Tác giả: Thanh Loan

  • Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    Bạn đang cần tài liệu Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án) để ôn tập hiệu quả? Bài viết này tổng hợp những câu hỏi quan trọng kèm đáp án chi tiết, giúp bạn hệ thống kiến thức và chuẩn bị tốt cho kỳ thi. Tham khảo ngay để nắm vững kiến thức tội phạm học!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    31. Luôn luôn tồn tại lỗi của nạn nhân trong nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể

    => Nhận định này sai. Không phải tội phạm nào cũng gây ra thiệt hại cho các nạn nhân. Nói cách khác, không phải tội phạm nào cũng có nạn nhân. Có những tội phạm luôn luôn có nạn nhân, có những tội phạm có thể có nạn nhân, có những tội phạm luôn không có nạn nhân. Khía cạnh nạn nhân chỉ đóng vai trò trong vài nhóm tội phạm : tội phạm xâm hại sở hữu, tính mạng sức khỏe. Các nhóm tội khác như xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự công công, hối lộ thì không có nạn nhân cụ thể. Ngoài ra các tội phạm thực hiện với lỗi vô ý cũng có thể không tồn tại lỗi của nạn nhân.

    32. Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm cần được nhận thức trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau

    => Nhận định này đúng.  Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm cần được nhận thức trong mối quan hệ tương quan với nhau trong phạm trù chung – riêng. Trong đó NN, ĐK của THTP là cái chung, cái bao trùm và phổ biến, có mặt trong mọi lĩnh vực, đời sống, xh đồng thời tác động đến nhóm TP cụ thể. Tức là, NN, ĐK của THTP luôn có mặt trong từng nhóm NN, ĐK của mọi loại TP, làm phát sinh TP cụ thể.

    33. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm luôn là những hiện tượng tiêu cực xã hội

    => Nhận định này đúng. Những mâu thuẫn xã hội (mà hình thành nên nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm) là những quá trình xã hội có khuynh hướng đối lập thoát ly khỏi chiều hướng phát triển đã được hoạch định của toàn xã hội. Chính tính chất ngược chiều của các quá trình và khuynh hướng xã hội khác nhau đã tạo ra mâu thuẫn trong nội tại xã hội.

    -> Nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm luôn thể hiện sự đối lập, cản trở khuynh hướng phát triển chung của toàn xã hội trên nhiều bình diện khác nhau ->Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm luôn là những hiện tượng tiêu cực xã hội.

    34. Số liệu tội phạm được thống kê đồng nhất với số liệu tội phạm rõ?

    => Nhận định này sai. Vì chỉ có số liệu thống kê tội phạm được quy định tại điều 5 Luật tố cáo VKSND năm 2002 và thông tư liên tịch số 01/2005 giữa VKSTC-TATC-BCA thì số liệu tội phạm được thống kê mới đồng nhất với số liệu tội phạm rõ.

    35. Số liệu thống kê tình hình tội phạm phản ánh đầy đủ tình hình tội phạm.

    => Nhận định này sai. Tình hình tội phạm trên thực tế gồm hai phần: phần rõ của tình hình tội phạm và phần ẩn của tình hình tội phạm, trong đó phần rõ bao gồm tất cả các tội phạm rõ và phần ẩn bao gồm tất cả các tội phạm ẩn. Trên thực tế, chỉ có số tội phạm rõ mới được xác định qua thống kê. Chính vì vậy số liệu thống kê tình hình tội phạm không phản ánh đầy đủ tình hình tội phạm.

    36. Các thông số của tình hình tội phạm là nội dung bắt buộc phải có trong một kế hoạch phòng ngừa tội phạm.

    => Nhận định này sai. Những nội dung bắt buộc phải có trong một kế hoạch phòng ngừa tội phạm bao gồm: đối tượng của kế hoạch, thời gian và địa bàn áp dụng kế hoạch; mục tiêu kế hoạch; các biện pháp phòng ngừa tội phạm; chủ thể thực hiện kế hoạch; nguồn kinh phí thực hiện kế hoạch.

    37. Tính tối ưu là tiêu chí quan trọng nhất của kế hoạch phòng ngừa tội phạm

    => Nhận định này sai. Trước khi xem xét đến các tiêu chí đánh giá kế hoạch phòng chống tội phạm, thì yếu tố quan trọng/ tiêu chí quan trọng đầu tiên để đánh giá là nội dung kế hoạch phải tuân thủ các nguyên tắc của hoạt động phòng ngừa tội phạm như nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc dân chủ. Khi kế hoạch đáp ứng được những tiêu chí này thì các tiêu chí đánh giá kế hoạch mới được đặt ra. Vì vậy đây mới là tiêu chí quan trọng nhất.

    38. Biện pháp kinh tế chỉ có tác dụng phòng ngừa những tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    => Nhận định này sai. Biện pháp kinh tế là biện pháp có tính chất kinh tế, tác động chủ yếu đến lĩnh vực kinh tế, làm hạn chế khả năng phát sinh tội phạm, đặc biệt là các tội phạm xâm phạm sở hữu, các tội phạm kinh tế, tham nhũng…

    Vì vậy biện pháp kinh tế không chỉ có tác dụng phòng ngừa những tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)
    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    39. Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học là sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước

    => Nhận định này sai. Nội dung của phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học bao gồm:

    – Phòng ngừa xã hội: khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội bằng các biện pháp xã hội; xóa bỏ tận gốc tội phạm là ưu tiên.

    – Phòng ngừa bằng sự cưỡng chế: Hoạt động tố tụng, hình phạt, cải tạo; sau khi tội phạm đã xảy ra.

    40. Tất cả các chủ thể có vai trò như nhau trong hoạt động phòng ngừa tội phạm

    => Nhận định này sai. Phòng ngừa tội phạm là hoạt động đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân công dân trong phạm vi chức năng của mình. Do các chủ thể là khác nhau, có phạm vi chức năng và quyền hạn khác nhau, nên vai trò của mỗi chủ thể cũng có nhiều điểm riêng biệt.

    41. Để đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm chỉ cần căn cứ vào tỷ lệ tăng, giảm số tội phạm và người phạm tội đã bị phát hiện, xử lý

    => Nhận định này sai. Việc phòng ngừa tội phạm bao gồm: tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm (phòng ngừa XH) khôi phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội và phát hiện xử lý tội phạm mà trọng tâm là hoạt động điều tra xét xử cải tạo người phạm tội. Do đó nếu đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm chỉ căn cứ vào tỷ lệ tăng, giảm số tội phạm và người phạm tội đã bị phát hiện xử lý là chưa đầy đủ.

    42. Hiệu quả phòng ngừa không đạt được khi số lượng tội phạm giảm nhưng thiệt hại gia tăng

    => Nhận định này sai. Đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm được xác định và so sánh dựa trên cơ sở các thông số của các khía cạnh lượng và chất của tình hình tội phạm. Các tiêu chí này có thể xem xét độc lập nhưng khi đánh giá cuối cùng về hiệu quả phòng ngùa tội phạm cần xem xét chúng trong mối liên hệ với nhau. Do đó nếu đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm chỉ căn cứ vào giảm số tội phạm và thiệt hại gia tăng là chưa đầy đủ.

    43. Chữa bệnh không được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm

    => Nhận định này sai. Đối với các bịên pháp chữa bệnh nhằm giúp đỡ các thành viên trong cộng đồng, xoá bỏ các tình huống, hoàn cảnh phạm tội, loại trừ khả năng làm phát sinh, tái phạm các tội phạm cụ thể cũng được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm (TD: Chữa cai nghiện ma tuý tại các trung tâm cai nghiện hoặc chữa cho các bệnh nhân tâm thần).

    44. Nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động phòng ngừa tội phạm chỉ hướng tới việc bảo vệ nạn nhân của tội phạm.

    => Nhận định này sai. Nguyên tắc nhân đạo trong phòng ngừa pháp phòng ngừa tội phạm không được hạ thấp danh dự nhân phẩm con ngừơi mà phải nhằm khôi phục con người và tạo điều kiện để con người phát triển. Những đối tượng dễ bị tổn thương hoặc phải chịu những chế tài pháp lý thường được đối xữ theo tinh thần nhân đạo.

    45. Dự báo tội phạm là hoạt động mang tính Bước 2

    => Nhận định này đúng. Tính Bước 2 của dự báo tội phạm thể hiện ở: dự báo tội phạm chỉ có thể thực hiện sau các dự báo xã hội khác, dự báo tội phạm đi liền theo dự báo xã hội do sự ảnh hưởng, chi phối của các yếu tố xã hội, sử dụng kết quả dự báo xã hội có liên quan để dự báo tình hình tội phạm.

    46. Dự báo tình hình tội phạm bằng phương pháp thống kê đều cho kết quả tin cậy trong mọi điều kiện dự báo và đối với tất cả các loại tội phạm được dự báo

    => Nhận định này sai. Vì dự báo THTP bằng phương pháp thống kê chỉ cho kết quả chính xác đối với dự báo trong đkiện ngắn hạn và chỉ có thể dự báo với các loại tội phạm có độ ẩn thấp trong xã hội (như tội giết người, gây thương tích,…) và phải đầy đủ thông tin về THTP trong quá khứ và hiện tại và THTP trên địa bàn phải có mức độ ổn định tương đối (nếu có biến động thì cũng phải ổn định về mặt thời gian).

    47. Sự dự báo tội phạm bằng phương pháp thống kê có thể được sử dụng trong mọi trường hợp cần dự báo.

    => Nhận định này sai. Những tội phạm có độ ẩn cao không nên sử dụng phương pháp thống kê, vì số liệu thống kê những tội phạm có độ ẩn cao không phản ánh đầy đủ thực trạng tình hình TP. Vì thế chỉ dựa vào số liệu thống kê để dự báo chắc chắn sẽ cho kết quả thiếu chính xác.

    48. Trong tội phạm học, phương pháp thống kế chỉ được sử dụng để mô tả phần hiện rõ của tình hình tội phạm.

    => Nhận định này sai. Trong tội phạm học, phương pháp thống kê được sử dụng để mô tả đa số thông số của tình hình tội phạm. Ví dụ như cơ cấu, động thái, thiệt hại của tình hình tội phạm.

    49. Nhiệm vụ của tội phạm học dự báo sự xuất hiện của Tội phạm mới

    => Nhận định này đúng. Nhiệm vụ của tội phạm học là dự báo tội phạm. Dự báo về tội phạm là dự báo tội phạm trong tương lai, phải thấy khả năng xuất hiện của những loại tội phạm mới, cũng như khả năng mất đi hay giảm hẳn của 1 số tội phạm cụ thể trước những biến đổi của đời sống xã hội.

    50. Tội phạm là đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học cũng giống như tội phạm là đối tượng nghiên cứu của luật hình sự.

    => Nhận định này sai. Vì luật hình sự nghiên cứu những vấn đề trừu tượng, lý luận về tội phạm. Còn tội phạm học nghiên cứu những vấn đề tội phạm cụ thể (dựa trên những người, những vụ phạm tội cụ thể đã xảy ra).

    51. Chỉ số tội phạm phản ánh tính chất của tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai. Vì chỉ số tội phạm chỉ phán ánh tình hình tội phạm, còn cơ cấu tội phạm mới phản ánh tính chất của tình hình tội phạm.

    52. Chỉ số thiệt hại cho biết thông tin về tính chất của tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai. Tính chất của tình hình tội phạm được thể hiện qua thuộc tính và đặc điểm của THTP, còn cơ cấu THTP nói riêng và thông số THTP nói chung là các thông tin số liệu, phản ánh mức độ tồn tại, và tính phổ biến của tình hình tội phạm trên thực tế.

    Vì vậy, chỉ số thiệt hại không cho biết thông tin về tính chất của tình hình tội phạm.

    53. Hệ số tình hình tội phạm thuộc thông số động thái của tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai.  Trong các phương pháp xác định thực trạng của tình hình tội phạm có phương pháp hệ số. Vì vậy hệ số tình hình tội phạm thuộc thông số thực trạng của tình hình tội phạm.

    54. Tỷ trọng loại tội phạm trong tổng số các loại tội phạm phản ánh thực trạng của tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai. Cơ cấu của thtp là thành phần, tỷ trọng và sự tương quan giữa các tội phạm, loại tội phạm trong một chỉnh thể thtp. Vì vậy tỷ trọng loại tội phạm trong tổng số các loại tội phạm phản ánh cơ cấu của tình hình tội phạm.

    55. Việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm không cần nghiên cứu tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai. Vì cần phải nghiên cứu tình hình tội phạm mới biết nguyên nhân, từ đó mới đưa ra biện pháp phòng ngừa được.

    56. Tình huống cụ thể đóng vai trò là nhân tố hình thành động cơ của người phạm tội

    => Nhận định này sai. Chỉ có 1 số tình huống cụ thể mới hình thành động cơ của ng phạm tội, còn các tình huống khác thì có vai trò khác.

    57. Tội phạm học cổ điển coi nhẹ vai trò của hình phạt trong hoạt động phòng ngừa tội phạm

    => Nhận định này sai. Tội phạm học cổ điển đề cao vai trò của Hình phạt theo quan điểm của Cesare Beccaria.

    58. Nhu cầu của người phạm tội luôn có sự khác biệt với nhu cầu của người không phạm tội

    => Nhận định này đúng. Nhu cầu của người phạm tội có những đặc điểm đặc trưng và khác biệt sau:

    – Người phạm tội thường có sự hạn hẹp trong hệ thống nhu cầu

    – Người phạm tội thường có sự mất cân đối trong hệ thống nhu cầu, thường quá tập trung quá mức vào những nhu cầu thực dụng, cực đoan.

    – Người phạm tội thường tồn tại những nhu cầu biến dạng, đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức và pháp luật (nhu cầu lệch chuẩn: thể hiện sự mâu thuẫn với sự phát triển bình thường của đời sống xã hội )

    – Biện pháp thõa mãn nhu cầu của người phạm tội thường là vô đạo đức, phi pháp luật, không lựa chọn những phương pháp thỏa mãn nhu cầu hợp lý. Ví dụ: chiếm đoạt tài sản của người khác để thõa mãn nhu cầu vật chất của cá nhân.

    59. Không có sự khác biệt nào về sự hứng thú của người bình thường so với đặc điểm hứng thú của người phạm tội

    => Nhận định này sai. Điểm khác trong hứng thú của người phạm tội là người phạm tội thường tồn tại những hứng thú thấp kém, thiên về khoái cảm vật chất, hưởng thụ, có sự lệch chuẩn nghiêm trọng trong những đam mê, hấp dẫn của bản thân, thường bị lôi cuốn, hấp dẫn bởi những suy nghĩ và hành vi lệch chuẩn đi ngược lại chuẩn mực đời sống.

    60. Phần ẩn của tình hình tội phạm không phụ thuộc phần rõ của tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai. THTP trên thực tế gồm 2 phần: phần rõ của THTP bao gồm tất cả các tội phạm rõ và phần ẩn của THTP bao gồm tất cả các tội phạm ẩn.

    Phần ẩn và phần rõ của tội phạm cùng tồn tại trong một chỉnh thể THTP nói chung, tức là tỉ lệ phần tội phạm rõ càng lơn thì tỉ lệ phần tội phạm ẩn càng thu hẹp và ngược lại.

    Mời bạn xem thêm:

  • Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    Bạn đang tìm kiếm Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án) để ôn tập hiệu quả? Bài viết này cung cấp bộ câu hỏi kèm đáp án chi tiết, giúp bạn nắm vững kiến thức trọng tâm, chuẩn bị tốt cho kỳ thi. Cùng tham khảo ngay để củng cố hiểu biết về tội phạm học!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    1. Tội phạm và tình hình tội phạm là hai khái niệm đồng nhất với nhau

    => Nhận định này sai. Theo điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS. Còn tình hình tội phạm là diễn biến và thực trạng của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị thời gian và không gian nhất định. Vậy tội phạm và tình hình tội phạm không thể là hai khái niệm đồng nhất.

    2. Tội phạm học là ngành khoa học pháp lý độc lập

    => Nhận định này sai. Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, chức năng, nhiệm vụ và hệ thống tội phạm học có thể khẳng định tội phạm học là một ngành khoa học có vị trí độc lập trong hệ thống các khoa học. Nó nằm ở vị trí tiếp giáp với hai nhóm ngành khoa học là các khoa học xã hội và các khoa học pháp lý, đồng thời nó có quan hệ mật thiết với hai nhóm ngành khoa học này. Vì vậy, tội phạm học là khoa học xã hội – pháp lý chứ không phải là ngành khoa học pháp lý độc lập.

    3. Nhiệm vụ của tội phạm học tại một quốc gia là không thể thay đổi

    => Nhận định này sai. Nhiệm vụ của tội phạm nói chung được xây dựng xuất phát từ nhiệm vụ, yêu cầu của công tác đấu tranh với tội phạm được đặt ra trong từng giai đoạn của từng quốc gia cũng như của từng khu vực nhất định. Vậy tùy thuộc vào mỗi giai đoạn ứng với từng nhiệm vụ, yêu cầu của công tác đấu tranh với tội phạm khác nhau thì nhiệm vụ của tội phạm học sẽ thay đổi.

    4. Việc nghiên cứu, đánh giá tội phạm ẩn chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận.

    => Nhận định này sai. Việc nghiên cứu, đánh giá tội phạm ẩn còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn thông qua các thông số như: tỷ lệ ẩn của tội phạm, độ ẩn của tội phạm và vùng ẩn của tội phạm. Nghiên cứu và xác định tình hình tội phạm ẩn đặc biệt là tên gọi của khái niệm tội phạm ẩn, định nghĩa của khái niệm, cách phân loại tội phạm ẩn, các thông số ẩn là đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn. Giúp chúng ta nhận thức đúng về mặt lí luận, đánh giá đúng thực chất tình hình tội phạm ẩn đã xảy ra, xác định nguyên nhân ẩn, để từ đó có thể đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả.

    5. Tỉ lệ ẩn của tội phạm là thông số thuộc về cơ cấu của tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai. Thực trạng của tình hình tội phạm bao gồm hai bộ phận: số người phạm tội, số tội phạm đã xảy ra và đã bị phát hiện, xử lý (tội phạm rõ) và số người phạm tội, tội phạm đã xảy ra nhưng chưa bị phát hiện, xử lý (tội phạm ẩn) Nghiên cứu tội phạm ẩn là nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của tội phạm ẩn, trong đó có tỉ lệ ẩn. Vì vậy, tỉ lệ ẩn của tội phạm là thông số thuộc về thực trạng của tình hình tội phạm

    6. Để xác định tội phạm ẩn các nhà tội phạm học thường chỉ dựa vào phương pháp phỏng vấn

    => Nhận định này sai. Phỏng vấn thuộc phương pháp điều tra để nghiên cứu về tội phạm ẩn. Ngoài phương pháp phỏng vấn còn có phương pháp điều tra, hỏi trả lời để nghiên cứu về tình hình tội phạm.

    7. Những tội phạm khác nhau có độ ẩn như nhau

    => Nhận định này sai. Có 4 cấp độ đánh giá, từ cấp 1 tới cấp 4. Cấp 1 là cấp độ thấp nhất, gồm những tội phạm khi xảy ra có khả năng bộ lộ, bị phát hiện nhiều nhất như các tội gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích. Cấp 4 là cấp độ cao nhất đặc trưng bởi các tội phạm bị che giấu nhiều nhất, khó phát hiện, xử lý, thống kê nhất như các tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện

    8. Tội phạm rõ là những tội phạm chỉ bao gồm các tội phạm đã qua xét xử

    => Nhận định này sai. Tội phạm rõ chỉ bao gồm tội phạm đã được xử lí về hình sự mà trong đó có tội phạm đã được khẳng định qua bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật và được thể hiện trong thống kê tội phạm.

    9. Tội phạm rõ là tội phạm đã bị xử lý về hình sự và có trong thống kê tội phạm

    => Nhận định này đúng. Trả lời tương tự câu 8.

    10. Tội phạm được thống kê là tội phạm rõ

    => Nhận định này đúng. Tội phạm rõ là tội phạm đã xảy ra trên thực tế, bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý theo thủ tục tố tụng hình sự và được thể hiện trong thống kê tội phạm.

    Tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm

    11. Tội phạm rõ là tội phạm chưa bị xử lí về hình sự

    => Nhận định này sai. Tội phạm rõ chỉ bao gồm tội phạm đã được xử lí về hình sự mà trong đó có tội phạm đã được khẳng định qua bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật và được thể hiện trong thống kê tội phạm.

    12. Tội phạm ẩn có thể là tội phạm đã xảy ra đã bị xử lý về hình sự và đã có trong thống kê tội phạm

    => Nhận định này sai. Tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.

    13. Tội phạm ẩn là tội phạm đã xảy ra nhưng không có trong thống kê tội phạm

    => Nhận định này đúng. Tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.

    14. Tội phạm ẩn là tội phạm chưa bị người nào phát hiện

    => Nhận định này sai. Tội phạm ẩn nhân tạo: tội phạm đã xảy ra trên thực tế, đã bị các cơ quan chức năng phát hiện nhưng không bị xử lý do có sự che đậy từ tội phạm ẩn tự nhiên khác (ẩn chủ quan); Tội phạm ẩn thống kê: tội phạm đã xảy ra trên thực tế, đã bị các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nhưng không đưa vào thống kê hình sự.

    15. Tội phạm ẩn nhân tạo (ẩn chủ quan) do người phạm tội tạo ra

    => Nhận định này sai. Nguyên nhân chính dẫn đến tội phạm ẩn nhân tạo là có sự tham gia của con người, cụ thể là những người có quyền hạn nhất định, mặc dù tội phạm đã bị phát hiện những những chủ thể có quyền hạn này cố tình không xử lý với nhiều lí do khác nhau. Lý do để không xử lý tội phạm thực chất là do có sự tồn tại của tội phạm ẩn tự nhiên khác như các tội phạm về đưa, nhận hối lộ, làm sai lệch hồ sơ vụ án, tội làm trái các quy định của nhà nước

    Vì vậy, tội phạm ẩn nhân tạo (ẩn chủ quan) do người phạm tội của tội phạm ẩn tự nhiên tạo ra.

    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)
    Câu hỏi nhận định đúng sai môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    16. Tội phạm học là khoa học thực nghiệm

    => Nhận định này sai. Tội phạm học là khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.

    17. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học chỉ bao gồm: tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiên thực

    => Nhận định này sai. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học bao gồm tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm.

    18. Kiểm soát tội phạm không phải là đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học

    => Nhận định này sai. Theo khái niệm của Tội phạm học thì đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học bao gồm tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm.

    19. Tội phạm học và khoa học Luật hình sự không có mối quan hệ với nhau

    => Nhận định này sai. Vì khoa học LHS nghiên cứu tội phạm và hình phạt. Các kết quả nghiên cứu của khoa học LHS phục vụ cho việc giải thích việc nhận thức đúng các quy định của luật để áp dụng.

    20. Tội phạm học và khoa học luật tố tụng hình sự không có mối quan hệ với nhau

    => Nhận định này sai. Khoa học luật TTHS nghiên cứu các thủ tục TTHS trong đó LHS được áp dụng cho từng trường hợp cụ thể để xác định tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Các kết quả nghiên cứu của khoa học luật TTHS phục vụ cho việc quy định của pháp luật TTHS giải thích và nhận thức đúng các quy định để áp dụng.

    21. Tội phạm học và tâm lý học không có mối quan hệ với nhau

    => Nhận định này sai. Vì xã hội học, tâm lý học và tâm thần học tội phạm cũng là bộ phận của tội phạm học bởi khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng nghiên cứu của tội phạm học, buộc tội phạm học phải dựa vào các ngành khoa học về xã hội và con người nêu trên.

    22. Một nhóm nguyên nhân và điều kiện của tội phạm có thể là nguyên nhân và điều kiện của nhiều tội phạm khác nhau

    => Nhận định này đúng. Ví dụ nhóm nguyên nhân và điều kiện về kinh tế thì có thể làm phát sinh các tội phạm xâm phạm sở hữu, các tội phạm về kinh tế, các tội phạm về ma túy, các tội phạm tham nhũng.

    23. Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu

    => Nhận định này sai. Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ người phạm tội.

    24. Nguyên nhân của tội phạm chỉ bao gồm nguyên nhân từ môi trường sống và nguyên nhân xuất phát từ người phạm tội

    => Nhận định này sai. Ở mức độ tổng quan có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành: nhóm nguyên nhân từ moi trường sống, nhóm nguyên nhân xuất phát từ người phạm tội và tình huống cụ thể.

    25. Tình huống, hoàn cảnh phạm tội là nguyên nhân chủ quan của tội phạm cụ thể

    => Nhận định này sai. Các tình huống, hoàn cảnh phạm tội được hiểu là những yếu tố được xác định cụ thể về không gian, thời gian, tình huống có thể gắn liền với đặc điểm đối tượng của hành vi phạm tội và của nạn nhân. Tất cả những tình huống, hoàn cảnh này tham gia tác động trong cơ chế hành vi phạm tội góp phần làm phát sinh một tội phạm cụ thể.

    Vì vậy tình huống, hoàn cảnh phạm tội là nguyên nhân khách quan của tội phạm cụ thể.

    26. Tình hình tội phạm không có tính phụ thuộc pháp lý

    => Nhận định này sai. Vì đây là một trong những đặc điểm của tội phạm. Tội phạm luôn có tính phụ thuộc pháp lý vì được phản ánh trong Luật hình sự. Khi quy định của Luật hình sự có sự thay đổi thì tội phạm cũng có xu hướng thay đổi theo.

    27. Cơ cấu của tình hình tội phạm biểu thị tính chất nguy hiểm của tình hình tội phạm.

    => Nhận định này đúng. Cơ cấu của tình hình tội phạm là thành phần, tỉ trọng và sự tương quan giữa các tội phạm, loại tội phạm trong một chỉnh thể tình hình tội phạm. Xác định cơ cấu tội phạm có vai trò quan trọng trong biểu thị tính chất nguy hiểm của tình hình tội phạm. Ví dụ: Các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng chiếm tỉ trọng cao và ngày càng gia tăng đã thể hiện tính chất nguy hiểm cao của tình hình tội phạm.

    28. Tình hình tội phạm có thể trở thành nguyên nhân và điều kiện của chính nó

    => Nhận định này đúng. Tình hình tội phạm là hậu quả của những hiện tượng và quá trình xã hội tiêu cực, khi đã được sinh ra thì đến lượt nó với tư cách là một loại hiện tượng tiêu cực lại có thể đóng vai trò là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh những hiện tượng tiêu cực khác, trong đó có bản thân tình hình tội phạm. Đây được coi là tác động mang tính dây chuyền.

    29. Tính xã hội là thuộc tính đặc trưng nhất của tình hình tội phạm

    => Nhận định này sai. Thuộc tính đặc trưng nhất, riêng nhất của tình hình tội phạm là tính trái pháp luật. Các thuộc tính còn lại không chỉ có ở mỗi tội phạm học.

    30. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thay đổi chậm hơn nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể

    => Nhận định này đúng. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là toàn bộ các hiện tượng và quá trình xã hội trong sự tương tác lẫn nhau làm chúng nảy sinh, tồn tại các tội phạm trong xã hội. Các hiện tượng xã hội này là phổ biến và được lặp đi lặp nhiều lần, có khả năng tồn tại lâu dài, trong các quan hệ xã hội luôn thay đổi. Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể có phạm vi hẹp hơn, thể hiện ở chỗ chỉ nguyên nhân và kết quả xét theo hành vi phạm tội của những con người cụ thể. Vì do cá nhân nên sự thay đổi sẽ nhanh hơn xã hội của nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm.

    Mời bạn xem thêm:

  • Một số bộ đề thi môn tội phạm học

    Một số bộ đề thi môn tội phạm học

    Bạn đang tìm Một số bộ đề thi môn Tội phạm học để ôn luyện và kiểm tra kiến thức? Tài liệu này tổng hợp các đề thi bám sát nội dung học phần, bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm, tự luận và tình huống thực tế, giúp bạn làm quen với cấu trúc đề thi và nâng cao kỹ năng làm bài. Đây là nguồn tham khảo hữu ích để bạn tự tin chinh phục môn Tội phạm học với kết quả tốt nhất. Cùng khám phá ngay!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Một số bộ đề thi môn tội phạm học

    Đề số 1

    Câu 1 (3 điểm)

    Trình bày các loại tội phạm ẩn trong các giai đoạn sau đây:

    – Từ khi tội phạm được thực hiện cho đến trước khi bị khởi tố vụ án.

    – Trong giai đoạn điều tra) truy tố.

    – Trong giai đoạn xét xử.

    Theo ý kiến của anh (chị), loại tội phạm ẩn nào chiếm tỷ lệ cao nhất? Vì sao?

    Câu 2 (3 điểm)

    Phân tích chỉ số thiệt hại của tình hình tội phạm. Vì sao nói chỉ số thiệt hại của tình hình tội phạm được coi là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá tình hình tội phạm?

    Câu 3 (4 điểm)

    Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?

    a) Tội phạm gây thiệt hại cho nạn nhân luôn luôn có lỗi của nạn nhân trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội.

    b) Tất cả các tội phạm được thực hiện luôn luôn có nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội.

    c) Dự báo tội phạm bằng phương pháp chuyên gia là các chuyên gia tổ chức hoạt động dự báo tội phạm.

    d) Bất kỳ biện pháp chữa bệnh nào cũng không được coi là biện pháp phòng
    ngừa tội phạm.

    Câu 4: Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?

    a) Số liệu tội phạm được thống kê đồng nhất với số liệu tội phạm rõ?

    SAI. bởi vì chỉ có số liệu thống kê tội phạm được quy định tại điều 5 Luật tố cáo VKSND năm 2002 và thông tư liên tịch số 01/2005 giữa VKSTC-TATC-BCA thì số liệu tội phạm được thống kê mới đồng nhất với số liệu tội phạm rõ

    b) Để đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm chỉ cần căn cứ vào tỷ lệ tăng, giảm số tội phạm và người phạm tội đã bị phát hiện, xử lý

    SAI. bởi vì phòng ngừa tội phạm bao gồm: tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm(phòng ngừa XH)khôi phục ngnhân và điều kiện phạm tội và phát hiện xử lý tội phạm mà trọng tâm là hoạt động điều tra xét xử cải tạo người phạm tội. Do đó nếu đánh giá hiệu quả phòng ngừa tội phạm chỉ căn cứ vào tỷ lệ tăng, giảm số tội phạm và người phạm tội đã bị phát hiện xử lý là chưa đầy đủ

    c) Sự thay đổi của pháp luật hình sự không làm thay đổi cơ cấu tình hình tội phạm

    SAI. cơ cấu THTP là thành phần, tỷ trọng sự tương quan giữa các tội phạm, loại tội phạm trong 1 chỉnh thể THTP. Hiện nay BLHS thường được sử dụng làm căn cứ, tiêu chí xác định cơ cấu THTP do đó nếu có sự thay đổi của pháp luật hsự cũng làm thay đổi cơ cấu THTP

    d) Tất cả những tội phạm được thực hiện đều có vai trò khía cạnh nạn nhân trong ng nhân và điều kiện phạm tội

    SAI. không phải bất cứ tội phạm nào trong thực tế cũng có vai trò của nạn nhân. Trong thực tiễn phòng chống tội phạm chỉ có 1 số loại tội phạm mới có vai trò của nạn nhân như: tội xâm phạm sở hữu, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩmè mới phải xem xét đến vai trò của nạn nhân; còn như tội xâm phạm an ninh quốc gia) tội về chức vụ…èkhông có vai trò của nạn nhân

    Câu 5: Các nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?

    a) Không phải tội phạm nào được thực hiện cũng có khâu hình thành động cơ và khâu thực hiện tội phạm

    ĐÚNG. bởi vì căn cứ vào mức độ hoàn thành của cơ chế tâm lý XH thì có 2 loại cơ chế là cơ chế bộc lộ đầy đủ và cơ chế bộ lộ không đầy đủ. Trong cơ chế bộc lộ không đầy đủ có 2 trường hợp: 1 là hình thành động cơ và kế hoạch hoá việc thực hiện tội phạm (nhưng không có khâu thực hiện tội phạm trong thực tiễn) và 2 là chỉ có khâu thực hiện tội phạm trong thực tế như với lỗi vô ý: vô ý vì quá tự tin, vô ý do cẩu thả TD: vô ý làm chết người…

    b) Chỉ n~ tội phạm đã qua xét xử mới được coi là tội phạm rõ

    SAI, tội phạm rõ là số vụ tội phạm, ngừơi phạm tội đã bị phát hiện, các cơ quan đã có thông tin và tiến hành giải quyết theo thủ tục tố tụng hsự nhưng có 2 loại: 1 là loại đã qua xét xử bản án đã có hiệu lực pháp lụât, 2 là loại không qua giai đoạn xét xử, phụ thuộc vào 2 lý do:do quan điểm chính sách hsự của nhà nước , ý chí của gcấp thống trị;hoặc phụ thuộc vào khả năng, năng lực thực tế của cơ quan tố tụng

    c) Chữa bệnh không được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm

    SAI. Đối với các bịên pháp chữa bệnh nhằm gíup đỡ các thành viên trong cộng đồng, xoá bỏ các tình huống, hoàn cảnh phạm tội, loại trừ khả năng làm phát sinh, tái phạm các tội phạm cụ thể cũng được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm (TD: Chữa cai nghiện ma tuý tại các trung tâm cai nghiện hoặc chữa cho các bệnh nhân tâm thần)

    d) Dự báo tình hình tội phạm bằng phương pháp thống kê đều cho kết quả tin cậy trong mọi điều kiện dự báo và đối với tất cả các loại tội phạm được dự báo

    SAI. Bởi vì dự báo THTP bằng phương pháp thống kê chỉ cho kết quả chính xác đối với dự báo trong đkiện ngắn hạn và chỉ có thể dự báo với các loại tội phạm có độ ẩn thấp trong xh (như tội giết người, gây thương tích,…)và phải đầy đủ thông tin về THTP trong quá khứ và hiện tại và THTP trên địa bàn phải có mức độ ổn định tương đối (nếu có biến động thì cũng phải ổn định về mặt thời gian ) SAI,chỉ dự báo trong điều kiện ngắn hạn mới cho kết quả chính xác) chỉ có thể dự báo các loại tội phạm có độ ẩn thấp trong xh; còn ngược lại thì không được dùng tất cả

    Đề số 2

    Câu 1 (6đ): Những khẳng định sau đây đúng hay sai, tại sao? Giải thích ngắn gọn.

    a) Tội phạm rõ là những tội phạm được phát hiện bị xử lý hình sự và có trong thống kê hình sự.

    b) Thông số về tội phạm trong một giai đoạn nhất định là một trong những căn cứ để dự báo chính xác tình hình tội phạm đó.

    c) Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự hoặc tài sản.

    Câu 2. Cho số liệu về tội phạm và người phạm tội của tỉnh M trong năm 2008 như sau:

    1. Nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm danh dự: 208

    2. Nhóm tội xâm phạm sở hữu : 235

    3. Nhóm tội phạm về trật tự quản lý kinh tế: 80

    4. Nhóm tội phạm về ma tuý (không nhớ số liệu)

    5. Nhóm tội phạm xâm phạm ATCC và TTCC (Không nhớ số liệu)

    6. Các tội phạm khác (không nhớ số liệu).

    Yêu cầu: Thông qua số liệu và biểu đồ hay đánh giá về cơ cấu tình hình tội phạm của tỉnh M.

    Hướng dẫn:

    Một số bộ đề thi môn tội phạm học
    Một số bộ đề thi môn tội phạm học

    Câu 1.

    a) Sai. Còn có sai số thống kê.

    b) Đúng. Nó chính là một trong những căn cứ.

    c) Sai. Nạn nhân của tội phạm bao gồm cá nhân và tổ chức)

    Câu 2. Lập công thức: Y = Mbf/Mts*100

    Trong đó:

    • Y là cơ cấu tương đối;
    • Mbf: số tội phạm của một nhóm;
    • Mts: tổng số tội phạm xảy ra)

    Lập bảng số liệu;

    Vẽ biểu đồ hình tròn;

    Đề số 3

    Câu 1: Quan điểm dưới đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    a) Quan điểm của Cesare Beccaria đã có tác động mạnh mẽ đến quá trình cái cách tư pháp của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay.

    b) Tội phạm là đối tượng nghiên cứu của TPH cũng giống như tội phạm là đối tượng nghiên cứu của luật hình sự.

    c) Tội phạm rõ là những tội phạm đã xảy ra trên thực tế, bị phát hiện, xử lý về hình sự và có trong thống kê hình sự.

    d) Môi trường bạn bè là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhân cách của cá nhân.

    Câu 2: Số người phạm tội xâm phạm sở hữu ở tỉnh S năm 2009:

    – Tội trộm cắp tài sản:…

    – Tội cưỡng đoạt tài sản:…

    – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:….

    – Tội cướp tài sản:…

    – Tội cướp giật tài sản:…

    – Các tội xâm phạm sở hữu khác:…Tổng số:….( Mình không nhớ được số liệu cụ thể, sorry nha)..hí hí Description: ;;))Câu hỏi: Hãy vẽ biểu đồ và nhận xét cơ cấu của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu ở tỉnh S năm 2009.

    Hướng dẫn:

    Câu 1:

    a) Đ, vì giáo trình tội phạm học nhập môn có ghi thế (hì hì)

    b) S, vì luật hình sự nghiên cứu những vấn đề trừu tượng, lý luận về tội phạm. Còn TPH nghiên cứu những vấn đề tội phạm cụ thể (dựa trên những người, những vụ phạm tội cụ thể đã xảy ra)

    c) S, vì có sai số thống kê

    d) Đ, nó chính là một trong những nguyên nhân quan trọng

    Câu 2:

    – Vẽ biểu đồ tròn (chú ý các bước tính toán)

    – Nhận xét (có lèm theo giải thích nguyên nhân và đề ra phương hướng )

    Đề số 4

    Câu 1. các câu sau đúng hay sai, giải thích?

    1. Tội phạm học là lĩnh vực chuyên sâu của luật hình sự HD

    Trả lời: Sai, vì Tội phạm học có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu riêng

    2. Tội phạm học cổ điển coi nhẹ vai trò của hình phạt trong hoạt động phòng ngừa tội phạm
    Trả lời: Sai, nó đề cao vai trò của Hình phạt theo quan điểm của Cesare Beccaria

    3. Chỉ số tội phạm phản ánh tính chất của tình hình tội phạm

    Sai, vì chỉ số tội phạm chỉ phán ánh tình hình tội phạm, còn cơ cấu tội phạm mới phản ánh tính chất của tình hình tội phạm

    4. Tội phạm rõ là tội phạm được phát hiện, được xử lý và được thông kê chính thức

    Sai, vì có tội phạm rõ không được thống kê chính thức vì sai số thống kê

    5. Việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm không cần nghiên cứu tình hình tội phạm

    Sai, vì cần phải nghiên cứu tình hình tội phạm mới biết nguyên nhân, từ đó mới đưa ra biện pháp phòng ngừa được

    6. Tình huống cụ thể đóng vai trò là nhân tố hình thành động cơ của ng phạm tội

    Sai, vì chỉ có 1 số tình huống cụ thể mới hình thành động cơ của ng phạm tội, còn các tình huống khác thì có vai trò khác

    Câu 2. vẽ biểu đồ

    Diễn biến thì vẽ biểu đồ đường gấp khúc

    Cơ cấu thì vẽ biểu đồ tròn

    Bài làm có 4 bước) viết công thức) tính và lập bảng, vẽ biểu đồ, nhận xét

    Lưu ý, phải có tên biểu đồ.

    Đề số 5

    Câu 1. Trình bày mối quan hệ giữa đặc điểm sinh học với đặc điểm xã hội trong con người phạm tội và trong cơ chế tâm lý XH của hành vi phạm tội.

    Câu 2. Trình bày sự khác nhau và mối quan hệ giữa phương pháp luận với phương pháp nghiên cứu của tội phạm học)

    Câu 3. Nhận định đúng/sai. Tại sao?

    A/. “Nạn nhân của tội phạm” và “khía cạnh nạn nhân trong nguyên nhân và điều kiện.phạm tội” là hai khái niệm đồng nhất.

    B/. Chỉ những tội phạm chưa bị đưa ra xét xử mới được coi là tội phạm ẩn.

    C/. Khâu thực hiện tội phạm luôn có trong cơ chế tâm lý XH của mọi hành vi phạm tội.

    D/. Pháp luật về phòng ngừa tội phạm chỉ được quy định trong luật hình sự và luật tố tụng hình sự.

    Câu 1: (3 điểm) Trình bày khái niệm tội phạm rõ. Cơ sở nào xác định tội phạm rõ ở giai đoạn điều tra và xét xử?

    Câu 2: (3 điểm) Hiểu biết về nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa như thế nào trong nghiên cứu tội phạm học?

    Câu 3: (4 điểm) các nhận định sau đúng or sai:

    a) Đối tượng nghiên cứu của TTP là những hiện tượng (vấn đề) chỉ được TTP nghiên cứu.

    b) Đặc điểm sinh học của người phạm tội hoàn toàn không có vai trò trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội.

    c) Dự báo tội phạm bằng pp chuyên gia là pp mà các chuyên gia là người kết luận cuối cùng về xu hướng của tình hình tội phạm.

    d) Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội là hai khái niệm đồng nhất.

    Mời bạn xem thêm:

  • Đề cương ôn tập môn tội phạm học

    Đề cương ôn tập môn tội phạm học

    Bạn đang cần Đề cương ôn tập môn Tội phạm học để hệ thống lại kiến thức và chuẩn bị cho kỳ thi? Tài liệu này tổng hợp các nội dung quan trọng như khái niệm tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, các biện pháp phòng ngừa tội phạm cùng nhiều chủ đề trọng tâm khác. Với cách trình bày khoa học, súc tích, đề cương giúp bạn tiết kiệm thời gian ôn tập và nắm vững kiến thức cốt lõi một cách hiệu quả. Cùng tham khảo ngay để đạt kết quả cao!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Đề cương ôn tập môn tội phạm học

    Chương 1. Khái niệm Tội phạm học và vị trí Tội phạm học trong hệ thống các khoa học

    1. Khái niệm Tội phạm học.

    • 1.1. Đối tượng nghiên cứu.
    • 1.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
    • 1.3. Chức năng, nhiệm vụ và hệ thống Tội phạm học.

    2. Vị trí Tội phạm học trong hệ thống các khoa học).

    • 2.1. Mối quan hệ giữa Tội phạm học với các khoa học xã hội.
    • 2.2. Mối quan hệ giữa Tội phạm học với các khoa học pháp lý.

    Chương 2. Tình hình tội phạm

    1. Khái niệm tình hình tội phạm.

    • 1.1. Các thuộc tính, đặc điểm của tình hình tội phạm.
    • 1.2. Các thông số của tình hình tội phạm

    2. Tình hình tội phạm ở Việt Nam.

    • 2.1. Giai đoạn 1945- 1954.
    • 2.2. Giai đoạn 1955- 1975.
    • 2.3. Giai đoạn 1976- 1985.
    • 2.4. Giai đoạn 1986- nay.

    Chương 3. Nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm

    1. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm.

    • 1.1. Khái niệm.
    • 1.2. Các đặc điểm chung của nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm.
    • 1.3. Ý nghĩa nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm.

    2. Phân loại nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm.

    • 2.1. Căn cứ vào phạm vi, mức độ tác động của nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm.
    • 2.2. Căn cứ vào nội dung, tính chất tác động của nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm.
    • 2.3. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành của nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm.

    3. Nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm ở Việt Nam.

    1. 3.1. Giai đoạn 1945 – 1954.
    2. 3.2. Giai đoạn 1955 – 1975.
    3. 3.3. Giai đoạn 1976 – 1985.
    4. 3.4. Giai đoạn 1986 – nay.

    Chương 4. Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể

    1. Khái niệm chung.

    • 1.1. Khái niệm tội phạm cụ thể và cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội.
    • 1.2. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể.

    2. Các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể.

    • 2.1. Nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội.
    • 2.2. Các tình huống, hoàn cảnh phạm tội cụ thể

    Chương 5. Nhân thân người phạm tội

    1. Khái niệm nhân thân người phạm tội.

    • 1.1. Khái niệm.
    • 1.2. Phân biệt khái niệm nhân thân người phạm tội với một số khái niệm khác có liên quan
    • 1.3. Ý nghĩa nghiên cứu nhân thân người phạm tội.
    Đề cương ôn tập môn tội phạm học
    Đề cương ôn tập môn tội phạm học

    2. Mối quan hệ giữa các đặc điểm sinh học với các đặc điểm xã hội trong nhân thân người phạm tội.

    • 2.1. Quan điểm đề cao vai trò các đặc điểm sinh học)
    • 2.2. Quan điểm đề cao vai trò các đặc điểm xã hội.

    3. Nội dung các đặc điểm nhân thân đặc trưng của người phạm tội.

    • 3.1. Các đặc điểm sinh học của người phạm tội.
    • 3.2. Các đặc điểm xã hội của người phạm tội.
    • 3.3. Các đặc điểm về nhận thức) tâm lý của người phạm tội

    4. Phân loại người phạm tội.

    • 4.1. Phân loại theo giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp.
    • 4.2. Phân loại theo khuynh hướng chống đối xã hội.
    • 4.3. Phân loại theo dấu hiệu pháp lý hình sự.

    Chương 6. Phòng ngừa tội phạm

    1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm.

    • 1.1. Khái niệm.
    • 1.2. Nội dung phòng ngừa tội phạm.
    • 1.3. Ý nghĩa của phòng ngừa tội phạm

    2. Phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm.

    • 2.1. Căn cứ vào phạm vi, mức độ tác động của biện pháp.
    • 2.2. Căn cứ vào nội dung, tính chất của biện pháp.
    • 2.3. Căn cứ vào đối tượng tác động của biện pháp.
    • 2.4. Căn cứ vào địa bàn, lĩnh vực cần phòng ngừa tội phạm.

    3. Các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm.

    4. Các chủ thể phòng ngừa tội phạm.

    Chương 7. Dự báo tình hình tội phạm và kế hoạch hóa hoạt động phòng ngừa tội phạm

    1. Dự báo tình hình tội phạm.

    • 1.1. Khái niệm.
    • 1.2. Các nội dung dự báo tình hình tội phạm.
    • 1.3. Đặc điểm dự báo tình hình tội phạm.
    • 1.4. Các thông tin được sử dụng trong hoạt động dự báo tình hình tội phạm.
    • 1.5. Các phương pháp dự báo tình hình tội phạm.

    2. Kế hoạch hóa hoạt động phòng ngừa tội phạm.

    • 2.1. Quá trình kế hoạch hóa hoạt động phòng ngừa tội phạm.
    • 2.2. Các thông tin, tài liệu được sử dụng trong kế hoạch hóa hoạt động phòng ngừa tội phạm.
    • 2.3. Các nội dung cơ bản của kế hoạch phòng ngừa tội phạm.
    • 2.4. Các tiêu chí đánh giá kế hoạch phòng ngừa tội phạm.
    • 2.5. Phân loại kế hoạch phòng ngừa tội phạm.

    Mời bạn xem thêm:

  • Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    Bạn đang tìm kiếm Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án) để hệ thống kiến thức và chuẩn bị tốt cho kỳ thi? Dưới đây là bộ câu hỏi trọng tâm kèm theo đáp án chi tiết, giúp bạn nắm vững các lý thuyết quan trọng, phân tích nguyên nhân tội phạm, biện pháp phòng ngừa và nhiều nội dung thiết yếu khác. Tài liệu này sẽ hỗ trợ bạn ôn tập hiệu quả, tiết kiệm thời gian và đạt kết quả cao trong môn học. Cùng tham khảo ngay!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    Câu 41: Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm trong tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Nguyên nhân của tội phạm là những hiện tượng của đời sống xã hội, phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ nó tồn tại, thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của tội phạm.

    Ý nghĩa:

    – Việc nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm học là cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm một cách khoa học và hiệu quả. Sau khi nghiên cứu về tình hình tội phạm, nhà nghiên cứu cần tiếp tục nghiên cứu vấn đề nguyên nhân của tội phạm, từ đó mới có thệ xây dựng được các biện pháp phòng ngừa tội phạm sát hợp với thực tế, có thể giải quyết tận gốc, triệt để nguyên nhân phát sinh tội phạm, ngăn chặn hiệu quả tội phạm xảy ra trong xã hội.

    – Là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội một cách phù hợp giảm thiểu các mâu thuẫn xã hội là nguyên nhân làm phát sinh tình hình tội phạm.

    – Nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm làm sáng tỏ các yếu tố nhân thân, môi trường, hoàn cảnh của người phạm tội, trả lời cho câu hỏi: với nhân thân người phạm tội như vậy, tại sao con người lại thực hiện tội phạm ở các điều kiện khác nhau hoặc nếu việc thực hiện tội phạm không phụ thuộc vào nhân thân mà phụ thuộc vào hoàn cảnh, môi trường thì tại sao con người lại có những cách xử sự khác nhau khi có cùng điều kiện về hoàn cảnh sống, môi trường sống?

    Câu 42: Nạn nhân đóng vai trò như thế nào trong việc xác định tội phạm ẩn?

    Gợi ý đáp án:

    Tội phạm ẩn là tội phạm đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý và đưa vào thống kế tội phạm.

    – Nạn nhân là 1 trong những yếu tố giúp làm sáng tỏ việc xác định tội phạm vì chính nạn nhân là người bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác.

    – Nguyên nhân dẫn đến tội phạm ẩn khách quan chính là do sự nhận thức không đúng đắn của nạn nhân: không tố giác tội phạm do sợ bị trả thù, ngại tiếp xúc với cơ quan chính quyền, ngại phải tiếp xúc với những thủ tục rườm rà, tốn thời gian khi tố cáo, tự thấy mình có lỗi trong việc bị thiệt hại là do mình không cẩn thận đề phòng hay thấy giá trị bị thiệt hại không lớn có thể tự mình giải quyết được… và cũng có thể là có sự tham gia của nạn nhân trong hành vi phạm tội nên nạn nhân không muốn mình bị phát hiện… Những điều này làm cho các cơ quan chức năng không thể biết được có sự diễn ra của hành vi phạm tội, dẫn đến tội phạm ẩn.

    – Ý thức của nạn nhân đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tội phạm ẩn: khi nạn nhân có ý thức muốn làm sáng tỏ tội phạm họ bị gây thiệt hại, có ý thức pháp luật hơn thì tình hình tội phạm ẩn sẽ giảm.

    Câu 43: Khái niệm nhân thân người phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, những dấu hiệu quan trọng thể hiện rõ nhất bản chất xã hội của con người thực hiện hành vi phạm tội. Hay nói cách khác, nhân thân người phạm tội là cái toàn bộ phản ánh đặc điểm của người phạm tội, cả về mặt thời gian và không gian.

    Khái niệm 2 (theo sách): Nhân thân người phạm tội là tổng thể những thuộc tính tiêu cực mang tính xã hội, được hình thành và phát triển trong quá trình tác động qua lại một cách có hệ thống và đa dạng của những người khác nhau.

    Các đặc điểm cơ bản:

    * Đặc điểm về tự nhiên

    – Dấu hiệu về giới tính: Nghiên cứu các đặc điểm giới tính của người phạm tội là nam giới đã chỉ ra, nam giới dễ bị ảnh hưởng bởi các thói hư tật xấu, dễ bị tiêm nhiễm tệ nạn xã hội và dễ hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, trạng thái tâm lý tiêu cực hơn so với nữ giới.

    – Dấu hiệu về độ tuổi: Độ tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong đặc điểm nhân thân người phạm tội. Dấu hiệu về độ tuổi của người phạm tội cho phép nói lên các đặc điểm xử sự trái xã hội của những người ở những độ tuổi khác nhau, cũng như tính chất riêng biệt của cơ cấu về độ tuổi của các nhóm người phạm tội khác nhau.

    – Dấu hiệu về nơi cư trú: Bản chất nơi cư trú đã chứa đựng các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa đặc thù, qua đó xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội.

    * Đặc điểm xã hội

    – Dấu hiệu về trình độ học vấn: Trình độ học vấn cũng phản ánh sự phát triển lý trí và hình thành nhân cách, tạo cho con người còn có thể lựa chọn được cách ứng xử đúng với các chuẩn mực xã hội.

    – Dấu hiệu về nghề nghiệp: nghề nghiệp phản ánh môi trường sống, sự phát triển nhân cách, thu nhập…của con người. Những dấu hiệu về nghề nghiệp phản ánh nhân thân con người, xác định được nguyên nhân con người lại có xử sự khác nhau dẫn đến hành vi phạm tội.

    – Dấu hiệu về hoàn cảnh gia đình: Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những phẩm chất tâm lý tiêu cực của con người, dẫn đến họ sẽ có tính chống đối xã hội, và có những hành vi đi ngược với các chuẩn mực xã hội.

    * Đặc điểm hành vi phạm tội: Khi xét về đặc điểm động cơ, mục đích của người phạm tội thể hiện trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi phạm tội, nó thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Khi thực hiện một tội phạm bất kỳ, chủ thể luôn có những động cơ và mục đích nhất định, đó là động lực bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.

    Câu 44: Nội dung của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Nguyên tắc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm là những quan điểm, phương châm xuyên suốt toàn bộ việc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm.

    – Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động thực hiện nhiệm vụ chung của NN và xã hội cho nên ở mức độ nhất định mang tính quyền lực nhà nước, do đó việc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm phải tuân theo Hiến pháp và Pháp luật. Nói cách khác là chỉ khi tuân theo đúng Hiến pháp và pháp luật thì phòng ngừa tội phạm mới bảo đảm mục đích của nó là phục vụ lợi ích xã hội, NN và công dân.

    – Nguyên tắc dân chủ xã hội: Là đặc điểm nổi bật của bản chất xã hội Việt Nam, đòi hỏi sựu tham gia của toàn xã hội, huy động được sức mạn tổng hợp của xã hội (sáng kiến, đoàn kết, kết hợp, phối hợp,…)

    – Nguyên tắc nhân đạo: Bản thân phòng ngừa tội phạm là hoạt động mang tính nhân đạo (bảo về xã hội, bảo về con người: không để họ thực hiện tội phạm cũng như không để con người bị hoạt động tội phạm xâm hại). nguyên tắc này đòi hỏi hoạt động phòng ngừa tội phạm không xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, NN và công dân; hoạt động phòng ngừa tội phạm phải có hiệu quả (hiệu quả càng cao thì tính nhân đạo càng được đảm bảo).

    – Nguyên tắc bảo đảm sự phối hợp đồng bộ hoạt động phòng ngừa tội phạm: Để thực hiện được nguyên tắc này đòi ỏi phải có chương trình, kế hoạch, chiến lược xây dựng một cách khoa học. quá trình áp dụng phải đồng bộ, có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung.

    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)
    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 2 (có đáp án)

    Câu 45: Mối liên hệ của tội phạm học với khoa học luật tố tụng hình sự?

    Gợi ý đáp án:

    – Tội phạm học nghiên cứu hiệu quả hoạt động và xử lí vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của luật tố tụng hình sự thể hiện phản ứng của Nhà nước đối với tội phạm. Như vậy, tội phạm học không chỉ nghiên cứu “mặt xã hội” của luật hình sự mà cả của luật tổ tụng hình sự hay nói một cách khác là tội phạm học nghiên cứu “mặt xã hội” cửa luật hình sự về nội dung và của luật tố tụng hình sự về hình thức.

    – Khi nghiên cứu các đối tượng của mình, tội phạm học không những phải dựa trên cơ sở các quy định của luật hình sự và luật tố tụng hình sự mà còn phải dựa trên cơ sở giải thích pháp luật của khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự.

    Ngược lại, những kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng nghiên cứu của tội phạm học cũng cung cấp những thông tin, những luận cử thực tiễn và xã hội cho khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự để có thể khai thác, sử dụng trong nghiên cứu phục vụ cho việc hoàn thiện những quy định của luật hình sự và luật tố tụng hình sự nhằm…

    Câu 46: Phân tích thuộc tính phổ biến của nạn nhân?

    Gợi ý đáp án:

    Khía cạnh nạn nhân của tội phạm là những yếu tố thuộc về nạn nhân của tội phạm, có vai trò trong cơ chế tâm lí xã hội của hành vi phạm tội, góp phần làm phát sinh một tội phạm cụ thể gây thiệt hại cho chính nạn nhân.

    * Hành vi nạn nhân:

    – Hành vi tích cực: là những hành vi chính đáng hợp pháp của nạn nhân gây thiệt hại cho chính nạn nhân: thi hành công vụ hợp pháp, tố giác tội phạm, ngăn cản, truy đuổi tội phạm.

    – Hành vi tiêu cực: là những hành vi không chính đáng, bất hợp pháp, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật tác động đến cá nhân người phạm tội hoặc những người thân thích của họ. Ví dụ: khiêu khích, tấn công trước, xúc phạm đến nhân thân, danh dự của người phạm tội.

    – Hành vi cẩu thả: là những hành vi vô ý, chủ quan, quá tự tin, dễ dãi đối với sự an toàn về sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của bản thân nạn nhân. Ví dụ: đi bộ dưới lòng đường, mất cảnh giác trong việc bảo vệ tài sản, thiếu tập trung trong việc điều khiển phương tiện giao thông.

    * Các đặc điểm nhân thân của nạn nhân.

    Gồm các đặc điểm về sinh học, xã hội, tâm lí. Cụ thể như đặc điểm sinh học thì nạn nhân thường rơi vào nhóm người chưa thành niên, người già, phụ nữ,… Đặc điểm xã hội thì dấu hiệu nghề nghiệp, vị trí xã hội, hoàn cảnh kinh kế của nạn nhân như giết người vì lý do công vụ của nạn nhân, khủng bố, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Về tâm lí thì sự dễ dãi, cả tin trong quan hệ xã hội, hám lợi tạo điều kiện cho các tội như lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm.

    – Mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội: Quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội thường có 2 dạng đặc trưng: quen biết và phụ thuộc.

    – Quan hệ gia đình, huyết thống: Việt kiều gửi tiền về VN mua bất động sản -> đưa nhau gia tòa hay tình trạng xâm phạm tình dục trẻ em.

    – Quan hệ lệ thuộc: về vật chất, hoặc tinh thần (về công tác, tôn giáo, tín ngưỡng)

    – Quan hệ bạn bè quen biết, hàng xóm láng giềng.

    Chú ý: Không phải tội phạm nào cũng có khía cạnh nạn nhận.

    Ví dụ: Các tội phạm xâm phạm kinh tế, an ninh quốc gia không thấy khía cạnh nạn nhân. Các tội phạm trong an toàn giao thông, người đi đường lạc tay lái tông vô người đi đường đi đúng lề đường, hoặc các tội phạm khủng bố.

    Câu 47: Phân tích sự tác động của kết quả của tội phạm đến nhân thân người phạm tội trong cơ chế của hành vi phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    – Kết quả của tội phạm là sự thế hiện ra ngoài thế giới quan và có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội.

    – Tội phạm càng có tính chất nguy hiểm cho xã hội, tính quyết liệt trong hành vi càng cao thì nhân thân của tội phạm càng không tốt.

    – Tội phạm mà hành vi nguy hiểm không đáng kể, hay tính quyết liệt cua hành vi không cao thì nhân thân sẽ tốt hơn

    – Nhân thân ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình định khung, cũng như yếu tố tăn nặng hay giảm nhẹ hình phạt

    – Nhân thân người phạm tội cũng có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hậu quả, cũng như tính chất của hành vi.

    Câu 48: Bằng những kiến thức tội phạm được trang bị, hãy phân tích tầm quan trọng của việc xã hội hóa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Một là, đã tạo bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của các ngành, các cấp và toàn xã hội về trách nhiệm đấu tranh phòng chống tội phạm; tạo cơ chế phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, phát huy được vai trò làm chủ, tính sáng tạo, sự tự giác của quần chúng nhân dân, tích cực tham gia vào phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

    (Tham khảo thêm: Thông qua thực hiện các nghị quyết liên tịch, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Trung ương Ðoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Người cao tuổi… chỉ đạo các cấp hội phát động nhiều phong trào gắn với công tác phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, xây dựng các quy ước, cam kết thực hiện trong hội viên, đoàn viên, tham gia hòa giải các mâu thuẫn từ cơ sở. Phong trào cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư mà lực lượng CAND và đại diện các tổ chức chính trị luôn làm nòng cốt đã phát triển rộng khắp góp phần làm giảm tỷ lệ tái phạm tội. Nhiều đối tượng phạm tội được cảm hóa, giáo dục đã trở lại tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội).

    Hai là, đã tạo được sự chuyển biến tích cực về trật tự an toàn xã hội, kiềm chế được sự gia tăng của tội phạm, tình hình tội phạm trên toàn quốc và ở các địa phương đã được kiềm chế và hằng năm được kéo giảm so với năm trước; bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.

    Ba là, thể hiện tinh thần kiên quyết tiến công tội phạm, tuân thủ pháp luật, nâng cao tỷ lệ phát hiện, điều tra khám phá tội phạm, qua đó nâng cao năng lực, bản lĩnh chính trị, tinh thần xả thân vì sự bình yên của xã hội và hạnh phúc nhân dân của các lực lượng trực tiếp đấu tranh chống tội phạm.

    Bốn là, đã tăng cường xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự xã hội.

    Từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, Quốc hội xây dựng, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng làm nền tảng và tạo hành lang pháp lý cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm ANTT của đất nước. Một số đạo luật, văn bản pháp luật quan trọng gắn với hoạt động điều tra, xử lý tội phạm và các hoạt động tư pháp đã được bổ sung, sửa đổi kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng chống ma túy, Luật Khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự… và hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện như các nghị định, nghị quyết, thông tư… đã được ban hành.

    Năm là, quan hệ hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm ngày càng được mở rộng mang lại hiệu quả thiết thực trong việc phòng ngừa ngăn chặn tội phạm từ xa, đấu tranh với tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài.

    Trong hợp tác quốc tế với các tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực, Việt Nam đã và đang có những nỗ lực đáng kể cùng các nước trong khuôn khổ ASEM, APEC, ASEAN, INTERPOL, ASEANAPOL…Sự mở rộng hợp tác quốc tế đã giúp chúng ta kịp thời ngăn chặn được nhiều đối tượng trong các tổ chức tội phạm quốc tế xâm nhập vào Việt Nam, phá được nhiều vụ án xuyên quốc gia. Qua sự hợp tác chúng ta cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ về công nghệ, khoa học kỹ thuật, đào tạo các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Phối hợp quốc tế tốt trong lĩnh vực an ninh và trật tự xã hội cũng như xây dựng và tăng cường niềm tin của các nước với Ðảng và Nhà nước Việt Nam, làm cơ sở cho việc hợp tác trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…

    Câu 49. Mối liên hệ của tội phạm học với khoa học luật hình sự

    Gợi ý đáp án:

    Tội phạm học là ngành khoa học xã hội, pháp lý nghiên cứu về tội phạm với tư cách là một hiện tượng xã hội, nghiên cứu về tình hình tội phạm và các loại tội phạm cụ thể, về nguyên nhân và điều kiện phạm tội và tất cả các mối liên hệ của tội phạm với những hiện tượng xã hội và với các quá trình diễn ra trong xã hội, về nhân thân người phạm tội, cũng như đề ra những giải pháp phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.

    Tội phạm học có mối liên hệ với các ngành khoa học trong đó có Khoa học luật hình sự. Cụ thể: Cả hai đều nghiên cứu về tội phạm, nhưng theo những cách thức khác nhau, độc lập nhưng có mối liên hệ chặt chẽ, thể hiện ở chỗ:

    – Tội phạm học sử dụng các khái niệm mà khoa học mà khoa học luật hình đưa ra như khái niệm tội phạm, các dạng, các loại tội cụ thể và coi hình phạt là một trong những phương pháp đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

    – Ngược lại tội phạm học cung cấp cho khoa học luật hình sự , các nhà làm luật, các cán bộ áp dụng pháp luật về thực trạng, cơ cấu và diễn biến của tình hình tội phạm trong xã hội, quy luật vận động của tội phạm. Hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa trong đó có hình phạt; những dự đoán về những thay đổi tương đối của tình hình tội phạm và các nguyên nhân điều kiện của nó trong tương lai để giúp các nhà làm luật quy định tội mới (hình sự hóa) hoặc phi hình sự hóa cũng như việc đưa các chế tài cho phù hợp.

    Câu 50. Hãy phân loại nạn nhân theo tính chất và đặc điểm phản ánh phẩm chất nhân thân?

    Gợi ý đáp án:

    – Loại phổ quát: Loại này liên quan đến những người chứa đựng những đặc điểm nhân thân tiềm ẩn dễ bị xâm hại cao đối với các loại tội phạm khác nhau. Những nạn nhân của dạng này được đặc trưng bởi sự chủ động hoặc bị động đối với những xử sự mang tính nạn nhân.

    – Loại lựa chọn: Loại này liên quan đến những người có những đặc điểm dễ bị xâm hại cao bởi những loại tội phạm nhất định. Những điều kiện thuận lợi chứa thuộc tính nạn nhân có thể được quy định bởi những dạng xử sự điển hình trong sự phối hợp với đặc điểm của những tình huống xung đột.

    – Loại tình huống: nạn nhân thuộc loại này chứa đựng những thuộc tính nạn nhân tiềm ẩn và trở thành nạn nhân chủ yếu do sự quy tụ những yếu tố tình huống mà nạn nhân không thể vượt qua được sự nguy hiểm đó.

    – Loại ngẫu nhiên: Là kết quả của sự ngẫu nhiên của các hoàn cảnh.

    – Loại mang tính nghề nghiệp: Liên quan đến nghề nghiệp của họ.

    Câu 52. Mối liên hệ giữa nguyên nhân của tội phạm, nhân thân người phạm tội và cơ chế của hành vi phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    – Cơ chế hành vi của tội phạm phản ánh các đặc điểm nhân thân của người phạm tội cũng như môi trường bên ngoài với tính chất là nguyên nhân của tội phạm.

    – Động cơ là khâu đầu tiên của cơ chế hành vi phạm tội, mà sự xuất hiện tiền đề của động cơ chính là những yếu tố phản ánh nhân thân người phạm tội (yếu tố tâm lý như nhu cầu, xúc cảm, sở thích, định hướng về giá trị hay nhân tố bên ngoài của đời sống cụ thể); động cơ được coi là nguyên nhân trực tiếp của tội phạm. Khi nghiên cứu động cơ trả lời được câu hỏi vì sao con người lại có xử sự khác nhau.

    Câu 53. Phân biệt các khái niệm “nguyên nhân của tội phạm”, “điều kiện của tội phạm”, “tính quyết định của tội phạm”

    Gợi ý đáp án:

    – Nguyên nhân của tội phạm là những hiện tượng đời sống xã hội, phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ nó tồn tại thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của tội phạm.

    – Điều kiện của tội phạm là những yếu tố làm cho tội phạm nảy sinh và nảy sinh trở lại, tiếp tục tồn tại hoặc phát triển, làm cho tội phạm ngày càng phổ biến, nghiêm trọng. Các điều kiện đó thường là: pháp chế, kỉ cương không nghiêm; công tác kiểm tra, giám sát, kiểm kê, kiểm sát không nhạy bén, kém hiệu lực; môi trường đạo đức nhân văn sa sút; chế độ trách nhiệm cá nhân không rõ ràng, thưởng phạt thiếu nghiêm minh…

    Tính quyết định của tội phạm là những nhân tố tác động vào chủ thể làm chủ thể đưa đến quyết định của tội phạm.

    Câu 54. Phương pháp kiểu mẫu trong dự báo tình hình tội phạm

    Gợi ý đáp án:

    Dự báo tội phạm dưới khía cạnh tội phạm học là sự phỏng đoán trên cơ sở khoa học những thay đổi cơ bản của sự tiến triển về tình hình tội phạm hoặc xác suất việc thực hiện tội phạm của những con người cụ thể trong tương lai. Một trong các phương pháp dự báo tình hình tội phạm là phương pháp kiểu mẫu.

    Phương pháp kiểu mẫu của tình hình tội phạm có mục đích dự báo nhằm lập nên giả định của tình hình tội phạm, phân tích trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì sự giả định đó có thể thay thế trong phạm vi rõ ràng nghiên cứu tình hình tội phạm trong tương lai.

    Câu 55. Ý nghĩa của việc nghiên cứu cơ chế của hành vi phạm tội trong tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Cơ chế của hành vi phạm tội được hiểu là sự tiến triển của hành vi mang tính kế tiếp nhất định: Xuất hiện ý định phạm tội, ra quyết định thực hiện tội phạm, lập kế hoạch hành động và cuối cùng là thực hiện chúng bởi người thực hiện tội phạm.

    Ý nghĩa: Việc nghiên cứu cơ chế của hành vi phạm tội trong tội phạm học có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn:

    – Lý luận: Làm sáng tỏ các đặc điểm nhân thân của người phạm tội cũng như môi trường bên ngoài với tính chất là nguyên nhân của tội phạm.

    – Thực tiễn: Giúp cho việc hình thành nhân thân tốt, Giúp đưa ra biện pháp ngăn chặn, chiến thuật và chiến lược trong phòng ngừa tội phạm, Giảm tỉ lệ phạm tội, Đưa ra các giải pháp nhằm ngăn chặn số lượng tội phạm xảy ra trong xã hội, Góp phần đảm bảo trật tự ANXH.

    Câu 56. Những cơ sở khoa học của việc tổ chức phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    – Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính hệ thống ở đây tức là không chỉ cơ quan có chức nhân mà toàn dân các tổ chức khác cũng tham vào quá trình phòng ngừa tội phạm.

    – Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính toàn diện: tính toàn diện ở đây tức là phòng ngừa tội phạm phải phòng ngừa trên mọi lĩnh vực chính trị – Tư tưởng, kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, quản lý Nhà nước, và đối với tất cả các loại tội phạm.

    – Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính khoa học tức là nó phải phù hợp với những giải pháp của ngành khoa học tội phạm học.

    – Phòng ngừa tội phạm phải đảm bảo tính khả thi đối với biện pháp được áp dụng: Phù hợp với thực tế, tình hình kinh tế xã hội của đất nước…

    Câu 57. Khái niệm, điều kiện của tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm tội phạm trong tội phạm học: tội phạm là hiện tượng xã hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xã hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Nó là hiện tượng xã hội-pháp lý.

    Điều kiện của tội phạm: Là những yếu tố làm cho tội phạm nảy sinh và nảy sinh trở lại, tiếp tục tồn tại hoặc phát triển, làm cho tội phạm ngày càng phổ biến, nghiêm trọng. Các điều kiện đó thường là: pháp chế, kỉ cương không nghiêm; công tác kiểm tra, giám sát, kiểm kê, kiểm sát không nhạy bén, kém hiệu lực; môi trường đạo đức nhân văn sa sút; chế độ trách nhiệm cá nhân không rõ ràng, thưởng phạt thiếu nghiêm minh…

    Câu 58. Các thông số trong thuộc tính phổ biến của nạn nhân?

    Gợi ý đáp án:

    Thuộc tính phổ biến của nạn nhân được thể hiện thông qua các thông số:

    – Số lượng nạn nhân là sự phản ánh con số tuyệt đối về số lượng tội phạm, gây ra những thiệt hại cho thể nhân; số lượng nạn nhân của tội phạm.

    – Hệ số của nạn nhân: về nguyên tắc thì tương tự như hệ số của tội phạm.

    – Cơ cấu của nạn nhân: có thể được thiết lập dựa trên những dấu hiệu khác nhau như tuổi, giới tính, trình độ văn hóa và những thông số khác về người bị hại; những dấu hiệu liên quan đến người phạm tội, gây ra thiệt hại, thậm chí cho cả chính người phạm tội.

    – Động thái của nạn nhân thể hiện sự thay đổi trong giai đoạn thời gian nhất định với chỉ số về số lượng, tình trạng, mức độ và cơ cấu, trong tương quan với tổng thể.

    Câu 59: Phân tích sự tương tác lẫn nhau giữa môi trường bên ngoài và nhân thân người phạm tội trong việc hình thành động cơ của tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Hình thành động cơ của tội phạm được coi là khâu đầu tiên của cơ chế hành vi phạm tội. Động cơ của tội phạm là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp cố ý phạm tội thì bao giờ hành vi của người phạm tội cũng được thúc đẩy bởi động cơ phạm tội, chỉ những trường hợp phạm tội do vô ý mới không có động cơ phạm tội thúc đẩy.

    Nhân thân người phạm tội là tổng thể những thuộc tính tiêu cực quan trọng mang tính xã hội, được hình thành và phát triển trong quá trình tác động qua lại một cách có hệ thống và đa dạng của những người khác nhau.

    Trước khi động cơ xuất hiện, hay nói cách khác là tiền đề của động cơ là những yếu tố tâm lý của nhân thân con người như nhu cầu, xúc cảm, sở thích, những định hướng về giá trị. Nhu cầu của chủ thể đóng vai trò chính trong việc hình thành động cơ của hành vi phạm tội. Nhu cầu của con người phản ánh sự phụ thuộc của người đó vào môi trường bên ngoài. Môi trường bên ngoài (môi trường gia đình, điều kiện kinh tế- xã hội…) sẽ thúc đẩy những nhóm nhu cầu của con người theo những mức độ khác nhau. Những nhu cầu, xúc cảm, sở thích, những định hướng về giá trị (là những thành phần bên trong của nhân thân) vượt quá khả năng của mỗi con người, tiêu cực, không đúng chuẩn mực sẽ có thể tạo nên động cơ của tội phạm.

    Câu 60: Hệ thống thống kê hình sự có ảnh hưởng thế nào đến vấn đề tội phạm ẩn của một quốc gia?

    Gợi ý đáp án:

    Phương pháp thống kê là một trong những phương pháp nghiên cứu của tội phạm học, nó cung cấp những số liệu cụ thể về hành vi phạm tội, người phạm tội và những số liệu khác có liên quan đến tội phạm và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội để tổng hợp thành lý luận.

    Tội phạm ẩn là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể của các hành vi đó) đã xảy ra trong thực tế, song không được phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự.

    Để làm sáng tỏ con số tội phạm ẩn mặc dù chỉ là tương đối, có thể thông qua việc phân tích, so sánh các số liệu thống kê về tội phạm. Từ đó, ta có thể làm rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan của tội phạm ẩn, giúp công tác đấu tranh phòng chống tội phạm được hiệu quả hơn bởi khi đó ta khoanh vùng được loại tội phạm nào được xử lý hiệu quả (tỉ lệ tội phạm ẩn thấp) và chưa hiệu quả (tỉ lệ tội phạm ẩn cao).

    Như vậy, dựa vào hệ thống thống kê hình sự, một quốc gia có thể xác định được tội phạm ẩn để cùng với con số của tội phạm rõ đánh giá chính xác thực trạng tội phạm trong xã hội, đồng thời có thể đưa ra phương pháp giải quyết tình hình tội phạm một cách triệt để khi càng làm tăng được tỉ lệ tội phạm rõ thì tội phạm ẩn càng bị thu hẹp.

    Câu 61. Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu tội phạm ẩn?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: tội phạm ẩn là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể của các hành vi đó) đã xảy ra trong thực tế, song không được phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự.

    Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội phạm ẩn: là để phản ánh chính xác thực trạng tội phạm trong xã hội. Từ đó đưa ra những chính sách pháp luật phù hợp, đưa ra những biện pháp phòng ngừa tội phạm thích hợp, làm giảm thiểu tội phạm trong xã hội.

    Câu 62. Vai trò của tình hình tội phạm trong việc làm sáng tỏ nguyên nhân tội phạm.

    Gợi ý đáp án:

    Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội – pháp lý tiêu cực mang tính phổ biến, tính thay đổi về mặt lịch sử, được hình thành từ tổng thể các tội phạm được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định và trên một không gian xác định (vùng, quốc gia, khu vực, thế giới), chứa đựng các chỉ số về lượng (tình trạng, động thái) và các chỉ số về chất (cơ cấu, tính chất).

    Tình hình tội phạm có vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ nguyên nhân tội phạm, bởi tình hình tội phạm chỉ ra xu hướng phát triển của tội phạm ở địa bàn và trong khoảng thời gian nhất định; những thiệt hại, tác động mà tội phạm đã mang lại cho xã hội về con người, kinh tế, môi trường, trật tự xã hội, an ninh xã hội…; tìm ra mối liên hệ với những sự thay đổi của xã hội (đạo đức xã hội, chính trị – Tư tưởng, quản lý – Tổ chức, khoa học – công nghệ…) từ đó góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân tội phạm.

    Câu 63: Ý nghĩa của việc nghiên cứu tình hình tội phạm trong tội phạm học

    Gợi ý đáp án:

    Tình hình tội phạm là nội dung quan trọng của tội phạm học trong việc hoạch định các chính sách phòng ngừa tội phạm. Nhằm kiểm soát tội phạm trước hết phải dựa trên cơ sở nghiên cứu toàn diện về tình hình tội phạm. Kết quả nghiên cứu tình hình tội phạm cho chúng ta “bức tranh” toàn cảnh về tội phạm đã xảy ra trong thực tế, đời sống xã hội, hay nói cách khác bản thân nó là sự cảnh báo cho xã hội về một trong các khía cạnh của xã hội đó là “tội phạm”, qua đó đánh giá đầy đủ và toàn diện về tội phạm.

    Các điểm đặc trưng của tình hình tội phạm thông qua thông số về thực trạng, diễn biến, cơ cấu, tính chất của tình tội phạm chính là cơ sở để các nhà nghiên cứu, các nhà chuyên môn giải thích, phát hiện nguyên nhân tội phạm, từ đó hoạch định chính sách phòng ngừa tội phạm, ngăn chặn kịp thời sự gia tăng tỷ lệ tội phạm, kiểm soát tội phạm có hiệu quả.

    Câu 64: Vai trò của các cơ quan hành chính của nhà nước trong phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp khác nhau của Nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát nó trong xã hội. Chủ thể của phòng ngừa tội phạm cụ thể ở đây là cơ quan hành chính nhà nước.

    Vai trò của các cơ quan hành chính của nhà nước trong phòng ngừa tội phạm: Thể hiện rõ nét nhất là qua công tác thanh tra, kiểm tra ở các lĩnh vực quản lý hành chính để phát hiện vi phạm, nếu có dấu hiệu tội phạm thì sẽ kiến nghị khởi tố đến cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát để giải quyết hình sự. Ở đây có sự phối hợp giữa cơ quan tố tụng hình sự và cơ quan hành chính trong việc phát hiện và xử lý tội phạm, từ đó nhằm trừng phạt, răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

    Câu 65. Vai trò của những tình huống cụ thể trong cơ chế của hành vi phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    – Tình huống đời sống cụ thể được hiểu là sự kết hợp nhất định của những hoàn cảnh khách quan của đời sống con người, có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của người đó trong thời điểm nhất định.

    – Dưới khía cạnh tội phạm học thì đó là sự kiện hoặc tình trạng tạo nên sự quyết tâm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thúc đẩy hoặc cản trở nó, Tình huống thường có trước hành vi phạm tội hoặc có thể đi cùng việc thực hiện tội phạm.

    – Sự tác động qua lại giữa tình huống đời sống cụ thể với những đặc điểm nhân thân của người phạm tội là nguồn trực tiếp của hành động lý trí tạo ra tội phạm là điểm mấu chốt của hành vi phạm tội.

    Câu 66. Thông qua một đạo luật chuyên ngành, hãy làm rõ vai trò của các tổ chức xã hội trong phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Thông qua một đạo luật cơ bản đó là luật hình sự: Các tổ chức xã hội tuy không được nhắc đến trong các điều luật cụ thể, nhưng thông qua các quy định cụ thể có thể thấy vai trò của họ xuất hiện trong đó.

    Ví dụ: trong quyết định hình phạt Án treo, cải tạo không giam giữ,… thì các tổ chức xã hội như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên góp phần tích cực giúp người phạm tội sớm hòa nhập tại cộng đồng,…

    Các tổ chức đoàn thể trên giữ vị trí vô cùng quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, cụ thể:

    Phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn soạn thảo, tham gia kế hoạch phòng ngừa tội phạm.

    Tuyên truyền cho hội viên thấy được tính chất, thủ đoạn hoạt động của tội phạm nâng cao ý thức cảnh giác.

    Trực tiếp huy động các hội viên tham gia chương trình phòng chống tội phạm nói chung của Chính phủ trong phạm vi địa phương, nội bộ hiệp hội của mình.

    Câu 67. Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    – Tình hình tội phạm được tội phạm học nghiên cứu ở góc độ là một hiện tượng xã hội pháp lý, được hình thành từ một thể thống nhất của các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội.

    – Tội phạm học nghiên cứu tình hình tội phạm để làm sáng tỏ những đặc điểm thuộc tính của tình hình tội phạm, những thông số cơ bản của tình hình tội phạm. Ngoài ra tội phạm học còn nghiên cứu tình hình tội phạm trong từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, hay tội phạm gắn liền với từng giai đoạn phát triển của xã hội.

    – Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được tội phạm học nghiên cứu là những hiện tượng có khả năng làm phát sinh tồn tại tình hình tội phạm trong xã hội dựng được các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

    – Nghiên cứu những đặc điểm thuộc nhân thân người phạm tội về nhân thân người phạm tội có vai trò trong việc phạm tội để lý giải được nguyên nhân phạm tội. tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ và sự tác động qua lại của các đặc điểm sinh học, xã hội trong nhân thân người phạm tội. Từ đó xác định vai trò của từng nhóm đặc nhằm sử dụng điểm này trong cơ chế của hành vi phạm tội biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp.

    Ngoài 04 đối tượng cơ bản nêu trên, tội phạm học còn nghiên cứu một số vấn đề khác như là lịch sử phát triển tội phạm học, vấn đề nạn nhân học, vấn đề tội phạm học nước ngoài, vấn đề hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm.

    Câu 68. Vai trò của nạn nhân trong cơ chế của hành vi phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    Trong các tội phạm có nạn nhân, nạn nhân luôn giữ vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Trước hết, những hành vi, xử sự có lỗi của nạn nhân như hành vi mất cảnh giác, hành vi vi phạm đạo đức, thuần phong, mĩ tục… hành vi gây gổ, vi phạm pháp luật hay hành vi phạm tội là những yếu tố tác động làm phát sinh hành vi phạm tội. Ngay cả những trường họp nạn nhân hoàn toàn không có lôi (hoàn toàn không có những hành vi, cử chỉ kích thích làm phát sinh hành vi phạm tội) nhưng vì nạn nhân ở trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định nên dễ trở thành nạn nhân của tội phạm như làm những công việc có nguy cơ dễ bị hành vi phạm tội xâm hại (nghề “xe ôm”, lái xe taxi, nghề kinh doanh vàng bạc…); cư trú ở những nơi vắng vẻ hoặc thuộc gia đình giàu có… Đánh giá một cách toàn diện các yếu tố có vai trò quan trọng từ phía nạn nhân trong việc thúc đẩy làm hình thành ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội, cũng như tìm hiểu đặc trưng của các nhóm người có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng những định hướng cũng như các biện pháp phòng ngừa.

    Câu 69. Vai trò của những dấu hiệu định lượng của tình hình tội phạm trong tội phạm học

    Gợi ý đáp án:

    Việc nhận biết dấu hiệu định lượng của tội phạm cho chúng ta thấy cái nhìn tổng quan về bức tranh tình hình tội phạm:

    – Thực trạng của tình hình tội phạm cũng những số liệu về tội phạm và những chủ thể thực hiện tội phạm đó trong một thời gian và một khu vực nhất định.

    – Động thái sự thay đổi của tình hình tội phạm theo thời gian (tăng lên hay giảm đi).

    Từ đó, mà chúng ta có thể đưa ra những phương án phòng ngừa đấu tranh với tội phạm.

    – Đối với những tội phạm đang có chiều hướng gia tăng: Cần thúc đẩy nghiên cứu, xem xét tìm ra nguyên nhân của tội phạm, từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa hợp lý.

    – Đối với những tội phạm đang có chiều hướng giảm đi: Tiếp tục áp dụng những biện pháp phòng ngừa tội phạm, nhằm kiểm soát chúng một cách tối đa, không để diễn ra trong xã hội.

    Câu 70. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các yếu tố kiềm chế trong tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội

    Gợi ý đáp án:

    Các yếu tố kiềm chế là những đặc tính bảo vệ một cá nhân.

    – Sự kiềm chế là khả năng lấy lại được sức mạnh và tinh thần trong hoàn cảnh bất lợi tác động của cả bên trong (chính mình)và bên ngoài (gia đình, bạn bè, xã hội…) để dẫn đến một kết quả tích cực.

    – Việc nghiên cứu các yếu tố kiềm chế này giúp hỗ trợ khả năng kiềm chế ở người phạm tội qua đó tạo điều kiện hội nhập xã hội cho họ, góp phần nâng cao tỉ lệ người phạm tội tái hòa nhập trong xã hội, đảm bảo an toàn công cộng.

    – Khả năng kiềm chế có thể được bồi dưỡng thông qua các mô hình và giảng dạy người phạm tội về hành vi thích hợp để đáp ứng nhu cầu của họ, cũng như, hoặc tốt hơn là những hành vi kém thích nghi của họ.

    – Khi mọi người có thể hiểu và điều chỉnh cảm xúc của họ, rèn luyện tính kỷ luật, và nâng cao sự kiểm soát cảm xúc, sự đánh giá, họ có thể đối phó tốt hơn với sự khó chịu, hung hăng hay bạo lực và tránh những kết quả xử sự tiêu cực.

    Câu 71. Vai trò của nhân thân người phạm tội trong cơ chế của hành vi phạm tội.

    Gợi ý đáp án:

    Có thể nói nhân thân người phạm tội là bộ phận quan trọng và cơ bản của cơ chế hành vi phạm tôi bởi vì: nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, những dấu hiệu quan trọng thể hiện rõ nhất bản chất xã hội của con người thực hiện hành vi phạm tội.

    Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có một ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu rõ các đặc điểm về nhân thân có tính chất đặc biệt mà người bình thường không có, cơ chế hình thành các đặc điểm đó, hay nói cách khác là nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm, nguyên nhân của tình hình tội phạm thuộc yếu tố về chủ thể người thực hiện hành vi phạm tội; đâu là nhân tố liên quan tới việc hình thành và thúc đẩy các phẩm chất tiêu cực của con người, khiến họ có hành động đi ngược lại với các chuẩn mực, các lợi ích xã hội;

    Câu 72. Vai trò của cá nhân trong phòng ngừa tội phạm. Nêu ví dụ minh họa

    Gợi ý đáp án:

    Cá nhân đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa tội phạm.

    – Việc phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, các tổ chức xã hội mà còn là nhiệm vụ của mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân đều tham gia vào các tổ chức, hoạt động của xã hội.

    – Khi một cá nhân có ý thức pháp luật tốt, không chỉ giúp mình không thực hiện tội phạm mà còn có thể ngăn chặn những hành vi phạm tội của người khác.

    – Cá nhân với vai trò là một thực thể của xã hội, chính vì thế họ tham gia vào tất các hoạt động trong xã hội (tùy thuộc vào giới tính, độ tuổi, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội,…) , góp phần vào sự phát triển của xã hội. Chính vì vai họ có vai trò quyết định trong sự phát triển của cả một xã hội.

    Ví dụ: Ông bà, cha mẹ cần làm gương cho con cháu noi theo. Khi gia đình có ông bà, cha mẹ gương mẫu sẽ tác động tích cực đến các thành viên khác của gia đình. Ngược lại, ông bà, cha mẹ không tốt, hay vi phạm pháp luật thì sẽ dẫn đến những thành viên khác trong gia đình vi phạm pháp luật, thậm chí có thái độ coi thường pháp luật, coi thường các giá trị khác của cuộc sống. Tổ chức các cuộc hội thảo, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong xây dựng gia đình tiêu biểu để giáo dục nâng cao nhận thức, nhân cách cho các thành viên trong gia đình.

    Câu 73. Khái niệm dự báo tình hình tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Dự báo tình hình tội phạm dưới khía cạnh tội phạm học là sự phỏng đoán trên cơ sở khoa học những thay đổi cơ bản (khuynh hướng, quy luật) của sự tiến triển về tính hình tộ phạm hoặc xác xuất việc thực hiện tội phạm của những con người cụ thể trong tương lai.

    Dự báo là sự “nhìn trước” những hiện tượng mới có tính nguy hiểm cho xã hội cần được tội phạm hóa, dự báo sự mất dần đi của những loại tội phạm riêng biệt để phi tội phạm hóa chúng, dự báo hiệu quả tác động của những quy phạm pháp luật hình sự, những biện pháp phòng ngừa, dự báo sự phát triển của những khoa học tội phạm học và những khả năng của chúng.

    3 loại dự báo:

    – Dự báo tình hình;

    – Dự báo hành vi phạm tội cụ thể;

    – Dự báo khả năng phát triển của những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới của con người cần phải tội phạm hóa.

    Câu 74. Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong phòng ngừa tội phạm.

    Gợi ý đáp án:

    Về công tác phòng ngừa tội phạm, Đảng cộng sản Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng, Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm, xác định công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên cấp thiết; đề ra các nghị quyết, chương trình để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, kế hoạch phòng, chống tội phạm.

    – Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ giữa công tác phòng, chống tội phạm với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội.

    – Thường xuyên tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân về phòng, chống tội phạm để mỗi người thấy được quyền lợi, nghĩa vụ, tích cực tham gia công tác này.

    – Tập trung điều tra, khám phá, xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm, nhất là tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về tham nhũng, tội phạm có tổ chức, các loại tội phạm về ma túy, mua bán người, lừa đảo chiếm đoạt lớn tài sản nhà nước.

    (Chỉ thị 48-CT/TW công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới của Ban chấp hành TW Đảng ngày 22/10/2010).

    Câu 75. Ý nghĩa của việc nghiên cứu dự báo tình hình tội phạm trong tội phạm học.

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Dự báo tình hình tội phạm là 1 hoạt động dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa ra những nhận định mang tính phán đoán về tình hình tội phạm trong tương lai, những thay đổi về nhân thân người phạm tội những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tội phạm và khả năng phòng chống tội phạm của các chủ thể. Từ đó kiến nghị các phương hướng để phòng ngừa tội phạm.

    Ý nghĩa của việc nghiên cứu dự báo tình hình tội phạm:

    – Dự báo tình hình tội phạm sẽ tạo sự chủ động cho các chủ thể khi tiến hành hoạt động phòng ngừa tội phạm, làm nên chất lượng phòng chống tội phạm cao.

    – Dự báo tình hình tội phạm tạo cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội trong đó có các chính sách về pháp luật nói chung và chính sách hình sự nói riêng.

    – Dự báo tình hình tội phạm còn tạo cơ sở cho việc hoàn thiện bộ máy phòng chống tội phạm như nhân sự, cơ cấu tổ chức, lực lượng, cơ chế phối hợp kết hợp, trang thiết bị.

    Câu 76. Đối tượng nghiên cứu của nạn nhân học?

    Gợi ý đáp án:

    Đối tượng nghiên cứu của nạn nhân học bao gồm:

    – Những đặc điểm xã hội, tâm lý – đạo đức của nạn nhân của tội phạm để làm sáng tỏ những phẩm chất đạo đức, ý chí có liên quan nào đưa con người trở thành nạn nhân.

    – Những mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân để làm sáng tỏ chúng có ảnh hưởng thế nào đến việc phát sinh hành vi phạm tội.

    – Những hoàn cảnh xuất hiện trước tội phạm và những tình huống liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, nhằm trả lời cho câu hỏi ý nghĩa tội phạm học của việc xuất hiện hành vi (hành động hoặc không hành động) của nạn nhân.

    – Hành vi hậu tội phạm của nạn nhân nhằm trả lời cho câu hỏi nạn nhân làm điều gì để phục hổi quyền của mình.

    – Hệ thống những biện pháp có tính chất phòng ngừa để bảo vệ nạn nhân.

    – Cách thức, khả năng, phương pháp bồi thường những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

    Câu 77. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa nguyên nhân của tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Nguyên nhân của tội phạm là những hiện tượng đời sống xã hội, phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ nó tồn tại thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của tội phạm.

    Đặc điểm:

    – Luôn là những hiện tượng có nguồn gốc và bản chất xã hội.

    – Luôn thể hiện những mâu thuẫn và xung đột trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Ví dụ: kinh tế chính trị, tư tưởng tâm lý.

    – Luôn thể hiện tính tiêu cực: ở sự cản trở, đối lập với xu thế phát triển chung của đời sống xã hội như sự chống đối về chính trị, những chính sách phát triển kinh tế xã hội không phù hợp, trình độ dân trí thấp kém, sự vi phạm pháp luật, đạo đức.

    – Tính phổ biến và ổn định tương đối về mặt thời gian.

    Ý nghĩa:

    – Việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện là cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm một cách khoa học và hiệu quả.

    – Là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội một cách phù hợp giảm thiểu các mâu thuẫn xã hội là nguyên nhân làm phát sinh tình hình tội phạm.

    Câu 78. Phương pháp đánh giá chuyên gia trong dự báo tội phạm

    Gợi ý đáp án:

    Phương pháp chuyên gia là phương pháp điều tra qua đánh giá của các chuyên gia về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó.

    Phương pháp đánh giá chuyên gia trong dự báo tội phạm là sự đánh giá, dự báo tội phạm qua việc xử lí một cách có hệ thống ý kiến của các chuyên gia. Bản đánh giá của các chuyên gia là cơ sở để tiến hành giải quyết vấn đề nghiên cứu.

    Phương pháp chuyên gia rất cần thiết cho người nghiên cứu không chỉ trong quá trình nghiên cứu mà còn cả trong quá trình nghiệm thu, đánh giá kết quả, hoặc thậm chí cả trong quá trình đề xuất giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, củng cố các luận cứ…..

    Phương pháp chuyên gia là phương pháp có ý nghĩa kinh tế, nó tiết kiệm về thời gian, sức lực, tài chính để triển khai nghiên cứu. Tuy nhiên nó chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm hay kinh nghiệm của chuyên gia, vì vậy chỉ nên sử dụng khi các phương pháp không có điều kiện thực hiện, không thể thực hiện được hoặc có thể sử dụng phối hợp với các phương pháp khác.

    Đặc điểm: Tham khảo ý kiến các chuyên gia có kinh nghiệm.

    Các bước:

    – Bước 1: Thu thập, cung cấp thông tin, đề nghị chuyên gia đánh giá;

    – Bước 2: Chuyên gia cho ý kiến;

    – Bước 3: Tổng hợp, xử lí ý kiến chuyên gia;

    – Bước 4: Đưa ra kết quả nghiên cứu.

    Yêu cầu: Chuyên gia phải đủ trình độ chuyên sâu, có hiểu biết sâu sắc tình hình tội phạm

    Đánh giá:

    – Ưu điểm:

    + Phát huy trong trường hợp thiếu thông tin, điều kiện kinh tế xã hội thay đổi nhanh chóng.

    + Làm sáng tỏ mặt định tính của tình hình tội phạm sâu sắc

    – Nhược điểm:

    + Tốn kém

    + Kết quả nghiên cứu phụ thuộc nhiều vào quan điểm của chuyên gia

    Câu 79. Các quan điểm về vị trí của nạn nhân học

    Gợi ý đáp án:

    Nạn nhân được hiểu là những cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản. Nạn nhân bao gồm rất nhiều loại như nạn nhân của chiến tranh, nạn nhân của thiên tai, nạn nhân bị tai nạn lao động, tai nạn giao thông, nạn nhân tự tử, nạn nhân của tội phạm… Trong các loại nạn nhân kể trên thì nạn nhân của tội phạm là dạng nạn nhân đặc biệt.

    Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm giúp ngăn ngừa rủi ro và hạn chế các nguyên nhân thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm sẽ giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá các nguyên nhân từ phía nạn nhân làm phát sinh hành vi phạm tội.

    Trong các tội phạm có nạn nhân, nạn nhân luôn giữ vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Trước hết, những hành vi, xử sự có lỗi của nạn nhân là những yếu tố tác động làm phát sinh hành vi phạm tội. Ngay cả những trường họp nạn nhân hoàn toàn không có lôi nhưng vì nạn nhân ở trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định nên dễ trở thành nạn nhân của tội phạm; Đánh giá một cách toàn diện các yếu tố có vai trò quan trọng từ phía nạn nhân trong việc thúc đẩy làm hình thành ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội, cũng như tìm hiểu đặc trưng của các nhóm người có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng những định hướng cũng như các biện pháp phòng ngừa.

    – Nghiên cứu nạn nhân giúp cho việc xây dựng và thực hiện tốt các chính sách hình sự, chính sách xã hội.

    – Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm cho phép xác định phạm vi chính xác những người được coi là nạn nhân của tội phạm, từ đó có chính sách để phân loại nạn nhân làm căn cứ xây dựng các chính sách bồi thường và trợ giúp nạn nhân phù hợp.

    Câu 80. Vai trò của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    – Các cơ quan quản lý kinh tế, văn hoá, giáo dục, dịch vụ, du lịch trong phạm vi tổ chức hoạt động chuyên môn

    + Phát hiện những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh phát triển tội phạm thuộc lĩnh vực mình quản lý.

    + Đề ra những quy định thích hợp, tham mưu cho Nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách đúng đắn góp phần khắc phục những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm.

    + Xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án phòng ngừa tội phạm trong phạm vi cơ quan có hiệu quả.

    + Phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp, làm tốt công tác phòng chống trong nội bộ, ngoài xã hội theo chương trình chung của Chính phủ.

    – Các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tự quản

    + Các tổ chức đoàn thể trên giữ vị trí vô cùng quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, cụ thể:

    + Phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn soạn thảo, tham gia kế hoạch phòng ngừa tội phạm.

    + Tuyên truyền cho hội viên thấy được tính chất, thủ đoạn hoạt động của tội phạm nâng cao ý thức cảnh giác.

    + Trực tiếp huy động các hội viên tham gia chương trình phòng chống tội phạm nói chung của Chính phủ trong phạm vi địa phương, nội bộ hiệp hội của mình.

    – Công dân

    + Công dân có nghĩa vụ và quyền lợi trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. Công dân với tư cách là chủ thể trong phòng chống tội phạm phải quán triệt:

    + Thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, tích cực tham gia hoạt động phòng ngừa tội phạm.

    + Tích cực, chủ động phát hiện mọi hoạt động của tội phạm và thông báo cho các cơ quan chức năng.

    + Tham gia nhiệt tình vào công tác giáo dục, cảm hoá các đối tượng có liên quan đến hoạt động phạm tội tại cộng đồng dân cư.

    + Phối hợp tham gia, giúp đỡ các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện tốt chương trình “Quốc gia phòng chống tội phạm”. Làm tốt công tác tái hoà nhập cộng đồng cho người phạm tội khi trở về địa phương.

    + Trực tiếp làm tốt công tác phòng ngừa tội phạm ngay trong phạm vi gia đình (quản lý, giáo dục các thành viên trong gia đình).

    Mời bạn xem thêm:

  • Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    Bạn đang tìm kiếm câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án) để chuẩn bị cho kỳ thi? Bộ tài liệu này tổng hợp đầy đủ các câu hỏi trọng tâm, kèm theo đáp án chi tiết, giúp bạn nắm vững kiến thức về nguyên nhân tội phạm, các biện pháp phòng ngừa và những nguyên lý cơ bản của môn học. Đây là tài liệu hữu ích cho sinh viên luật, học viên tư pháp và những ai quan tâm đến lĩnh vực này. Cùng tham khảo ngay để ôn tập hiệu quả và đạt điểm cao!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Tội phạm học: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-toi-pham-hoc?ref=lnpc

    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    Câu 1. Phân tích các thuộc tính của tình hình tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Tình hình của tội phạm là một hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội, thường xuyên thay đổi, có tính giai cấp và pháp luật hình sự, được phản ánh qua các thông số về tình hình, cơ cấu, diễn biến của toàn bộ các loại hoặc của một số loại tội phạm cùng các chủ thể thực hiện chúng đã xảy ra trong một khoảng thời gian và trong một phạm vi không gian nhất định.

    Tình hình tội phạm bao gồm các thuộc tính: tính xã hội, tính pháp lý, tính thay đổi về mặt lịch sử, tính tiêu cực, tính phổ biến.

    * Tính xã hội

    – Tình hình tội phạm được quy định không phải bởi bản chất sinh học của con người, mà là bản chất và nội dung của những mối quan hệ và mâu thuẫn xã hội. Nó được thể hiện như sau:

    + Tình hình tội phạm có xuất xứ mang tính lịch sử.

    + Tình hình tội phạm có mối quan hệ nhân quả với các quá trình và hiện tượng xã hội.

    + Mức độ và tính chất của tình hình tội phạm tại các hệ thống kinh tế-xã hội khác nhau và tại các quốc gia khác nhau có mối tương quan chặt chẽ với những hoàn cảnh sống và hoạt động của con người nơi đó.

    + Những dạng tình hình tội phạm cụ thể được xác định bởi xã hội và quốc gia.

    + Trong những quốc gia khác nhau có đặc trưng riêng của mình trong cách hiểu tội phạm và không phải là tội phạm.

    + Sự thay đổi các chỉ số cảu tình hình tội phạm theo thời gian và theo không gian trong giới hạn một quốc gia phụ thuộc vào sự biến chuyển tương ứng trong những điều kiện tồn tại cụ thể của con người.

    + Tình hình tội phạm chứa đựng kết quả xã hội nguy hiểm của hoạt động và đời sống của con người.

    + Tình hình tội phạm gây ra thiệt hại cho xã hội, gây ra những tác hại rất lớn vè các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức.

    + Đấu tranh với tình hình tội phạm đòi hỏi việc áp dụng các biện pháp xã hội. Chúng mang lại những kết quả đáng kể trong việc kiểm soát tình hình tội phạm.

    * Tính pháp lý

    – Theo nguyên tắc được thừa nhận chung: “Không có tội phạm nếu như luật không quy định” được ghi nhận ở hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam.

    – Tình hình tội phạm có thể được xem xét với tư cách là những dạng sai lệch với những chuẩn mực xử sự (đạo đực). Nhưng chỉ khi tội phạm hóa những dạng đặc biệt nguy hiểm vào trong luật hình sự thì mới tạo ra những dạng tương ứng của hành vi lệch chuẩn là tội phạm và tình hình tội phạm mới trở thành hiện tượng pháp lý và xác định tương đối.

    * Tính thay đổi về mặt lịch sử

    – Có mối liên hệ với những sự thay đổi của xã hội: đạo đức, chính trị- Tư tưởng, quản lý- Tổ chức, khoa học – công nghệ và những điều kiện khách quan khác làm thay đổi cả về lượng và về chất tình hình tội phạm. Cùng với quá trình này sẽ diễn ra quá trình làm mất đi dạng xử sự tội phạm này và làm phát sinh dạng khác.

    * Tính tiêu cực

    – Có thể mói rằng các thiệt hại mà tội phạm mang lại cho xã hội là hết sức lớn: thiệt hại về con người, kinh tế. trật tự xã hội, an ninh xã hội, chính quyền quốc gia và các chủ thể bị xâm hại khác.

    – Cái giá của tội phạm phản ánh qua tình hình tội phạm bao gồm cả những chi phí khổng lồ mà xã hội phải chi trả cho công tác đấu tranh phòng, chống, phục hồi công lý, hình phạt dành cho người phạm tôi.

    – Tình hình tội phạm bao giờ cũng mang tính xã hội bởi vì nó phản ánh các đặc tính chống đối xã hội, chống đối tập thể và các đặc điểm cá nhân khác của những người phạm tội. Nó là hiện tượng tiêu cực đối vơi xã hôi, mỗi thành viên cảu xã hội và chính người phạm tội.

    * Tính phổ biến

    – Tình hình tội phạm với tư cách là hiện tượng phổ biến chứa đựng tổng thể những hành vi phạm tội và những người thực hiện chúng trong không gian và thời gian xác định.

    Câu 2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ trong tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    – Giúp cho người phạm tội nhận thức được các yếu tố đưa họ đối mặt với nguy cơ và gây khó khăn cho họ khi tái hòa nhập.

    – Giúp giải quyết các nguy cơ phạm tội ngay từ trong các cơ sở giam giữ các chương trình can thiệp vào cộng động, có liên quan đến giáo dục, việc làm, chỗ ở, ma túy và đồ uống có cồn, bệnh tâm thần, mạng lưới xã hội, kỹ năng nhận thức và thái độ.

    – Tạo ra các biện pháp hỗ trợ hiệu quả những nhất là những biện pháp giải quyết trực tiếp các yếu tố nguy cơ.

    – Giải quyết yếu tố nguy cơ như bên trong cá nhân có cá tính khó chiều, là nạn nhân từ sớm, mắc bệnh tâm thần, bị hạn chế học tập, hoặc bên ngoài gia đình, xã hội trường học cộng đồng, trong quan hệ cùng trang lứa.

    – Người phạm tội chưa thành niên, các yếu tố nguy cơ từ phía gia đình đối với hành vi phạm pháp và chống đối xã hội chính là một gia đình không bình thường cha mẹ bỏ rơi không quan tâm hay có những nguyên tắc những giáo điều cứng nhắc kém hiệu quả, thiếu sự giám sát tác động hợp lý.

    – Sự phân biệt giàu nghèo chủng tộc giới tính tôn giáo, chương trình giáo dục chất lượng kém gây ra những việc nghỉ học bỏ dở. Nghèo đói là yếu tố nguy cơ chung dẫn đến hành vi chống đối xã hội, thanh thiếu niên tham gia chơi với bạn bè có lối sống lệch lạc.

    Câu 3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu của nhân thân của người phạm tội trong tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    Nhân thân người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu bao gồm những đặc điểm đặc trưng điển hình phản ánh bản chất xã hội của người phạm tội và những đặc điểm này có vai trò quan trọng trong cơ chế của hành vi phạm tội và góp phần phát sinh 1 tội phạm cụ thể (hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn,…).

    Những đặc điểm nhân thân người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu ở các khía cạnh:

    – Sinh học (giới tính, khí chất…)

    – Tâm lý (ý thức, thói quen giải trí…)

    – Xã hội (nghề nghiệp, nơi cư trú…)

    – Pháp lý hình sự (thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội: phạm tội lần đầu, tái phạm, nhiều lần, chuyên nghiệp…).

    Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ và sự tác động qua lại của các đặc điểm sinh học, xã hội trong nhân thân người phạm tội. Từ đó xác định vai trò của từng nhóm đặc nhằm sử dụng điểm này trong cơ chế của hành vi phạm tội biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp.

    Nghiên cứu nhân thân người phạm tội tạo cơ sở cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, đặc biệt là nhóm nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội.

    Nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa trong việc quyết định biện pháp trách nhiệm hình sự phù hợp.

    Nghiên cứu nhân thân người phạm tội sẽ tạo cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục cải tạo người phạm tội phù hợp.

    Nghiên cứu nhân thân người phạm tội tạo cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp dự báo và phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

    Câu 4. Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án trong phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội và nhà nước nhằm khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

    Các cơ quan bảo vệ pháp luật: Công an, Toà án, Viện kiểm sát.

    Nghiên cứu, phân tích tình trạng phạm tội, xác định chính xác những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, soạn thảo đề xuất các biện pháp phòng chống thích hợp.

    Sử dụng các biện pháp luật định và các biện pháp nghiệp vụ chuyên môn theo chức năng, trực tiếp tiến hành các hoạt động phòng ngừa tội phạm.

    Đối với lực lượng Công an phải trực tiếp tổ chức, triển khai các hoạt động phòng ngừa tội phạm theo hai hướng: Tham gia phòng ngừa xã hội (phòng ngừa chung) và trực tiếp tiến hành toàn diện hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ, điều tra tội phạm.

    Viện kiểm sát: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án, giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân, giữ quyền công tố.

    Ngoài ra thì còn các cơ quan khác như Thanh tra, kiểm lâm, kiểm sát biển… cũng góp phần tích cức trong việc loại bỏ các yếu tố có thể trở thành nguyên nhân điều kiện làm phát dinh , phát triển tội phạm.

    Toà án các cấp: Thông qua hoạt động xét xử các vụ án đảm bảo công minh, đúng pháp luật; phát hiện những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để Chính Phủ, các ngành, các cấp kịp thời có biện pháp ngăn chặn, loại trừ.

    Bộ Tư pháp trực tiếp tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, khắc phục những sỏ hở thiếu sót là nguyên nhân, điều kiện của tội phạm.

    Câu 5. Nêu căn cứ và ý nghĩa của việc phân loại và dạng người phạm tội

    Gợi ý đáp án:

    * Căn cứ:

    – Theo căn cứ xã hội học, việc phân loại dạng người phạm tội căn cứ vào: giới tính, lứa tuổi, trình độ văn hóa, mức độ bảo đảm về vật chất, địa vị xã hội, có gia đình, nguồn gốc xuất xứ xã hội, nghề nghiệp, loại công việc, có chuyên môn nơi sống:

    + Phân loại theo giới tính: chia người phạm tội ra làm 2 loại: nam giới và nữ giới.

    + Lứa tuổi: 2 loại người chưa thành niên và người đã thành niên

    + Địa vị xã hội: 5 nhóm: nông dân; công chức viên chức; học sinh, sinh viên; quân nhân; người về hưu, mất sức

    – Theo căn cứ pháp lý: tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm được thực hiện, thực hiện tội phạm lần đầu hay nhiều lần. đơn lẻ hay theo nhóm, độ dài của hoạt động phạm tội, khách thể bị xâm hại, hình thức lỗi.

    * Ý nghĩa: Nhằm áp dụng biện pháp phòng ngừa thích hợp thì phải phân loại người phạm tội theo từng loại có những đặc điểm chung giống nhau.

    Câu 6. Nhân thân người phạm tội và nhân thân nạn nhân của tội phạm có mối liên hệ nào không? Vì sao?

    Gợi ý đáp án:

    Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của người phạm tội, những đặc điểm dấu hiệu này tác động với những tình huống và hoàn cảnh khách quan khác đã tạo ra xử sự phạm tội của người đó.

    Nhân thân của nạn nhân là những đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của nạn nhân của tội phạm, những đặc điểm dấu hiệu này cũng phần nào ảnh hưởng đến việc xảy ra hành vi tội phạm. Ví dụ: người bị hạn chế về mặt thể chất (như trẻ em, người già…), người có ưu thế về mặt xã hội (như ông, bà, cha, mẹ, thầy cô, người thi hành công vụ…), người có hạn chế về mặt xã hội (tù binh, hàng binh…).

    Nhân thân người phạm tội và nhân thân nạn nhân có mối liên hệ biện chứng tùy theo đối tượng tác động.

    Tùy từng trường hợp thì nhân thân nạn nhân là nguyên nhân điều kiện thúc đẩy tội phạm cũng có trường hợp thì nhân thân nạn nhân không có liên quan gì đến nhân thân người phạm tội.

    Ví dụ như ờ tội khủng bố, bọn phạm tội đã đặt bom ở nhà ga, noi tập trung nhiều người qua lại làm chết, bị thương rất nhiều hành khách cũng như huỷ hoại tài sản của những người đó. Trường họp này, nhiều người đã ngẫu nhiên trờ thành nạn nhân của tội phạm, người phạm tội không quan tâm đến nạn nhân là ai, sẵn sàng giết chết hoặc làm bị thương thường dân bất kì để đạt được mục đích chính trị của mình.

    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)
    Câu hỏi ôn tập môn Tội phạm học phần 1 (có đáp án)

    Câu 7. Khái niệm phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp khác nhau của nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát nó trong xã hội.

    Đặc điểm:

    – Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan, tổ chức và cũng không phải của một ngành khoa học nào trong lĩnh vực tư pháp hình sự, mà nó chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, mà trong đó ngành khoa học về tội phạm học phải có nhiệm vụ thực hiện chức năng phòng ngừa tội phạm

    – Thứ hai, phòng ngừa tội phạm chính là mục tiêu cuối cùng và là chức năng quan trọng nhất [35], vì chỉ khi làm tốt các chức năng mô tả, giải thích và dự báo thì mới có thể tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được các nguyên nhân và điều kiện phạm tội cũng như những tồn tại trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

    – Thứ ba, cũng trên cơ sở những chức năng đã nêu mới có thông tin đầy đủ để xây dựng kế hoạch phòng ngừa, nhận diện những diễn biến tội phạm và tình hình tội phạm trong tương lai, khả năng xuất hiện, thay đổi của tội phạm cũ và tội phạm mới, diễn biến và quy luật của quá trình tội phạm hóa – phi tội phạm hóa, hình sự hóa – phi hình sự hóa, cũng như những biến đổi của đời sống xã hội khác.

    – Thứ tư, phòng ngừa tội phạm bao gồm tổng thể các biện pháp phòng ngừa: chính trị – tư tưởng, kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục, pháp luật, quản lý Nhà nước…

    – Thứ năm, phòng ngừa tội phạm, suy cho cùng, chính là đưa ra những giải pháp mang tính chủ động hơn, tích cực hơn và có hiệu quả hơn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, hỗ trợ cho các ngành luật khác trong lĩnh vực tư pháp hình sự.

    – Thứ sáu, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan và mỗi công dân trong xã hội không phải chịu những hậu quả (thiệt hại) mà tội phạm gây ra, cũng như Nhà nước và xã hội không phải mất đi những chi phí không cần thiết để giải quyết và khắc phục các hậu quả này.

    – Thứ bảy, trong xã hội không có bất kỳ thành viên nào phải bị điều tra, truy tố và xét xử. Nói một cách khác, không để bất kỳ công dân nào trong xã hội phải bị xử lý, bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt.

    – Thứ tám, tiết kiệm một khoản rất lớn về chi phí, tiền của và sức lực cho Nhà nước, của xã hội trong việc điều tra, truy tố, xét xử, trong việc khắc phục hậu quả của tội phạm gây ra cho xã hội, trong công tác cải tạo, giáo dục và thi hành án đối với người phạm tội.

    – Thứ chín, trong trường hợp nếu vẫn có tội phạm xảy ra trong xã hội thì bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, giải quyết nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật đối với trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và của công dân

    Câu 8. Vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp trong phòng ngừa tội phạm

    Gợi ý đáp án:

    Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành phòng ngừa tội phạm trên các phương diện sau:

    – Chủ động, kịp thời ban hành các đạo luật, nghị quyết, các văn bản pháp lý về phòng chống tội phạm, từng bước hoàn thiện pháp luật, làm cơ sở cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, mỗi công dân làm tốt công tác phòng chống tội phạm:

    – Thành lập các ban, các tiểu ban soạn thảo ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung.

    – Giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng của các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội.

    – Hội đồng nhân dân địa phương ra các Nghị quyết về phòng chống tội phạm ở địa phương mình.

    Câu 9. Khái niệm, đặc điểm của tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: tội phạm học là ngành khoa học pháp lý nghiên cứu về tội phạm với tư cách là một ngành khoa học xã hội, nghiên cứu về tình hình tội phạm và các loại tội phạm cụ thể, về nguyên nhân và điều kiện phạm tội và tất cả các mối liên hệ của tội phạm với những hiện tượng xã hội và với các quá trình diễn ra trong xã hội về nhân thân người phạm tội, cũng như đề ra các giải pháp phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.

    Đặc điểm:

    – Là ngành khoa học pháp lý nghiên cứu về tội phạm với tư cách là một ngành khoa học xã hội.

    – Nghiên cứu về tình hình tội phạm và các loại tội phạm cụ thể.

    – Nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện phạm tội và tất cả các mối liên hệ của tội phạm với những hiện tượng xã hội và với các quá trình diễn ra trong xã hội về nhân thân người phạm tội.

    – Đề ra các giải pháp phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.

    Câu 10. Nạn nhân học nghiên cứu nạn nhân ở những mức độ nào?

    Gợi ý đáp án:

    Chúng ta nghiên cứu nạn nhân học với tư cách là một hướng trong tội phạm học (nạn nhân học tội phạm).

    – Những đặc điểm xã hội, tâm lý- đạo đức của nạn nhân của tội phạm để làm sáng tỏ những phẩm chất đạo đức, ý trí, xúc cảm nào, những khuynh hướng xã hội.

    – Những mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân để làm sáng tỏ trong chừng mực nào đó những mối quan hệ này có ý nghĩa đối với việc tạo ra tiền đề cho tội phạm, chúng có ảnh hưởng thế nào đến việc phát sinh hành vi phạm tội, hình thành động cơ hành động của người phạm tội.

    – Những hoàn cảnh xuất hiện trước tội phạm, và thậm chí là những tình huống trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội nhằm trả lời cho câu hỏi, trong những hoàn cảnh như vậy, trong mối liên hệ với xử sự của người phạm tội, ý nghĩa tội phạm học của việc xuất hiện hành vi (hành động hay không hành động) của nạn nhân.

    – Hành vi hậu tội phạm (sau khi xảy ra tội phạm) của nạn nhân trả lời cho câu hỏi rằng nạn nhân làm điều gfi để phục hồi quyền của mình, che dấu hay nhờ đến sự bảo vệ của các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án, cản trở theo thúc đẩy cho việc phục hồi công lý.

    – Hệ thống những biện pháp có tính chất phòng ngừa để bảo vệ nạn nhân tiềm ẩn cũng như nạn nhân hiện thời.

    – Cách thức khả năng phương pháp bồi thường những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, mà trước tiên là phục hồi về thể chất cho nạn nhân.

    Câu 11. Phân tích động cơ phạm tội trong cơ chế hành vi phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    Trong tâm lý học có rất nhiều quan niệm khác nhau về động cơ hoạt động của con người, theo thầy Hải, Động cơ được hiểu là sự thúc đẩy bên trong dẫn đến hành vi này hay hành kia khác. Nó thường được coi là nguyên nhân trực tiếp của tội phạm. Nghiên cứu động cơ sẽ trả lời được câu hỏi vì sao con người lại có những xử sự khác nhau. Các tội phạm cố ý luôn có động cơ.

    Nhu cầu của chủ thể đóng vai trò chính trọng việc hình thành động cơ của hành vi phạm tội, nó phản ánh sự phụ thuộc của người đó vào thế giới bên ngoài.

    (Các nhóm nhu cầu gồm: vật chất, an ninh, tình dục, giao tiếp xã hội, kiến thức và thế giới quan).

    Bản thân động cơ là sự thúc đẩy bên trong không phải là tội phạm. Tiền đề của nó là những nhu cầu, xúc cảm sở thích những định hướng về giá trị. Nhu cầu xúc cảm sở thích hay những định hướng về giá trị là những thành phần bên trong của nhân thân mà dưới tác động của chúng sẽ tạo nên động cơ của tội phạm. Tuy nhiên còn những nhân tố bên ngoài, những tình huống đời sống cụ thể có vai trò nhất định trong cơ chế của hành vi phạm tội.

    Trong trường hợp cố ý phạm tội thì bao giờ hành vi của người phạm tội cũng được thúc đẩy bởi động cơ phạm tội, chỉ những trường hợp phạm tội do vô ý, cẩu thả quá tự tin mới không có động cơ phạm tội thúc đẩy.

    – Hành vi phạm tội ở đây được hiểu là mặt khách quan và chủ quan thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Như vậy, động cơ phạm tội thuộc mặt chủ quan của hành vi, thúc đẩy hoạt động phạm tội đạt mục đích.

    Câu 12. Từ vị trí công tác hoặc nơi sinh sống của mình, anh (chị) hãy phân tích 1 biện pháp phòng ngừa tội phạm đã được áp dụng hiệu quả (sử dụng kiến thức tội phạm học đã được trang bị)

    Gợi ý đáp án:

    Khái niêm: Phòng ngừa tội phạm là việc sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính xã hội và nhà nước nhằm khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

    Biện pháp phòng ngừa: phát động quần chúng xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp ngăn ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường và xã hội. Củng cố các tổ dân phố, lực lượng bảo vệ chuyên trách, bán chuyên trách, các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ sở phường, xã tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Khi phát hiện tội phạm, tố giác với cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý hành vi phạm tội góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống.

    Câu 13. Nội dung những dấu hiệu định lượng của tình hình tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Các dấu hiệu định lượng của tình hình tội phạm được xác định bởi thực trạng và động thái. Thực trạng của tình hình tội phạm được tính bởi các chỉ số tuyệt đối (mức độ) và chỉ số tương đối (hệ số).

    Mức độ của tình hình tội phạm bao gồm những số liệu về tội phạm và những chủ thể thực hiện những tội phạm đó trên một lãnh thổ xác định và một trong một khoảng thời gian nhất định.

    Số liệu chung về những tội phạm đã được ghi nhận và số liệu chung về chủ thể thực hiện chung, được phản ánh ở chỉ số tuyệt đối.

    Theo nghĩa rộng thì thực trạng của tình hình tội phạm không thể khách quan đánh giá bên ngoài động thái, cường độ tăng giảm thực tế của tình hình tội phạm, nhóm tội phạm hay loại tội phạm cụ thể.

    Động thái của tình hình tội phạm phản ánh sự thay đổi của tình hình tội phạm theo thời gian, theo thời gian thì thực trạng của tình hình tội phạm cũng như cấu trúc sẽ thay đổi. Khoảng cách thời gian thường là một năm. Tuy nhiên sự thay đổi của tình hình tội phạm có thể theo dõi 05 năm. Việc lựa chọn khoảng cách phụ thuộc vào mục đích và tính chất của từng nghiên cứu.

    Động thái của tình hình tội phạm phản ánh trong số liệu tuyệt đối của những tội phạm đã được ghi nhận, số liệu chủ thể tội phạm đã được làm rõ.. thông thường được hình thành dưới dạng thống kê theo năm hoặc theo từng giai đoạn.

    Câu 14. Những đặc điểm sinh học và xã hội của nhân thân người phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    * Nhóm đặc điềm sinh học

    Nhóm đặc điểm sinh học bao gồm giới tính, tuổi và một số đặc điểm thể chất khác:

    – Xác định giới tính người phạm tội cho chúng ta thấy tính chất, mức độ, đặc điểm tội phạm theo từng giới.

    (Tham khảo: Theo số liệu thống kê hình sự ở nước ta cũng như ở các nước khác trên thế nữ giới phạm tội ít hơn nam giới. Ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2005, theo thống kê thì số bị cáo là nữ bị xét xử sơ thẩm chỉ chiếm tỉ lệ 8, 8% trong tổng số người bị đưa ra xét xừ. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tỉ lệ này có xu hướng tăng lên và các tội phạm do nữ giới thực hiện ngày càng đa dạng hơn).

    – Xác định độ tuổi của người phạm tội cho chúng ta thấy tính chât, mức độ, đặc điểm tội phạm của từng lứa tuổi, ảnh hưởng của lứa tuổi đến việc thực hiện tội phạm. Qua đó rút ra kết luận về tính tích cực mang tính tiềm ẩn tội phạm và những đặc trưng của hành vi phạm tội đại diện cho những nhóm người ở các lứa tuổi khác nhau.

    Yếu tố lứa tuổi của người phạm tội ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm cũng xuất phát từ các đặc điểm thể chất, tâm lý, xã hội của mỗi lứa tuổi khác nhau. Trong đó, vai trò vị trí xã hội của mỗi độ tuổi luôn ảnh hưởng quyết định đến việc lựa chọn phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm

    * Nhóm đặc điểm xã hội

    Vị trí tính chất xã hội của công việc cho phép kết luận những nhóm và giai tầng xã hội nào, những lĩnh vực hoạt động nào của đời sống xã hội phổ biến nhất về loại tội phạm này hay loại tội phạm kia.

    – Nghề nghiệp

    Khi nghiên cứu về nghề nghiệp, tội phạm học nhận thấy những người không có việc làm ổn định thường có tỷ lệ phạm tội cao hơn so với người có việc làm ổn định. tội phạm cũng có sự liên quan chặt chẽ đến ngành nghề mà người phạm tội đang đảm nhiệm (Ngành hải quan thì phổ biến tội phạm buôn lậu, hối lộ; ngành kiểm lâm thì phổ biến tội phạm phá rừng…)

    – Hoàn cảnh gia đình

    Khi nghiên cứu về hoàn cảnh gia đình, tội phạm học nhận thấy tội phạm có mối liên hệ đến những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, những gia đình có hoàn cảnh hôn nhân bất hạnh hay điều kiện quản lý buông lỏng

    Gia đình đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người, tác động trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách.

    – Nơi cư trú

    Khi nghiên cứu về nơi cư trú, tội phạm học nhận thấy tình hình tội phạm thường tập trung ở những thành phố lớn, những địa bàn có tốc độ phát triển kinh tế xã hội, tốc độ đô thị hóa, tốc độ dịch chuyển cơ cấu xã hội ở mức cao. Đặc biệt tội phạm cũng thường phát sinh ở những địa bàn có sự giáp ranh về địa giới hành chính, có sự khó khăn trong việc quan hệ xã hội, quan hệ con người. Ví dụ Tam giác Hà nội – Quảng ninh – Hải phòng, Thành phố Hồ Chí Minh,

    Câu 15. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm có những ý nghĩa như sau:

    – Giúp ngăn ngừa rủi ro và hạn chế các nguyên nhân thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm sẽ giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá các nguyên nhân từ phía nạn nhân làm phát sinh hành vi phạm tội.

    Trong các tội phạm có nạn nhân, nạn nhân luôn giữ vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Trước hết, những hành vi, xử sự có lỗi của nạn nhân như hành vi mất cảnh giác, hành vi vi phạm đạo đức, thuần phong, mĩ tục… hành vi gây gổ, vi phạm pháp luật hay hành vi phạm tội là những yếu tố tác động làm phát sinh hành vi phạm tội. Ngay cả những trường hợp nạn nhân hoàn toàn không có lỗi nhưng vì nạn nhân ở trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định nên dễ trở thành nạn nhân của tội phạm.

    – Nghiên cứu nạn nhân giúp cho việc xây dựng và thực hiện tốt các chính sách hình sự, chính sách xã hội. Trước hết, nghiên cứu nạn nhân của tội phạm giúp cho việc hoàn thiện các văn bản pháp luật cũng như các chính sách hình sự, chính sách xã hội để tăng cường bảo vệ cũng như trợ giúp nạn nhân của tội phạm và gia đình họ.

    – Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm cho phép xác định phạm vi chính xác những người được coi là nạn nhân của tội phạm, từ đó có chính sách để phân loại nạn nhân làm căn cứ xây dựng các chính sách bồi thường và trợ giúp nạn nhân phù hợp. Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm giúp cho việc xác định chính xác các loại thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu. Từ đó có thể xây dựng được những định mức phù hợp làm căn cứ định hướng cho việc bồi thường và trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm.

    Câu 16. Khái niệm tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội là các chương trình và các biện pháp hòa nhập xã hội được thiết kế đặc biệt nhằm giúp người phạm tội được tha từ một cơ sở giam giữ và để giúp họ đối mặt với những thách thức liên quan đến việc trở về cộng đồng.

    Có 02 loại chương trình:

    – Các chương trình hỗ trợ ngay trong các cơ sở giam giữ, trước khi phóng thích của người phạm tội, nhằm giúp người phạm tội giải quyết các vấn đề, xử lý các yếu tố nguy cơ liên quan đến hành vi phạm tội của họ, trang bị các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt các chức năng xã hội của mình và chuẩn bị tái tham gia vào cộng đồng.

    – Những chương trình dựa trên cộng đồng, thường được gọi là chương trình “hậu chăm sóc” nhằm tạo thuận lợi cho hòa nhập xã hội của người phạm tội sau khi thả họ từ các cơ sở giam giữ. Rất nhiều chương trình sau này bao gồm cả một số hình thức giám sát cũng như hỗ trợ tại động đồng.

    Câu 17. Vai trò của những dấu hiệu định tính trong nghiên cứu tình hình tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    – Những dấu hiệu định tính chỉ ra cơ cấu và tính chất của hành vi. Cơ cấu tình hình tội phạm được đo bởi tỷ trọng riêng hoặc tỷ lệ của những nhóm và loại tội phạm khác nhau trong tương quan với chỉ số chung.

    – Vai trò: nhằm đánh giá chính xác về tính chất, như là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ nghiêm trọng, mức độ tái phạm…từ đó tìm ra biện pháp phòng ngừa tội phạm.

    Câu 18. Ý nghĩa của việc nghiên cứu các yếu tố nguy cơ trong tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội.

    Gợi ý đáp án:

    Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội là các chương trình và các biện pháp hòa nhập xã hội được thiết kế đặc biệt nhằm giúp người phạm tội được tha từ một cơ sở giam giữ và để giúp họ đối mặt với những thách thức liên quan đến việc trở về cộng đồng.

    Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ trong tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội giúp ta nhận thức được các yếu tố đưa họ đối mặt với nguy cơ và những khó khăn cản trở họ hoạt động bình thường trong xã hội. Đây là 1 vấn đề then chốt đối với sự hỗ trợ hiệu quả giúp cho người phạm tội tái hòa nhập xã hội.

    Câu 19. Khái niệm cơ chế của hành vi phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Cơ chế của hành vi phạm tội được hiểu là sự tiến triển của hành vi mang tính kế tiếp nhất định: xuất hiện ý định phạm tội, ra quyết định thực hiện tội phạm, lập kế hoạch hành động và cuối cùng là thực hiện chúng bởi người phạm tội

    Đặc điểm:

    – Nó là sự tiến triển của hành vi mang tính kế tiếp nhau bao gồm việc xuất hiện ý định phạm tội -> ra qđ thực hiện tội phạm -> Lập kế hoạch hành động -> thực hiện kế hoạch đó.

    – Các quá tình trên không phải lúc nào cũng có đầy đủ các khâu (động cơ, kế hoạch, thực hiện) mà có thể thiết một khâu nào đó, ví dụ tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không có động cơ và mục đích. tội phạm vô ý không có động cơ và kế hoạch.

    Câu 20. Ý nghĩa của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Nguyên tắc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm là những quan điểm, phương châm xuyên suốt toàn bộ việc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm. Nó có ý nghĩa:

    – Giúp cho các chủ thể thực hiện hoạt động phòng ngừa tội phạm tuân thủ tuyệt đối theo hiến pháp và pháp luật, đảm bảo mục đích phục vụ lợi ích xã hội, nhà nước và công dấn.

    – Đảm bảo sự đoàn kết, kết hợp, phối hợp, phát huy sức mạnh của toàn xã hội trong phòng ngừa tội phạm.

    – Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm định hướng cho các hoạt động phòng ngừa của các chủ thể, tạo sự liên kết, phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng với nhau mới có thể mang lại hiệu quả cao, góp phần đẩy lùi tội phạm ra khỏi xã hội.

    Câu 21. tội phạm học có những nhiệm vụ cụ thể sau:

    Gợi ý đáp án:

    Một là: Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về tình hình tội phạm xẩy ra ở Việt Nam, xác định rõ những nguyên nhân, điều kiện có thể làm phát sinh, phát triển tình hình tội phạm.

    Hai là: Xây dựng những luận cứ khoa học vững chắc, phù hợp với thực tiễn, làm cơ sở cho việc đề ra các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những biện pháp công tác lớn của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    Ba là: Nghiên cứu, sử dụng những thành tựu của các ngành khoa học khác, ứng dụng những phát minh, sáng kiến cải tiến (nhất là thành tựu của khoa học – công nghệ) vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    Bốn là: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về tội phạm học, đưa khoa học tội phạm học ở Việt Nam trở thành một ngành khoa học độc lập, phong phú gắn kết chặt chẽ với các ngành khoa học khác có liên quan. tội phạm học của Việt Nam cần có sự trao đổi, hợp tác chặt chẽ, đặt trong mối quan hệ mật thiết với tội phạm học của các nước trên thế giới.

    Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhiệm vụ của tội phạm học chính là những công việc phải tiến hành trong hoạt động nghiên cứu khoa học tội phạm học nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống lý luận, tác động trực tiếp có hiệu quả đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta hiện qua các thời kỳ.

    Câu 22: Phân tích thuộc tính cá nhân của nạn nhân.

    Gợi ý đáp án:

    Thuộc tính của nạn nhân là một hiện tượng xã hội, là trạng thái quy định tính dễ bị xâm hại của cá nhân con người, phản ánh bản chất khách quan con người (nhưng không tránh khỏi) khả năng trở thành nạn nhân của tội phạm.

    Tính dễ bị xâm hại thuộc về nhân thân có cơ cấu phức tạp – những phẩm chất khách quan và chủ quan – Tạo điều kiện cho những tình huống cụ thể và chuyển hóa thành tiền đề cho việc gây ra thiệt hại. Rõ ràng là với những phẩm chất nhân thân nhất định sẽ xác định những xử sự, vị trí xã hội đặc trưng hoặc chức vụ sẽ tạo tiền đề cho xác xuất lớn hơn gây ra thiệt hại về thể chất, vật chất hay tinh thần cho người đó. Ví dụ: phụ nữ, trẻ em, người già thường bị những tội phạm có tính vũ lực xâm hại hơn vì sức lực của họ thường yếu hơn những kẻ phạm tội. Tính dễ bị xâm hại của một người tăng cao có thể xuất phát từ việc thực hiện vai trò xã hội nhất định – Trách nhiệm xã hội, nghề nghiệp của người đó.

    Câu 23. Mối liên hệ của tội phạm học với xã hội học và tâm lý học?

    Gợi ý đáp án:

    Tội phạm học là khoa học liên ngành thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm.

    Xã hội học tội phạm học là lĩnh vực chuyên ngành nghiên cứu những nguyên nhân về xa hội và phản ứng xã hội trước tội phạm.

    * Điểm giống nhau:

    – Hiện tượng tội phạm và tình hình tội phạm:

    + Quá trình phát sinh và phát triển của tội phạm

    + Các nguyên nhân, điều kiện và biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm.

    – Phương pháp nghiên cứu:

    + Sử dụng điều tra xã hội học để nghiên cứu và phân tích hiện tượng tội phạm.

    – Vai trò:

    + Gợi ý, tư vấn cho nhà nước hoạch định, xây dựng chính sách pháp luật hình sự và khung hình phạt phù hợp.

    * Điểm khác nhau:

    – Tội phạm học:

    + Khoa học hợp nhất liên ngành nghiên cứu và tổng hợp những kiến thức sinh học tội phạm, tòa án, tâm lý học tội phạm để phân tích đặc điểm – cấu trúc – bản chất – quy luật của tội phạm.

    + Nhấn mạnh khía cạnh pháp lý của hiện tượng tội phạm dựa trên những căn cứ, dấu hiệu pháp lý hình sự

    + Nghiên cứu thân nhân người phạm tội trong sự phát sinh ở môi trường gần và trực tiếp.

    + Nói chung những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm cụ thể.

    – Xã hội học:

    + Chú trọng khía cạnh xã hội của tình hình tội phạm gắn liền với việc sử dụng các nội dung của xã hội học.

    + Phân tích các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội theo cơ cấu xã hội, ảnh hướng của chúng tới xã hội.

    + Phân tích nguyên nhân từ chế độ xã hội, thiết chế xã hội và các chính sách xã hội.

    + Có sự chuyên sâu hơn về đánh giá tác động xã hội, chuẩn mực và sự ai lệch cũng như dư luận – quan niệm xã hội về vấn đề tội phạm.

    Câu 24. Phân tích vai trò của tình huống trong nạn nhân học.

    Gợi ý đáp án:

    Trong hệ thống khái niệm của nạn nhân học thì khái niệm những tình huống tội phạm học và những tình huống nạn nhân học chiếm vị trí quan trọng. Qua phân tích và xem xét những bộ phận cấu thành của những tình huống này giúp nhận thức được vai trò của người bị hại trong cơ chế của hành vi phạm tội.

    Khi xác định được:

    – Tình huống hình thành nhân thân bao gồm: hệ thống các yếu tố, điều kiện, hoàn cảnh có ảnh hưởng đến người phạm tội, tác động đến sự hình thành đinh hướng nhân thân và phương hướng nguy hiểm cho xã hội.

    – Tình huống tiền tội phạm là tổng thể những hoàn cảnh trực tiếp trước tội phạm và liên quan đến những đặc điểm nhân thân của chủ thể thực hiện tội phạm.

    Sẽ xác định được nguyên nhân, điều kiện phạm tội.

    (Tham khảo: Những tình huống nạn nhân học liên quan đến xử sự của người phạm tội chia thành các loại như sau:

    – Những tình huống có tính chất thúc đẩy, khiêu khích một cách khách quan, đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm. Trong trường hợp hiện thực hóa thì chúng đóng vai trò là cái cớ để thực hiện tội phạm. Trong những trường hợp này xử sự của nạn nhân được kết thúc bởi sự tấn công, đe dọa, làm tổn thương, gây tức giận, lăng nhục…

    – Những tình huống có tính chất thúc đẩy, trong đó xử sự của nạn nhân mang tính tích cực. Ví dụ: nạn nhân không có hành động khiêu khích nhưng vẫn bị đe dọa sử dụng vũ lực từ người phạm tội.

    – Những tình huống mà xử sự của nạn nhân tạo điều kiện khách quan cho việc thực hiện tội phạm, mặc dù không tạo ra sự thúc đẩy.

    – Hoàn cảnh biệt lập, theo đó thì hành vi của nạn nhân gây ra thiệt hại cho chính mình mà không có sự can thiệp trực tiếp của người khác. Ví dụ: tự làm mình bị thương để trốn tránh nghĩa vụ quân sự,…

    – Những hoàn cảnh mà xử sự của nạn nhân hoàn toàn trung hòa theo quan điểm là tác động lên xử sự của người phạm tội và gây ra hậu quả. Ví dụ: Khuyên can đánh nhau nhưng lại chịu hậu quả là bị hành hung.)

    Câu 25. Nội dung những dấu hiệu định tính của tình hình tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    – Những dấu hiệu định tính chỉ ra cơ cấu và tính chất của hành vi.

    – Cơ cấu của tình hình tội phạm được đo bởi:

    + Số liệu về mối tương quan giữa tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng.

    + Số liệu về mối tương quan giữa tội phạm nghiêm trọng hơn và tội phạm phổ biến hơn hoặc tội phạm phổ biến hơn được xác định trong trong từng thời gian nhất định và từng giai đoạn nhất định.

    + Số liệu mối tương quan giũa tội phạm được thực hiện do cố ý và tội phạm thực hiện do vô ý.

    + Số liệu giữa tội phạm được thực hiện bởi người chưa thành niên với tổng số người thực hiện nói chung.

    + Số liệu về những tội phạm thực hiện dưới hình thức đồng phạm với hình thức đơn lẻ.

    + Số liệu về những người tái phạm với những người phạm tội khác.

    – Tính chất của tình hình tội phạm được phản ánh trong những đánh giá về chất như tính nguy hiểm cho xã hội, mực độ nghiêm trọng, mức độ tái phạm.

    Vai trò của những dấu hiệu định tính trong nghiên cứu tình hình tội phạm:

    – Những dấu hiệu định tính chỉ ra cơ cấu và tính chất của hành vi.

    – Vai trò: nhằm đánh giá chính xác về tính chất, mực độ nghiêm trọng cảu tình hình tội phạm , từ đó tìm ra biện pháp phòng ngừa tội phạm.

    Câu 26. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nạn nhân của tội phạm trong công tác phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm có những ý nghĩa như sau:

    – Giúp ngăn ngừa rủi ro và hạn chế các nguyên nhân thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm sẽ giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá các nguyên nhân từ phía nạn nhân làm phát sinh hành vi phạm tội. Từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục, hạn chế, loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát tội phạm trong xã hội.

    – Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm cho phép xác định phạm vi chính xác những người được coi là nạn nhân của tội phạm, từ đó có chính sách để phân loại nạn nhân và đưa ra biện pháp phòng ngừa phù hợp.

    Câu 27. Những đặc điểm cơ bản của nhân thân người phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm, những dấu hiệu quan trọng thể hiện rõ nhất bản chất xã hội của con người thực hiện hành vi phạm tội. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội cũng là biện pháp để bảo vệ quyền con người trong đó có người phạm tội. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội là nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm, nguyên nhân của tình hình tội phạm thuộc yếu tố về chủ thể người thực hiện hành vi phạm tội; nhân tố liên quan tới việc hình thành và thúc đẩy các phẩm chất tiêu cực của con người.

    * Nhóm đặc điềm sinh học

    – Dấu hiệu về giới tính: Thực tế cho thấy số lượng giữa nam giới và nữ giới phạm tội có khác nhau, nam giới thường phạm tội nhiều hơn so với nữ giới. Nghiên cứu các đặc điểm giới tính của người phạm tội là nam giới đã chỉ ra, nam giới dễ bị ảnh hưởng bởi các thói hư tật xấu, dễ bị tiêm nhiễm tệ nạn xã hội và dễ hình thành phẩm chất cá nhân tiêu cực, trạng thái tâm lý tiêu cực hơn so với nữ giới.

    – Dấu hiệu về độ tuổi: Độ tuổi ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong đặc điểm nhân thân người phạm tội. Dấu hiệu về độ tuổi của người phạm tội cho phép nói lên các đặc điểm xử sự trái xã hội của những người ở những độ tuổi khác nhau.

    * Nhóm đặc điểm về xã hội:

    – Dấu hiệu về nơi cư trú: Bản chất nơi cư trú đã chứa đựng các điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa đặc thù. Ở các địa phương cũng vậy, tỷ lệ tội phạm cao thường diễn ra ở những vùng có kinh tế phát triển, có nhiều nơi vui chơi, giải trí. Trong những năm gần đây, tội phạm ở nông thôn cũng không ngừng gia tăng cả về số hành vi phạm tội, số bị cáo và số vụ án. Tính chất các vụ án ngày càng phức tạp hơn, nguy hiểm hơn, các vụ án có đồng phạm cũng gia tăng không ngừng.

    – Dấu hiệu về trình độ học vấn: Trình độ học vấn cũng phản ánh sự phát triển lý trí và hình thành nhân cách, tạo cho con người còn có thể lựa chọn được cách ứng xử đúng với các chuẩn mực xã hội. Vì vậy, trình độ văn hóa của con người có ảnh hưởng đến hành vi phạm tội. Như vậy, rõ ràng trình độ văn hóa và hành vi phạm tội của chủ thể có mối quan hệ với nhau.

    – Dấu hiệu về nghề nghiệp: Nghề nghiệp của người phạm tội có vị trí quan trọng khi phân tích đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Đa số những người phạm tội là những người không có nghề nghiệp ổn định, không có địa vị trong xã hội; thuộc thành phần lười lao động, lười học tập, sống dựa dẫm vào người khác, mong muốn giàu có nhưng không có thực lực.

    Tỉ lệ đối tượng phạm tội là người không có nghề nghiệp, nghề nghiệp không ổn định chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu tội phạm cho thấy, tình trạng thất nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn định ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự địa phương.

    – Dấu hiệu về hoàn cảnh gia đình: Hoàn cảnh gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành những phẩm chất tâm lý tiêu cực của con người, dẫn đến họ sẽ có tính chống đối xã hội, và có những hành vi đi ngược với các chuẩn mực xã hội. Chính yếu tố gia đình trong đa số trường hợp đã kích thích tính tích cực của mỗi thành viên, đồng thời gia đình giữ vai trò kiểm sát, giám sát hành vi của những thành viên trong gia đình, hạn chế đến mức tối đa các hiện tượng tiêu cực phát sinh trong mỗi con người. Như vậy, tình trạng gia đình có ảnh hưởng đến những đặc điểm nhân thân của người phạm tội.

    * Nhóm đặc điểm tâm lí

    Mặt bên trong của nhân thân người phạm tội được thể hiện ở những quan điểm, quan niệm, thái độ đối với giá trị xã hội khác nhau như thái độ đối với nghĩa vụ công dân, đối với Tổ quốc, đối với lao động, đối với học tập, đối với tài sản, đối với gia đình, đổi với bạn bè, người thân, những người xung quanh và đối với chính bản thân. Gắn với mỗi loại hành vi phạm tội có thể có nhóm đặc điểm tâm lí nhất định. Nghiên cứu nhu cầu, sở thích và biện pháp đáp ứng nhu cầu của những người phạm tội cho thấy phần đông người phạm tội là do ngộ nhận, đề cao nhu cầu vật chất, có sở thích, thói quen xấu và cách thức đáp ứng nhu cầu bất hợp pháp kể cà việc phạm tội. Những người phạm tội thường có ý thức pháp luật kém, họ hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật, có thái độ tiêu cực đối với các chuẩn mực pháp luật.

    Câu 28. Có thể nói tình hình tội phạm là bước đầu tiên trong việc đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm không? Vì sao?

    Gợi ý đáp án:

    Tình hình tội phạm có xu hướng phức tạp và nghiêm trọng, phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi, liều lĩnh, vi phạm pháp luật còn xảy ra nhiều nếu không có biện pháp quyết liệt, để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cần xác định rõ trách nhiệm từng cấp từng ngành gắn với trách nhiệm người đứng đầu; phân tích tình hình trong và ngoài nước; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đổi mới giáo dục pháp luật; thường xuyên kiểm tra, khắc phục kịp thời sơ hở, bất cập, thiếu sót, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước về kinh tế xã hội, an ninh trật tự; chỉ đạo lực lượng chức năng đẩy mạnh trấn áp tội phạm, tăng cường các biện pháp phòng tránh tội phạm, vi phạm pháp luật…

    Đánh giá tình hình tội phạm cần phải xem xét các thiệt hại về nhiều mặt mà nó đã gây ra cho đời sống xã hội, phòng ngừa tội phạm luôn phải được coi trọng và ưu tiên trong các chương trình và kế hoạch quốc gia cũng như từng địa phương. Hiểu rõ được tình hình tội phạm sẽ giúp đề ra được các giải pháp phòng ngừa thiết thực và có hiệu quả nhất.

    Câu 29: Mối quan hệ giữa dấu hiệu định lượng và dấu hiệu định tính của tình hình tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Dấu hiệu định lượng của tình hình tội phạm được xác định bởi thực trạng và động thái.

    Thực trạng được tính bảo chỉ số tuyệt đối (mức độ) và chỉ số tương đối (hệ số) (xem sách một số vđ cơ bản về tội phạm học hiện đại trang 19 – 20).

    Động thái phản ánh sự thay đổi của tình hình tội phạm theo thời gian.

    Dấu hiệu định tính chỉ ra cơ cấu và tính chất của hành vi.

    Cơ cấu được đo bởi tỷ trọng riêng hoặc tỷ lệ của những nhóm và loại tội phạm khác nhau.

    Tính chất của tình hình tội phạm được phản ánh trong những đánh giá về chất như tính nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, mức độ tái phạm,…

    Dấu hiệu định lượng và dấu hiệu định tính của tình hình tội phạm có liên quan chặt chẽ với nhau, cùng hướng tới mở bức tranh thống nhất về tình hình tội phạm bởi khi xem xét nhưng dấu hiệu định lượng của tình hình tội phạm chúng ta ở chừng mực nào đó có đề cập đến chỉ số định tính.

    Câu 30: Tái hòa nhập xã hội có được coi là biện pháp phòng ngừa tội phạm không? Vì sao?

    Gợi ý đáp án:

    Có. Vì:

    – Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp khác nhau của nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát nó trong xã hội.

    – Tái hòa nhập thường được đề cập đến các biện pháp tái hòa nhập xã hội được thiết kế đặc biệt để giúp người phạm tội được tha từ 1 cơ sở giam giữ và để giúp họ đối mặt với thách thức liên quan đến việc trở về cộng đồng. Hỗ trợ này bao gồm cả việc giải quyết những nhu cầu của người chưa thành niên và kiểm soát rủi ro người phạm tội có thể gây cho cộng đồng với nỗ lực ngăn cản họ tham gia vào hành vi phạm tội (phòng ngừa) hoặc làm giảm khả năng tái phạm của họ (phục hồi) .

    Cụ thể, chủ động trong tiếp nhận, quản lý, giáo dục, giúp đỡ người được mãn hạn tù trở về. Công an xã, thị trấn nắm các thông tin như: lịch sử bản thân, hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ xã hội, vấn đề lao động, việc làm của các đối tượng để có biện pháp giáo dục phù hợp. Trong thời gian các đối tượng chịu sự quản lý, giáo dục tại địa phương, công an và các ban, ngành, đoàn thể bằng tình thương và trách nhiệm đã thường xuyên gặp gỡ, giáo dục, động viên, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của họ để có kế hoạch giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ tiến bộ. Thông qua hoạt động của các tổ an ninh xã hội tại khu dân cư đã huy động sự chung tay của quần chúng nhân dân xây dựng nguồn qũy, giúp đỡ nhiều đối tượng trên địa bàn được vay vốn, tạo việc làm, ổn định cuộc sống và không tái phạm tội.

    Trong đó công tác quản lý, giáo dục người được tha tù tái hòa nhập cộng đồng vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp quan trọng trong công tác phòng ngừa tội phạm, giúp đỡ người có quá khứ lầm lỗi vươn lên hòa nhập cộng đồng.

    Câu 31: Ý nghĩa của việc nghiên cứu phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    Phòng ngừa tội phạm là mục tiêu cuối cùng của tội phạm học. Phòng ngừa tội phạm là toàn bộ những hoạt động nhằm khắc phục, loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm và các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, xử lý các tội phạm đã và đang xảy ra. Việc nghiên cứu phòng ngừa tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc tổng hợp các biện pháp khác nhau, bao gồm cả biện pháp nhà nước, xã hội với mục đích là khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát nó trong xã hội.

    Câu 32: Ý nghĩa tái hòa nhập xã hội với người phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Tái hòa nhập xã hội: thường được dùng để chỉ các biện pháp hội nhập xã hội được lập ra để giúp người phạm tội được tha từ một cơ sở như nhà tù, nơi tạm giam hay trường giáo dưỡng, giúp họ đối mặt với những thách thức liên quan tới việc trở về với cộng đồng. Sự hỗ trợ này bao gồm cả việc giải quyết những nhu cầu của người phạm tội và nắm bắt được sự nguy hiểm mà họ có thể gây ra cho cộng đồng.

    Ý nghĩa: Tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội là vấn đề mang ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý, nhân đạo sâu sắc.

    – Tại thời điểm được tha từ một cơ sở giáo dục, người phạm tội thường gặp phải những thách thức mà họ không được trang bị tốt để có thể tự đối mặt, những chương trình giáo dục đặc biệt có ý nghĩa quan trọng để chuẩn bị cho người phạm tội hòa nhập với cộng đồng.

    – Đồng thời tái hòa nhập xã hội đối với người phạm tội còn ngăn cản họ tham gia vào hành vi phạm tội (phòng ngừa) hoặc làm giảm khả năng tái phạm của họ (phục hồi).

    Câu số 33. Khái niệm, đặc điểm nạn nhân của tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền lợi ích hợp pháp khác.

    Đặc điểm:

    – Nạn nhân có thể là những thể nhân hay pháp nhân hay toàn xã hội, nhà nước và cả trật tự quốc tế.

    – Nạn nhân là thể nhân trực tiếp chịu sự xâm hại của tội phạm về thể chất, tinh thần hay vật chất.

    Câu số 34. Phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp khác nhau của nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn và kiểm soát nó trong xã hội.

    * Phân loại theo nội dung (lĩnh vực đời sống xã hội)

    Theo căn cứ này được chia thành:

    – Biện pháp kinh tế;

    – Biện pháp chính trị – Tư tưởng,;

    – Biện pháp xã hội – văn hóa – giáo dục;

    – Biện pháp tổ chức – quản lý;

    – Biện pháp pháp luật…

    * Phân loại theo phạm vi tác động (lãnh thổ và đối tượng)

    – Các biện pháp mang tính quốc gia;

    – Các biện pháp áp dụng đối với một số loại đối tượng hoặc một số địa bàn;

    – Các biện pháp áp dụng đối với các đối tượng cá biệt.

    * Phân loại theo mục tiêu phòng ngừa (theo tính chất của tội phạm)

    – Phòng ngừa chung;

    – Phòng ngừa một loại tội;

    – Phòng ngừa tội phạm cụ thể.

    * Căn cứ vào tính chất và mục đích của hoạt động phòng ngừa

    – Phòng ngừa chung;

    – Phòng ngừa riêng.

    Câu số 35. Khái niệm tình hình tội phạm?

    Gợi ý đáp án:

    Khái niệm: Tình hình tội phạm được hiểu là một hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội, thường xuyên thay đổi, có tính giai cấp và pháp luật hình sự, được phản ánh qua các thông số về tình hình, cơ cấu, diễn biến của toàn bộ các loại hoặc của một loại tội phạm cùng các chủ thể thực hiện chúng đã xảy ra trong một khoảng thời gian và trong một phạm vi không gian nhất định.

    Đặc điểm: Câu số 01

    Câu số 36. Phương pháp phép ngoại suy trong dự báo tình hình tội phạm

    Gợi ý đáp án:

    Phép ngoại suy là sự phổ biến những kết luận thu nhận được khi nghiên cứu tình hình tội phạm cũng như những khuynh hướng của nó trong tương lai.

    Do đó, tình hình tội phạm và những hiện tượng có liên hệ với nó chứa đựng những chỉ số động thái và cơ cấu, phản ánh trong những đại lượng tuyệt đối và tương đối.

    Những kết luận của dự báo có thể khác về loại, nhóm tội phạm và những hoàn cảnh, nguyên nhân của chúng.

    Câu số 37. Các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học?

    Gợi ý đáp án:

    * Phương pháp thống kê hình sự

    Thống kê là một trong những công cụ quan trọng của việc nhận thức về xã hội, về quá trình, hiện tượng các mặt khác nhau của nó.

    Thống kê có ý nghĩa rất to lớn đối với việc nghiên cứu tình hình tội phạm và các biện pháp đấu tranh phòng chống hiện tượng đó.

    Các nghiên cứu thống kê được tiến hành qua ba giai đoạn cơ bản: Thu thập, tổng hợp và phân tích.

    * Phương pháp nghiên cứu tội phạm học chọn lọc

    Các điều tra chọn lọc cung cấp cho chúng ta thông tin bổ sung về những vấn đề của tội phạm học. Những thông tin không thể thu nhận được trong quá trình thống kê hình sự và lĩnh vực thống kê khác.

    Nhiệm vụ của các nghiên cứu chọn lọc là thu thập được thông tin bổ sung cho thông tin đã có trong phương pháp thống kê

    * Phương pháp xã hội học

    Khi tiến hành các nghiên cứu tội phạm học, người ta thường sử dụng các phương pháp xã hội học như: Phiếu điều tra (trưng cầu ý kiến), phỏng vấn, quan sát, thực nghiệm, nghiên cứu các vụ án hình sự và các tài liệu khác, phương pháp đánh giá giám định.

    Đặc điểm của việc thực hiện đòi hòi về tính xác thực của thông tin bổ sung thu nhận được bằng các phương pháp xã hội học thể hiện ở chỗ là phần lớn của thông tin đó mang tính chất đánh giá, chủ quan khác với thông tin có trong các báo cáo thống kê – Tính toán các sự kiện khách quan (tội phạm và những vấn đề khác).

    Câu 38: Ý nghĩa tội phạm học của việc làm sáng tỏ mối liên hệ giữa người phạm tội và nạn nhân?

    Gợi ý đáp án:

    – Xác định được nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, qua đó đưa ra các chủ trương, chính sách, các biện pháp phòng ngừa phù hợp, giúp hạn chế hoặc loại bỏ những nguyên nhân và điều kiện đó, loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

    – Xác định được cơ chế hành vi phạm tội để đưa ra biện pháp, chiến thuật và chiến lược trong phòng ngừa tội phạm.

    Câu 39: Phân tích sự tác động của môi trường bên ngoài đến việc hình thành các đặc điểm của nhân thân người phạm tội?

    Gợi ý đáp án:

    * Nghề nghiệp

    Khi nghiên cứu về nghề nghiệp, tội phạm học nhận thấy những người không có việc làm ổn định thường có tỷ lệ phạm tội cao hơn so với người có việc làm ổn định. tội phạm cũng có sự liên quan chặt chẽ đến ngành nghề mà người phạm tội đang đảm nhiệm (Ngành hải quan thì phổ biến tội phạm buôn lậu, hối lộ; ngành kiểm lâm thì phổ biến tội phạm phá rừng…)

    * Hoàn cảnh gia đình

    Khi nghiên cứu về hoàn cảnh gia đình, tội phạm học nhận thấy tội phạm có mối liên hệ đến những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, những gia đình có hoàn cảnh hôn nhân bất hạnh hay điều kiện quản lý buông lỏng

    Gia đình đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người, tác động trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách.

    * Nơi cư trú

    Khi nghiên cứu về nơi cư trú, tội phạm học nhận thấy tình hình tội phạm thường tập trung ở những thành phố lớn, những địa bàn có tốc độ phát triển kinh tế xã hội, tốc độ đô thị hóa, tốc độ dịch chuyển cơ cấu xã hội ở mức cao. Đặc biệt tội phạm cũng thường phát sinh ở những địa bàn có sự giáp ranh về địa giới hành chính, có sự Quảng Ninh – Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh,

    Câu 40: Mối liên hệ của các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án với các chủ thể khác trong phòng ngừa tội phạm được thể hiện như thế nào?

    Gợi ý đáp án:

    Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    Cùng với đó, cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người thực hiện hành vi phạm tội.

    Điều luật trên cũng quy định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan nhà nước về việc không thông báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.

    Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm

    Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.

    Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố vụ án hình sự.

    Điều luật cũng quy định rõ: Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.

    Mời bạn xem thêm:

  • Tìm hiểu môn học Tâm lý học tư pháp

    Tìm hiểu môn học Tâm lý học tư pháp

    Tâm lý học tư pháp là một môn học chuyên sâu về các hiện tượng, quy luật và đặc điểm tâm lý của những người tham gia vào hoạt động tố tụng và tư pháp. Việc nghiên cứu môn học này giúp nâng cao hiệu quả điều tra, xét xử, giáo dục và cải tạo người phạm tội, góp phần đảm bảo công lý và công bằng xã hội. Nếu bạn đang muốn tìm hiểu môn học Tâm lý học tư pháp, bài viết này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn tổng quan và chi tiết nhất!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng ôn tập môn học Tâm lý học tư pháp: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-tam-ly-hoc-tu-phap?ref=lnpc

    Tìm hiểu môn học Tâm lý học tư pháp

    Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học tư pháp

    Tâm lý học tư pháp tập trung nghiên cứu tâm lý con người trong bối cảnh hoạt động tư pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Mục tiêu chính là tìm hiểu các vấn đề tâm lý nảy sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng như trong công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội.

    1. Cấu trúc tâm lý của hoạt động tư pháp

    Hoạt động tư pháp bao gồm một hệ thống các quá trình tâm lý có liên kết chặt chẽ với nhau, hướng đến mục tiêu chung của tố tụng hình sự. Các hoạt động này diễn ra xuyên suốt quá trình điều tra, xét xử, thi hành án, giáo dục và cải tạo người phạm tội.

    Ví dụ về một số hoạt động tâm lý trong tư pháp:

    • Nhận thức: Khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, cán bộ điều tra ngay lập tức đến hiện trường để thu thập thông tin, lời khai ban đầu, kiểm tra dấu hiệu tội phạm.
    • Giao tiếp & tổ chức: Trong quá trình lấy lời khai, cán bộ điều tra cần có phương pháp đặt câu hỏi hợp lý, tạo môi trường phù hợp để đối tượng khai báo trung thực.
    • Tâm lý trong xử lý vụ án: Xác định vị trí, vai trò của từng hoạt động tâm lý ở mỗi giai đoạn tố tụng giúp tối ưu hóa quá trình điều tra và xét xử.

    2. Các hiện tượng, đặc điểm và quy luật tâm lý của các chủ thể trong hoạt động tư pháp

    Tâm lý học tư pháp nghiên cứu các đặc điểm và quy luật tâm lý của hai nhóm chủ thể chính trong quá trình tố tụng hình sự:

    • Nhóm người tiến hành tố tụng (cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán…): Tâm lý của họ có thể bị ảnh hưởng bởi áp lực công việc, yêu cầu về thời hạn tố tụng, thi đua thành tích, dẫn đến các xu hướng tâm lý như căng thẳng, dồn ép bị can trong quá trình điều tra.
    • Nhóm người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người làm chứng…): Tâm lý của họ chịu tác động từ hoàn cảnh pháp lý, môi trường điều tra, áp lực tâm lý cá nhân. Ví dụ, bị can có thể lo lắng, thăm dò thái độ của điều tra viên do vị thế đối lập trong tố tụng (buộc tội – gỡ tội).

    Việc phân tích các yếu tố tâm lý giúp lý giải nguyên nhân dẫn đến các biểu hiện tâm lý của từng chủ thể, từ đó tìm cách kiểm soát và điều chỉnh để đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra đúng đắn, hạn chế các tác động tiêu cực.

    3. Ảnh hưởng tâm lý và các phương pháp tác động trong hoạt động tư pháp

    Một số phương pháp tác động tâm lý được sử dụng nhằm nhận thức sự thật khách quan của vụ án và hỗ trợ giải quyết vụ án chính xác hơn:

    • Giảm thiểu tâm lý tiêu cực: Ví dụ, nếu người làm chứng sợ bị trả thù và không dám khai báo, cần có biện pháp bảo vệ, trấn an tâm lý họ để họ hợp tác.
    • Xây dựng môi trường lấy lời khai phù hợp: Khi mới vào lấy lời khai, bị can có thể hồi hộp, căng thẳng, do đó cán bộ điều tra cần tạo không gian thoải mái, động viên họ để có được lời khai khách quan.
    • Tăng cường hợp tác của đương sự: Động viên, khích lệ bằng vật chất, tinh thần hoặc cam kết bảo vệ có thể giúp các đối tượng liên quan hợp tác hiệu quả hơn trong quá trình điều tra.

    4. Khái niệm Tâm lý học tư pháp

    Từ ba nội dung trên, có thể định nghĩa:

    Tâm lý học tư pháp là ngành khoa học nghiên cứu cấu trúc tâm lý của hoạt động tư pháp, các hiện tượng, đặc điểm và quy luật tâm lý của các chủ thể tham gia vào hoạt động tư pháp, cũng như các phương pháp tác động tâm lý nhằm nhận thức sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ án và hỗ trợ công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội.

    Tìm hiểu môn học Tâm lý học tư pháp
    Tìm hiểu môn học Tâm lý học tư pháp

    Nhiệm vụ của Tâm lý học tư pháp

    Tâm lý học tư pháp có nhiệm vụ nghiên cứu các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hoạt động tư pháp, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả điều tra, xét xử và giáo dục, cải tạo người phạm tội. Nhiệm vụ của môn học này được chia thành nhiệm vụ chungnhiệm vụ cụ thể.

    1. Nhiệm vụ chung

    Nhiệm vụ chung của Tâm lý học tư pháp mang tính tổng quát, bao trùm mọi giai đoạn của hoạt động tố tụng, bao gồm:

    • Nghiên cứu đặc điểm tâm lý chung của hoạt động tư pháp: Xác định cấu trúc tâm lý trong hoạt động tố tụng, bao gồm các yếu tố, thành phần tâm lý tác động đến quá trình điều tra, xét xử và thi hành án.
    • Nghiên cứu nhân cách trong tư pháp: Tìm hiểu đặc điểm tâm lý của những người tham gia tố tụng, bao gồm người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán…) và người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, nhân chứng…).
    • Làm rõ quy luật hình thành và phát triển tâm lý tiêu cực ở người phạm tội: Phân tích các yếu tố tác động đến tâm lý tội phạm, mối liên hệ giữa hoàn cảnh sống, thói quen và hành vi phạm tội.
    • Xây dựng quy trình và nguyên tắc tác động tâm lý trong hoạt động tư pháp: Đề xuất các phương pháp tác động tâm lý phù hợp để đảm bảo tính khách quan, hiệu quả trong điều tra, xét xử và cải tạo người phạm tội.

    2. Nhiệm vụ cụ thể

    Nhiệm vụ cụ thể của Tâm lý học tư pháp được triển khai theo từng giai đoạn tố tụng và các biện pháp nghiệp vụ, là sự cụ thể hóa của các nhiệm vụ chung, bao gồm:

    • Trong giai đoạn điều tra: Nghiên cứu tâm lý của bị can, nhân chứng để áp dụng các phương pháp lấy lời khai hiệu quả.
    • Trong giai đoạn xét xử: Phân tích tâm lý của các bên tham gia tố tụng để thẩm phán, luật sư có chiến lược tranh tụng phù hợp.
    • Trong giai đoạn thi hành án và cải tạo phạm nhân: Nghiên cứu tâm lý người phạm tội để áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo phù hợp, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng.

    Việc nghiên cứu các nhiệm vụ của Tâm lý học tư pháp không chỉ giúp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp mà còn góp phần đảm bảo công bằng, minh bạch trong xét xử và thi hành án.

    Mục đích, ý nghĩa của Tâm lý học tư pháp

    a) Mục đích của Tâm lý học tư pháp

    Tâm lý học tư pháp có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng và giáo dục người phạm tội. Mục đích chính của môn học này bao gồm:

    • Cung cấp tri thức về tâm lý các chủ thể trong hoạt động tư pháp: Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của người tiến hành tố tụng (cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán…) và người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, nhân chứng…) nhằm nâng cao hiệu quả trong điều tra, xét xử và thi hành án.
    • Góp phần xây dựng và áp dụng các biện pháp giáo dục, cảm hóa người phạm tội: Dựa trên hiểu biết về tâm lý tội phạm, đề xuất các phương pháp giáo dục, cải tạo phù hợp, giúp người phạm tội nhận thức sai lầm, sửa đổi hành vi và tái hòa nhập cộng đồng.
    • Hỗ trợ công tác phòng ngừa tội phạm: Đưa ra các biện pháp tác động tâm lý tích cực nhằm hạn chế các biểu hiện tiêu cực, giảm nguy cơ tái phạm và góp phần xây dựng xã hội an toàn hơn.

    b) Ý nghĩa của Tâm lý học tư pháp

    Tâm lý học tư pháp có ý nghĩa thiết thực trong cả lý luận và thực tiễn hoạt động tư pháp:

    • Nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp: Việc hiểu rõ tâm lý của các chủ thể tham gia tố tụng giúp cơ quan tư pháp áp dụng phương pháp làm việc hiệu quả, đảm bảo tính khách quan, chính xác trong quá trình điều tra và xét xử.
    • Hỗ trợ công tác điều tra và xét xử: Cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng phương pháp phù hợp khi lấy lời khai, thẩm vấn, tranh tụng, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội: Việc áp dụng các biện pháp tâm lý phù hợp giúp cải thiện nhận thức của người phạm tội, hỗ trợ quá trình phục hồi nhân cách và giảm tỷ lệ tái phạm.
    • Góp phần đảm bảo công bằng và nhân văn trong tư pháp: Việc ứng dụng tâm lý học vào hoạt động tư pháp giúp các cơ quan thực thi pháp luật có cái nhìn toàn diện hơn về hành vi phạm tội, từ đó đưa ra những biện pháp xử lý không chỉ dựa trên pháp lý mà còn mang tính nhân văn, hướng đến mục tiêu cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng.

    Tóm lại, Tâm lý học tư pháp không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tố tụng mà còn góp phần đảm bảo công bằng xã hội, hướng đến một nền tư pháp minh bạch, nhân văn và hiệu quả.

    Mời bạn xem thêm:

  • Câu hỏi tự luận môn tâm lý học tư pháp

    Câu hỏi tự luận môn tâm lý học tư pháp

    Bạn đang tìm kiếm câu hỏi tự luận môn Tâm lý học tư pháp để ôn tập và nâng cao kiến thức? Đây là môn học quan trọng giúp hiểu rõ các yếu tố tâm lý trong hoạt động tố tụng, điều tra, xét xử và cải tạo người phạm tội. Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn danh sách các câu hỏi tự luận quan trọng, giúp bạn chuẩn bị tốt nhất cho bài thi và nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng ôn tập môn học Tâm lý học tư pháp: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-tam-ly-hoc-tu-phap?ref=lnpc

    Câu hỏi tự luận môn tâm lý học tư pháp

    1. Hoạt động nhận thức, thiết kế và giáo dục trong quá trình cải tạo

    1. Đặc điểm của các hoạt động trong quá trình cải tạo

    a) Hoạt động nhận thức

    Hoạt động nhận thức trong quá trình cải tạo tập trung vào việc làm rõ những sai lệch về nhân cách dẫn đến hành vi phạm tội, nhằm hỗ trợ công tác giáo dục và cải tạo phạm nhân.

    • Nhận thức được thực hiện thông qua nghiên cứu hồ sơ phạm nhân kết hợp với quá trình tiếp xúc trực tiếp khi họ nhập trại.
    • Cán bộ quản giáo phải phân tích, đánh giá các đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu, hứng thú của phạm nhân để áp dụng các biện pháp giáo dục phù hợp.
    • Quá trình nhận thức diễn ra liên tục trong suốt thời gian phạm nhân chấp hành án, giúp theo dõi sự chuyển biến và điều chỉnh kế hoạch cải tạo một cách hợp lý.

    b) Hoạt động thiết kế

    Hoạt động thiết kế đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch cải tạo phạm nhân, dựa trên các điều kiện thực tế và đặc điểm nhân thân của từng cá nhân.

    • Cán bộ quản giáo chịu trách nhiệm thiết kế các chương trình cải tạo phù hợp với từng phạm nhân.
    • Kế hoạch cải tạo mang tính tập thể, là kết quả của sự phối hợp giữa cán bộ quản giáo và phạm nhân, tạo điều kiện phát huy vai trò của tập thể trong việc rèn luyện ý thức và trách nhiệm.
    • Các công cụ hỗ trợ như nhật ký quản giáo, phiếu đánh giá, ghi chép theo dõi từng phạm nhân được sử dụng để điều chỉnh kế hoạch cải tạo một cách hiệu quả.

    c) Hoạt động giáo dục

    Hoạt động giáo dục là yếu tố cốt lõi trong quá trình cải tạo phạm nhân, với mục tiêu giúp họ thay đổi nhận thức và phát triển các kỹ năng cần thiết để tái hòa nhập cộng đồng.

    • Chủ thể giáo dục chủ yếu là cán bộ quản giáo, với đối tượng là phạm nhân.
    • Nội dung giáo dục bao gồm các kiến thức về pháp luật, đạo đức, nhân cách, kỹ năng lao động và định hướng nghề nghiệp.
    • Quá trình giáo dục có tính hệ thống, bài bản, sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như giảng dạy trực tiếp, phim ảnh, tư liệu thực tế, lao động sản xuất và các hoạt động giải trí.
    • Giáo dục trong cải tạo có tính cưỡng chế, không mang tính công khai như trong giai đoạn xét xử, thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa chủ thể giáo dục và phạm nhân.

    Hoạt động quan trọng nhất trong giai đoạn cải tạo

    Trong ba hoạt động trên, hoạt động giáo dục có vai trò quan trọng nhất vì:

    • Đây là hoạt động giúp phạm nhân thay đổi nhận thức, hành vi theo hướng tích cực.
    • Giáo dục hình thành thói quen, kỹ năng lao động, giúp phạm nhân phát triển nhân cách và sẵn sàng tái hòa nhập cộng đồng.
    • Hoạt động giáo dục có tác động lâu dài, giúp phạm nhân cải thiện bản thân và giảm nguy cơ tái phạm.

    2. Sự khác nhau về hoạt động nhận thức giữa các giai đoạn điều tra, xét xử và cải tạo

    a) Hoạt động nhận thức trong giai đoạn điều tra và xét xử

    • Hoạt động nhận thức trong điều tra chủ yếu tập trung vào việc thu thập chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án.
    • Trong giai đoạn xét xử, nhận thức của thẩm phán, kiểm sát viên hướng đến việc đánh giá, phân tích chứng cứ, đảm bảo tính khách quan và hợp pháp của bản án.

    b) Hoạt động nhận thức trong giai đoạn cải tạo

    • Chủ thể nhận thức: Cán bộ quản giáo.
    • Mục đích: Ổn định tâm lý phạm nhân, hỗ trợ quá trình cải tạo và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng.
    • Đặc điểm:
      • Tập trung vào nghiên cứu các yếu tố nhân thân như nhu cầu, tâm lý, hoàn cảnh phạm tội, mối quan hệ xã hội…
      • Nhận thức diễn ra liên tục trong suốt quá trình phạm nhân chấp hành án.
      • Dữ liệu thu thập được sử dụng để điều chỉnh phương pháp giáo dục và cải tạo.

    3. Sự khác nhau về hoạt động giáo dục giữa các giai đoạn điều tra, xét xử và cải tạo

    a) Hoạt động giáo dục trong giai đoạn điều tra và xét xử

    • Trong điều tra, hoạt động giáo dục chủ yếu mang tính thuyết phục, định hướng nhằm thu thập thông tin chính xác.
    • Trong xét xử, việc giáo dục tập trung vào phổ biến pháp luật, giúp các bên nhận thức đúng về quyền và nghĩa vụ của mình.

    b) Hoạt động giáo dục trong giai đoạn cải tạo

    • Chủ thể giáo dục: Cán bộ quản giáo.
    • Đối tượng: Người phạm tội.
    • Mục đích: Giúp phạm nhân thay đổi nhận thức, rèn luyện nhân cách, phát triển kỹ năng lao động và chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng.
    • Đặc điểm:
      • Tính hệ thống, bài bản: Chương trình giáo dục được thiết kế chặt chẽ, đảm bảo phạm nhân tiếp thu hiệu quả.
      • Mang tính cưỡng chế: Phạm nhân phải tuân theo kế hoạch giáo dục của trại giam.
      • Phương tiện giáo dục đa dạng: Sử dụng tài liệu, hình ảnh, phim ảnh, thực hành lao động… để giúp phạm nhân tiếp thu tốt hơn.
      • Thời gian tác động lâu dài: Hoạt động giáo dục diễn ra xuyên suốt quá trình chấp hành án.

    c) Nội dung giáo dục trong giai đoạn cải tạo

    • Giáo dục về pháp luật: Giúp phạm nhân hiểu rõ quy định của Nhà nước, ý thức được hành vi sai trái của mình.
    • Giáo dục nhân cách: Hướng dẫn phạm nhân điều chỉnh hành vi, suy nghĩ theo hướng tích cực.
    • Giáo dục kỹ năng lao động: Đào tạo nghề nghiệp, hình thành thói quen lao động để chuẩn bị tái hòa nhập xã hội.
    • Chuẩn bị tâm lý tái hòa nhập cộng đồng: Giúp phạm nhân sẵn sàng đối mặt với cuộc sống sau khi mãn hạn tù.

    4. Đặc điểm tâm lý của phạm nhân và tập thể phạm nhân – Ý nghĩa

    1. Đặc điểm tâm lý của phạm nhân

    Tâm lý của phạm nhân trong quá trình cải tạo chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, từ hoàn cảnh phạm tội, mức án phải chịu đến môi trường trong trại giam. Một số đặc điểm tâm lý phổ biến gồm:

    • Tâm lý tiêu cực: Chán chường, buồn bã, bất cần, phó mặc số phận cho cán bộ quản giáo. Nhiều phạm nhân lo lắng về các biện pháp cải tạo, sợ hãi trước tương lai và mặc cảm với xã hội, gia đình, nên có xu hướng tránh giao tiếp.
    • Tâm lý thích nghi:
      • Những phạm nhân thực sự hối hận thường có thái độ tích cực, nhanh chóng thích nghi với môi trường cải tạo, chấp hành tốt nội quy để sớm trở về với gia đình.
      • Những phạm nhân cho rằng mình bị oan hoặc mức án quá nặng thường thờ ơ, đối phó với các hoạt động cải tạo, thậm chí có hành vi phản kháng hoặc tìm cách trốn trại.
      • Những phạm nhân tái phạm nguy hiểm hoặc phạm tội có tổ chức thường có tâm lý lạnh lùng, giả tạo chấp hành nội quy nhưng luôn tìm kiếm cơ hội chống đối hoặc vượt ngục.

    Ngoài ra, tâm lý của phạm nhân thay đổi theo từng giai đoạn trong quá trình chấp hành án:

    • Giai đoạn đầu: Khi mới nhập trại, phạm nhân thường buồn bã, chán nản, bi quan và dễ kích động do sự thay đổi môi trường đột ngột.
    • Giai đoạn thích nghi: Phạm nhân dần chấp nhận hoàn cảnh, hình thành các nhu cầu, hứng thú lành mạnh phù hợp với môi trường giam giữ.
    • Giai đoạn cải tạo tích cực: Phần lớn phạm nhân nhận thức được hậu quả hành vi phạm tội, quyết tâm cải tạo tốt để hưởng chính sách khoan hồng.
    • Giai đoạn trước khi trả tự do: Phạm nhân vừa hào hứng khi sắp được tự do vừa lo lắng về khả năng tái hòa nhập cộng đồng, dẫn đến tâm lý bất ổn, dễ cáu gắt.

    2. Đặc điểm tâm lý của tập thể phạm nhân

    • Xung đột tâm lý thường xuyên: Tập thể phạm nhân bao gồm nhiều cá nhân có nhân cách lệch lạc, dễ phát sinh mâu thuẫn và va chạm.
    • Sự hình thành nhóm tiêu cực: Một số phạm nhân liên kết với nhau để thỏa mãn nhu cầu tiêu cực, hình thành các nhóm nhỏ có nguy cơ gây mất trật tự trong trại.
    • Hiện tượng lây lan tâm lý: Tâm lý của một phạm nhân có thể tác động đến cả tập thể, ví dụ như thái độ chống đối hoặc lo lắng về tương lai có thể lan truyền nhanh chóng.

    3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý phạm nhân

    • Hỗ trợ cán bộ quản giáo trong việc áp dụng các phương pháp giáo dục, cải tạo phù hợp.
    • Phát hiện và xử lý kịp thời các xung đột tâm lý trong tập thể phạm nhân, hạn chế sự hình thành các nhóm tiêu cực.
    • Đề ra các biện pháp quản lý hiệu quả, giúp phạm nhân cải tạo tốt và tái hòa nhập cộng đồng dễ dàng hơn.

    5. Đặc điểm tâm lý và nhược điểm tâm lý của cán bộ quản giáo trong cải tạo phạm nhân

    1. Đặc điểm tâm lý của cán bộ quản giáo

    Cán bộ quản giáo đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, cải tạo phạm nhân. Để thực hiện tốt nhiệm vụ, họ cần có những đặc điểm tâm lý sau:

    • Tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề, tận tâm với công việc.
    • Niềm tin vào hiệu quả của công tác cải tạo, dù đối diện với nhiều khó khăn, thách thức.
    • Kiến thức chuyên môn sâu, trình độ văn hóa tốt, có khả năng giao tiếp, thuyết phục và quản lý con người hiệu quả.
    • Lòng nhân ái, kiên nhẫn và sự kiên trì trong quá trình giáo dục phạm nhân.
    • Khả năng tổ chức, lập kế hoạch cải tạo hợp lý, đảm bảo hiệu quả tối ưu.

    2. Những nhược điểm tâm lý cần khắc phục

    • Định kiến với phạm nhân: Một số cán bộ có xu hướng xem phạm nhân (đặc biệt là tội phạm nguy hiểm, tái phạm) là những người không thể cải tạo, dẫn đến thái độ tiêu cực trong công tác giáo dục.
    • Thiếu sự tôn trọng đối với phạm nhân: Dễ nổi nóng, quát mắng, hoặc sử dụng biện pháp cưỡng chế thay vì khuyến khích, động viên.
    • Dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực công việc: Công tác quản lý phạm nhân nhiều áp lực có thể dẫn đến căng thẳng, ảnh hưởng đến thái độ và cách ứng xử.

    3. Giải pháp khắc phục

    • Nâng cao nhận thức về vai trò giáo dục, cải tạo phạm nhân, tránh định kiến tiêu cực.
    • Tăng cường đào tạo kỹ năng quản lý, giao tiếp, tâm lý để ứng phó với các tình huống trong quá trình cải tạo.
    • Chú trọng đến yếu tố tâm lý của bản thân, giữ thái độ khách quan, công bằng trong công tác giáo dục.

    6. Những đặc điểm tâm lý của hoạt động bào chữa?

    * Gồm có:

    – Đặc điểm tâm lý của hoạt động nhận thức  trong bào chữa:

    + Chủ thể của hoạt động bào chữa là bị can, bị cáo, luật sư, người bị tạm giữ nhưng chủ yếu là luật sư.

    + Tính chất của nhận thức là độc lập so với các cơ quan tiến hành tố tụng.

    + Chịu sự chi phối bởi chức năng bào chữa nên người bào chữa (BC) thường quan tâm hơn đến việc nhận thức các chứng cứ gỡ tội – tính chất một chiều trong nhận thức, vì vậy người bào chữa dễ bị rơi vào tình trạng thiếu khách quan trong vụ án dẫn đến lời bào chữa sẽ kém thuyết phục và không hiệu quả.

    + Chịu sự chi phối bởi quyền lợi của thân chủ và những trở ngại, rào cản trong tiếp cận với hồ sơ, tài liệu của vụ án cũng như trong việc tự thu thập, tìm kiếm chứng cứ phục vụ cho hoạt động bào chữa.

    + Phạm vi nhận thức rộng, đòi hỏi người bào chữa phải tiến hành nhận thức và tìm kiếm những chứng cứ, tài liệu còn chưa được phản ánh trong hồ sơ vụ án để kiến nghị cơ quan tố tụng xử lý, không bỏ sót nhằm giải quyết thỏa đáng vấn đề quyền lợi hợp pháp, chính đáng của thân chủ.

    – Thiết kế trong bào chữa:

    + TK trong hoạt động bào chữa là tổng hợp các thao tác tư duy về kế hoạt hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người bị buộc tội mà mình có trách nhiệm buộc tội.

    + Mục đích: tạo điều kiện kế hoạch hóa hoạt động bào chữa.

    + Hoạt động thiết kế bao trùm các giai đoạn tố tụng hình sự nhưng ở giai đoạn xét xử hoạt động thiết kế rất quan trọng vì đây là giai đoạn tập trung cao nhất cho sự chuẩn bị của người bào chữa và cũng có tính chất hiện thực nhất về khả năng bảo vệ cho thân chủ của người bào chữa.

    – Giáo dục trong bào chữa: mang tính chất giáo dục nhất định đối với người bị buộc tội cũng như cộng đồng

    + Đ/v thân chủ: khéo léo phân tích cho thân chủ thấy điểm sai của họ để gợi cho họ thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, chấp nhận một mức độ trách nhiệm nhất định về việc làm của mình.

    + Đ/v cộng đồng: khi xin giảm nhẹ cho người phạm tội hoặc chứng minh người phạm tội bị oan sai người bào chữa đã đưa đến những thông tin mang tính giáo dục cho cộng đồng, củng cố lòng tin của người dân vào công lý và sự công bằng của pháp luật.

    – Giao tiếp, tổ chức và chứng nhận trong hoạt động bào chữa:

    + Hoạt động giao tiếp: Mục đích là thiết lập tâm lý tin cậy lẫn nhau để tìm kiếm những khả năng pháp lý và thực tế để giúp đỡ cho thân chủ. Đặc điểm: mang tính quan hệ đa chiều và tính đồng thuận cao.

    + Hoạt động tổ chức: được thực hiện bởi chính cá nhân người bào chữa, thể hiện ở việc chuẩn bị những phương tiện, điều kiện về vật chất, tâm lý để đạt hiệu quả cao trong các giai đoạn tố tụng. Người bào chữa phải chuẩn bị chu đáo tâm lý, sự thống nhất về xử sự cho thân chủ để đảm bảo hiệu quả tốt nhất của hoạt động bào chữa.

    – Hoạt động chứng nhận: thể hiện ở việc chủ thể chính (người bào chữa) ký xác nhận vào các lọai biên bản, giấy tờ ghi nhận sự có mặt của mình trong một số hoạt động tố tụng. Tạo ra tính hợp pháp đối với vai trò, vị trí tố tụng của người bào chữa thông quá sự công nhận về tư cách tố tụng của người bào chữa từ phía cơ quan tố tụng cũng như từ phiá người bị buộc tội.

    7. Yếu tố nào đã tạo ra tính chất xung đột của hoạt động bào chữa và nó thể hiện như thế nào?

    * Thân chủ:

    – Quan hệ tâm lý giữa người bào chữa và thân chủ được thực hiện trong một điều kiện không bình thường (Thân chủ e dè, thăm dò, không dám nói hết sự thật, chưa muốn chia sẻ hết  với người bào chữa nhưng lại chờ đợi sự ủng hộ tuyệt đối từ phía người bào chữa…)

    * Người bào chữa:

    – Có đánh giá cá nhân mang tính phán xét đối với hành vi phạm tội của người phạm tôi.

    – Có thể có những đánh giá chủ quan ban đầu khi tiếp xúc với những bằng chứng, sự kiện liên quan đến vụ án.

    – Có những nhận xét mang tính phiến diện, quy kết không có cơ sở khiến người bị buộc tội thất vọng.

    – Ỷ lại vào kiến thức cá nhân, kinh nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp.

    * Các chủ thể khác trong tố tụng hình sự:

    – Điều tra viên: Có tâm lý lo ngại khi biết có sự tham dự của người bào chữa; sự khác biệt về chức năng tố tụng của hai bên.

    – Kiểm sát viên: mối quan hệ có tính chất đặc biệt vì mang tính tố tụng đối trọng nhau, đây cũng là nhân tố cản ngại sự thiết lập quan hệ giao tiếp giữa các bên với nhau và là rào cản cho việc thiết lập tâm lý giao tiếp tâm lý giữa họ dễ dẫn đến những tâm lý tiêu cực ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.

    – Với Thẩm phán và HTND: luôn coi người bào chữa là khai thác thông tin một chiều, thiên về chiều hướng gỡ tội cho thân chủ nên không mang tính khách quan; một vài người trong HĐXX cho rằng người bào chữa chỉ đưa ra lý lẽ để gở tội cho thân chủ mà không có trách nhiệm pháp lý về những đề xuất của mình trong khi HĐXX phải chịu trách nhiệm pháp lý về quyết định của mình. Nếu bào chữa thắng, người bào chữa được hưởng toàn bộ danh lợi, còn HĐXX thì không.

    Câu hỏi tự luận môn tâm lý học tư pháp
    Câu hỏi tự luận môn tâm lý học tư pháp

    8. Người bào chữa có thể giúp gì cho thân chủ trong việc vượt qua những trạng thái tâm lý tiêu cực và bằng cách nào?

    * Người bào chữa có thể giúp cho thân chủ vượt qua được những trạng thái tâm lý tiêu cực bằng nhiều cách như:

    – Sử dụng phương pháp truyền đạt thông tin để: thống nhất trong xử sự; nhắc lại những sự kiện đã được phản ánh trong hồ sơ để giúp thân chủ nắm thông tin một cách toàn diện nhằm tạo ra sự tương hợp trong cách nhìn nhận vấn đề và đạt đến sự nhất trí về phương án bào chữa; cung cấp các thông tin về pháp luật để hướng đến một cách hành xử đúng.. Đồng thời có thể sử dụng phương pháp truyền đạt thông tin bằng nhiều cách khác nhau như cung cấp các chứng cứ có lợi cho thân chủ; cung cấp các địa điểm hoặc người chứa thông tin và đề nghị cơ quan chức năng tiến hành thẩm tra, thu thập thành bằng chứng.

    – Sử dụng phương pháp thuyết phục: nhằm tạo ra sự hợp tác của NPT với cơ quan có trách nhiệm, có thể sử dụng phương pháp thuyết phục logic hoặc tình cảm để đạt được mục tiêu.

    – Sử dụng phương pháp đặt vấn đề  và thay đổi tư duy: nhằm buộc NPT khai sự thật trên cơ sở các dữ liệu đã được xác định thông qua các câu hỏi và câu trả lời. Tuy nhiên đây là phương pháp không được phổ biến trong hoạt động bào chữa nhưng đôi khi có thể áp dụng cho thân chủ khi có bằng chứng về sự tham gia của thân chủ vào vụ án quá rõ nhưng thân chủ có tâm lý chối tội.

    9. Hãy nêu rõ những phẩm chất nghề nghiệp quan trọng của người bào chữa?

    – Có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức, năng lực giao tiếp, năng lực diễn đạt

    – Trung thực, vị tha, biết chia sẻ với thân chủ những khó khăn mà họ gặp, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nghĩa vụ nghề nghiệp với nghĩa vụ công dân.

    – Có bản lĩnh, kiên định với chính kiến.

    10. Trình bày đặc điểm tâm lý của người bị hại trong giai đoạn xét xử và những phương pháp tác động tâm lý cần được sử dụng:

    * Đặc điểm tâm lý của người bị hại:

    – Bức xúc, phẩn nộ (mức độ có thể giám hơn so với giai đoạn diều tra do at6m lý của người bị hại đã ổn định hơn).

    – Sợ sệt, lo lắng rằng bào chữa sẽ trả thù (do giao tiếp công khai tại phiên tòa nên bào chữa biết được người bị hại và nội dung tố cáo của họ).

    – Bị ám ảnh, mất bình tĩnh, xấu hổ trong 1 số trường hợp.

    – Thương hại, thông cảm cho hoàn cảnh của bào chữa (cũng có thể do bị mua chuộc, bồi thường thỏa đáng).

    – Che giấu một phần lỗi của mình và bất hợp tác.

    -> Vì tính chất công khai của hoạt động xét xử và trong trường hợp quyền lợi của người bị hại đã được giải quyết, thông thường tỷ lệ người bị hại tham gia phiên tòa ít hơn trong giai đoạn điều tra.

    * Phương pháp tác động tâm lý:

    – Phương pháp thuyết phục: trong trường hợp người bị hại có biểu hiện bất hợp tác, cố tình giấu giếm sự thật. Nội dung thuyết phục:

    + Chỉ cho người bị hại thấy trách nhiệm của mình trong việc hợp tác khai báo nhằm làm sáng tỏ vụ án.

    + Mối quan hệ pháp luật khi phát sinh tội phạm không chỉ là một quan hệ cá nhân riêng giữa bào chữa và người bị hại mà quan trọng là mối quan hệ giữa người phạm tội với NN và vì lợi ích chung của XH.

    + Thuyết phục bằng các chứng cứ cho thấy lời khai của họ không đúng; thuyết phục về sự an toàn của họ khi tham gia tố tụng.

    – Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển:

    + Tổ chức giao tiếp công khai tại phiên tòa cần chú ý bảo vệ người bị hại dễ tổn thương như PN, trẻ em.

    + Tổ chức giao tiếp cần chú ý các mối quan hệ tế nhị như mối quan hệ lệ thuộc giữa bào chữa với người bị hại trước khi phạm tội.

    + Trong giao tiếp cần chú ý lắng nghe lời trình bày của người bị hại, làm cho người bị hại thấy được tôn trọng hoặc được khuyến khích trong giao tiếp.

    – Phương pháp truyền đạt thông tin: thông tin liên quan đến chứng cứ mâu thuẫn, đến quyền và nghĩa vụ của người bị hại trong việc đưa ra chứng cứ về vụ án và yêu cấu bồi thường. Không nên truyền đạt những thông tin làm cho người bị hại bị tổn thương, bị ám ảnh do người phạm tội gây ra nếu thấy không thật cần thiết.

    – Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy: được áp dụng nhằm làm sáng tỏ các thông tin về vụ án bằng cách đặt các câu hỏi để kiểm tra chứng cứ chưa rõ hoặc mâu thuẫn) và mô hình vụ án.

    11. Trình bày đặc điểm tâm lý của người bị hại trong giai đoạn xét xử và những phương pháp tác động tâm lý cần được sử dụng:

    * Đặc điểm tâm lý:

    – Đặc điểm tâm lý chung:

    + Bức xúc trước hành vi phạm tội mà họ phải chứng kiến

    + Mong muốn được xử lý nghiêm nên qđịnh ra làm chứng

    – Đặc điểm tâm lý tiêu cực:

    + Quên tình tiết mà họ chứng kiến vì sự việc xảy ra lâu ngày mà họ không quan tâm nhiều.

    + Cảm thấy hối hận vì làm chứng sẽ gây bất lợi cho bào chữa

    + Sợ bị trả thù hoặc phiền hà sau khi tham gia phiên tòa công khai có nhiều người biết

    + Khi nghe người làm chứng khác khai không thống nhất nên họ không tự tin vào lời khai của mình.

    + Cảm thấy phiền phức vì chỉ có nghĩa vụ mà không có quyền nên khai báo thiếu trách nhiệm.

    -> Vì những trở ngại tâm lý trên nên số người chịu ra làm chứng trước tòa thường ít hơn giai đoạn điều tra.

    * phương pháp tác động:

    – Phương pháp thuyết phục: thuyết phục người làm chứng về ý thức trách nhiệm của công dân tham gia phòng chống tội phạm, tầm quan trọng về lời khai của họ trong giải quyết vụ án cũng như những đảm bảo của họ về sự an toàn của họ và người thân.

    – Phương pháp truyền đạt thông tin:

    + Nội dung các thông tin cần truyền đạt: Thông tin về pháp luật quy định nghĩa vụ của họ trong lời khai, nghĩa vụ phải làm chứng và có thể sẽ bị cưỡng chế, nếu khai gian dối sẽ phải chịu trách nhiệm và thậm chí đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thông tin về các sự kiện xảy ra để họ nhớ lại hoặc tự đánh giá lời khai.

    – Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển: khi điều khiển giao tiếp và thẩm vấn có thể  sử dụng các hình thức:

    + Cho nhận dạng bào chữa trước khi thẩm vấn.

    + Nếu thấy lời khai có thể bị ảnh hưởng giữa nhiều người tại phiên tòa hoặc không trung thực nên cách ly giữa những người làm chứng hoặc giữa người làm chứng với bào chữa khi tổ chức giao tiếp để lấy lời khai người làm chứng.

    + Tổ chức đối chất nếu thấy có mâu thuẫn..

    – Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy: chỉ hỏi những thông tin mà người làm chứng đã chứng kiến nhằm gợi nhớ, tái tạo, mô tả lại sự việc đã chứng kiến, lọai bỏ những mâu thuẫn về tư duy vụ án

    12. Trình bày đặc điểm tâm lý của người bị hại trong giai đoạn xét xử và những phương pháp tác động tâm lý cần được sử dụng:

    * Đặc điểm tâm lý:

    – Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của TP khi xét xử:

    + Nhiệm vụ phải giải quyết vụ án theo đúng pháp luật của HĐXX. Đồng thời ở giai đoạn này vị trí trung tâm của hoạt động tố tụng thuộc về HĐXX với khả năng điều khiển, thiết kế và tổ chức phiên tòa của TP chủ tọa. Đó cũng là vấn đề được các bên  tham gia tố tụng cũng như dư luận đặc biệt quan tâm chú ý.

    + mối quan hệ với Viện kiểm sát, Ủy ban Thẩm phán và các cơ quan, tổ chức khác.

    + Chỉ tiếp xúc với hồ sơ mà không trực tiếp quan sát hiện trường ban đầu khi xảy ra vụ án như cớ quan CSĐT và Viện kiểm sát

    + Thời gian xét xử hạn hẹp, căng thẳng.

    + Áp lực của dư luận XH

    * Nhược điểm tâm lý cần khắc phục:

    – Bị ảnh hưởng bởi quan điểm buộc tội của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát khi lần đầu tiếp xúc với hồ sơ mà không trực tiếp tham gia vụ án từ đầu.

    – Xu hướng nhầm lẫn việc thực hiện chức năng xét xử thành buộc tội như kiểm sát viên

    – Tâm lý e ngại án bị kháng nghị, e ngại nêu các nghi vấn và khai thác chứng cứ chưa có trong hồ sơ

    – Căng thẳng, nôn nóng và mất bình tỉnh khi có nhiều ý kiến trái ngược, khi bào chữa thiếu thành khẩn trong điều kiện thời gian xét xử hạn hẹp và việc điều khiển phiên tòa gặp khó khăn.

    – Không quan tâm đúng mức đến lời bào chữa hoặc e ngại báo chữa làm khó khăn đến việc xét xử.

    – Tranh thủ sự đồng tình của HTND, đặc biệt khi nghị án hoặc không quan tâm đến vai trò của HTND

    13. Trình bày đặc điểm tâm lý của người bị hại trong giai đoạn xét xử và những phương pháp tác động tâm lý cần được sử dụng:

    * Đặc điểm tâm lý:

    – Sự hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm của HT.

    – Bị ảnh hưởng bởi nghề nghiệp, công tác và môi trường sống gần gũi với nhân dân.

    – Thời gian đầu tư cho công việc nghiên cứu hồ sơ không nhiều.

    – Không bị ràng buộc về mặt quản lý và các lợi ích khác từ phía TA.

    * Nhược điểm tâm lý cần khắc phục:

    – Xu hướng thiếu trách nhiệm nên ỷ lại vào hoạt động chứng minh của vụ án

    – Xu hướng thông cảm và nương nhẹ mang tính vô nguyên tắc, thiếu căn cứ đối với người phạm tội.

    – Ý thức chính trị trong hoạt động xét xử chưa sâu sắc và thiếu rõ ràng, nhất quán

    – Nể nang TP hoặc thiếu tự tin nên e ngại đưa ra các ý kiến độc lập

    14. Trình bày đặc điểm tâm lý của người bị hại trong giai đoạn xét xử và những phương pháp tác động tâm lý cần được sử dụng:

    * Đặc điểm tâm lý:

    – Kiểm sát viên là người đại diện NN thực hiện chức năng buộc tội (thực hành công tố) vừa giám sát hoạt động xét xử tại phiên tòa

    – Phải tiếp xúc tâm lý với nhiều đối tượng khác nhau, phải tiến hành giao tiếp công khai và trực tiếp, liên tục tại TA.

    – Có mối quan hệ với lãnh đạo Viện kiểm sát, với các cơ quan, tổ chức khác

    – Có quá trình tiếp xúc trước với hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra chuyển sang.

    – Áp lực của dư luận XH về vụ án

    * Nhược điểm tâm lý cần khắc phục:

    – Xu hướng kết tội dẫn đến chú trọng những chứng cứ buộc tội, sợ bỏ lọt tội phạm

    – Tâm lý ỷ lại trách nhiệm chứng minh của HĐXX đối với vụ án

    – Xu hướng xung đột, đối đầu với người bào chữa do lợi ích, mục tiêu của 2 bên có chứa đựng mâu thuẫn

    – Xu hướng bảo thủ khi có ý kiến trái ngược của HĐXX, của người bào chữa

    – Thái độ chủ quan trước lời bào chữa của luật sư, của bào chữa

    15. Anh/chị hãy làm rõ đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học tư pháp?

    16. Phân tích các nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu của tâm lý học tư pháp? Cho ví dụ?

    17. Phân tích các phương pháp tác động tâm lý trong hoạt động tư pháp? Cho ví dụ?

    18. Trình bày các phương pháp cơ bản giải quyết nhiệm vụ tư duy trong hoạt động tư pháp?

    19. Phân tích các bước của hoạt động thiết kế trong hoạt động tư pháp

    20. Phân tích cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội

    21. Phân tích đặc điểm tâm lý các giai đoạn của hoạt động điều tra vụ án hình sự?

    22. Phân biệt hoạt động nhận thức trong hoạt động điều tra vụ án hình sự và hoạt động xét xử vụ án hình sự?

    23. Phân tích đặc điểm tâm lý của bị can trong hoạt động điều tra vụ án hình sự?

    24. Phân tích đặc điểm tâm lý của giai đoạn nghị án và tuyên án tại phiên tòa?

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương V

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương V

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm Chương V: Cơ sở tâm lý của hoạt động phòng ngừa tội phạm cung cấp những kiến thức quan trọng về các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quá trình phòng ngừa tội phạm. Chương này phân tích động cơ, nhận thức và hành vi của tội phạm, từ đó đề xuất các biện pháp tác động tâm lý hiệu quả nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội ngay từ giai đoạn sớm. Đây là nền tảng quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm trong thực tiễn. Cùng tìm hiểu nội dung chi tiết trong bài giảng dưới đây!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng ôn tập môn học Tâm lý học tội phạm: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-tam-ly-hoc-toi-pham?ref=lnpc

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương V

    Chương 5: Cơ sở tâm lý của hoạt động phòng ngừa tội phạm

    1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm

    – Tập trung vào việc hạn chế, tiến gần đến thủ tiêu những hiệ tượng xã hội tiêu cực là nguyên nhân, điều kiện của tội phạm

    – Bằng mọi cách ngăn chặn các tội phạm đang xảy ra, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành những công dân có ích cho xã hội.

    – Định nghĩa: Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các quy định, các biện pháp, các hành động của cá nhân, tổ chức nhằm hạn chế, ngăn chặn tội phạm xảy ra, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các tội phạm xảy ra và giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội.

    2. Một số thuyết tâm lý về phòng ngừa tội phạm

    2.1. Quan điểm của phân tâm học truyền thống

    – Đại diện: Sigmund Freud

    – Quan niệm: bản tính của con người là xấu xa, là thù địch với xã hội, do đó tội phạm có thể xảy ra ở bất kỳ đâu, ở bất kỳ thời điểm nào và với bất cứ ai

    – Phòng ngừa tội phạm bằng cách:

    + tạo các rào cản để các thúc đẩy tội lỗi không thể đưa tới hành vi thực tế: hình phạt, các biện pháp răn đe đủ mạnh, giáo dục đạo đức, các chuẩn mực xã hội

    + tư vấn giúp con người chọn nghề hay các hoạt động phù hợp để giúp giải tỏa các xung năng

    + tổ chức các hoạt động để con người có thể giải tỏa các xung năng bị dồn nén hoặc tìm được đối tượng thay thế

    + với người phạm tội, phải phân tích, tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của hành vi bất thường của họ và tìm biện pháp điều trị phù hợp

    2.2. Quan điểm của tâm lý học nhân văn

    – Đại diện: A. Maslow, C. Roger

    – Quan niệm: bản tính con người là tốt, con người là hiện thân của cái đẹp, tuy nhiên họ có thể có hành vi xấu, có thể phạm tội

    – Phòng ngừa tội phạm bằng cách:

    + tạo điều kiện thuận lợi để mỗi cá nhân phát triển mọi tiềm năng của mình

    + tạo môi trường lành mạnh, thể hiện tình thương yêu, sự quan tâm trong quan hệ người – người

    + trong giáo dục người phạm tội cần hiểu, gần gũi, quan tâm để cảm hóa họ

    2.3. Quan điểm của tâm lý học hành vi

    – Đại diện: John Broadus Watron

    – Quan niệm: bản chất và hành vi con người do môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội quyết định, và hầu hết các hành vi của con người là do tập nhiễm

    – Phòng ngừa tội phạm bằng cách:

    + chú trọng đặc biệt đến môi trường xã hội

    + chú trọng đến việc hình thành thói quen tuân theo PL

    + kiểm soát chặt chẽ các tình huống giáo dục

    + tránh xa các tình huống dễ gây cảm xúc

    2.4. Quan điểm của tâm lý học nhận thức

    – Đại diện: A. Bandura, W. Mischel, J. Rotter

    – Quan niệm:

    + con người là 1 hệ thống xử lý thông tin, các sự kiện cung cấp thông tin (đầu vào), con người xử lý và kết quả là hành vi xảy ra (đầu ra);

    + hành vi phạm tội là kết quả của quá trình học tập xã hội, quá trình quan sát, là sự mô phỏng các hành vi mẫu

    – Phòng ngừa tội phạm bằng cách:

    + cung cấp thông tin đầy đủ, đúng về các sự kiện xảy ra

    + tạo môi trường lành mạnh

    + xây dựng các hành vi mẫu để tuyên truyền

    + hành vi phạm pháp, phạm tội phải được xử lý nghiêm minh; hành vi tuân theo PL phải được khen thưởng

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương V
    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương V

    2.5. Quan điểm của tâm lý học hoạt động

    – Đại diện:

    – Quan niệm:

    + nhân cách và yếu tố bên trong quy định hành vi, được hình thành thông qua hoạt động trong môi trường XH

    + hành vi phạm tội là kết quả của sự tác động qua lại giữa nhân cách với những phẩm chất tâm lý tiêu cực và hoàn cảnh, tình huống bên ngoài

    – Phòng ngừa tội phạm bằng cách:

    + chú trọng đến quá trình hình thành, phát triển nhân cách. Chú ý các yếu tố ảnh hưởng: giáo dục, nhà trường, tập thể, giáo tiếp, hoạt động, …

    + hạn chế, loại bỏ bất công, bất bình đẳng trong xã hội

    + hoàn chỉnh hệ thống PL

    + tạo môi trường phù hợp, dùng lao động, chế độ học tập để giáo dục người phạm tội

    2.6. Quan điểm của tâm lý học hiện đại

    – Đại diện:

    – Quan niệm:

    + con người là phức tạp, là tổng hòa của tất cả, trong con người có cái tốt, cái xấu, cái tích cực, cái tiêu cực

    + hành vi nói chung và hành vi phạm tội nói riêng được quy định bởi nhiều yếu tố: xã hội, văn hóa, tự nhiên, tâm lý, di truyền, nuôi dưỡng …

    – Phòng ngừa tội phạm bằng cách:

    + có thể áp dụng bất kỳ biện pháp phòng ngừa nào miễn là hữu ích và không trái luật

    + áp dụng các biện pháp một cách linh hoạt

    3. Đặc trưng tâm lý của hoạt động phòng ngừa tội phạm

    3.1. Cơ sở tâm lý của hoạt động phòng ngừa tội phạm

    – Quá trình tác động qua lại giữa tâm lý tích cực với tâm lý tiêu cực, giữa yếu tố tâm lý “kích thích” và yếu tố tâm lý “điều chỉnh”, dẫn tới sự lấn át của tâm lý tiêu cực là nhân tố quyết định dẫn tới hành vi phạm tội. Cho nên trong phòng ngừa tội phạm, phải tác động đến cá nhân nhằm hình thành các phẩm chất tâm lý tích cực.

    3.2. Tác động tâm lý trong hoạt động phòng ngừa tội phạm

    a. Nội dung của phòng ngừa tội phạm

    – Lành mạnh hóa môi trường xã hội

    – Hình thành tâm lý hành vi tích cực cho cá nhân

    + nâng cao trình độ nhận thức

    + hình thành thái độ tích cực đối với chuẩn mực XH

    + hình thành hành vi thói quen phù hợp chuẩn mực XH

    b. Yêu cầu tâm lý khi thực hiện 1 số biện pháp phòng ngừa tội phạm cụ thể

    – Giáo dục PL

    – Giáo dục đạo đức và thói quen hành vi văn hóa

    – Kiểm tra xã hội

    – Biện pháp trừng phạt: là áp dụng các quy định của luật hình sự tác động trực tiếp tới người tội phạm

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương IV

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương IV

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm Chương IV: Tâm lý nhóm tội phạm giúp người học hiểu rõ về các đặc điểm tâm lý, cơ chế hình thành và tác động của nhóm trong hành vi phạm tội. Chương này phân tích cách thức các cá nhân bị ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông, vai trò của thủ lĩnh nhóm tội phạm và sự lan truyền hành vi trong tập thể. Đây là kiến thức quan trọng giúp áp dụng vào công tác điều tra, phòng ngừa và xử lý tội phạm có tổ chức. Cùng khám phá nội dung chi tiết trong bài giảng dưới đây!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng ôn tập môn học Tâm lý học tội phạm: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-tam-ly-hoc-toi-pham?ref=lnpc

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương IV

    Chương 4: Tâm lý nhóm tội phạm

    1. Khái niệm và đặc điểm tâm lý của nhóm tội phạm

    1.1. Khái niệm

    – Khái niệm: Nhóm tội phạm là tập hợp người có sự liên kết, phân công, phối hợp hoạt động với nhau do 1 hoặc 1 số cá nhân thành lập, điều khiển 1 cách có kế hoạch, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

    – Nhóm tội phạm có cấu trúc thứ bậc và có sự cấu kết chặt chẽ. Trong nhóm có sự phân công rõ ràng, mỗi thành viên có vai trò, nhiệm vụ cụ thể. Nhóm tội phạm là tiền đề hình thành hành vi phạm tội có tổ chức

    – So với cá nhân thì hành vi của nhóm tội phạm nguy hiểm hơn.

    1.2. Đặc điểm tâm lý của nhóm tội phạm

    – Nhóm tội phạm bao gồm các thành viên có tâm thế chống đối các chuẩn mực XH, thường có các đặc điểm tâm lý tiêu cực trong nhân cách

    – Trong nhóm tội phạm có tinh thần đoàn kết, sự tiếp xúc cá nhân khá ổn định, có định hướng giá trị chung

    – Trong nhóm tội phạm, sự lan nhiễm tâm lý chống đối, tính tích cực và quyết liệt hành động được tăng cường

    – Nhóm tội phạm là tổ chức bí mật, khép kín, bất hợp pháp (kể cả núp dưới danh nghĩa 1 tổ chức hợp pháp). Tổ chức hoạt động rõ ràng, chặt chẽ, có người cầm đầu, chỉ huy, có kỷ luật riêng được quy ước bằng miệng hay bằng văn bản

    – Hoạt động mang tính hệ thống, có sự chỉ huy thống nhất, mục đích cuối cùng là thu được lợi ích bất chính

    – Những tên cầm đầu luôn tìm mọi cách tạo vỏ bọc kín để chỉ huy các thành viên hoạt động phạm tội

    – Đa số các nhóm tội phạm có cấu trúc thứ bậc rõ ràng với vai trò, vị trí cụ thể đối với mỗi thành viên, gồm:

    + đối tượng cầm đầu chỉ huy

    + đối tượng tay chân, cốt cán

    + những đối tượng tham gia khác

    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương IV
    Bài giảng môn học Tâm lý học tội phạm chương IV

    2. Các loại nhóm tội phạm

    Chia làm 3 loại:

    + nhóm tội phạm tạm thời

    + nhóm tội phạm đơn giản

    + nhóm tội phạm có tổ chức

    2.1. Nhóm tội phạm tạm thời

    – Là nhóm được hình thành theo tình huống và bắt nguồn từ nhóm mang tính chất chơi bời, bạn bè bình thường

    – Đặc trưng của nhóm là sự lệch lạc trong chuẩn mực sinh hoạt của nhóm và trong hành vi của các thành viên

    – Nhóm này có mức độ cố kết thấp, thực hiện tội phạm không có sự thỏa thuận trước, xuất hiện ngẫu nhiên, thường trong hoàn cảnh bất ngờ

    – Không có cấu trúc tâm lý, vai trò của người đứng đầu chưa thể hiện rõ. Việc ra quyết định của các đối tượng chịu ảnh hưởng của tình huống ngẫu nhiên, do tác động của cảm xúc

    2.2. Nhóm tội phạm đơn giản

    – Là nhóm mà quan hệ giữa các thành viên là nhất thời, tổ chức thiếu chặt chẽ, với số lượng không nhiều.

    – Không có cấu trúc phức tạp giữa những người phạm tội, nhưng có sự bí mật cấu kết và có sự thỏa thuận sơ bộ từ trước để cùng nhau thực hiện tội phạm.

    – Thành phần tội phạm thường là những tên có nhiều tiền án, tiền sự, tính tình thô bạo, tàn ác, côn đồ, trình độ văn hóa thấp, không có công ăn việc làm, hoặc làm lao động đơn giản, có mức thu nhập thấp

    2.3. Nhóm tội phạm có tổ chức

    – Là nhóm tội phạm đặc trưng bởi sự bền vững trong quan hệ, liên hệ giữa các đối tượng, sự định hình các phương thức hoạt động và che dấu hành vi phạm tội

    – Nhóm tội phạm có tổ chức chia làm 3 loại:

    + nhóm tội phạm có tổ chức ổn định, phức tạp

    + nhóm tội phạm có tổ chức cao, chặt chẽ

    + cộng đồng tội phạm, liên minh các nhóm tội phạm có tổ chức

    – Tội phạm có tổ chức cao: thường xuất hiện ở các thành phố có nền công nghiệp, dịch vụ, du lịch phát triển, tại các địa bàn có khai thác khoáng sản (nơi có nhiều người lao động các nơi về làm thuê). Đây là những tổ chức tội phạm hoạt động bí mật, khép kín với cơ cấu tổ chức rõ ràng với 2 hoặc 3 cấp, có mục tiêu hoạt động lâu dài và bền vững.

    – Nhóm tội phạm có tổ chức cao bao gồm tất cả các thành viên đặc trưng bởi ý thức phạm tội, là loại nhóm tội phạm nguy hiểm nhất cho xã hội.

    – Tính chất nguy hiểm của tội phạm có tổ chức là cao hơn so với tội phạm cá nhân, vì trong điều kiện của nhóm có thuận lợi về tâm lý, có sự gia tăng quyết tâm phạm tội ở những phần tử hay dao động do ảnh hưởng của các thành viên khác, tăng cường khả năng lôi cuốn những thành viên mới vào hoạt động tội phạm. (==> chính là sự lây lan tâm lý)

    – Trong điều kiện hiện nay, nhiều tổ chức tội phạm hoạt động xuyên quốc gia, câu kết kết với các tổ chức tội phạm nước ngoài, , lũng đoạn chính quyền theo kiểu mafia, xã hội đen. Các nhóm gián điệp, phản động trong và ngoài nước được lập ra để tập hợp lực lượng, thực hiện các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, đây là các nhóm tội phạm có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, cùng chung ý đồ hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, có phương thức, thủ đoạn hoạt động tinh vi, xảo quyệt, có sự cấu kết, liên hệ với các tổ chức chống đối khác.

    – Nhóm tội phạm có tổ chức ở mức cao hoạt động theo kiểu “xã hội đen” thường có 1 tên đứng đầu gọi là ông trùm (boss), thủ lĩnh, đại ca, băng trưởng, … Đó thường là tên có đầu óc tổ chức, có hiểu biết khá rộng (về luật pháp, về xã hội, …) và mối quan hệ rộng rãi trong xã hội, có quá khứ “oanh liệt” trong giới giang hồ hoặc các “thế giới ngầm”. Thủ lĩnh quyết định mọi hoạt động của tổ chức tội phạm. Thủ lĩnh rất ít khi trực tiếp tham gia vào việc gây án, mà điều hành thông qua chỉ huy hoặc tay chân, do đó rất ít có nguy cơ sa lưới pháp luật.

    – Ở cấp chỉ huy, mỗi tổ chức tội phạm cao có nhiều nhóm, mỗi nhóm lại có 1 hoặc 2 chỉ huy do thủ lĩnh trực tiếp chỉ định, những tên này điều hành các hoạt động cụ thể của các tổ, nhóm theo lệnh của thủ lĩnh và có trách nhiệm báo cáo thủ lĩnh về mọi hoạt động của các thành viên trong nhóm, thu tiền kiếm được nộp cho chỉ huy.

    3. Đặc điểm tâm lý của thủ lĩnh nhóm tội phạm

    – Thủ lĩnh là người có kinh nghiệm, có bản lĩnh thực hiện và che dấu tội phạm hơn các thành viên khác

    – Thủ lĩnh quyết định phương thức hoạt động phạm tội, tổ chức điều khiển các thành viên trong nhóm hành động và phân chia kết quả thu được

    – Thủ lĩnh có độ ám thị cao (ám thị là quá trình tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp lên tâm lý con người nhằm mục đích điều khiển họ thực hiện những yêu cầu nhất định), do đó làm giảm trạng thái hồi hộp, lo lắng, căng thẳng khi cá nhân tiến hành hoạt động phạm tội, làm tăng tính quyết đoán của những phần tử còn dao động, chần chừ

    – Thủ lĩnh thường là đối tượng chủ mưu và giữ vị trí chỉ huy trong việc thực hiện hành vi phạm tội

    4. Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội

    – Ở VN, người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội

    – Về trí tuệ: so với trẻ em bình thường, người chưa thành niên phạm tội chậm phát triển hơn về trí tuệ, tư duy trừu tượng kém, nặng về tư duy cụ thể, không biết phân tích, đánh giá đúng hiện tượng

    – Về hứng thú: thường thiên về ham muốn vật chất, không có có hứng thú học tập, thích đua đòi, ăn chơi như người lớn

    – Về tình cảm: thiếu bền vững, dễ dàng thay đổi nhưng lại rất mạnh mẽ, trong nhiều trường hợp mang tính cực đoan. Tình cảm mang tính xung động cao, dễ bị kích động, bồng bột, sôi nổi. Trẻ chưa thành niên phạm tội thường có nhu cầu lớn trong tình cảm bạn bè, thường thích kết bạn với trẻ em có cùng cảnh ngộ, tình bạn trở thành tình đồng bọn, dễ thân nhau và cũng dễ phản bội nhau. Trong nhóm trẻ chưa thành niên, vai trò của “thủ lĩnh” được đặc biệt đề cao và có sức áp thị lớn.

    – Về quan hệ: có xu hướng muốn thoát ly gia đình, trong khi vẫn còn bị phụ thuộc vào gia đình ==> rơi vào tình thế xung đột, mâu thuẫn

    – Về tính cách: có sự đan xem giữa tính cách trẻ con và người lớn, luôn muốn tự khẳng định sức mạnh của mình, muốn hoạt động thử sức để chứng minh mình là người lớn. Có tính độc lập và tự trọng cao, phản ứng cực đoan và mạnh mẽ khi bị xúc phạm.

    – Về ý chí trong tính cách: thích lao vào nguy hiểm để chứng tỏ bản lĩnh của mình, tỏ ra dũng cảm và liều lĩnh, hành động táo bạo, liều lĩnh và thiếu suy nghĩ.

    5. Một số loại trẻ em chưa thành niên có nguy cơ phạm tội

    – Trẻ em lang thang: là những trẻ em mà vì những lý do nào đó (chính đáng hay không chính đáng) đã lìa bỏ mái ấm gia đình, sống cuộc đời lang thang. Về cơ bản đây vẫn là những trẻ em bình thường, không phải trẻ em hư hay phạm pháp, nhưng các em đứng trước những nguy cơ bị lôi kéo, xô dẩy vào những việc làm sai trái.

    – Trẻ em hư: còn gọi là trẻ khó bảo hay trẻ khó giáo dục, trẻ chậm tiến. Đây là những đứa trẻ hoàn toàn bình thường, chỉ khác ở chỗ chúng không được giáo dục đầy đủ nên trí tuệ và tư chất không được phát triển đúng và hết khả năng của nó.

    – Trẻ em phạm pháp: là trẻ có hành vi vi phạm PL hiện hành (hành chính hay hình sự) đã hoặc chưa bị phát hiện và xử lý

    – Trẻ em bụi đời: là loại trẻ vừa có dấu hiệu của trẻ lang thang đường phố, vừa có dấu hiệu của trẻ hư

    – Trẻ em rối loạn hành vi: vừa có dấu hiệu của trẻ hư, vừa có dấu hiệu của trẻ phạm pháp

    Chú ý: những loại trẻ em trên đây có thể chuyển hóa lẫn nhau:

    + trẻ lang thang  ==> trẻ hư ==> trẻ phạm pháp

    + trẻ lang thang + trẻ hư ==> trẻ bụi đời

    + trẻ hư + trẻ phạm pháp ==> trẻ rối loạn hành vi

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.