yếu” nhất trong 5 chủ thể của TMQT, nhưng lại là chủ thể quan trọng nhất của TMQT.

    Tại sao ? Vì trong 5 chủ thể của TMQT thì thể nhân là chủ thể duy nhất hữu hình, 4 chủ thể còn lại đều vô hình, và sự hoạt động của 4 chủ thể đó đều phụ thuộc vào thể nhân, không có thể nhân thì 4 chủ thể còn lại đó không thể hoạt động được.

    – Điều kiện chung của thể nhân để trở thành chủ thể của TMQT:

    • đầy đủ năng lực hành vi dân sự: các quốc gia có quy định khác nhau
    • không nằm trong nhóm bị truất quyền: bị truất quyền công dân, hoặc bị truất quyền kinh doanh (VD cấm kinh doanh trong 1 lĩnh vực nào đó trong 1 thời gian)
    • không nằm trong nhóm “bất khả kiêm nhiệm”: tức là nghề nghiệp chính mà thể nhân đang thực hiện không nằm trong danh mục cấm kiêm nhiệm công việc khác, VD công chức, luật sư, bác sỹ, công chứng viên

    – Thể nhân là chủ thể đầu tiên của TMQT: từ thời cổ đại, các cá nhân đã buôn bán từ vùng này sang vùng khác, từ nước này sang nước khác

    1. Pháp nhân
      – Là chủ thể không hữu hình do PL tạo nên và trao cho chủ thể đó quyền và nghĩa vụ pháp lý

    Pháp nhân = con người của pháp luật (tức là con người do pháp luật sinh ra)

    – Pháp nhân được sinh ra khi được cấp Giấy chứng nhận thành lập

    – Điều kiện của pháp nhân:

    • được thành lập hợp pháp
    • có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
    • có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó
    • nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

    – Pháp nhân xuất hiện sau thể nhân trong TMQT, nhưng có sức mạnh vượt trội so với thể nhân. Hiện nay pháp nhân là chủ thể có sự ảnh hưởng lớn nhất trong số 5 chủ thể của TMQT.

    Tại sao pháp nhân lại có sự ảnh hưởng lớn nhất ? Vì sức mạnh tại chính của pháp nhân đã cho phép pháp nhân có nhiều quyền lực.

    1. Quốc gia
      – Quốc gia là chủ thể có:
    • lãnh thổ xác định
    • dân cư ổn định
    • chính quyền thống nhất
    • độc lập trong tham gia quan hệ quốc tế

    – Khi tham gia vào quan hệ TMQT, quốc gia còn cần phải được công nhận (phải được công nhận để tham gia vào các điều ước quốc tế)

    – Vai trò của quốc gia trong TMQT:

    • xây dựng luật: đàm phán, thỏa thuận với các quốc gia khác để xây dựng luật
    • điều chỉnh các hoạt động trong nước để phù hợp với TMQT

    – Quốc gia có tham gia vào quan hệ TMQT không ?

    Theo tư pháp quốc tế thì quốc gia có quyền miễn trừ tư pháp (tức là miễn trừ xét xử, miễn trừ cưỡng chế, miễn trừ thi hành án) ==> nếu giữ nguyên các quyền miễn trừ này thì quốc gia không thể tham gia vào quan hệ TMQT. Tuy nhiên hiện nay thì quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào TMQT bằng cách từ chối một phần quyền miễn trừ tư pháp của mình bằng cách tuyên bố chấp nhận chịu sự xét xử của các cơ quan giải quyết tranh chấp nhất định và khi có phán quyết thì họ sẽ tuân thủ những phán quyết đó.

    1. Vùng lãnh thổ
      – Là 1 phần của trái đất gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời, vùng biển, vùng lòng đất và khoảng không vũ trụ

    – Vùng lãnh thổ có thể trở thành chủ thể của thương mại quốc tế:

    • vùng lãnh thổ tranh chấp chủ quyền
    • vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền 1 quốc gia
    • vùng lãnh thổ gồm nhiều quốc gia

    VD: liên minh châu Âu là vùng lãnh thổ 28 quốc gia châu Âu, Hồng Kong, Ma Cao, Đài Loan là chủ thể trong TMQT (đều là thành viên độc lập trong WTO, có quyền và nghĩa vụ độc lập với Trung Quốc)

    1. Tổ chức kinh tế quốc tế
      – Là liên kết giữa các chính phủ hoặc các nhân tố phi chính phủ nhằm tạo ra các diễn đàn về phát triển và hợp tác kinh tế. VD: WTO, Câu lạc bộ Paris (của các chủ nợ đối với nợ công – nợ quốc gia), Câu lạc bộ London (của các chủ nợ tư)

    – Vai trò chủ yếu của các tổ chức kinh tế quốc tế là tạo ra diễn đàn cho các bên ngồi lại với nhau để đưa ra những thỏa thuận và giải pháp để phát triển kinh tế

    III. Nguồn của luật thương mại quốc tế
    Gồm:

    • pháp luật quốc gia
    • điều ước quốc tế
    • tập quán thương mại quốc tế
    • án lệ
    1. Pháp luật quốc gia
      a. Khái niệm

    – Là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm của 1 quốc gia điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của PL quốc gia đó

    – PL quốc gia – nguồn của luật thương mại quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm của 1 quốc gia điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của PL quốc gia đó

    b. Nguồn của PL quốc gia

    – PL do NN ban hành: hiến pháp, luật, văn bản dưới luật

    – Án lệ

    – Tập quán thương mại quốc gia

    – (lẽ phải và công bằng)

    c. Trường hợp áp dụng

    – Luật áp dụng:

    • luật nội dung: điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ TMQT
    • luật hình thức: điều chỉnh quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp

    Luật quốc gia được áp dụng trong TMQT chủ yếu là luật nội dung.

    – Khi nào luật quốc gia được áp dụng trong TMQT ?

    • khi các bên thỏa thuận áp dụng luật quốc gia để điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế, theo các hệ thuộc (nguyên tắc chọn luật) :

    luật nơi giao kết hợp đồng
    luật nơi thực hiện hợp đồng
    luật nơi đặt vật (tài sản)
    luật nơi các bên đặt trụ sở thương mại

    • khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu: 1 hệ thống luật quốc gia được áp dụng để điều chỉnh 1 hợp đồng thương mại quốc tế dù 2 bên không lựa chọn:

    luật nơi đặt tòa án (Lex fori): tòa án có quyền chọn luật tại nơi (quốc gia) đặt tòa án để giải quyết tranh chấp
    luật quốc tịch của các bên chủ thể
    luật nơi cư trú của các bên chủ thể

    1. Điều ước quốc tế
      – Là thỏa thuận giữa 2 hoặc nhiều thực thể công nhằm điều chỉnh các quan hệ TMQT

    – Điều ước quốc tế là nguồn của luật thương mại quốc tế khi điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế

    – Phân loại:

    • điều ước song phương / đa phương
    • điều ước toàn cầu / khu vực

    – Trường hợp áp dụng:

    • đương nhiên áp dụng:

    Đối với quan hệ thương mại quốc tế công: tức là quan hệ thương mại giữa các thực thể công (các quốc gia) cùng là thành viên của các thỏa thuận, điều ước quốc tế
    Đối với quan hệ thương mại quốc tế tư: đến nay mới chỉ có duy nhất 1 điều ước quốc tế là Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) là có chứa các quy phạm quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong quan hệ TMQT. Tuy nhiên Công ước Viên 1980 này chỉ được áp dụng khi các bên không từ chối áp dụng nó; trường hợp ngược lại chỉ cần 1 bên không thừa nhận Công ước này thì Công ước này cũng không được áp dụng.

    • thỏa thuận áp dụng: trong quan hệ thương mại quốc tế tư
    1. Tập quán thương mại quốc tế
      a. Khái niệm
      – Tập quán thương mại quốc tế: còn gọi là “luật thương gia”, tức là do 1 nhóm các thương nhân thiết lập và dần dần được phổ biến trong các quan hệ TMQT

    – Tập quán thương mại quốc tế là thói quen:

    • hình thành lâu đời và được áp dụng liên tục trong thương mại quốc tế
    • được đa số các chủ thể hiểu rõ và áp dụng
    • có nội dung cụ thể rõ ràng

    b. Trường hợp áp dụng

    – Các bên thỏa thuận áp dụng: được ghi trong hợp đồng

    – Quy định áp dụng: tập quán thương mại quốc tế được các điều ước quốc tế liên quan quy định áp dụng

    – Luật trong nước quy định áp dụng: tập quán thương mại quốc tế được luật trong nước quy định áp dụng

    – Cơ quan giải quyết tranh chấp áp dụng: thường là nguồn bổ trợ, hoặc khi các nguồn chính không đủ để giải quyết tranh chấp

    c. Tập quán thương mại quốc tế phổ biến

    – Incoterms: áp dụng trong hợp đồng xuất nhập khẩu

    – PICC: áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế nói chung

    – UCC: áp dụng trong hợp đồng tín dụng, chuyển tiền, thanh toán quốc tế

    1. Án lệ

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Thương mại quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-thuong-mai-quoc-te?ref=lnpc

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Tư pháp quốc tế chương XI

    Bài giảng môn học Tư pháp quốc tế chương XI

    Bài giảng môn học Tư pháp quốc tế Chương XI: Hôn nhân và Gia đình trong Tư pháp Quốc tế – Chương XI giới thiệu các quy định và nguyên tắc về hôn nhân, gia đình khi có yếu tố nước ngoài, bao gồm những vấn đề pháp lý liên quan đến kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên gia đình trong môi trường quốc tế. Nội dung giúp người học nắm vững cơ sở pháp lý, hiểu cách áp dụng luật pháp trong các vụ việc hôn nhân và gia đình có sự khác biệt về quốc tịch hoặc địa lý, đảm bảo quyền lợi cho các bên theo quy định pháp luật quốc tế.

    Bài giảng môn học Tư pháp quốc tế chương XI

    Chương 11: Hôn nhân và gia đình trong tư pháp quốc tế

    I. Khái niệm quan hệ hôn nhân gia đình trong TPQT

    – Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

    – Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật Hôn nhân gia đình.

    – Quan hệ hôn nhân gia đình trong TPQT là quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài.

    Quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài

    – Khái niệm: (Khoản 25 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình 2014) Quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài gồm các trường hợp:

      • ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài
      • ít nhất một bên tham gia là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
      • các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

      – Chú ý: không được coi là có yếu tố nước ngoài đối với việc kết hôn, nhận con nuôi, … giữa công dân VN đang công tác, học tập, lao động, du lịch có thời hạn ở nước ngoài với nhau hoặc với công dân VN cư trú trong nước.

      VD: Chị A nhận nhiệm vụ công tác nước ngoài trong 5 năm, trong thời gian đó chị A về VN và nhận 1 đứa trẻ VN làm con nuôi. Quan hệ này không được coi là quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài.

      1. Xung đột PL trong quan hệ hôn nhân gia đình
        – Là hiện tượng 2 hay nhiều hệ thống PL cùng có thể áp dụng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài.

      – Phương pháp giải quyết xung đột PL trong quan hệ hôn nhân gia đình:

      • phương pháp xung đột: áp dụng quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế, quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia

      +phương pháp thực chất: áp dụng quy phạm thực chất trong điều ước quốc tế, quy phạm thực chất trong pháp luật quốc gia

      II. Giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn

      – Khái niệm kết hôn: là sự gắn bó của cặp đôi theo quy định của PL.

      Theo PL VN quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì: Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

      ==> như vậy PL VN không công nhận hôn nhân đồng giới

      Bài giảng môn học Tư pháp quốc tế chương XI
      Bài giảng môn học Tư pháp quốc tế chương XI

      Giải quyết xung đột PL về kết hôn theo PL các nước

      – Giải quyết xung đột PL về kết hôn là giải quyết xung đột về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn

        a. Điều kiện kết hôn

        – Là những đòi hỏi, yêu cầu của PL đặt ra khi kết hôn và chỉ khi đáp ứng đủ những điều kiện đó thì việc kết hôn mới hợp pháp và được PL bảo vệ

        – Các hệ thuộc:

        • luật quốc tịch
        • luật nơi cư trú
        • luật nơi tiến hành kết hôn

        b. Giải quyết xung đột PL về nghi thức kết hôn

        – Nghi thức kết hôn là trình tự tiến hành kết hôn chính thức để công nhận 1 cách hợp pháp quan hệ vợ chồng giữa 2 bên đương sự

        – Hệ thuộc: luật nơi tiến hành kết hôn

        Giải quyết xung đột PL về kết hôn theo PL VN

        – Cơ sở pháp lý:

          • Hiệp định tương trợ tư pháp giữa VN với các nước (hiện đã ký 17 hiệp định)
          • Văn bản PL của VN:
            • Luật hôn nhân gia đình 2014
            • Luật hộ tịch 2014
            • Nghị định 126/2014
            • Nghị định 123/2015

          a. Kết hôn theo quy định của các Hiệp định tương trợ tư pháp

          – Điều kiện kết hôn: các bên phải tuân thủ luật của nước mà họ là công dân (hệ thuộc luật quốc tịch) về điều kiện kết hôn. VD công dân Nga kết hôn với công dân VN thì công dân Nga phải tuân thủ luật Nga về điều kiện kết hôn, công dân VN phải tuân thủ luật VN về điều kiện kết hôn

          Ngoại lệ: ngoài việc tuân thủ hệ thuộc luật quốc tịch, các bên còn phải tuân thủ các quy định về cấm kết hôn theo PL của nước nơi tiến hành kết hôn (Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình 2014)

          Tình huống: nam công dân Nga 18 tuổi và nữ công dân VN 18 tuổi đăng ký kết hôn tại VN, hỏi có được đăng ký kết hôn không ?

          Trả lời: theo Hiệp định tương trợ tư pháp Việt – Nga thì mỗi bên sẽ tuân thủ điều kiện kết hôn của nước mình. Theo luật Nga thì nam đủ 18 tuổi, theo luật VN thì nữ đủ 18 tuổi là đủ điều kiện kết hôn. Ngoài ra do kết hôn tại VN nên phải tuân thủ các quy định về cấm kết hôn theo PL VN, điều này được quy định trong Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình VN 2014, ở đây cả 2 đều không vi phạm các điều cấm kết hôn. Do đó cuộc hôn nhân trên là hợp pháp và được đăng ký tại VN.

          – Nghi thức kết hôn: tuân thủ PL của nước nơi tiến hành kết hôn

          Ngoại lệ: nếu 2 bên cùng quốc tịch thì họ có thể tuân theo PL của nước mà họ mang quốc tịch

          b. Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của văn bản PL VN hiện hành

          (áp dụng khi không có Hiệp định tương trợ tư pháp)

          – Điều kiện kết hôn:

          • cơ sở pháp lý: Điều 126 Luật hôn nhân gia đình 2014

          Kết hôn giữa công dân VN với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của VN. Trong trường hợp này, về điều kiện kết hôn, các bên phải tuân thủ PL của nước mà họ mang quốc tịch. Ngoài ra họ còn phải tuân thủ các quy định của PL VN về điều kiện kết hôn.
          Tình huống: nam công dân Mỹ 18 tuổi và nữ công dân VN 18 tuổi đăng ký kết hôn tại VN, hỏi có được đăng ký không ?

          Trả lời: Vì Mỹ và VN chưa có Hiệp định tương trợ tư pháp nên sẽ áp dụng PL VN quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật HNGĐ VN 2014, theo đó thì dù nam thanh niên Mỹ và nữ công dân VN đều đã đủ tuổi kết hôn theo PL Mỹ và PL VN, tuy nhiên họ còn phải tuân thủ quy định của PL VN về điều kiện kết hôn, mà PL VN quy định nam phải đủ 20 mới được kết hôn. Do đó cuộc kết hôn này là không thể đăng ký tại VN.

          Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại cơ quan có thẩm quyền của VN. Trong trường hợp này, họ phải tuân thủ luật của nước mà họ mang quốc tịch. Ngoài ra còn phải tuân theo các quy định của PL VN.
          VD: 2 nam công dân Đan Mạch đăng ký kết hôn tại VN, mặc dù tại Đan Mạch họ sẽ được kết hôn, nhưng tại VN chưa công nhận hôn nhân đồng giới nên không thể đăng ký kết hôn tại VN. (Chú ý: họ có thể đến lãnh sự quán Đan Mạch tại VN để đăng ký kết hôn, khi đó họ không cần phải tuân theo luật VN)

          • các trường hợp từ chối đăng ký kết hôn: (Điều 33 Nghị định 123/2015) Việc đăng ký kết hôn bị từ chối nếu một hoặc cả hai bên vi phạm điều cấm hoặc không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.

          – Kết hôn ở nước ngoài:

          Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được ghi vào Sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn, các bên đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. (Khoản 1 Điều 34 Nghị định 123/2015)

          VD: nam công dân VN 18 tuổi kết hôn với 1 nữ công dân Mỹ 18 tuổi tại Mỹ. Theo luật Mỹ thì nam nữ dủ 18 tuổi là đủ điều kiện kết hôn, và cuộc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền Mỹ. Hỏi cuộc kết hôn đó có được công nhận tại VN không ?

          Trả lời: Chú ý ngoại lệ tại Khoản 2 Điều 34 Nghị định 123/2015, thì “Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng vào thời điểm yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào Sổ hộ tịch.”. Vào thời điểm kết hôn (tại Mỹ), nam công dân VN không đủ độ tuổi kết hôn theo PL VN, nhưng nếu tại thời điểm yêu cầu cơ quan có thẩm quyền VN công nhận (ghi sổ Hộ tịch) mà nam công dân VN đó đã đủ 20 tuổi, thì theo Khoản 2 Điều 34 Nghị định 123/2015 thì cuộc kết hôn đó vẫn được công nhận và được ghi vào Sổ hộ tịch.

          VD: nam công dân VN đã kết hôn, đi công tác sang Ả Rập, tại Ả Rập nam thanh niên đó kết hôn với 1 nữ công dân VN cũng đang công tác tại Ả Rập. Luật pháp Ả Rập cho phép nam công dân lấy nhiều vợ, nên cuộc kết hôn đó được cơ quan có thẩm quyền tại Ả Rập đăng ký. Hỏi cuộc kết hôn tại Ả Rập đó có được công nhận tại VN không ?

          Trả lời: cuộc kết hôn tại Ả Rập không được công nhận tại VN, do nam công dân VN đã vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng của luật pháp VN.

          Thủ tục: khi công nhận việc kết hôn thì sẽ được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn của UBND quận, huyện

          – Nghi thức kết hôn: kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền VN và tuân theo nghi thức dân sự do PL VN quy định.

          ==> VN không chấp nhận các nghi thức kết hôn khác như nghi thức tôn giáo (kết hôn tại nhà thời, …)

          – Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài (Điều 37 Luật hộ tịch): UBND cấp huyện nơi cư trú của công dân VN thực hiện đăng ký kết hôn:

          • giữa công dân VN với người nước ngoài;
          • giữa công dân VN cư trú ở trong nước với công dân VN định cư ở nước ngoài;
          • giữa công dân VN định cư ở nước ngoài với nhau;
          • giữa công dân VN đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân VN hoặc với người nước ngoài.

          Ngoại lệ: Thẩm quyền đăng ký kết hôn giữa công dân VN với công dân nước ngoài ở khu vực biên giới thuộc về UBND cấp xã (Khoản 1 Điều 18 Nghị định 123/2015: UBND xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân VN thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của VN tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của VN nơi công dân VN thường trú.)

          III. Giải quyết xung đột PL về ly hôn

          Giải quyết xung đột PL về ly hôn ở các nước

          Giải quyết xung đột PL về ly hôn tại Việt Nam

          a. Theo quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp

          – Nếu 2 vợ chồng có cùng quốc tịch thì áp dụng luật quốc tịch của vợ chồng để giải quyết ly hôn (hệ thuộc luật quốc tịch)

            – Nếu 2 vợ chồng khác quốc tịch:

            • nếu cùng cư trú tại 1 nước ký kết thì áp dụng PL nước ký kết nơi cùng cư trú của 2 vợ chồng (hệ thuộc luật nơi cư trú)
            • nếu không cùng cư trú tại 1 nước ký kết thì cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết nào nhận được đơn xin ly hôn sẽ giải quyết theo PL nước đó (hệ thuộc luật tòa án)

            b. Theo quy định của PL VN

            – Căn cứ áp dụng: Điều 127 Luật hôn nhân gia đình 2014:

            • Việc ly hôn giữa công dân VN với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở VN được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của VN theo quy định của Luật HNGĐ VN (áp dụng hệ thuộc luật nơi thường trú)
            • Trong trường hợp bên là công dân VN không thường trú ở VN vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo PL của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo PL VN.
            • Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo PL của nước nơi có bất động sản đó.
            • Việc giải quyết ly hôn giữa công dân VN với người nước ngoài ở nước ngoài thì sẽ được tòa án VN công nhận nếu đáp ứng các quy định của PL VN.

            – Thẩm quyền giải quyết: (Điều 123 Luật hôn nhân gia đình 2014)

            • thuộc về UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân VN.
            • Trường hợp ly hôn ở khu vự biên giới thì thẩm quyền sẽ thuộc về tòa án cấp huyện nơi cư trú của công dân VN.

            IV. Giải quyết xung đột PL về quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng

            1. Theo tư pháp quốc tế các nước
            2. Theo tư pháp quốc tế Việt Nam
              a. Theo quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp
              – Nếu 2 vợ chồng có cùng quốc tịch thì áp dụng luật quốc tịch của vợ chồng để giải quyết quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng (hệ thuộc luật quốc tịch)

            – Nếu 2 vợ chồng khác quốc tịch:

            • nếu cùng cư trú tại 1 nước ký kết thì áp dụng PL nước ký kết nơi cùng cư trú của 2 vợ chồng (hệ thuộc luật nơi cư trú)
            • nếu không cùng cư trú tại 1 nước ký kết thì cơ quan có thẩm quyền của nước ký kết nào nhận được đơn xin giải quyết sẽ giải quyết theo PL nước đó (hệ thuộc luật tòa án)

            b. Theo quy định của PL VN

            – Căn cứ áp dụng: (Điều 130 Luật hôn nhân gia đình 2014) nếu cả vợ chồng (bất kể mang quốc tịch nước nào) đều đang cư trú tại VN thì giải quyết theo PL VN.

            V. Giải quyết xung đột pháp luật về quan hệ pháp lý giữa cha mẹ và con
            – Gồm các quan hệ:

            • xác định cha, mẹ cho con
            • quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con
            • cấp dưỡng
            1. Theo tư pháp quốc tế các nước
            2. Theo tư pháp quốc tế Việt Nam
              a. Theo quy định của Hiệp định tương trợ tư pháp
              – Hầu hết đều áp dụng luật của nước mà cha mẹ và con cái cùng quốc tịch hoặc cùng nơi cư trú. Trong trường hợp cha mẹ và con cái khác quốc tịch hoặc khác nơi cư trú thì sẽ áp dụng luật quốc tịch hoặc luật nơi cư trú của đứa trẻ. Riêng đối với việc cấp dưỡng, sẽ ưu tiên áp dụng luật quốc tịch hoặc luật nơi cư trú của người yêu cầu cấp dưỡng.

            b. Theo quy định của PL VN

            – Căn cứ áp dụng: Khoản 2 Điều 128 Luật hôn nhân gia đình 2014

            • Vấn đề cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài: Điều 129 Luật hôn nhân gia đình 2014

            Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Tư pháp quốc tế: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-tu-phap-quoc-te?ref=lnpc

            Mời bạn xem thêm:

          .
          .
          .