Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương III tập trung vào ngôn ngữ trong văn bản pháp luật, giúp người học hiểu rõ tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ chính xác, rõ ràng và hợp lý trong các văn bản quy phạm pháp luật. Chương III giải thích các yêu cầu về ngữ nghĩa, cấu trúc câu, và thuật ngữ pháp lý, đồng thời cung cấp các nguyên tắc quan trọng để đảm bảo văn bản pháp luật dễ hiểu và có tính áp dụng cao.
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương III
Chương 3: Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật
Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật theo quy định pháp luật Việt Nam có những đặc điểm đặc trưng để đảm bảo tính chính xác, rõ ràng và hiệu quả trong việc áp dụng các quy định pháp lý. Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, ngôn ngữ trong văn bản pháp luật cần phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định về cấu trúc, tính hợp pháp và dễ hiểu. Dưới đây là một số điểm quan trọng về ngôn ngữ trong văn bản pháp luật Việt Nam:
1. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Việt
Theo Điều 8 Hiến pháp năm 2013 và Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, ngôn ngữ sử dụng trong các văn bản pháp luật tại Việt Nam phải là tiếng Việt. Đây là yêu cầu cơ bản để đảm bảo tính thống nhất và dễ hiểu đối với tất cả công dân và tổ chức trong nước.
2. Tính chính xác và rõ ràng
Ngôn ngữ pháp lý yêu cầu tính chính xác cao, không được mơ hồ hay mang tính ước lệ. Các từ ngữ và thuật ngữ pháp lý phải được lựa chọn cẩn thận và cụ thể, để tránh hiểu lầm hoặc sai sót trong việc áp dụng. Văn bản pháp luật phải diễn đạt rõ ràng, không có sự mập mờ trong các quy định để mọi người dân, tổ chức có thể dễ dàng hiểu và thực thi.
Ví dụ:
“Quyền sở hữu nhà ở” cần phải được định nghĩa rõ ràng, phân biệt với “quyền sử dụng đất” để tránh sự nhầm lẫn trong các giao dịch pháp lý.
“Không được phép xây dựng công trình vi phạm quy hoạch” cần được xác định rõ ràng về khái niệm “vi phạm quy hoạch” và các hậu quả đi kèm.
3. Tính minh bạch và dễ hiểu
Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật phải đảm bảo sự minh bạch, dễ hiểu đối với tất cả các đối tượng áp dụng, đặc biệt là đối với người dân và tổ chức. Điều này giúp cho mọi người dễ dàng hiểu được quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong các tình huống pháp lý cụ thể.
4. Sử dụng thuật ngữ pháp lý chuyên ngành
Trong văn bản pháp luật, các thuật ngữ pháp lý chuyên ngành được sử dụng để xác định các khái niệm pháp lý và đảm bảo tính chính xác trong diễn đạt. Tuy nhiên, khi sử dụng các thuật ngữ này, cơ quan soạn thảo phải giải thích hoặc định nghĩa rõ ràng để mọi người dễ dàng tiếp cận.
Ví dụ: Các thuật ngữ như “quyền sử dụng đất”, “hợp đồng mua bán”, “bảo vệ quyền lợi hợp pháp”, “thuế thu nhập cá nhân”, “lệ phí trước bạ” cần được sử dụng đúng nghĩa và trong ngữ cảnh phù hợp.
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương III
5. Sự chặt chẽ, logic và cấu trúc rõ ràng
Ngôn ngữ pháp lý cần đảm bảo sự chặt chẽ và logic trong cấu trúc câu. Các văn bản pháp luật phải có cấu trúc hợp lý, với các phần mục, điều khoản, khoản và điểm được trình bày rõ ràng để dễ dàng tra cứu và áp dụng.
Ví dụ:
Điều 1: Quy định chung
Điều 2: Quy định về các quyền và nghĩa vụ
Điều 3: Các hình thức xử lý vi phạm
6. Ngôn ngữ trung lập và khách quan
Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật Việt Nam cần phải trung lập và khách quan, tránh sử dụng từ ngữ mang tính chủ quan hoặc cảm tính. Các văn bản pháp luật phải tập trung vào việc điều chỉnh hành vi và quyền lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức mà không thiên vị một bên nào.
7. Cấu trúc câu điều kiện
Văn bản pháp luật Việt Nam thường sử dụng cấu trúc câu điều kiện (nếu… thì…) để xác định rõ các điều kiện áp dụng quy định trong các tình huống cụ thể. Điều này giúp làm rõ ràng các yêu cầu và trách nhiệm của các bên liên quan trong giao dịch pháp lý.
Ví dụ:
“Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.”
8. Sử dụng hình thức số, ký hiệu, biểu mẫu theo quy định
Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật Việt Nam thường sử dụng các số, ký hiệu, và biểu mẫu theo các quy định hiện hành để chuẩn hóa các tài liệu, giúp dễ dàng tra cứu và thực hiện. Các biểu mẫu này thường đi kèm với các văn bản pháp lý, ví dụ như mẫu hợp đồng, mẫu tờ khai thuế.
9. Quy định về việc sử dụng từ ngữ “phải” và “cấm”
Trong văn bản pháp luật, từ ngữ “phải” và “cấm” được sử dụng để quy định nghĩa vụ hoặc lệnh cấm đối với các hành vi, từ đó xác định rõ ràng trách nhiệm và hành động mà các cá nhân, tổ chức phải thực hiện.
Ví dụ:
“Cấm xây dựng công trình trái phép trên đất nông nghiệp.”
“Người sở hữu tài sản phải có trách nhiệm bảo vệ tài sản của mình.”
10. Tính bền vững và ổn định
Ngôn ngữ pháp lý cần phải có tính bền vững và không thay đổi quá nhiều để đảm bảo sự ổn định của hệ thống pháp luật. Điều này giúp cho các cá nhân và tổ chức có thể hiểu và tuân thủ pháp luật trong thời gian dài.
Ngôn ngữ trong văn bản pháp luật Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về sự chính xác, rõ ràng và dễ hiểu để đảm bảo hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật. Các quy định về ngôn ngữ trong các văn bản pháp luật giúp tạo ra một hệ thống pháp lý minh bạch, ổn định và dễ thực thi, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương II sẽ giúp bạn nắm vững quy trình xây dựng văn bản pháp luật, một bước quan trọng trong việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật. Chương II cung cấp kiến thức chi tiết về các bước từ việc nghiên cứu, xây dựng dự thảo đến việc hoàn thiện và ban hành văn bản pháp lý. Bạn sẽ hiểu rõ các quy định, thủ tục và cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả và chính xác.
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương II
Chương 2: Quy trình xây dựng văn bản pháp luật
Ví dụ về quy trình xây dựng, ban hành VBPL:
– Phạm luật giao thông, bị phạt vi phạm hành chính 300.000, khi đó chiến sỹ cảnh sát giao thông sẽ:
+ Lập biên bản vi phạm (vì quy định mức phạt từ 250.000 trở lên phải lập biên bản): đây là thủ tục bắt buộc chứ không phải là VBPL
+ Quyết định xử phạt hành chính: đây là VBPL (chính xác hơn là VBADPL), thể hiện ý chí của chiến sỹ cảnh sát là người đang thực hiện nhiệm vụ được NN giao
==> đây là quy trình ban hành VBPL chỉ do 1 chủ thể thực hiện
– Trường đại học Luật Hà Nội cần tuyển dụng giảng viên, quy trình sẽ như sau:
+ phòng Tổ chức chủ trì soạn thảo Quyết định tuyển dụng giảng viên
+ phòng Hành chính sẽ thẩm định hình thức Quyết định của phòng Tổ chức: đây là thủ tục không bắt buộc
+ dự thảo văn bản được chuyển lại cho phòng Tổ chức để xác nhận lại, sau đó được chuyển lên Hiệu trưởng để ký ban hành
+ sau khi Hiệu trưởng ký, văn bản sẽ được chuyển đến văn thư để vào số và ban hành.
==> quy trình ban hành VBPL do nhiều chủ thể ban hành: chủ thể có thẩm quyền ban hành là Hiệu trưởng, chủ thể soạn thảo là phòng Tổ chức, chủ thể thẩm định là phòng Hành chính, chủ
– Thành phố Hà Nội ban hành quyết định để thu hút đầu tư:
+ UBND thành phố Hà Nội giao cho Sở Kế hoạch đầu tư chủ trì soạn thảo
+ Sở Kế hoạch đầu tư soạn thảo
+ Đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân (đưa lên web duthaoonline.vn, tổ chức hội thảo lấy ý kiến, đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng)
+ Sở Kế hoạch đầu tư tiếp nhận các ý kiến, hoàn thiện dự thảo
+ Chuyển sang Sở Tư pháp để thẩm định về tính chính trị, hợp hiến, hợp pháp, hợp lý của văn bản. Kết quả là Báo cáo thẩm định
+ Chuyển lên cho UBND để trong kỳ họp HĐND sẽ xem xét, đánh giá văn bản, sửa chữa, bổ sung nếu cần thiết
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương II
+ Sau khi hoàn thiện, trả về cho UBND thành phố Hà Nội
+ Văn phòng UBND sẽ vào số, ban hành văn bản rộng rãi đến các đối tượng của văn bản
– Quy trình ban hành luật Dân sự:
+ Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi
+ Bộ Tư pháp giao cho Vụ Dân sự kinh tế soạn thảo: thành lập Ban soạn thảo (Trưởng ban soạn thảo thường là Bộ trưởng, Thường trực ban soạn thảo là Vụ trưởng), Tổ biên tập (có thể mời các nhà khoa học, những người có uy tín, nhân dân tham gia)
+ Sau khi soạn thảo, đưa lên web duthaoonline.vn để lấy ý kiến nhân dân trong 60 ngày, tổ chức các hội thảo để tham vấn, phỏng vấn người dân để lấy ý kiến, …
+ Tổ biên tập và Ban soạn thảo sẽ tiếp thu các ý kiến, hoàn thiện dự thảo
+ Chỉnh phủ thành lập Hội đồng thẩm định (vì Bộ Tư pháp chủ trì nên không thể tự thẩm định được) gồm các Bộ, ngành khác, văn phòng chính phủ, và một số cơ quan, cá nhân, … để đánh giá, thẩm định văn bản. Kết quả là Báo cáo thẩm định của hội đồng
+ Dự thảo được chuyển đến Hội đồng dân tộc, UB PL của Quốc hội, các cơ quan có liên quan khác của Quốc hội để thẩm tra văn bản. Kết quả là Báo cáo thẩm tra
+ Báo cáo thẩm định và Báo cáo thẩm tra được gửi lại cho Chính phủ, chuyển lại cho Sở tư pháp để hoàn thiện
+ Dự thảo hoàn thiện được chuyển đến UBTV Quốc hội, UBTV Quốc hội sẽ đưa ra tại 1 kỳ họp Quốc hội để các đại biểu QH bàn luận, thông qua
+ Sau khi được đa số đại biểu QH thông qua, sẽ chuyển về Văn phòng Quốc hội để vào số, chủ tịch QH ký chứng thực
+ Chờ Lệnh của Chủ tịch nước để công bố chính thức và sẽ có hiệu lực tại thời điểm quy định trong Luật
Câu hỏi: Thẩm định là hoạt động bắt buộc đối với mọi dự thảo VBPL.
Trả lời: Sai. Vì quy trình ban hành VBPL cấp xã không tiến hành thẩm định
Câu hỏi: Mọi VBPL sau khi được chủ thể có thẩm quyền thông qua phải đăng công báo.
Trả lời: Sai. Vì với VBPL thuộc loại Bí mật NN thì sẽ không đăng công báo
Câu hỏi: Chính phủ là chủ thể duy nhất được đề xuất xây dựng PL
Trả lời: Sai. Vì các đại biểu quốc hội, các tổ chức chính trị, XH đều được đề xuất xây dựng PL
Câu hỏi: Thẩm định thủ tục hành chính và giới là 1 trong những nội dung bắt buộc của quy trình phân tích chính sach
Trả lời: Đúng theo luật Ban hành VBPL 2015 (có hiệu lực từ 1/7/2016)
– Theo luật ban hành VBPL 2008, trình tự xây dựng VBQPPL gồm các bước:
+ B1: Đề xuất / Lập chương trình xây dựng VBQPPL
+ B2: Soạn thảo VBQPPL
+ B3: Thẩm định, thẩm tra dự thảo VBQPPL
+ B4: Trình để xem xét dự thảo
+ B5: Thông qua và công bố VBQPPL
– Theo luật ban hành VBPL 2015, sẽ gồm 2 quy trình riêng biệt:
+ Quy trình xây dựng chính sách
B1: Đề xuất sáng kiến xây dựng VBQPPL
B2: Phân tích chính sách
B3: Phê duyệt chính sách
+ Quy trình xây dựng VBQPPL
– Chủ thể đề xuất xây dựng VBQPPL, gồm 3 chủ thể:
+ chính phủ: cụ thể là các bộ, ngành đề xuất (chiếm đến trên 90% số VBQPPL)
+ các tổ chức chính trị-XH
+ đại biểu quốc hội: đến nay chưa có đại biểu quốc hội nào đề xuất dự án luật thành công (có 2 người đề nghị nhưng đều không được thông qua)
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương I cung cấp cái nhìn tổng quan về khái quát về văn bản pháp luật, giúp sinh viên và người học hiểu rõ những nguyên lý cơ bản trong việc soạn thảo và ban hành các văn bản pháp lý. Chương I không chỉ giải thích khái niệm, vai trò và đặc điểm của văn bản pháp luật mà còn làm rõ các quy trình, kỹ thuật xây dựng văn bản sao cho đảm bảo tính chính xác, rõ ràng và hiệu quả. Đây là nền tảng quan trọng cho những ai muốn nắm vững kiến thức về hệ thống pháp luật và quy trình xây dựng các văn bản pháp lý tại Việt Nam.
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương I
Chương 1: Khái quát về văn bản pháp luật
I. Khái niệm văn bản pháp luật
1. Định nghĩa và đặc điểm
a. Định nghĩa
– Văn bản PL là hình thức thể hiện ý chí của NN, được ban hành theo hình thức, thủ tục PL quy định, luôn mang tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bởi NN.
b. Các đặc điểm
Gồm 04 đặc điểm:
– Do chủ thể có thẩm quyền ban hành: nhân danh NN để ban hành, gồm:
+ các cơ quan NN từ TW đến cấp xã: Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ (nghị định, nghị quyết), UBND các cấp (quyết định, chỉ thị), tòa án các cấp (bản án, quyết định), viện kiểm sát các cấp (cáo trạng, kháng nghị, quyết định)…
+ những cá nhân có thẩm quyền ban hành:
Thủ trưởng một số cơ quan NN (tự mình ban hành, không thay mặt cơ quan NN): Thủ tướng Chính phủ (quyết định, chỉ thị), Chánh án TANDTC (quyết định, chỉ thị, thông tư), Viện trưởng VKSNDTC (quyết định, chỉ thị, thông tư), Chủ tịch UBND các cấp (quyết định, chỉ thị)
Chú ý: + Chủ tịch nước là chế định 1 người, nên thuộc nhóm Cơ quan NN chứ không phải nhóm Thủ trưởng cơ quan NN
+ quyết định, chỉ thị là văn bản PL cá biệt; thông tư, nghị định là văn bản PL quy phạm
+ UBND các cấp và Chủ tịch UBND các cấp đều có thẩm quyền ban hành quyết định, chỉ thị ==> phân biệt thế nào ==> căn cứ vào Luật Ban hành VBPL để biết thẩm quyền; ngoài ra với từng lĩnh vực cụ thể, cần xem xét luật chuyên ngành.
VD khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, cần áp dụng luật Đất đai, cấp sổ đỏ lần đầu thì thẩm quyền thuộc UBND cấp huyện chứ không thuộc về cá nhân Chủ tịch UBND cấp huyện, nhưng cấp sổ đỏ lần 2 lại thuộc về cấp tỉnh
VD xử phạt vi phạm hành chính thì sẽ áp dụng luật Xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm thuộc về Chủ tịch UBND chứ không thuộc UBND
Công chức khi thi hành công vụ: chiến sỹ công an, bộ đội biên phòng, nhân viên hải quan, nhân viên kiểm lâm, nhân viên thuế, nhân viên quản lý thị trường, thanh tra viên chuyên ngành, …
Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, tàu hỏa khi các phương tiện này rời khỏi sân bay, bến cảng, nhà ga (chỉ được quyền tạm giữ người vi phạm theo thủ tục hành chính, lập biên bản, và giao cho cơ quan chức năng có thẩm quyền ở điểm đến kế tiếp)
Bài giảng môn học Xây dựng văn bản pháp luật chương I
+ cơ quan TW của các tổ chức chính trị-XH (6 tổ chức: Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội nông dân, Tổng Liên đoàn lao động) phối hợp với UBTV Quốc hội hoặc Chính phủ để ban hành nghị quyết liên tịch (theo luật Ban hành VBQPPL 2008, đến luật Ban hành VBQPPL 2015 thì chỉ còn duy nhất Đoàn Chủ tịch UB TW Mặt trận tổ quốc VN mới được quyền phối hợp với UBTV Quốc hội hoặc Chính phủ để ban hành nghị quyết liên tịch)
– Có nội dung là ý chí của NN: (đây là đặc điểm quan trọng nhất) hình thức biểu hiện của ý chí:
+ thông qua các quy phạm PL:
Chủ trương, chính sách, biện pháp của NN: VD Nghị định số 99 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường; Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương cho người nước ngoài mua nhà; Nghị quyết của UBND thành phố Hà Nội về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2016
Đặt ra các nguyên tắc: luật của luật, VD nguyên tắc mỗi hành vi vi phạm hành chính chỉ được xử phạt 1 lần
Quy tắc xử sự chung: VD Bộ giáo dục đào tạo ban hành Quy chế chung về đào tạo hệ đại học
Quy phạm cấm: không được, không cho phép, cấm, nghiêm cấm, VD Nghiêm cấm người chưa đủ 18 tuổi sử dụng, mua, bán thuốc lá
Quy phạm bắt buộc thực hiện hành vi (VD bắt buộc đội mũ bảo hiểm),
Quy phạm tùy nghi: là quy phạm trao quyền cho công dân, tức là không cấm, cũng không bắt buộc phải thực hiện
+ thông qua mệnh lệnh áp dụng PL: những mệnh lệnh áp dụng PL mang tính bắt buộc, VD Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông A
– Có tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bởi NN: đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp:
+ tuyên truyền, phổ biến đến người dân
+ biện pháp tổ chức hành chính nội bộ trong NN: chỉ đạo, đôn đốc, công văn hướng dẫn, thông báo,… việc thực hiện luật, nghị định, thông tư tại địa phương, cơ quan mình
+ biện pháp kinh tế: VD áp thuế để hạn chế (thuốc lá, rượu, hàng xa xỉ), chính sách ưu đãi thuế (với các sản phẩm công nghệ cao, nông nghiệp), phạt tiền
+ cưỡng chế: truy cứu hành chính, truy cứu hình sự
– Thủ tục ban hành và hình thức phải tuân theo quy định của PL
Tình huống: 1 vụ tai nạn giao thông, chiến sỹ cảnh sát giao thông đến và lập các văn bản:
+ Biên bản ghi lại vụ tai nạn
+ Biên bản bàn giao vụ việc cho cơ quan hình sự điều tra
+ Quyết định xử phạt hành chính (nếu chưa đến mức hình sự)
+ Bản án của tòa
Hỏi: văn bản nào trong các văn bản trên có đầy đủ các đặc điểm của văn bản PL.
Trả lời: Quyết định xử phạt hành chính, và Bản án của tòa là các văn bản PL. Còn các biên bản là các văn bản hỗ trợ cho văn bản PL.
2. Phân loại văn bản pháp luật
– Dựa vào hiệu lực pháp lý, chia thành:
+ văn bản luật
+ văn bản dưới luật
– Dựa vào chủ thể ban hành, chia thành:
+ văn bản PL của cơ quan lập pháp
+ văn bản PL của cơ quan hành pháp
+ văn bản PL của cơ quan tư pháp
– Dựa vào phạm vi lãnh thổ tác động, có:
+ văn bản cấp trung ương
+ văn bản cấp địa phương
– Dựa vào tính chất pháp lý (nội dung), văn bản PL chia làm 2 loại:
+ văn bản quy phạm PL
+ văn bản áp dụng PL
Văn bản quy phạm PL
Văn bản áp dụng PL
Đều là văn bản PL, tức là có đầy đủ 4 đặc điểm của văn bản PL
Nội dung
Chứa quy phạm PLVD:+ bộ luật hình sự+ luật cán bộ, công chức+ luật đất đai+ nghị định của chính phủ về xử phạt hành chính trong giao thông đường bộ
Chứa mệnh lệnh áp dụngVD:+ bản án của tòa án+ quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm+ quyết định giao đất, thu hồi đất+ quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Đối tượng áp dụng
Là tổ chức, cá nhân trừu tượngVD: mọi công dân, doanh nghiệp, trẻ em, nhà đầu tư, …
Là người, tổ chức cụ thểVD: ông Nguyễn Văn A, công ty X, …
Số lần thực hiện
Nhiều lần, lặp đi lặp lại
1 lần duy nhất
Tính chất bắt buộc
Có tính bắt buộc chung
Bắt buộc với đối tượng cụ thể
II. Tiêu chí đánh giá chất lượng VBPL
Văn bản quy phạm PL có chất lượng khi đáp ứng đồng thời những tiêu chí sau:
1. Tiêu chí về chính trị
– Có nội dung phù hợp với chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng: cơ sở là Điều 4 Hiến pháp, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước, NN thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thành PL
– Phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người dân: nhằm đảm bảo tính khả thi của văn bản, thể hiện tính dân chủ
2. Tiêu chí về tính hợp hiến, hợp pháp
a. Tính hợp hiến của văn bản
– Phải có nội dung phù hợp với quy định cụ thể của Hiến pháp.
VD thông tư 334 của Bộ Y tế về tiêu chuẩn sức khỏe của người tham gia giao thông đường bộ, trong đó có quy định về chiều cao dưới 1.4m, nặng dưới 40kg, vòng ngực dưới 60cm thì không được tham gia giao thông ==> vi phạm quy định về quyền tự do đi lại của người dân được quy định trong Hiến pháp
– Phải có nội dung phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp
– Phải phù hợp với tinh thần của Hiến pháp
b. Tính hợp pháp
VBPL phải phù hợp với các quy định của PL, tức là:
– Phải đúng thẩm quyền:
+ đúng thẩm quyền về hình thức: sử dụng đúng tên gọi do luật quy định. VD chính phủ ban hành Nghị định, Chính phủ không được ban hành Luật
+ đúng thẩm quyền về nội dung: là ban hành văn bản PL để giải quyết công việc hay điều chỉnh 1 lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình
– Phải có nội dung hợp pháp:
+ VBQPPL của cấp dưới phải phải có nội dung phù hợp với VBQPPL của cấp trên
+ nội dung VBADPL phải phù hợp với VBQPPL: ví dụ, khung hình phạt tù đối với tội A là từ 3 đến 10 năm, thì tòa không thể ban hành bản án phạt tù 11 năm, hay cho hưởng án treo
– Phải đúng căn cứ pháp lý:
+ văn bản được dùng làm căn cứ phải đang có hiệu lực pháp lý
+ phải có nội dung điều chỉnh liên quan trực tiếp đến VBQPPL viện dẫn làm căn cứ
– Phải đúng thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của PL
– Được ban hành đúng thủ tục và trình tự
3. Tiêu chuẩn về tính hợp lý
Hợp lý có nghĩa và ban hành 1 VBPL để giải quyết 1 lĩnh vực, 1 công việc một cách tối ưu nhất và đem lại hiệu quả tốt nhất.
Biểu hiện của tính hợp lý:
– Có nội dung phù hợp với yêu cầu của thực tiễn: VD 1 thông tư của bộ Giáo dục đào tạo có quy định Bà mẹ VN anh hùng đi thi đại học được cộng 2 điểm ==> không phù hợp với thực tiễn vì chưa từng có bà mẹ VN anh hùng nào thi đại học
– Phù hợp với đạo đức, tôn giáo, thuần phong mỹ tục: VD quy định mỗi đám tang chỉ được có tối đa 5 vòng hoa, tuy mục đích để tiết kiệm, nhưng không phù hợp với phong tục về tang lễ các vùng miền
– Phải ban hành kịp thời
– Sử dụng ngôn ngữ diễn tả đúng quy tắc:
+ ngôn ngữ phải đảm bảo tính trang trọng, nghiêm túc
+ đảm bảo tính chính xác, 1 nghĩa
+ đảm bảo tính phổ thông, dễ hiểu
– Tính thống nhất
– Đảm bảo kết cấu văn bản lo-gic, chặt chẽ:
+ nội dung khái quát trình bày trước nội dung cụ thể
+ nội dung quan trọng trước, ít quan trọng sau
+ quy định về quyền và nghĩa vụ trước quy định về trình tự thực hiện
+ theo trình tự diễn biến của công việc (theo bộ luật Tố tụng hình sự / bộ luật Tố tụng dân sự, luật khiếu nại tố cáo, …)
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng ASEAN chương VI với nội dung về cơ chế giải quyết tranh chấp ASEAN sẽ giúp người học khám phá các phương thức và nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong khu vực. Chương này tập trung phân tích vai trò của Hiệp định giải quyết tranh chấp ASEAN (ASEAN DSM) và các cơ chế đối thoại, hòa giải nhằm duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác kinh tế – chính trị giữa các quốc gia thành viên.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương VI
Chương 6: Cơ chế giải quyết tranh chấp Asean
Khái quát
– Định nghĩa: Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật, cơ quan và thủ tục giải quyết tranh chấp cũng như thi hành phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp của ASEAN.
– Nguyên tắc giải quyết tranh chấp (Điều 22 Hiến chương):
+ Bằng biện pháp hòa bình
+ Kịp thời
+ Bao trùm tất cả lĩnh vực hợp tác
– Cơ sở pháp lý:
+ Tuyên bố Bangkok 1967
+ Hiệp ước Bali 1976
+ Nghị định thư sửa đổi Hiệp ước Bali 1987
+ Nghị định thư Viên Chăn 2004
+ Hiến chương ASEAN 2007
+ Nghị định thư 2010
+ Các điều ước quốc tế chuyên biệt
Cơ chế giải quyết tranh chấp chính trị – an ninh
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương VI
a) Cơ chế giải quyết tranh chấp theo TAC
– Phạm vi (Điều 14 TAC):
+ Theo tính chất tranh chấp: các tranh chấp hoặc tình hình có thể phá hoại hoà bình và hoà hợp trong khu vực
+ Theo chủ thể: 2 nhóm chủ thể
các quốc gia thành viên ASEAN
các thành viên TAC có liên quan đến xung đột
– Nguyên tắc (Điều 13 TAC):
+ Giải quyết hoà bình các tranh chấp
+ Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
+ Giải quyết thông qua thương lượng hữu nghị
– Biện pháp:
+ Thương lượng trực tiếp (Điều13 TAC)
+ Trung gian (Điều 15 TAC)
+ Điều tra (Điều 15 TAC)
+ Hòa giải (Điều 15 TAC)
– Cơ quan giải quyết tranh chấp theo TAC: hội đồng cấp cao, là cơ quan ad-hoc, tức là cơ quan giải quyết theo vụ việc (không phải cơ quan chuyên trách hay thường trực), chỉ được thành lập theo yêu cầu của các bên tranh chấp
+ Thành viên: đại diện cấp bộ trưởng của mỗi bên Hiệp ước
+ Nhiệm vụ:ghi nhận vụ việc, làm trung gian, khuyến nghị biện pháp giải quyết tranh chấp
– Thủ tục giải quyết tranh chấp theo TAC:
+ Tổ chức “thương lượng hữu nghị” trực tiếp để giải quyết tranh chấp
+ Nếu không giải quyết được thì thành lập Hội đồng cấp cao nhằm:
Hội đồng cấp cao có thể làm trung gian hoặc uỷ ban trung gian, điều tra, hoà giải
Khuyến nghị biện pháp giải quyết
Khuyến nghị biện pháp ngăn chặn tranh chấp hoặc tình hình xấu đi
b) Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư 2010
– Phạm vi (Điều 2 Nghị định thư 2010):
+ Theo tính chất tranh chấp: các văn kiện pháp lý của ASEAN
+ Theo chủ thể: các quốc gia thành viên ASEAN
– Nguyên tắc: theo nguyên tắc giải quyết tranh chấp chung của ASEAN
– Biện pháp (Điều 8 Nghị định thư 2010):
+ Tham vấn
+ Môi giới
+ Trung gian
+ Hòa giải
+ Trọng tài
– Trình tự thủ tục:
– Cơ sở pháp lý:
+ Nghị định thư Manila 1996
+ Nghị định thư Viêng-chăn 2004 (thay thế cho Nghị định thư Manila 1996, tuy nhiên với tranh chấp phát sinh trước khi Nghị định thư Viêng-chăn 2004 có hiệu lực thì vẫn sẽ áp dụng Nghị định thư Manila 1996 để giải quyết)
– Phạm vi giải quyết tranh chấp: cơ chế giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư 2004 được sử dụng để giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích, áp dụng các hiệp định kinh tế trong ASEAN, cụ thể gồm:
+ các hiệp định về kinh tế mà ASEAN đã ký kết
+ các hiệp định về kinh tế mà ASEAN sẽ ký kết trong tương lai
– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
+ Ban hội thẩm: đánh giá khách quan toàn bộ tranh chấp, có tính chất sơ thẩm
+ Cơ quan phúc thẩm: xem xét, đánh giá lại phán quyết của ban hội thẩm
+ Hội nghị quan chức kinh tế cấp cao (SEOM): có thẩm quyền thành lập Ban hội thẩm để giải quyết tranh chấp, thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các báo cáo đó
+ Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM): thành lập Cơ quan phúc thẩm
+ Ban Thư ký ASEAN: hỗ trợ cho các cơ quan trên trong việc giải quyết tranh chấp và theo dõi việc tuân thủ các phán quyết sau tranh chấp
– Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư Viêng-chăn 2004:
+ 1 bên tranh chấp gửi đề nghị tham vấn đến bên kia
+ trong vòng 30 ngày quốc gia nhận đề nghị tham vấn phải trả lời, và các quốc gia sẽ bước vào vòng tham vấn trong vòng 60 ngày
+ nếu tham vấn thành công ==> kết thúc giải quyết tranh chấp, các bên thực hiện các cam kết đạt được sau tham vấn
+ nếu tham vấn không thành: 1 trong các bên đưa yêu cầu ra SEOM để thành lập Ban hội thẩm nhằm giải quyết tranh chấp
+ Ban hội thẩm thu thập chứng cứ, đưa ra phán quyết
+ nếu các bên đồng ý với phán quyết của Ban hội thẩm ==> kết thúc tranh chấp, các bên có nghĩa vụ tuân theo phán quyết của ban hội thẩm
+ nếu không đồng ý thì kháng cáo lên AEM để thành lập Cơ quan phúc thẩm
+ Cơ quan phúc thẩm xem xét lại toàn bộ báo cáo của Ban hội thẩm (chứ không có thẩm quyền xem lại toàn bộ vụ án), đưa ra phán quyết. Phán quyết này có giá trị chung thẩm, các bên không có quyền kháng cáo
Chú ý: nếu bên nhận được tham vấn không trả lời đề nghị tham vấn trong thời gian quy định, hoặc đã trả lời tham vấn nhưng các bên không thể tổ chức được vòng tham vấn trong thời gian quy định thì 1 trong các bên có quyền đề nghị thành lập Ban hội thẩm để giải quyết tranh chấp
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương V
Chương 5: Phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và tương trợ tư pháp hình sự Asean
1. Tổng quan về tội phạm xuyên quốc gia trong khu vực ASEAN
Khái niệm: Tội phạm xuyên quốc gia bao gồm các hành vi phạm tội có tính chất vượt biên giới, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia trong khu vực, như buôn người, ma túy, rửa tiền, tội phạm mạng, khủng bố, v.v.
Thực trạng tại ASEAN: ASEAN là khu vực đối mặt với các vấn đề tội phạm xuyên quốc gia ngày càng phức tạp, do vị trí địa lý chiến lược và sự hội nhập kinh tế ngày càng tăng.
2. Cơ chế hợp tác ASEAN trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia
Công ước ASEAN về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia (ACTIP):
Hợp tác chặt chẽ giữa các nước thành viên ASEAN nhằm chống lại các hành vi buôn bán người, khai thác trẻ em và lao động cưỡng bức.
Kế hoạch hành động phòng chống tội phạm xuyên quốc gia (ASEAN Plan of Action to Combat Transnational Crime):
Các lĩnh vực ưu tiên như chống buôn lậu ma túy, buôn bán động vật hoang dã, và tội phạm công nghệ cao.
Tổ chức thực thi:
Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về Tội phạm xuyên quốc gia (AMMTC).
Các tiểu ban hợp tác về tội phạm như khủng bố, ma túy, buôn người.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương V
3. Tương trợ tư pháp hình sự trong ASEAN
Hiệp định tương trợ tư pháp ASEAN về các vấn đề hình sự (MLAT):
Tạo khuôn khổ pháp lý cho các quốc gia thành viên hỗ trợ lẫn nhau trong điều tra, truy tố và xét xử tội phạm xuyên quốc gia.
Quy định các thủ tục tương trợ như cung cấp chứng cứ, dẫn độ, và hỗ trợ truy tìm tài sản phạm tội.
4. Thách thức trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia
Khác biệt pháp lý: Các quốc gia thành viên có hệ thống pháp luật khác nhau, gây khó khăn trong phối hợp.
Hạn chế về nguồn lực: Một số nước ASEAN gặp khó khăn về kỹ thuật và tài chính trong việc thực thi hiệu quả các cơ chế hợp tác.
Phạm vi mở rộng của tội phạm công nghệ cao: Tội phạm mạng ngày càng tinh vi, vượt xa các quy định hiện hành.
5. Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác trong ASEAN
Thống nhất pháp lý: Điều chỉnh các quy định pháp luật quốc gia phù hợp với các công ước và hiệp định ASEAN.
Tăng cường năng lực thực thi: Đào tạo đội ngũ, hiện đại hóa công nghệ phục vụ điều tra và truy tố tội phạm.
Mở rộng hợp tác quốc tế: Kết nối ASEAN với các đối tác như INTERPOL, Liên Hợp Quốc trong việc chống tội phạm xuyên quốc gia.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng ASEAN chương IV với nội dung về khu vực đầu tư ASEAN tập trung làm rõ những quy định và chính sách thúc đẩy hợp tác đầu tư giữa các quốc gia thành viên. Chương này phân tích các cơ chế pháp lý quan trọng như ACIA (Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN), các nguyên tắc không phân biệt đối xử, bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương IV
Chương 4: Khu vực đầu tư Asean
1. Khái quát về khu vực đầu tư ASEAN (AIA)
a) Định nghĩa khu vực đầu tư ASEAN (AIA)
– Khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area – AIA) là khu vực đầu tư giữa các nước ASEAN, mà tại đó các quốc gia thành viên tiến hành các hoạt động tự do hóa, bảo hộ, xúc tiến và thuận lợi hóa đầu tư nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài khối, tăng cường khả năng cạnh tranh và phát triển năng động của ASEAN.
b) Cơ sở pháp lý của AIA
– Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) năm 2009
– Các gói cam kết của các quốc gia thành viên:
+ Gói cam kết chung của cả khối
+ Gói cam kết là kết quả của các vòng đàm phán
2. Nội dung pháp lý của AIA
a) Một số khái niệm pháp lý trong AIA
– Đầu tư: là quá trình huy động và sử dụng vốn vào 1 hoạt động kinh tế cụ thể nhằm thu lợi nhuận và / hoặc lợi ích kinh tế xã hội
Có 2 hoại đầu tư:
+ đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý, điều hành hoạt động đầu tư
+ đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
– Trong AIA thì đầu tư được hiểu là “đầu tư trực tiếp”
– Nhà đầu tư ASEAN: là thể nhân hoặc pháp nhân của quốc gia thành viên đã và đang tiến hành đầu tư trong lãnh thổ của quốc gia thành viên khác (Điều 4 – ACIA)
Thể nhân: là bất cứ thể nhân (cá nhân) nào có quốc tịch hoặc quyền công dân, hoặc quyền thường trú tại 1 quốc gia theo PL của quốc gia đó
– Khoản đầu tư: là mọi hình thức tài sản do nhà đầu tư sở hữu hoặc có quyền định đoạt (Điều 4 – ACIA), gồm:
+ Động sản và bất động sản cùng các quyền tài sản khác như thế chấp, cầm cố hoặc đặt cọc
+ Cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy nợ và bất kì hình thức khác tham gia vào pháp nhân và các quyền hay lợi ích phát sinh từ đó
+ Quyền sở hữu trí tuệ được công nhận theo PL của mỗi quốc gia thành viên
+ Quyền đòi nợ hoặc quyền đối với việc thực hiện hợp đồng liên quan tới kinh doanh và có giá trị tài chính
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương IV
b) Tự do hóa đầu tư
– Là việc xóa bỏ các rào cản đối với đầu tư:
+ xóa bỏ các biện pháp cấm đầu tư (khoản 3 Điều 3 ACIA 2009) đối với các lĩnh vực: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai khoáng, khai thác đá, các dịch vụ phụ trợ các lĩnh vực trên, và bất kỳ lĩnh vực nào khác mà được tất cả các thành viên đồng ý
+ xóa bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư:
Xóa bỏ các biện pháp liên quan đến yêu cầu đối với đầu tư nước ngoài (dẫn chiếu tới Hiệp định TRIMs của WTO):
Yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa: quốc gia yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài phải sử dụng hàng hóa hay nguyên vật liệu đầu vào sản xuất trong nước với tỷ lệ nội địa nhất định.
Ví dụ: Năm 2012, Chính phủ Thái Lan ban hành quy định: thiết bị điện tử được sản xuất bởi các công ty đăng ký thành lập và tham gia hoạt động sản xuất ở Thái Lan phải có hàm lượng nội địa tối thiểu 25% trong năm đầu tiên. Tỷ lệ này sẽ tăng 5% mỗi năm và phải đạt tối đa 45% trong 5 năm.
Yêu cầu về cân bằng thương mại: tức là yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài khi nhập khẩu một số lượng hàng hóa có giá trị bao nhiêu thì phải xuất khẩu số lượng hàng hóa có giá trị tương ứng
Xóa bỏ các biện pháp liên quan đến quản trị doanh nghiệp: sắp xếp nhân sự trong bộ máy quản lý (VD yêu cầu bắt buộc phải có bao nhiêu công dân nước sở tại trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp đầu tư tại nước sở tại)
+ xóa bỏ các biện pháp phân biệt đối xử:
Giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài: ==> áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia: đối xử với nhà đầu tư nước ngoài như với nhà đầu tư trong nước
Giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau: ==> áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc: dành chế độ đãi ngộ như nhau cho các nhà đầu tư ASEAN và các khoản đầu tư của họ
– Ngoại lệ: Điều 9, 10, 17 và 18 ACIA 2009 (là các trường hợp liên quan đến an ninh quốc gia, sức khỏe cộng đồng)
c) Bảo hộ đầu tư
– Mục đích:
+ Đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư và khoản đầu tư của họ
+ Đối xử công bằng và bình đẳng đối với các nhà đầu tư và bảo hộ đầy đủ đối với các khoản đầu tư và các lợi ích khác của nhà đầu tư
Đối xử công bằng và bình đẳng: trong các hoạt động pháp lý và hành chính, tức là các quy định về thủ tục hành chính, hoặc các quy định về pháp lý đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các nhà đầu tư với nhau
– Nội dung bảo hộ đầu tư:
+ Bồi thường trong trường hợp mất ổn định (Điều 12 ACIA): quốc gia sở tại có trách nhiệm bồi thường nếu những bất ổn về chính trị, chính sách ảnh hưởng đến các nhà đầu tư
+ Đảm bảo hoạt động chuyển tiền (Điều 13 ACIA)
+ Tịch biên và bồi thường (Điều 14 ACIA)
+ Thế quyền (Điều 15 ACIA)
+ Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với quốc gia thành viên (Điều 28 – 41 ACIA)
Chú ý: thông thường theo Luật quốc tế thì khi nhà đầu tư có nước ngoài có tranh chấp với 1 quốc gia thì nhà đầu tư đó sẽ thông qua chính phủ nước mình để giải quyết tranh chấp, tức là khi đó giải quyết tranh chấp sẽ là giữa quốc gia với quốc gia. Tuy nhiên, trong ACIA thì cho phép nhà đầu tư trực tiếp giải quyết tranh chấp với 1 quốc gia thành viên ==> đây được đánh giá là tư tưởng rất hiện đại của ASEAN
d) Xúc tiến và thuận lợi hóa đầu tư (Điều 24, 25 ACIA)
– Xúc tiến đầu tư gồm các hoạt động (Điều 24 ACIA):
+ Ban hành các chính sách đầu tư
+ Bổ sung ngành nghề đầu tư và mạng lưới sản xuất
+ Tổ chức và hỗ trợ tổ chức hội thảo về cơ hội đầu tư, môi trường đầu tư, ưu đãi đầu tư…
+ Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và các công ty xuyên quốc gia
– Thuận lợi hóa đầu tư (Điều 25 ACIA):
+ Đơn giản hóa thủ tục hành chính
+ Công khai thông tin liên quan đến đầu tư
+ Thành lập cơ quan một cửa về đầu tư
+ Củng cố cơ sở dữ liệu trong tất cả hình thức đầu tư
+ Tham vấn với cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề đầu tư
+ Cung cấp dịch vụ tư vấn cho cộng đồng doanh nghiệp
——————–
Ngày 16/10/2016
Giảng viên: cô …
Vấn đề 5: Các vấn đề pháp lý về hợp tác ngoại khối – Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN
I. Cơ chế hợp tác ngoại khối
Định nghĩa
– Hợp tác ngoại khối là quan hệ hợp tác của ASEAN với các đối tác bên ngoài (không bao gồm quan hệ hợp tác giữa từng quốc gia thành viên với bên ngoài).
Nguyên tắc hợp tác ngoại khối
– Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
– Các nguyên tắc chung của ASEAN
– Các nguyên tắc hợp tác ngoại khối đặc thù:
+ Không phương hại thỏa thuận song phương hiện có
+ Bổ sung và không thay thế cho những khả năng hợp tác của ASEAN
+ Ưu tiên dự án có lợi cho tất cả thành viên
+ Hợp tác không điều kiện (nếu có, áp dụng như nhau cho tất cả các thành viên)
+ Có thể tiến hành ngoài khu vực nếu được thỏa thuận
Thiết chế điều phối
– Thiết chế có thẩm quyền chung (Điều 41 Hiến chương): điều phối toàn diện hoạt động của ASEAN, trong đó có hợp tác ngoại khối, gồm:
+ Cấp cao ASEAN (định hướng chiến lược)
+ Hội nghị ngoại trưởng ASEAN (đảm bảo nhất quán và đồng bộ trong quan hệ đối ngoại)
+ Hội đồng điều phối ASEAN (quy định thủ tục ký điều ước quốc tế)
+ Hội đồng cộng đồng ASEAN
– Thiết chế đối ngoại chuyên trách (Điều 42 Hiến chương): điều phối quan hệ hợp tác ngoại khối, gồm:
+ Điều phối viên đối thoại: là quốc gia thành viên, có chức năng đại diện chính thức cho ASEAN trong đối ngoại, với nhiệm vụ điều phối và thúc đẩy lợi ích của ASEAN trong quan hệ với đối tác
+ Ủy ban ASEAN ở bên thứ ba: là ủy ban của ASEAN ở nước thứ ba hoặc bên cạnh tổ chức quốc tế, có chức năng hỗ trợ cho điều phối viên đối thoại, với nhiệm vụ thúc đẩy lợi ích và bản sắc ASEAN tại nước chủ nhà hoặc tại tổ chức quốc tế
Quy chế dành cho các đối tác (Điều 44 Hiến chương)
Chia thành 5 cấp độ từ thấp đến cao như sau:
– Khách mời: hợp tác ở mức độ khởi đầu, được mời tham dự các cuộc họp của ASEAn để lắng nghe quan điểm của ASEAN và quan điểm của các quốc gia trong khu vực
– Quan sát viên: dành cho quốc gia có tiềm năng gia nhập ASEAN, quan sát viên được tham dự các cuộc họp từ cấp bộ trưởng ASEAN trở lên, lắng nghe ý kiến của các thành viên ASEAN, tuy nhiên không được quyền bỏ phiếu
– Đối tác phát triển: hợp tác đặc biệt, thể hiện định hướng hợp tác trong từng giai đoạn
– Đối thoại theo lĩnh vực: hợp tác trong một số lĩnh vực, VD đối thoại hợp tác với ASEAN trong hợp tác kinh tế
– Đối thoại đầy đủ: hợp tác tương đối toàn diện trong tất cả các lĩnh vực
Một số khuôn khổ hợp tác ngoại khối của ASEAN
– ASEAN + 1: hợp tác giữa ASEAN với 1 nước bên ngoài
– ASEAN + 3: hợp tác giữa ASEAN với Trung, Nhật, Hàn
– Cấp cao Đông Á (AES, gồm 18 thành viên): 10 nước ASEAN, Trung, Nhật, Hàn, Nga, Mỹ, Úc, Ấn Độ, New Zealand
– ARF: 27 thành viên, bao gồm AES và các nước Canada, Mông Cổ, Triều Tiên, EU, Pakistan, …
– Cấp độ hợp tác: cấu trúc đa tầng nấc, đan xen, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau
– Nội dung hợp tác: bao trùm tất cả các lĩnh vực Chính trị-an ninh, Kinh tế, Văn hoá – xã hội
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng ASEAN chương III với nội dung trọng tâm về tự do hóa thương mại dịch vụ ASEAN mang đến cái nhìn sâu sắc về quá trình hội nhập kinh tế khu vực. Tự do hóa thương mại dịch vụ không chỉ là mục tiêu chiến lược của ASEAN nhằm tăng cường sự cạnh tranh và thu hút đầu tư, mà còn là chìa khóa thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho các quốc gia thành viên.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương III
Chương 3: Tự do hóa thương mại dịch vụ Asean
1. Khái quát
– Dịch vụ là hoạt động của con người được kết tinh thành sản phẩm vô hình nhằm đáp ứng nhu cầu của con người
– Đặc trưng của dịch vụ:
+ tính vô hình
+ tính không thể lưu trữ: quá trình sản xuất dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu thụ dịch vụ
– Các loại hoạt động dịch vụ: theo GATS thì dịch vụ gồm 12 ngành và khoảng 160 phân ngành (theo WTO) + dịch vụ kinh doanh (46 phân ngành)
+ dịch vụ bưu chính viễn thông (24 phân ngành)
+ dịch vụ xây dựng và tư vấn thiết kế (5 phân ngành)
+ dịch vụ phân phối (5 phân ngành)
+ dịch vụ giáo dục (5 phân ngành)
+ dịch vụ môi trường (4 phân ngành)
+ dịch vụ tài chính (17 phân ngành)
+ dịch vụ xã hội và y tế (4 phân ngành)
+ dịch vụ du lịch và lữ hành (4 phân ngành)
+ dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao (5 phân ngành)
+ dịch vụ vận tải (35 phân ngành)
+ Các dịch vụ khác
– Thương mại dịch vụ: là khái niệm chỉ hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ
– Phương thức cung cấp dịch vụ quốc tế: 4 phương thức:
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương III
+ MODE 1: Cung cấp dịch vụ qua biên giới
Nhà cung cấp dịch vụ của nước A cung cấp dịch vụ qua biên giới cho Người tiêu dùng dịch vụ của nước B (cả 2 đều không di chuyển khỏi nước mình, chỉ có bản thân dịch vụ được dịch chuyển quan biên giới)
VD: dịch vụ tư vấn (qua email), dịch vụ kế toán, kiểm toán (chỉ cần gửi hồ sơ đến nhà cung cấp dịch vụ)
+ MODE 2: Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài
Người tiêu dùng dịch vụ của nước A sang nước B để sử dụng dịch vụ của Nhà cung cấp dịch vụ của nước B
VD: du lịch, khám chữa bệnh, du học
+ MODE 3: Hiện diện thương mại
Nhà cung cấp dịch vụ của nước A lập chi nhánh / văn phòng đại diện ở nước B để cung cấp dịch vụ cho Người tiêu dùng dịch vụ ở nước B
VD: các chuỗi đồ ăn nhanh, chuỗi siêu thị
+ MODE 4: Hiện diện thể nhân
Thể nhân nước A tự mình dịch chuyển đến nước B để cung cấp dịch vụ, hoặc nhà cung cấp dịch vụ của nước A cử người lao động đến nước B để cung cấp dịch vụ tại nước B.
Thể nhân = cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự
VD: luật sư nước ngoài đến nước sở tại để cung cấp dịch vụ tư vấn luật
– Cơ sở pháp lý của tự do hóa thương mại trong ASEAN
+ Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ: AFAS năm 1995
+ Nghị định thư sửa đổi AFAS 2003
+ Các gói cam kết của các quốc gia thành viên:
Gói cam kết chung
Gói cam kết đơn phương, đa phương trong khối
4. Các rào cản trong thương mại dịch vụ của ASEAN
– Trước thời điểm nhà cung cấp dịch vụ được cung cấp dịch vụ tại quốc gia sở tại, thì nước sở tại thường áp dụng các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường như:
+ hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ
+ hạn chế số lượng dịch vụ
+ hạn chế tổng giá trị dịch vụ
+ yêu cầu về hình thức pháp nhân
+ hạn chế tỷ lệ vốn góp nước ngoài, …
– Sau thời điểm nhà cung cấp dịch vụ được cung cấp dịch vụ tại quốc gia sở tại, thì nước sở tại thường áp dụng các biện pháp phân biệt đối xử như:
+ giữa nhà cung cấp dịch vụ trong nước – nước ngoài
+ giữa các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài với nhau: ưu đãi nhà đầu tư của quốc gia này hơn nhà đầu tư của quốc gia khác
VD: yêu cầu về quốc tịch, yêu cầu về vốn tối thiểu, yêu cầu về thuế, yêu cầu về giấy phép, yêu cầu về chuyển giao công nghệ, yêu cầu về tỷ lệ vốn, yêu cầu về các khoản vay, …
– Xóa bỏ rào cản trong thương mại dịch vụ:
+ biện pháp:
Xóa bỏ đáng kể rào cản hiện tại
Câu hỏi: Vì sao chỉ xóa bỏ “đáng kể” chứ không phải xóa bỏ “hoàn toàn” như trong thương mại hàng hóa.
Trả lời: Vì dịch vụ mang tính vô hình, nên rất khó để xác định rào cản thương mại đối với dịch vụ như đối với hàng hóa.
Cấm đưa ra các biện pháp rào cản mới
Đàm phán về các biện pháp gây ảnh hưởng tới sự tự do hóa thương mại dịch vụ trong các lĩnh vực cụ thể
+ cơ chế:
AFAS đưa ra khung pháp lý và lộ trình chung cho toàn bộ các dịch vụ
Xây dựng lộ trình cụ thể cho mỗi phương thức cung cấp dịch vụ (4 phương thức) hoặc mỗi dịch vụ thông qua các vòng đàm phán
Các quốc gia xây dựng lộ trình quốc gia mình trên cơ sở lộ trình chung
3. Công nhận lẫn nhau
a) Định nghĩa
– Công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ quốc tế: là hoạt động của quốc gia thành viên này công nhận hệ thống tiêu chuẩn dịch vụ hoặc điều kiện cung cấp dịch vụ theo quy định của quốc gia thành viên khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của quốc gia được công nhận tiếp cận với thị trường dịch vụ của quốc gia công nhận.
+ chủ thể:
Quốc gia công nhận
Quốc gia được công nhận
+ đối tượng công nhận:
Hệ thống tiêu chuẩn dịch vụ của quốc gia được công nhận
Điều kiện cung cấp dịch vụ
– Công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN (Điều 5 AFAS): Công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ của ASEAN là hoạt động của quốc gia này công nhận trình độ giáo dục hoặc kinh nghiệm nhận được; các tiêu chuẩn đã được thoả mãn hoặc bằng cấp, chứng chỉ được cấp tại một quốc gia thành viên ASEAN khác để sử dụng cho mục đích cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận nhà cung cấp dịch vụ tại quốc gia thành viên đó.
+ chủ thể:
Quốc gia ASEAN công nhận
Quốc gia ASEAN được công nhận
+ đối tượng công nhận: (chú ý: không có Tiêu chuẩn dịch vụ như đối với công nhận trong thương mại dịch vụ quốc tế)
Điều kiện cung cấp dịch vụ
Ví dụ: Điều kiện công nhận đối với người hành nghề kế toán (Điều 3 Thỏa thuận khung ASEAN về công nhận lẫn nhau trong dịch vụ kế toán 2009) gồm:
+ về đào tạo: đáp ứng yêu cầu về đào tạo của nước xuất xứ hoặc của cơ quan có thẩm quyền nước công nhận
+ về giấy phép: đã được cấp giấy phép
+ về năng lực: hiểu biết các quy định của nước công nhận trong lĩnh vực hành nghề của mình
+ về kinh nghiệm: đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm của nước công nhận
+ Khuyến khích việc có tính đến các tiêu chuẩn và hướng dẫn của Liên đoàn Kế toán quốc tế
b) Mức độ công nhận
– Công nhận đầy đủ: quốc gia tiếp nhận dịch vụ không đưa ra bất kỳ yêu cầu nào hoặc không tiến hành kiểm tra đánh giá đối với dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người cung cấp dịch vụ
– Công nhận một phần: quốc gia tiếp nhận dịch vụ vẫn tiến hành kiểm tra, đánh giá (với thủ tục rút gọn) hoặc đưa ra yêu cầu đối với dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người cung cấp dịch vụ
==> dù công nhận đầy đủ hay công nhận 1 phần thì quốc gia công nhận vẫn cấp giấy phép cung cấp dịch vụ của nhà cung cấp của quốc gia được công nhận
c) Hình thức công nhận
– Công nhận đa phương (thông qua Hiệp định đa phương)
– Công nhận song phương (thông qua Hiệp định song phương)
– Công nhận theo nguyên tắc “có đi có lại”
– Công nhận đơn phương
d) Cơ chế pháp lý về công nhận lẫn nhau trong ASEAN
– Ký kết Hiệp định khung về công nhận lẫn nhau.
– Ký kết Hiệp định khung trong từng lĩnh vực cụ thể của AFAS.
– Ký kết các thỏa thuận đa phương, song phương giữa các quốc gia về công nhận lẫn nhau thông quan các vòng đàm phán.
– Đơn phương công nhận từ phía quốc gia tiếp nhận.
e) Vai trò của công nhận lẫn nhau trong thương mại dịch vụ
– Thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của quốc gia được công nhận tiếp cận với thị trường dịch vụ trong nước
– Thúc đẩy và nâng cao chất lượng của dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người cung cấp dịch vụ trong nước
– Tăng tính cạnh tranh của thị trường dịch vụ
– Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng ASEAN chương I tập trung vào việc cung cấp cái nhìn tổng quan về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng ASEAN, cũng như các đặc trưng pháp luật của cộng đồng này. Nội dung không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của ASEAN trong khu vực mà còn phân tích cơ sở pháp lý và những quy tắc chung điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên. Đây là tài liệu học tập quan trọng, giúp trang bị kiến thức nền tảng để tiếp cận sâu hơn các nội dung chuyên sâu về pháp luật ASEAN trong các chương tiếp theo.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương I
Chương 1: Tổng quan về Asean, cộng đồng Asean, và pháp luật cộng đồng Asean
Khái quát về ASEAN:
– Là tổ chức quốc tế liên chính phủ, thành lập năm 1967 với 5 quốc gia sáng lập là Indonexia, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Singapo
– Thành viên gia nhập: Brunei (1984), Việt Nam (1995), Lào + Myanma (1997), Campuchia (1999)
– Xét theo trình độ phát triển kinh tế, có thể chia ASEAN thành 2 nhóm:
+ ASEAN 4 (nhóm kém phát triển): Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma
– Ứng cử viên: Đông Timor (mới tách ra từ Indonexia năm 2002), là quan sát viên từ 2006
– Quan sát viên: Papua New Guinea, là quan sát viên từ 1976
– Trụ sở ASEAN đặt tại Jakata – Indonexia
– Ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh
– Bài hát: The ASEAN way
– Khẩu hiệu: Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng
– Cờ và biểu tượng ASEAN có 4 màu là màu chủ đạo trên quốc kỳ của 10 nước thành viên, đồng thời thể hiện:
+ xanh da trời: hòa bình và ổn định
+ đỏ: dũng khí và năng động
+ trắng: thuần khiết
+ vàng: thịnh vượng
Vấn đề 1: Nhập môn pháp luật cộng đồng ASEAN#
I. Khái quát về ASEAN
1. Lịch sử hình thành và phát triển
a) Tiền đề hình thành
– ASEAN thành lập ngày 08/08/1967 tại Băng Cốc (Thái Lan) dựa trên 03 tiền đề:
+ tiền đề chính trị
+ tiền đề kinh tế
+ tiền đề văn hóa xã hội
(1) Tiền đề chính trị
– Tình hình chính trị thế giới:
+ chiến tranh lạnh: đối đầu TBCN – XHCN
+ sự phát triển của trào lưu chủ nghĩa khu vực: cộng đồng châu Âu (EEC) 1957, tổ chức thống nhất châu Phi (OAU) 1963, SAARC 1985, NAFTA 1992, …
– Đông Nam Á là khu vực có vị trí rất quan trọng ==> các cường quốc tranh giành ảnh hưởng
– Tình hình chính trị khu vực:
+ sự tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc tại Đông Nam Á ==> các quốc gia chia làm 2 nhóm đối lập:
Nhóm thân phương Tây: Thái Lan, Indo, Malai, Sing, Phi
Nhóm XHCN: Việt Nam, Lào, Campuchia
+ sau đó, các quốc gia phương Tây trao trả độc lập cho các quốc gia Đông Nam Á (trừ Thái Lan, tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều là thuộc địa) ==> các quốc gia phương Tây giảm ảnh hưởng đến Đông Nam Á. Trong khi đó các nước XHCN lại gia tăng ảnh hưởng tại Đông Nam Á (cụ thể là Liên Xô, Trung Quốc)
+ sự sa lầy của Hoa Kỳ tại chiến tranh Việt Nam, các quốc gia ĐNÁ khác có nguy cơ bị kéo vào cuộc chiến này
– Tình hình chính trị trong mỗi nước: rất phức tạp trong nội bộ mỗi nước, thể hiện qua nhiều phong trào phát triển:
+ phong trào ly khai đòi độc lập
+ phong trào tôn giáo cực đoan
+ phong trào dân chủ tư sản tiến bộ
+ phong trào đấu tranh vũ trang của đảng Cộng sản
– Một số tổ chức tiền thân của ASEAN hoạt động không hiệu quả: ASA, MAPHILINDO ==> nhu cầu cần có liên kết khu vực mới hiệu quả hơn
(2) Tiền đề kinh tế
– Trên thế giới xuất hiện xu hướng hợp tác kinh tế khu vực, như khu vực thị trường chung Trung Mỹ (CACM), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), … ==> các quốc gia ĐNÁ cũng mong muốn xây dựng tổ chức hợp tác kinh tế chung cho cả khu vực
– Nền kinh tế Đông Á bắt đầu phục hồi, nguồn vốn đổ về Đông Á, trong đó có các quốc gia ĐNÁ
– Cả 5 quốc gia sáng lập ASEAN đều đang gặp vấn đề khó khăn chung về kinh tế như cơ cấu kinh tế lạc hậu, chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô ==> để phát triển cần hợp tác khu vực
(3) Tiền đề văn hóa xã hội
– Các quốc gia ASEAN có sự tương đồng về đời sống văn hóa – xã hội: dân xư được tổ chức dựa trên cộng đồng làng xã, đều có nền văn minh lúa nước
– Trừ Thái Lan, tất cả các quốc gia ASEAN đều là thuộc địa của phương Tây ==> nhu cầu độc lập dân tộc ==> cần hợp tác để đảm bảo an ninh chung
b) Điều kiện gia nhập ASEAN
– Được quy định tại khoản 2 Điều 6 Hiến chương ASEAN 2007, có 4 điều kiện:
+ nằm trong khu vực Đông Nam Á
+ phải được tất cả các quốc gia thành viên công nhận (thể hiện tính đồng thuận của ASEAN)
+ chấp nhận sự ràng buộc và tuân thủ Hiến chương ASEAN
+ có khả năng và sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thành viên
– So sánh với điều kiện gia nhập các tổ chức quốc tế khác như EU, … thì điều kiện gia nhập ASEAN dễ dàng hơn, ví dụ với EU thì yêu cầu quốc gia muốn gia nhập phải đảm bảo tiêu chuẩn về dân chủ, về nhân quyền theo tiêu chuẩn của EU, phải có nền kinh tế thị trường, …
Tuy nhiên điều kiện gia nhập ASEAN cũng có chỗ khó riêng như phải nằm trong khu vực ĐNÁ, phải được tất cả các quốc gia thành viên công nhận (như trường hợp Đông Timor vẫn chưa được tất cả 10 thành viên ASEAN công nhận)
c) Các lần mở rộng ASEAN
– Đến nay, ASEAN đã trải qua 4 lần mở rộng:
+ kết nạp Brunei 1984: không làm thay đổi tính chất, quy mô cơ bản của khối
+ kết nạp Việt Nam 1995: là lần mở rộng quan trọng nhất, vì đã làm thay đổi tính chất và quy mô cơ bản của khối (lần đầu tiên kết nạp 1 nước thuộc phe XHCN), thể hiện tính đa dạng của khối, đồng thời thể hiện tinh thần hòa hợp, sẵn sàng chấp nhận sự khác biệt riêng của mỗi thành viên trong khối
+ kết nạp Lào, Myanma 1997: lần mở rộng tất yếu sau việc kết nạp Việt Nam
+ kết nạp Campuchia 1999: hoàn chỉnh khối ASEAN
d) Các giai đoạn phát triển của ASEAN
– Giai đoạn 1967-1976: hình thành và định hướng phát triển
+ bước đầu hình thành cơ cấu tổ chức, thậm chí còn chưa có cả Ban thư ký hoạt động thường trực, chỉ hoạt động thông qua các kỳ họp chung
+ tổ chức của ASEAN gồm 3 thiết chế:
Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN
Ban thường trực quốc gia
Ban thư ký quốc gia
+ hình thành khung pháp lý đầu tiên:
tuyên bố Băng Cốc 1967: tuyên bố thành lập ASEAN, nêu mục tiêu, tôn chỉ hành động của ASEAN
tuyên bố ZOPFAN 1971: tuyên bố xây dựng ASEAN thành khu vực hòa bình, tự do, trung lập
+ tiến hành một số hoạt động chính trị đơn lẻ:
tăng cường hiểu biết lẫn nhau
giải quyết mâu thuẫn giữa các thành viên
+ thực hiện 1 số hoạt động ngoại giao, kinh tế: cụ thể có các hành động như cùng nhau công nhận quan hệ ngoại giao với Việt Nam (Bắc Việt), cùng thỏa thuận thống nhất ý kiến khi biểu quyết tại Liên hợp quốc, cùng lên tiếng phản đối cao su tổng hợp của Nhật Bản cạnh tranh với cao su thiên nhiên vốn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của các quốc gia thành viên, …
==> trong giai đoạn đầu, ASEAN được đánh giá là “một liên minh chính trị lỏng lẻo”, hoạt động chủ yếu dừng lại ở mức độ tạo ra nền tảng hợp tác lâu dài
– Giai đoạn 1976-1992: củng cố cơ cấu tổ chức, hợp tác toàn diện nội khối, bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối:
+ nâng cấp cơ cấu tổ chức: thành lập cơ quan thường trực đầu tiên là Ban Thư ký ASEAN, hình thành cơ chế Hội nghị liên bộ trưởng
+ xác lập các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và hợp tác của ASEAN
+ thông quan các văn kiện pháp lý quan trọng:
Hiệp ước Bali 1976: hiệp ước thân thiện và hợp tác ĐNÁ
Tuyên bố ASEAN 1976 về sự hòa hợp của ASEAN
Hiệp định thành lập Ban Thư ký ASEAN 1976
Tuyên bố Manila 1987
Hiệp ước khuyến khích và bảo hộ dầu tư 1987
Nghị định thư về mở rộng danh mục thuế ưu đãi ASEAN 1987
+ kết nạp Brunei (1984)
+ tăng cường hợp tác nội khối trong lĩnh vực kinh tế:
Triển khai 3 kế hoạch kinh tế lớn: AIP 1976 (dự án công nghiệp ASEAN), AIC 1981 (kế hoạch bổ sung công nghiệp), AIJV 1983 (các liên doanh công nghiệp ASEAN)
Ký Thỏa thuận thương mại ưu đãi PTA cho cả khối
Chủ trương thiết lập khu vực thương mại tự do AFTA
+ bước đầu hợp tác ngoại khối: thiết lập đối thoại đầy đủ với Mỹ, Nhật, Canada, EEC, các tổ chức của LHQ
– Giai đoạn 1992-2003: trở thành ASEAN 10, hợp tác toàn diện, trọng tâm là kinh tế
+ hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực
+ thông qua các văn kiện quan trọng:
Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN năm 1992
Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) 1992
Tuyên bố về biển Đông 1992
HIệp định khung về hợp tác công nghiệp
Tầm nhìn 2020 của ASEAN năm 1997
Tuyên bố và chương trình hành động Hà Nội 1998
Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông 2002
+ đẩy mạnh hợp tác kinh tế: xây dựng khu vực thương mại tự do AFTA
+ đẩy mạnh hợp tác ngoại khối:
Thành lập diễn đàn khu vực ASEAN – ARF 1994 (là cơ chế đối thoại về chính trị an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương)
Tổ chức Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ nhất năm 2005, với sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, New Zealand
+ kết nạp 4 thành viên mới: VN (1995), Lào + Myanma (1997), Campuchia (1999)
– Giai đoạn 2003-nay: thành lập và xây dựng Cộng đồng ASEAN
+ cơ cấu lại tổ chức để phù hợp với mục tiêu xây dựng AC
+ thông qua các văn kiện quan trọng:
Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN (Tuyên bố Bali 2), tái khẳng định những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của hiệp hội
Thông qua Hiến chương ASEAN 2007, chính thức trao tư cách pháp nhân cho ASEAN, tạo nền tảng và thể chế để ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN, phấn đấu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 (sớm 5 năm so với Tầm nhìn 2020)
Thông qua Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN năm 2009, gồm các kế hoạch tổng thể xây dựng các trụ cột cộng đồng chính trị – an ninh, cộng đồng kinh tế, cộng đồng văn hóa – xã hội
+ tăng cường hợp tác nội khối, ngoại khối
2. Mục đích và nguyên tắc hoạt động của ASEAN
– Mục đích: Điều 1 Hiến chương ASEAN 2007, trên 3 phương diện:
+ về an ninh – chính trị: đảm bảo hòa bình và an ninh khu vực, tăng cường đối thoại và hợp tác quốc tế
+ về kinh tế: xây dựng thị trường thống nhất và cơ sở sản xuất chung (tức là hàng hóa, vốn, lao động được lưu chuyển tự do trong ASEAN)
+ về văn hóa – xã hội:
– Nguyên tắc hoạt động (Điều 2 Hiến chương ASEAN 2007): có thể chia làm 3 nhóm
+ nhóm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế: tuân theo luật quốc tế, cụ thể gồm 7 nguyên tắc:
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế
Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác: ASEAN đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc này. Nguyên nhân là trừ Thái Lan thì tất cả các quốc gia ĐNÁ đều là thuộc địa ==> vấn đề chủ quyền dân tộc rất nhạy cảm. Ngoài ra chủ trương của ASEAN là thống nhất trong đa dạng ==> tôn trọng quyết định riêng của từng quốc gia
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế (pacta sunt servanda)
Nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau
+ nhóm nguyên tắc đặc thù của ASEAN (8 nguyên tắc):
Cam kết và chia sẻ trách nhiệm tập thể
Tăng cường tham vấn
Pháp quyền, dân chủ
Tôn trọng quyền tự do, nhân quyền, công bằng xã hội
Đề cao Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế
Tôn trọng sự khác biệt dựa trên các giá trị chung
Giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN
Nguyên tắc thương mại đa biên
+ nhóm nguyên tắc điều phối hoạt động của ASEAN: gồm 2 nguyên tắc:
Nguyên tắc tham vấn và đồng thuận (Điều 20 Hiến chương)
Tham vấn: là quá trình trao đổi, tham khảo ý kiến giữa các thành viên để đạt được đồng thuận
Đồng thuận: mọi vấn đề chỉ được thông qua khi được tất cả các thành viên nhất trí
Ưu điểm là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia, thể hiện tính thống nhất của ASEAN. Nhược điểm là việc ra quyết định bị kéo dài thời gian (do phải thuyết phục từng quốc gia), và nếu chỉ 1 thành viên không đồng ý thì dù tất cả các thành viên còn lại cùng đồng thuận cũng không thể thông qua.
Khắc phục nhược điểm của nguyên tắc đồng thuận, ASEAN có 2 biện pháp: “Trường hợp không đạt được sự đồng thuận thì Cấp cao ASEAN có thể xem xét việc đưa ra quyết định cụ thể”, hoặc “áp dụng công thức ASEAN – X” (khi có sự đồng thuận) trong lĩnh vực kinh tế
Nguyên tắc bình đẳng (Điều 5): Các Quốc gia thành viên có quyền và nghĩa vụ bình đẳng theo Hiến chương này.
3. Cơ cấu tổ chức của ASEAN
– Cơ cấu tổ chức: Theo Hiến chương 2007
+ Hội nghị cấp cao ASEAN (hay Hội nghị thượng đỉnh ASEAN) (Điều 7 Hiến chương):
là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của ASEAN, gồm nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ các quốc gia ASEAN
họp định kỳ 2 lần / năm và do thành viên giữ chức Chủ tịch ASEAN chủ trì và tổ chức, có thể họp bất thường trong những trường hợp cần thiết
chức năng chính là hoạch định chính sách của ASEAN
+ Hội đồng điều phối (Điều 8 Hiến chương):
Là cơ quan trung gian giữa Cấp cao ASEAN và các Hội đồng ASEAN, gồm ngoại trưởng các quốc gia ASEAN
Họp ít nhất 2 lần / năm
+ Các Hội đồng cộng đồng (Điều 9 Hiến chương):
Là cơ quan có trách nhiệm đảm bảo thực hiện các quyết định của ASEAN, điều phối các hoạt động của cộng đồng và báo cáo lên Hội nghị cấp cao ASEAN
Họp ít nhất 2 lần / năm và do bộ trưởng có liên quan của quốc gia giữ chức Chủ tịch ASEAN chủ trì và tổ chức
+ Các Cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng (Điều 10 Hiến chương):
Là cơ quan trực thuộc Hội đồng cộng đồng, có chức năng thực hiện các thỏa thuận và quyết định của Hội nghị cấp cao ASEAN trong lĩnh vực của mình
+ Tổng thư ký ASEAN (Điều 11 Hiến chương):
Do Hội nghị cấp cao ASEAN bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm và không được tái bổ nhiệm
Được chọn trong số các công dân của các quốc gia thành viên ASEAN luân phiên theo thứ tự tên nước
Là quan chức hành chính cấp cao nhất của ASEAN
Tổng thư ký được hỗ trợ bởi 4 phó tổng thư ký với hàm thứ trưởng, 4 phó tổng thư ký không cùng quốc tịch với Tổng thư ký và đến từ 4 quốc gia thành viên khác nhau.
– Ưu điểm trong cơ cấu tổ chức của ASEAN:
+ quy định cụ thể trong cùng 1 văn bản, lại là văn bản có tính pháp lý cao nhất ASEAN (Hiến chương) ==> đảm bảo tính thống nhất của bộ máy tổ chức
+ bám sát mục tiêu hợp tác trong 3 lĩnh vực (thể hiện trong 3 Hội đồng cộng đồng) ==> tăng cường hiệu quả trong hợp tác
+ tăng cường tính thường xuyên, liên tục của các cơ quan ==> ứng phó kịp thời với tình hình mới
+ tổ chức theo mô hình “hình chóp quyền lực” ==> đảm bảo tính tập trung, chuyên sâu, chuyên trách
– Nhược điểm trong cơ cấu tổ chức của ASEAN:
+ tuyệt đại đa số các cơ quan là các Hội nghị, thiếu các cơ quan có tính thường trực ==> hoạt động theo kỳ họp ==> thiếu tính thường xuyên, liên tục, khó phản ứng kịp với tình hình thực tế
+ đa số các cơ quan của ASEAN là cơ quan hoạch định, thiếu các cơ quan thi hành chính sách
+ mức độ chuyên môn hóa của các cơ quan chưa cao
+ mối quan hệ giữa các cơ quan không rõ ràng và thiếu chặt chẽ
+ không có cơ quan đại diện cho tiếng nói của người dân ASEAN (như trong Liên minh châu Âu)
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương I
II. Khái niệm cộng đồng ASEAN
1. Khái niệm
a) Khái niệm cộng đồng ASEAN
– Cộng đồng ASEAN (AC) là liên kết của các quốc gia ASEAN trên cơ sở thống nhất thiết chế và thể chế pháp lý, bao gồm 3 trụ cột: cộng đồng chính trị – an ninh (APSC), cộng đồng kinh tế (AEC), cộng đồng văn hóa – xã hội (ASCC), nhằm xây dựng ASEAN trở thành tổ chức quốc tế năng động, thịnh vượng, vững mạnh và bản sắc chung.
b) Đặc điểm
– AC không thể thay thế ASEAN, mà AC là liên kết của ASEAN ở mức độ cao hơn và sâu rộng hơn
– AC được xây dựng trên nền tảng thể chế pháp lý có tính ràng buộc cao đối với các quốc gia thành viên
– Hình thành trên cơ sở 3 trụ cột: APSC, AEC, ASCC
– Là liên kết thống nhất trong đa dạng: ASEAN không hướng đến mục tiêu nhất thể hóa kiểu “siêu quốc gia’ như Liên minh châu Âu, mà cơ chế hợp tác là nguyên tắc tham vấn và đồng thuận
– Là 1 liên kết khu vực mở: được hiểu dưới 2 góc độ:
+ Thông qua quá trình mở rộng ASEAN, và ASEAN luôn hướng tới việc hợp tác với các quốc gia khác, với cả tổ chức quốc tế bên ngoài
+ ASEAN mở cửa cho các quốc gia, tổ chức bên ngoài tham gia vào các vấn đề khu vực, như ASEAN +1, ASEAN + 3, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), …
2. Mô hình liên kết của AC
– AC được thành lập dựa trên 3 trụ cột là APSC, AEC, ASCC
Câu hỏi: Phân tích mối liên hệ giữa các trụ cột trong cộng đồng ASEAN
Trả lời: 3 trụ cột có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:
+ Cộng đồng chính trị an ninh có mục tiêu tạo môi trường chính trị, an ninh hòa bình, ổn định trong khu vực ĐNÁ ==> tạo điều kiện để phát triển kinh tế và văn hóa xã hội, tức là hỗ trợ cho Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa xã hội
Ngoài ra APSC còn thúc đẩy tăng cường lòng tin và hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên ==> thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội
+ Cộng đồng kinh tế hướng đến mục tiêu hình thành thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất toàn khu vực ==> sẽ làm cho sự gắn kết, hợp tác giữa các quốc gia chặt chẽ hơn, qua đó thúc đẩy các quốc gia phải “chung sống hòa bình” với nhau ==> tức là hỗ trợ cho xây dựng Cộng đồng chính trị an ninh.
Với ASCC thì nhu cầu phát triển kinh tế cũng sẽ là điều kiện để phát triển văn hóa xã hội.
Thông qua hợp tác kinh tế sẽ tạo ra sự ràng buộc giữa các quốc gia thành viên ==> nếu phát sinh mâu thuẫn giữa các quốc gia thì sẽ được giải quyết 1 cách hòa bình
+ Cộng đồng văn hóa xã hội hướng đến cộng đồng thân thiện, bình đẳng, công bằng xã hội và đùm bọc lẫn nhau, ứng xử theo những chuẩn mực đạo đức chung, thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia thành viên ==> đây sẽ là tiền đề để thúc đẩy hòa bình, ổn định ở từng quốc gia và toàn khu vực, đảm bảo xây dựng lòng tin và tăng cường hợp tác kinh tế.
3. Pháp luật cộng đồng ASEAN
a) Định nghĩa
– Pháp luật cộng đồng ASEAN là tổng thể các nguyên tắc và quy phạp PL do ASEAN xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ của Cộng đồng ASEAN, phát sinh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị – an ninh, và văn hóa – xã hội.
b) Đặc điểm
– Về quan hệ PL: pháp luật cộng đồng ASEAN
+ điều chỉnh quan hệ giữa các nước ASEAN với nhau
+ điều chỉnh quan hệ giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài (khi đó ASEAN là 1 chủ thể quả quah hệ PL quốc tế với tư cách là tổ chức quốc tế liên chính phủ)
==> luật cộng đồng chính trị – an ninh; luật cộng đồng kinh tế, luật cộng đồng văn hóa xã hội
Chú ý: PL cộng đồng ASEAN không điều chỉnh quan hệ giữa từng quốc gia thành viên ASEAN với các đối tác bên ngoài. (đó là phạm vi điều chỉnh của PL từng quốc gia)
– Về xây dựng PL:
+ PL cộng đồng ASEAN do các quốc gia ASEAN thỏa thuận ký kết
+ cơ chế ban hành, ra quyết định (Điều 20): theo nguyên tắc tham vấn và đồng thuận
– Về thực thi PL: PL cộng đồng ASEAN được thực thi trên 2 cấp độ:
+ cấp độ các quốc gia ASEAN: thực thi theo
cơ chế chung: các quốc gia thành viên ASEAN sẽ cùng nhau thực hiện những thỏa thuận của ASEAN
cơ chế riêng theo từng lĩnh vực: từng quốc gia sẽ nội luật hóa những cam kết của ASEAN
+ cấp độ các thiết chế cộng đồng: thực thi theo chức năng, nhiệm vụ của từng thiết chế
Hội nghị cấp cao: thực thi những biện pháp thích hợp để xử lý các tình huống khẩn cấp tác động tới ASEAN
Hội đồng điều phối: thực thi các hoạt động được nêu trong Hiến chương, hoặc những hoạt động do Hội nghị cấp cao chỉ thị
Các hội đồng cộng đồng: đảm bảo triển khai các quyết định của Hội nghị cấp cao
Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng: thực hiện các thỏa thuận và quyết định của Hội nghị cấp cao trong lĩnh vực của mình
Ủy ban thường trực ASEAN: thực hiện các nhiệm vụ do Hội đồng điều phối quyết định
– Đặc điểm về giám sát thực thi PL và giải quyết tranh chấp:
+ giám sát thực thi: được quy định cho tất cả các thiết chế, tuy nhiên không quy định tập trung, thống nhất trong 1 văn bản PL mà quy định rải rác trong các văn bản pháp lý của AC ==> làm giảm tính hiệu quả của hoạt động giám sát thực thi PL trong ASEAN (khác với EU mà ở đó chức năng giám sát thực thi PL được giao cho Ủy ban châu Âu với thủ tục giám sát rất cụ thể và chặt chẽ)
+ giải quyết tranh chấp: tuy đã xây dựng được hệ thống PL về giải quyết tranh chấp tương đối hoàn chỉnh, nhưng rất ít khi được áp dụng
c) Nguồn luật
– Nguồn cơ bản:
+ điều ước quốc tế ký kết trong khuôn khổ ASEAN (điều chỉnh quan hệ nội khối)
+ điều ước quốc tế ASEAN ký kết với đối tác bên ngoài (điều chỉnh quan hệ ngoại khối)
+ tập quán quốc tế (không phổ biến)
– Nguồn bổ trợ:
+ các văn bản có tính chất khuyến nghị do các thiết chế của ASEAN ban hành
+ các loại nguồn bổ trợ khác của luật quốc tế (không phổ biến)
Câu hỏi: Các câu khẳng định sau đây là Đúng/Sai
(1) Các yếu tố cơ bản và chủ yếu dẫn tới sự ra đời của ASEAN ngày 08/08/1967 bao gồm: yếu tố chính trị, kinh tế, và văn hóa XH
(2) Đặc điểm của ASEAN là 1 tổ chức siêu quốc gia có quyền lực bao trùm lên chủ quyền của các nước thành viên
(3) Hiện nay ASEAN có 11 quốc gia thành viên, gồm Thái Lan, Singapo, Malai, Đông Timor, Indo, Philippin, Brunei, VN, Lào, Campuchia, Mianma
(4) Theo tuyên bố Băng Cốc 1967, để trở thành thành viên của ASEAN, các ứng cử viên phải đáp ứng các tiêu chí sau:
+ có vị trí nằm trong khu vực địa lý Đông Nam Á
+ được tất cả các quốc gia thành viên ASEAN công nhận
+ chấp nhận sự ràng buộc và tuân thủ Hiến chương ASEAN
+ có khả năng và sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ thành viên
(5) Hội đồng điều phối ASEAN là cơ quan hoạch định chính sách tối cao của ASEAN, có chức năng điều phối việc thực hiện những thỏa thuận và quyết định của cấp cao ASEAN
(6) Ban thư ký ASEAN được thành lập năm 1967 theo quy định của Hiệp định về Ban thư ký ASEAN
(7) Chủ tịch là 1 cá nhân mang quốc tịch của 1 trong những nước thành viên ASEAN, có chức năng đại diện cho ASEAN trong việc tăng cường và thúc đẩy các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các đối tác bên ngoài
(8) Cộng đồng ASEAN không phải là tổ chức quốc tế liên chính phủ mới được thành lập để thay thế ASEAN mà chỉ là liên kết của ASEAN ở cấp độ cao hơn và sâu rộng hơn
(9) Pháp luật Cộng đồng ASEAN chỉ điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các quốc gia thành viên ASEAN
Trả lời:
(1). Sai. Yếu tố cơ bản và chủ yếu dẫn tới sự ra đời của ASEAN là yếu tố chính trị. Còn các yếu tố về kinh tế và văn hóa xã hội chỉ là các yếu tổ bổ trợ, thúc đẩy sự gắn kết của ASEAN.
Nguyên nhân chính là vào thời điểm này, chủ nghĩa thực dân cũ đã chấm dứt, các quốc gia ĐNÁ vốn là thuộc địa được trao trả độc lập ==> khoảng trống quyền lực do các nước phương Tây rút dần ảnh hưởng. Trong khi đó phe XHCN do Liên Xô và Trung Quốc dẫn đầu lại gia tăng ảnh hưởng tại ĐNÁ, nhất là với 3 nước Đông Dương. Do đó để có thể đảm bảo an ninh chính trị, các quốc gia ĐNÁ cần liên kết lại với nhau tạo nên sức mạnh chung để tự đảm bảo an ninh chính trị cho mình.
(2) Sai. ASEAN là 1 tổ chức quốc tế liên chính phủ, không phải 1 tổ chức siêu quốc gia (như EU). Tổ chức siêu quốc gia có quyền lực bao trùm lên chủ quyền của các nước thành viên, tức là các quốc gia thành viên sẽ chuyển giao phần lớn chủ quyền của mình cho tổ chức siêu quốc gia đó. Như với EU có hẳn hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, có hiệu lực PL với không chỉ các quốc gia thành viên EU mà với cả cá nhân công dân EU và các pháp nhân EU. ASEAN mới chỉ có các tổ chức hợp tác trong khối như Liên minh Nghị viện ASEAN (AIPA), chủ quyền các quốc gia thành viên vẫn được giữ nguyên.
(3) Sai. Hiện nay ASEAN mới có 10 thành viên chính thức. Đông Timor vẫn chưa là thành viên chính thức. Lý do là Đông Timor chưa được tất cả các quốc gia thành viên ASEAN công nhận, đó là Việt Nam, Singapo, Malaixia. Lý do chưa được 3 quốc gia trên công nhận là 3 quốc gia này cho rằng nền kinh tế Đông Timor quá kém, sẽ ảnh hưởng đến quá trình hội nhập của ASEAN với quốc tế. Ngoài ra 3 nước này còn lo ngại Đông Timor không đủ nguồn lực để tham gia vào Cộng đồng ASEAN. (ví dụ như số lượng quan chức Đông Timor thông thạo tiếng Anh rất hạn chế, trong khi ngôn ngữ chính thức của ASEAN là tiếng Anh)
(4) Sai. Vì trong Tuyên bố Băng Cốc 1967 thì điều kiện để gia nhập ASEAN không được nêu cụ thể theo 4 tiêu chí trên, mà chỉ nêu “Chúng tôi sẽ chào đón các quốc gia trong khu vực ĐNÁ tuân thủ quy định của ASEAN gia nhập tổ chức này”. Chỉ đến khi Hiến chương ASEAN được ký kết vào năm 2007 thì các điều kiện gia nhập ASEAN mới được cụ thể hóa thành 4 điều trên tại Khoản 2 Điều 6 Hiến chương.
(5) Sai. Vì chức năng này thuộc về Hội nghị cấp cao ASEAN theo Điều 7 Hiến chương ASEAN.
(6) Sai. Vì ban thư ký ASEAN tới năm 1976 mới được thành lập, năm 1967 chưa có ban thư ký ASEAN mà mới chỉ có Ban thư ký quốc gia thành lập vào năm 1967.
Ban thư ký ASEAN là cơ quan hành chính cấp cao nhất của ASEAN, giải quyết các công việc hàng ngày của ASEAN, tổ chức các cuộc họp ASEAN. Còn Ban thư ký Quốc gia thường nằm trong cơ quan ngoại giao của mỗi quốc gia, là đầu mối liên hệ của mỗi quốc gia thành viên với ASEAN.
(7) Sai. Chủ tịch ASEAN là 1 quốc gia thành viên ASEAN, không phải là cá nhân.
(8) Đúng.
(9) Sai. Vì pháp luật cộng đồng ASEAN không chỉ điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa các thành viên ASEAN mà còn điều chỉnh mối quan hệ giữa ASEAN với các chủ thể luật quốc tế khác. Chú ý: ASEAN không điều chỉnh mối quan hệ giữa từng quốc gia thành viên với các chủ thể luật quốc tế.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng ASEAN chương II tập trung phân tích chi tiết về Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) – một trong những nền tảng quan trọng thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực. Nội dung bài giảng giải thích khái niệm, mục tiêu và cơ chế vận hành của AFTA, cùng các cam kết pháp lý giữa các quốc gia thành viên. Đồng thời, tài liệu cũng nhấn mạnh vai trò của AFTA trong việc tạo thuận lợi thương mại, giảm rào cản thuế quan và phi thuế quan, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của ASEAN trên trường quốc tế. Đây là kiến thức cần thiết cho sinh viên nghiên cứu về pháp luật kinh tế và hội nhập khu vực.
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương II
Chương 2: Khu vực thương mại tự do Asean (AFTA)
Khái quát về AFTA
a) Định nghĩa
– AFTA là khu vực thương mại hình thành giữa các nước ASEAN mà tại đó các rào cản thương mại được gỡ bỏ, đồng thời các hoạt động thuận lợi hóa thương mại được xúc tiến đối với hàng hóa qua lại giữa các quốc gia thành viên.
b) Cơ sở pháp lý
– Các hiệp định:
Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN 1992
Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho AFTA (CEPT) 1992
Các Nghị định thư sửa đổi, bổ sung cho 2 Hiệp định trên
Hiệp định khung về hội nhập các ngành ưu tiên (APIS) 2004
Hiệp định về thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) 2009 (có hiệu lực từ 17/5/2010)
– Các cam kết của các quốc gia ASEAN
c) Mục tiêu của AFTA
– Tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại hàng hóa nội khối
– Thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế khác
– Tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư
– Đưa ASEAN trở thành 1 trong những trung tâm sản xuất toàn cầu
d) Các nội dung pháp lý cơ bản của AFTA
– Tự do hóa thương mại hàng hóa:
tự do hóa thuế quan (chương 2 ATIGA)
xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan (chương 4 ATIGA)
quy tắc xuất xứ hàng hóa (chương 3 ATIGA)
– Thuận lợi hóa thương mại hàng hóa: là hoạt động không thể tách rời với hoạt động tự do hóa thương mại hàng hóa, hỗ trợ cho việc thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa một cách đơn giản hơn, tức là các quốc gia thành viên cùng nhau đề ra cách chính sách, các chương trình nhằm tạo ra môi trường chung nhất quán, minh bạch vàc có thể dự đoán được trong trao đổi hàng hóa, cụ thể gồm:
thủ tục hải quan (chương 6 ATIGA)
tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và thủ tực đánh giá sự phù hợp (chương 7 ATIGA)
các biện pháp vệ sinh dịch tễ (chương 8 ATIGA)
Tự do hóa thuế quan (khoản 1c Điều 2 ATIGA)
Bài giảng môn học Pháp luật cộng đồng Asean chương II
– Thuế quan là thuế nhập khẩu và các loại phí áp dụng với hàng hóa nhập khẩu, không bao gồm:
phí tương đương với 1 khoản thuế nội địa liên quan tới hàng hóa trong nước tương tự: VD thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt
thuế đối kháng hoặc thuế chống bán phá giá: chú ý: không có giới hạn nào cho thuế đối kháng hoặc thuế chống bán phá giá, có thể áp thuế chống phá giá hàng trăm % để ngăn hàng từ 1 nước nào đó vào thị trường nội địa của nước mình
lệ phí hoặc phí dịch vụ phù hợp: phí vận chuyển, lệ phí hải quan. Chú ý: danh mục các loại phí và lệ phí áp dụng với hàng nhập khẩu phải công khai trên internet (Khoản 2 Điều 7)
Câu hỏi: Tại sao lại không áp thuế xuất khẩu ?
Trả lời: Vì nếu áp thuế xuất khẩu sẽ làm tăng giá thành hàng hóa xuất khẩu, làm giảm sức cạnh tranh của quốc gia. Thực tế quốc gia chỉ áp thuế xuất khẩu với hàng hóa mà quốc gia hạn chế xuất khẩu như tài nguyên khoáng sản, một số mặt hàng khan hiếm mà quốc gia muốn để dùng cho tiêu dùng nội địa
– Tự do hóa thuế quan là quá trình thực hiện cắt giảm và xóa bỏ thuế quan của quốc gia thành viên theo 1 cơ chế chung:
Hiệp định CEPT 1992 (Hiệp định khung về chương trình ưu đãi thuế quan)
Hiệp định ATIGA 2009 (Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN)
a) Lộ trình và cơ chế cắt giảm thuế quan theo CEPT 1992
– Lộ trình: trong 10 năm (từ 01/01/1993 – 01/01/2003) sẽ cắt giảm thuế quan xuống mức 0-5%
– Cơ chế:
cấp khu vực:
Chia hàng hóa thành các danh mục: IC: danh mục cắt giảm ngay: cắt giảm ngay từ ngày 01/01/1993, tức là ngay khi CEPT 1992 có hiệu lực. IC thường là những mặt hàng thông thường, ít có tầm quan trọng TEL: danh mục loại trừ tạm thời: gồm các mặt hàng mà trong thời gian đầu tạm thời chưa giảm thuế quan do các quốc gia thành viên phải dành thêm thời gian để điều chỉnh sản xuất trong nước cho thích nghi với môi trường tự do hóa thương mại. TEL thường bao gồm các loại hàng hóa có tầm quan trọng quốc gia như xi măng, sắt thép, phân bón, xăng dầu, … SL: danh mục nhạy cảm: gồm các mặt hàng nông sản chưa chế biến. Lý do là vì hầu hết các quốc gia ASEAN là nông nghiệp nên các mặt hàng nông sản sẽ được cắt giảm muộn hơn GEL: danh mục loại trừ hoàn toàn: gồm các hàng hóa nhập khẩu có ảnh hưởng đến sức khỏe con người, văn hóa, thuần phong mỹ tục … như rượu, thuốc lá (chú ý: phân biệt với các mặt hàng bị cấm nhập khẩu, VD ở VN cấm nhập khẩu thuốc lá) Đưa ra lộ trình chung cho từng loại danh mục: cắt giảm thuế quan xuống 0-5% trong vòng 10 năm
cấp quốc gia: xây dựng lộ trình cam kết cắt giảm thuế quan theo đặc thù của mình
– Lộ trình chung (Điều 4 CEPT 1992):
b) Lộ trình và cơ chế xóa bỏ thuế quan và hạn ngạch thuế quan theo ATIGA
– Lộ trình xóa bỏ thuế quan: xóa bỏ thuế quan với tất cả sản phẩm: (Điều 19 ATIGA)
vào 2010 với ASEAN 6
vào 2015 (linh hoạt tới 2018) với ASEAN 4
– Cơ chế:
ASEAN sẽ xây dựng lộ trình chung
quốc gia thành viên sẽ tự xây dựng chương trình cắt giảm thuế quan trên cơ sở lộ trình chung và phải hoàn thành:
ASEAN 6: trước khi ATIGA có hiệu lực ASEAN 4: 6 tháng từ khi ATIGA có hiệu lực – Xóa bỏ hạn ngạch thuế quan (TRQs): Xóa bỏ TRQs với bất kì hàng hóa nhập khẩu nào từ các nước thành viên (Điều 20 ATIGA).
Chú ý: Phân biệt hạn ngạch thông thường (QUOTA) với Hạn ngạch thuế quan (TRQs):
Hạn ngạch thông thường (QUOTA): là quy định của 1 nước về mức cao nhất mà hàng hóa được phép xuất – nhập khẩu vào 1 thị trường nhất định trong một thời kì nhất định. VD: Indo cấp hạn ngạch nhập khẩu gạo từ VN năm 2016 là 1000 tấn, tức là VN chỉ được phép xuất vào thị trường Indo tối đã 1000 tấn gạo trong năm 2016, không được phép xuất hơn (dù thị trường Indo có nhu cầu)
Hạn ngạch thuế quan (TRQs): là mức hạn ngạch mà ở đó thuế quan có sự thay đổi. VD: Indo cấp hạn ngạch thuế quan cho việc nhập khẩu gạo từ VN là 1000 tấn với mức thuế 5%, như vậy VN có thể xuất tối đa 1000 tấn gạo vào Indo với mức thuế 5%, từ tấn gạo thứ 1001 trở đi thì gạo VN vẫn được xuất vào Indo nhưng với mức thuế có thể lên đến 10%
Xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan
– Biện pháp phi thuế quan: là các biện pháp ngoài thuế quan ảnh hưởng đến mức độ và hướng của các dòng hàng hóa xuất nhập khẩu.
Chú ý: việc xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan là rất khó khăn trên thực tế vì các biện pháp phi thuế quan rất đa dạng, tinh vi, khó nhận diện mà các quốc gia luôn cố tình áp đặt để tạo lợi thế thương mại cho mình
– Các biện pháp hạn chế số lượng: (điểm n, khoản 1, Điều 2 ATIGA)
hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu: VD không được nhập khẩu quá 100.000 tấn gạo trong 2016
hạn chế ngoại hối: VD không được nhập khẩu quá 100 triệu USD trong 2016
các lệnh cấm, …
– Các biện pháp phi thuế quan khác: các biện pháp hoặc yêu cầu về hành chính, kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ…
– Cơ chế xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan:
Với các hạn chế về số lượng (xóa bỏ được ngay): cấm các quốc gia duy trì hoặc thông qua bất kỳ biện pháp hạn chế về số lượng nào đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (Điều 41 ATIGA)
Với các biện pháp phi thuế quan khác (xóa bỏ dần dần): thì quy trình là :
Đưa vào “Cơ sở dữ liệu thương mại” ==> Rà soát ==> Xác định biện pháp phi thuế quan ==> Xóa bỏ
– Lộ trình:
ASEAN 6 ngoại trừ Philipin: muộn nhất 01/01/2010 (ở đây áp dụng Công thức ASEAN – X đối với vấn đề kinh tế)
Philipin: muộn nhất 01/01/2012
ASEAN 4: muộn nhất 01/01/2015 (linh hoạt 2018)
Câu hỏi: Công thức ASEAN – X là để nhằm cho các quốc gia ASEAN kém phát triển hơn chưa đủ điều kiện thực hiện cam kết của mình theo lộ trình chung thì có thể thực hiện sau, Đúng hay Sai?
Trả lời: Sai. Vì công thức ASEAN – X để dành cho các quốc gia chưa đủ điều kiện thực hiện cam kết của mình theo lộ trình chung chứ không phải chỉ dành riêng cho các gia ASEAN kém phát triển hơn, ví dụ trường Philipin tuy nằm trong ASEAN 6 nhưng vẫn xin lùi việc thực hiện xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan đến năm 2018, tức là muộn hơn 3 năm so với các nước khác trong ASEAN 6.
4. Quy tắc xuất xứ (chương III ATIGA)
– Là tập hợp những quy định PL để xác định quốc gia xuất xứ của hàng hóa
– Mục đích:
+ xác định hàng hóa được hưởng ưu đãi nhằm khắc phục hiện tượng chệch hướng thương mại (là mục đích quan trọng nhất)
+ để thực thi các biện pháp hoặc công cụ thương mại
+ phục vụ công tác thống kê thương mại
+ để phục vụ việc thực thi các quy định về nhãn và ghi nhãn hàng hóa
+ để phục vụ hoạt động mua sắm của Chính phủ
Câu hỏi: Hiện tượng chệch hướng thương mại có thể diễn ra trong cấp độ liên kết thương mại nào ?
Trả lời: Hiện tượng chệch hướng thương mại có thể diễn ra trong cấp độ liên kết từ FTA trở lên.
– Hàng hóa có nguồn gốc ASEAN:
+ hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại ASEAN (Điều 27 ATIGA)
+ hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại ASEAN (Điều 28 ATIGA)
a) Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại ASEAN
– Là hàng hóa được sinh trưởng, phát triển và thu hoạch ở nước xuất xứ hoặc được gia công hoàn toàn bằng các nguyên liệu của nước xuất xứ thì được gọi là hàng hóa có xuất xứ 100% ASEAN
– Chia làm 4 nhóm:
+ nhóm 1: điểm a, b, c, d Điều 27 ATIGA
+ nhóm 2: điểm e, i, j Điều 27 ATIGA
+ nhóm 3: điểm f, g, h Điều 27 ATIGA
+ nhóm 4: điểm k Điều 27 ATIGA
b) Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại ASEAN
– Là hàng hóa được sản xuất từ toàn bộ hoặc 1 phần nguyên liệu không có nguồn gốc xuất xứ, đáp ứng các tiêu chí xuất xứ hàng hóa của ASEAN (tức là những sản phẩm phải được sản xuất, gia công hay chế biến đạt mức độ đáng kể tại quốc gia xuất khẩu)
– Các tiêu chí xác định hàng hóa có xuất xứ ASEAN phải đạt 1 trong 3 tiêu chí sau:
+ tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực (RVC)
+ tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC)
+ tiêu chí mặt hàng cụ thể (PSR)
b.1. Tiêu chí hàm lượng giá trị khu vực (Khoản 1 Điều 29 ATIGA)
– Hàng hóa được sản xuất tại quốc gia thành viên có RVC >=40%
Bài giảng môn học Luật so sánh chương IV sẽ đưa bạn khám phá hệ thống Pháp luật hồi giáo, một trong những hệ thống pháp lý quan trọng trên thế giới, đặc biệt ở các quốc gia Hồi giáo. Nội dung chương này giúp bạn hiểu rõ về sự hình thành, nguyên lý và các nguồn gốc của pháp luật Hồi giáo, bao gồm Kinh Qur’an và Hadith. Bài giảng cũng sẽ so sánh những đặc điểm nổi bật của pháp luật Hồi giáo với các hệ thống pháp luật khác, giúp bạn hiểu về ảnh hưởng sâu rộng của nó đối với đời sống xã hội và kinh tế của các quốc gia theo đạo Hồi.
Bài giảng môn học Luật so sánh chương IV
Chương 4: Pháp luật hồi giáo
Trong các luật tôn giáo trên thế giới thì luật Hồi giáo có tầm ảnh hưởng rộng lớn và sâu sắc nhất. Hiện nay trên thế giới có khoảng 50 quốc gia có hệ thống PL theo luật Hồi giáo.
I. Luật Hồi giáo
1. Khái niệm
– Đạo Hồi, tên gọi là Islam ra đời vào thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập.
Islam có nghĩa là “tuân phục / tuân thủ”. Tư tưởng trung tâm của đạo Hồi chỉ đơn giản là tuân phục hoàn toàn ý chí và luật lệ của thượng đến. Người tuân phục thượng đế (tín đồ Hồi giáo) được gọi là muslim – người tuân phục
Islam được truyền sang Trung Quốc chủ yếu được người dân tộc Hồi tiếp nhận, nên người Trung Quốc gọi là đạo Hồi, sau VN cũng gọi là “đạo Hồi”.
– Các tín đồ Hồi giáo phải tuân theo giới luật đạo Hồi, gọi là Sharial – con đường của thượng đế.
– Luật hồi giáo là 1 phần của Sharial.
==> khái niệm luật Hồi giáo: Luật hồi giáo là 1 phần của các quy tắc giáo lý của đạo Hồi.
– Đặc điểm của luật Hồi giáo:
Bài giảng môn học Luật so sánh chương IV
+ luật Hồi giáo mang tính ổn định và có tính mềm dẻo: mặc dù đã ra đời cách nay 1300 năm, nhưng luật Hồi giáo vẫn còn phù hợp với các quốc gia hồi giáo hiện nay ==> cho thấy sự thích ứng của luật Hồi giáo rất cao với sự phát triển của xã hội
+ các quy định của luật Hồi giáo hoàn toàn độc lập, không chịu sự chi phối của nhà nước, không quyền lực nào có thể thay đổi được luật Hồi giáo: luật Hồi giáo ra đời gắn với nhà tiên tri Mohammed, và đây là nhà tiên tri duy nhất của đạo hồi (không có nhà tiên tri thứ 2).
+ luật Hồi giáo có phạm vi điều chỉnh rộng: điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực của đời sống, điều chỉnh cả những vấn đề rất “nhỏ, hẹp” như quan hệ trong gia đình, cho đến những quan hệ “vĩ mô” như việc đối nội, đối ngoại của quốc gia, cả việc hợp tác quốc tế giữa các quốc gia ==> trong lịch sử đã có rất nhiều quốc gia chỉ sử dụng luật Hồi giáo là hệ thống PL của quốc gia ==> tức là luật Hồi giáo có thể tạo ra 1 hệ thống PL hoàn chỉnh cho 1 quốc gia
+ luật Hồi giáo có tính chất lỗi thời trong nhiều chế định, tính vụn vặt và thiếu hệ thống hóa: VD quy định cho phép đàn ông có nhiều vợ
– So sánh luật hồi giáo với luật giáo hội ở châu Âu:
Luật hồi giáo
Luật giáo hội
Giống nhau: đều là hệ thống các quy định mang tính tôn giáo của những người theo đạo
Là hệ thống PL đầy đủ
Không phải là hệ thống PL đầy đủ, chỉ là 1 phần của hệ thống PL quốc gia
Không phục vụ cho quyền lực nhà nước
Phục vụ cho quyền lực nhà nước
Do Thượng đế đặt ra, không thể bị thay đổi.
Do các giáo sỹ đặt ra (chứ không phải do Chúa trời đặt ra) và có thể bị thay đổi.
2. Sự hình thành và phát triển của luật Hồi giáo
a. Giai đoạn luật Hồi giáo hình thành và phát triển ở Ả Rập (thế kỷ 7)
– Nhà tiên tri Mohammed (570 – 632) sinh ra trong 1 gia đình bình thường ở thành phố Mecca, bị mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Năm 25 tuổi, ông vào làm việc cho Khadija là 1 góa phụ giàu có và lớn hơn ông 15 tuổi, sau đó ông kết hôn với Khadija và có cuộc sống dễ chịu ==> các học giả cho rằng chính nhờ việc lấy góa phụ Khadija giàu có mà Mohammed có nhiều thời gian để suy ngẫm và sáng tạo ra đạo Hồi.
Năm 40 tuổi, Mohammed trong 1 lần dạo chơi thì gặp thiên thần Gabriel cho biết rằng Mohammed là người được chọn để truyền dạy cho dân chúng các lời răn của thánh Alla, và thiên thần Gabriel đọc cho Mohammed những lời dạy của thánh Alla.
Sau đó Mohammed truyền lại những lời dạy của thượng đế cho nhữn người xung quanh ==> được các học trò ghi lại và trở thành Kinh Koran.
– Năm 622 là năm đầu tiên của lịch Hồi giáo.
– Năm 632 Mohammed qua đời đột ngột, chưa kịp chỉ định người kế vị ==> thế giới hồi giáo bị phân chia trong việc chọn người kế vị Mohammed, có 2 quan điểm:
+ chọn người có tài, có uy tín ==> về sau hình thành dòng hồi giáo Sunni
+ chọn người thân thích của Mohammed ==> về sau hình thành dòng hồi giáo Shiite
Ngày nay, chỉ có khoảng 10% người Hồi giáo theo dòng Shiite, nhưng đây là dòng hồi giáo có nhiều tín đồ cực đoan, ủng hộ chính sách khủng bố.
b. Giai đoạn luật Hồi giáo bành trướng ra nhiều khu vực khác trên thế giới (cuối thế kỷ 7 đến thế kỷ 18)
– Chỉ sau 1 thế kỷ kể từ khi ra đời, hồi giáo đã nhanh chóng bành trướng thành 1 đế quốc lớn nhất thế giới lúc bấy giờ (đây cũng là thời kỳ đen tối của châu Âu)
– Sự lớn mạnh không ngừng của hồi giáo đã góp phần chấm dứt sự tồn tại của đế quốc lớn nhất trong lịch sử là đế quốc La Mã (thế kỷ 15).
c. Giai đoạn PL của các quốc gia Hồi giáo bị ảnh hưởng bởi PL của các nước châu Âu (cuối thế kỷ 18 đến nay)
– Đạo hồi bị phân chia, sự liên kết yếu đi rõ rệt, sức bành trướng theo đó cũng giảm đi rõ rệt
– Trong khi đó, các quốc gia châu Âu dần đi vào ổn định, cách mạng tư sản thành công ở nhiều nước, các cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật ở châu Âu thành công, các phát kiến địa lý liên tiếp diễn ra ==> kinh tế, quân sự của các quốc gia châu Âu phát triển và trở nên hùng mạnh ==> hệ thống PL châu Âu được liên tục hoàn thiện
– Các cường quốc châu Âu xâm chiếm mở rộng lãnh thổ khắp thế giới, trong đó có sự xâm lược các quốc gia hồi giáo
– Các giá trị dân chủ, quyền con người dần được nhận thức và đề cao ==> sự ưu việt của PL châu Âu so với PL hồi giáo ==> PL châu Âu đẩy lùi PL hồi giáo, biến luật hồi giáo chỉ còn là 1 nguồn luật trong hệ thống PL
Đặc biệt ở Thổ Nhĩ Kỳ, PL châu Âu đã xóa bỏ hoàn toàn luật Hồi giáo và thay bằng PL châu Âu.
Ngay cả ở “thánh địa” Mecca và Medina, luật hồi giáo cũng không còn độc tôn mà đã có sự pha trộn với PL của châu Âu.
– Tuy nhiên, không phải hồi giáo “đứng yên” hay “bị thu hẹp”, mà hồi giáo và luật hồi giáo vẫn liên tục mở rộng, nhưng không phải bằng con đường chiến tranh xâm lược như trước, mà bằng con đường truyền giáo hòa bình. Bằng chứng rõ ràng nhất là Indonexia: hồi giáo mới xuất hiện ở Indonexia từ thế kỷ 18 những đã nhanh chóng được chấp nhận và đến nay Indonexia là quốc gia hồi giáo lớn nhất thế giới.
3. Nguồn của luật Hồi giáo
– Có 4 loại nguồn:
+ nguồn cơ bản: kinh Koran, Sunna
+ nguồn phụ trợ: Ijma, Qias
– Những quy định quan trọng nhất của luật hồi giáo nằm trong kinh Koran và Sunna, là những văn bản ghi chép lại lời dạy của thượng đế (thánh Alla) và nhà tiên tri Mohammed. Còn Ijma và Quias ra đời trong quá trình thực tiễn áp dụng Kinh Koran và Sunna.
– Tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng luật hồi giáo, thì các quy định trong Kinh Koran và Sunna chỉ mang tính định hướng, nguyên tắc, còn thực tiễn các thẩm phán chủ yếu sử dụng các quy định trong Ijma và Qias.
a. Kinh Koran
– Là nguồn quan trọng nhất của luật Hồi giáo.
– Là cuốn kinh duy nhất của Hồi giáo (khác với các tôn giáo khác có nhiều cuốn kinh)
– Kinh Koran là cuốn kinh thánh của đạo Hồi được viết bằng tiếng Ả Rập, có nghĩa là “đọc lại”. Lý do là vì kinh Koran được hình thành từ những gì mà Mohammed đọc lại những lời của thượng đế truyền cho ông.
– Cấu trúc: gồm 114 chương, chia thành các tiết với 6.237 đoạn thơ rất dễ thuộc, dễ nhớ ==> là 1 trong các nguyên nhân khiến đạo Hồi có thể bành trướng dễ dàng. Tuy nhiên điểm hạn chế là lại làm cho các quy định trong Kinh Koran rất dài dòng.
Tuy nhiên chỉ có 3% nội dung của Kinh Koran được coi là luật.
– Nội dung của Kinh Koran rất rộng, bao gồm luật gia đình, luật dân sự, luật hình sự, luật thương mại, … và cả luật quốc tế.
b. Sunna
– Có nghĩa là “con đường quen đi”, là lối sống, cách hành xử trong cuộc đời của nhà tiên tri Mohammed.
– Sunna là nguồn quan trọng trong luật Hồi giáo chỉ sau kinh Koran
– Sunna bao gồm những hành động cụ thể, những lời khuyên dạy hoặc cấm đoán trực tiếp từ Mohammed.
– Vai trò của Sunna: sau khi Mohammed chết, vì không còn nhà tiên tri nào có thể liên lạc với thánh Alla để hỏi về những vấn đề phát sinh trong thực tế nữa, mà Kinh Koran lại không nói đến hoặc nói không rõ ràng ==> vì vậy người hồi giáo sẽ nhớ lại xem trước đây, lúc Mohammed còn sống, khi gặp tình huống đó thì Mohammed sẽ hành xử như thế nào ==> tập hợp các hành xử của Mohammed trở thành Sunna.
VD: trong kinh Koran cấm tín đồ hồi giáo uống rượu, nhưng lại không nói nếu tín đồ hồi giáo uống rượu thì sẽ xử phạt thế nào ==> có thể tìm thấy trong Sunna, đoạn kể lại Mohammed khi gặp tín đồ hồi giáo uống rượu thì sẽ yêu cầu đánh roi người này ==> hình phạt sẽ là đánh roi.
c. Ijma
– Được sử dụng để giải thích các nguồn cơ bản
– Ijma ra đời trên cơ sở thống nhất về quan điểm PL của các học giả pháp lý đạo Hồi cho những tình huống mới: tức là Ijma giải thích các quy định trong Kinh Koran và Sunna trong thế giới hiện tại.
==> Ijma có nét tương tự với “án lệ”
– Những khái niệm và ý kiến trong Ijma thì không tìm thấy trong Kinh Koran và Sunna, nhưng vẫn tuân theo các nguyên tắc chung của Kinh Koran và Sunna.
– Các thẩm phán và luật gia đều sử dụng Ijma để đưa ra các giải pháp cho các vấn đề của cuộc sống hiện đại.
d. Qias
– Thực chất là phương pháp suy luận tương tự để giải thích luật quy định trong kinh Koran và Sunna, nhằm giải quyết những tình huống mới phát sinh trong thực tế.
– Bằng cách áp dụng Qias, các luật gia và thẩm phán có thể “kết hợp ý chí của thần thánh với lý trí của con người”.
– Qias không tạo ra quy phạm mới mà chỉ tìm cách suy luận những quy phạm cũ (trong Kinh Koran và Sunna) để giải quyết các tình huống mới.
VD: Kinh Koran cấm uống rượu, Qias có thể suy luận theo cách: quy định này cũng đồng thời cấm sử dụng đồ uống có cồn, cấm sử dụng chất ma túy.
4. Sự thích ứng của luật hồi giáo với thế giới hiện đại
– Ở một số quốc gia hồi giáo, các cơ quan quyền lực nhà nước được phép tạo ra PL ==> vậy có trái với nguyên tắc của đạo hồi là luật hải do thánh Alla tạo ra ?
Việc này vẫn được chấp nhận ở các quốc gia hồi giáo, là vì các tín đồ hồi giáo cho rằng các quan hệ xã hội mới phát sinh ngày càng nhiều, luật trong kinh Koran đã không còn đáp ứng được, mà nhà tiên tri Mohammed đã mất từ lâu, lại không có nhà tiên tri thứ 2 ==> thánh Alla phải thông qua nhà nước để đưa ra PL giúp thánh Alla quản lý đất nước hồi giáo ==> thánh Alla đồng ý cho nhà nước có thể ban hành một số quy định để hỗ trợ cho luật mà thánh Alla đã truyền cho Mohammed
– Áp dụng tập quán: mặc dù các quốc gia hồi giáo không thừa nhận tập quán là nguồn luật, nhưng trong thực tế họ vẫn thừa nhận các tập quán trong thương mại quốc tế là 1 nguồn luật, chỉ với điều kiện là các tập quán này không trái với kinh Koran.
– Sử dụng các thủ thuật pháp lý để loại bỏ các quy định đã lạc hậu (là 1 hình thức “lách luật”).
VD trong kinh Koran có quy định cấm cho vay lấy lãi ==> lách luật bằng cách: biến hợp đồng cho vay có lãi bằng 2 hợp đồng mua bán tài sản. Như A cho B vay 100 đồng trong 1 năm và tiền lãi là 10 đồng, thì sẽ thành 2 hợp đồng: A mua của B 1 tài sản trị giá 100 đồng, và sau 1 năm thì B mua lại chính tài sản đó với giá 110 đồng
VD kinh Koran cho phép đàn ông lấy nhiều vợ, tuy nhiên việc này gây bất ổn xã hội ==> nhà nước “lách” bằng cách quy định người đàn ông muốn lấy nhiều vợ thì phải đảm bảo tài chính cho vợ và các con, ngoài ra khi lấy thêm vợ thì phải được tất cả các người vợ trước đồng ý, đồng thời phải ký cam kết đối xử công bằng với tất cả các bà vợ
VD kinh Koran quy định người đàn ông muốn ly hôn chỉ cần chạy ra ngoài, giơ 2 tay lên trời (thể hiện sự chứng giám của thánh Alla), và nói to 3 lần “Tôi li dị cô”, việc này đã gây ra tình trạng ly hôn bừa bãi, ảnh hưởng đến quyền của phụ nữ ==> nhà nước yêu cầu khi kết hôn, 2 vợ chồng ký hợp đồng “chung sống tạm thời trong khoảng thời gian 70 năm”, và trong thời gian này 2 vợ chồng phải tuân thủ các quyền và nghĩa vụ nêu trong hợp đồng.
II. Pháp luật các quốc gia Hồi giáo
– PL các quốc gia hồi giáo được chia thành các nhóm như sau:
+ nhóm quốc gia đã từng theo hệ thống xã hội chủ nghĩa: Albania, các nước Trung Á (Kazakhstan, Turkmenistan, …) ==> do theo Mac-Lenin nên đạo hồi không phát triển ==> ảnh hưởng của đạo hồi rất hạn chế
+ nhóm quốc gia coi luật hồi giáo là tối cao, nhà nước chỉ là thứ cấp: các quốc gia bán đảo Ả Rập (Ả Rập Xê-út, Yemen, UAE, Oman, Quatar, …), Afghanistan, Pakistan
+ nhóm quốc gia trong đó luật Hồi giáo chỉ được dùng để điều chỉnh 1 số lĩnh vực (như quan hệ gia đình, các tổ chức tôn giáo, chế độ ruộng đất), còn PL “hiện đại” được dùng để điều chỉnh những quan hệ mới. Nhóm này gồm nhóm nhỏ:
nhóm quốc gia kết hợp luật hồi giáo với common law: Malaixia, Nigeria, Bengale
nhóm quốc gia kết hợp luật hồi giáo với civil law: Indonexia, Iran, các nước nói tiếng Ả Rập, các nước châu Phi nói tiếng Pháp