Tác giả: Thanh Loan

  • Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp)

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp)

    Bạn đang tìm kiếm bài tập tình huống luật hình sự thường gặp để ôn tập và nâng cao kỹ năng phân tích pháp lý? Trong bài viết này, chúng tôi tiếp tục cung cấp những tình huống thực tế, đi kèm với hướng dẫn giải chi tiết theo quy định pháp luật hiện hành. Đây sẽ là tài liệu hữu ích cho sinh viên luật, học viên tư pháp và những ai quan tâm đến lĩnh vực này. Hãy cùng khám phá ngaytrong bài viết “Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp)”!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp)

    Bài tập 35: 

    Khoảng 19 giờ 30, ngày 20/6/2005 Hoàng Văn K (sinh năm 1987), đạp xẽ đi chơi cùng nhóm bạn là Bùi Văn Q (sinh năm 1988), Nguyễn Mạnh H (sinh năm 1989). Lúc 21 giờ, cả nhóm đang đạp xe đến cây xăng thuộc phường Y, thị xã U thì va chạm với 03 thanh niên khác đi xe ngược chiều. Sau khi to tiếng cãi vã, 02 bên bỏ đi. Đi 01 đoạn, K rủ cả nhóm quay trở lại đuổi đánh 03 thanh niên kia. Khi quay trở lại, họ thấy có 02 thanh niên tên là M và N đang chở nhau trên 01 chiếc xe đạp. Cho rằng đây là số thanh niên vừa mới va chạm với mình, nên cả 03 đã lao vào rượt đuổi 02 thanh niên đang đi trên xe đạp. M và N tưởng là cướp nên bỏ chạy thoát thân. Thấy M và N bỏ chạy để lại xe, K, Q và H liền lấy xe bán được 1.200.000 đồng chia nhau, mỗi người được 400.000 đồng.

    1. Về việc xác định tội danh trong vụ án này có 02 ý kiến:

    a) Hành vi trên cấu thành tội cướp tài sản (Điều 133)

    b) Hành vi trên cấu thành tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS)

    Hãy xác định hành vi do K, Q, và H thực hiện cấu thành tội phạm nào? Nêu rõ điều khoản cần áp dụng đối với trường hợp này.

    2. Hãy xác định ai là người phạm tội trong vụ án.

    Cho biết: Ngày tháng sinh của K, Q, H đều không xác định được. Chỉ xác định được năm sinh.

    Bài tập 36: 

    Q là cán bộ cửa hàng kinh doanh vàng bạc huyện K được cơ quan giao nhiệm vụ làm thủ kho, thủ quỹ kiêm công tác bảo vệ cơ quan. Đồng thời Q còn được giao chìa khóa kho, két bạc và được cơ quan cho ăn nghỉ tại phòng kho.

    Mặc dù không được sự đồng ý của cửa hàng trưởng nhưng Q tự ý chuyển chỗ nghỉ từ phòng kho đến ở tại 01 phòng trên lầu 2 cách xa phòng kho và cho 02 vợ chồng người bán nước giải khát cạnh cửa hàng gửi hàng qua đêm tại kho.

    Vào 19 giờ, sau khi ăn cơm tối, Q đi ngủ không chốt cửa buồng, không để chìa khóa ở nơi quy định mà bỏ trên bàn cạnh giường ngủ. 6 giờ sáng ngày hôm sau, Q thức giấc đi xuống nhà kho thì phát hiện cửa phòng kho bị mở và mất một số tiền trong két sắt.

    Hãy xác định Q có phạm tội không?

    Bài tập 37: 

    S và Đ đang ngồi vá lưới trên bờ biển thì nghe ngư dân truyền miệng nhau: “Ai có ghe lớn ra nhặt ti vi do bọn buôn lậu bị công an phát hiện đã vứt xuống biển”. 15 giờ chiều cùng ngày, S và Đ chạy ghe ra biển vớt đầy ghe được 200 chiếc ti vi, giấu xuống hầm ghe rồi chạy về địa điểm kín đáo để cất giấu. Ngày hôm sau việc làm của S và Đ bị công an biên phòng phát hiện và yêu cầu giao nộp số ti vi nói trên cho cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với S và Đ về tội chiếm giữ trái phép TS.

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp)

    Bài tập 21: 

    A, B, C là bạn bè trong cùng xóm. Do có mâu thuẫn với một số thanh niên phường bên nên A thường bịhọ hiếp đáp. A kể lại cho B và C nghe. Khi nghe A kể, B và C cùng A thống nhất đến phường bên để hỏi đám thanh niên kia. Cả 3 thống nhất rằng nếu nói chuyện phải quấy không thành thì đánh nhau để đám thanh niên không dám hiếp đáp A nữa. Trước khi đi, C đã giắt theo một con dao nhỏ (A và B không biết). Khi đến nơi, sau khi nói chuyện không thành A, B và C cùng đám thanh niên ẩu đả lẫn nhau. C bất thình lình rút dao đâm tới tấp vào một người trong đám thanh niên. A, B thấy vậy xông tới ngăn không cho C tiếp tục đâm. Người bị hại chết trên đường cấp cứu.

    Hãy xác định A, B có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đâm người của C không? Tại sao? không

    Bài tập 22: 

    A đang đi đường thì gặp B – một thanh niên không quen biết, đã say xỉn đòi A cho điếu thuốc lá. A không chịu và bỏ đi. B cho là A coi thường mình nên đã rút dao dắt ở thắt lưng ra đâm A sượt qua bờ vai. A bỏ chạy nhưng B vẫn rượt đuổi cùng với con dao găm trên tay. Gặp hẻm cụt, A hết đường chạy, nên đã quay mặt lại đối diện với B, giằng được dao đâm nhiều nhát vào ngực B. B chết tại chỗ. Hãy xác định:

    1. Trong tình huống trên quyền phòng vệ có khởi phát không?

    2. A có chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của B không? Tại sao? 2. A có chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của B không? Tại sao?

    Bài tập 23: 

    H là trạm trưởng một trạm kiểm lâm của hạt kiểm lâm thuộc tỉnh Q, nơi mà một thời gian dài rừng bị tàn phá nghiêm trọng. Trong một lần đi tuần tra, trạm của H bắt được một bè gỗ khai thác trái phép nhưng không biết chủ số gỗ là ai nên H lệnh cho anh em đưa về trạm. Trưa hôm đó, S là chủ số gỗ trên vác dao vào trạm bảo với H là tại sao thu gỗ của S. Vừa nói S vừa đập phá đồ đạc, dùng dao khống chế anh em kiểm lâm và bắt mọi người khuân gỗ trả lại bè. H cản lại thì bị S chém 02 nhát vào tay bị thương. H vào trạm lấy khẩu súng AK lên đạn, bắn một phát chỉ thiên và lệnh cho S dừng tay. S cầm dao đi về phía H. H chĩa súng vào người S và bắn 03 phát ở khoản cách 03m. Hậu quả là S trúng 03 viên đạn, viên đầu tiên từ trước ra sau xuyên đầu gối trái, 02 viên sau từ lưng xuyên qua tim ra phía ngực và chết ngay sau đó một thời gian ngắn.

    Hành vi của H có được coi là phòng vệ chính đáng hay không? Tại sao?

    Bài tập 24: 

    Duyên là sinh viên của một trường Đại học. Duên đã quen biết anh Hùng – là người góa vợ và có 01 con 02 tuổi tên là Sơn. Hai người quyết định cưới nhau. Trong thời gian chung sống, Duyên đã sinh ra một bé trai và đã được 13 tháng tuổi. Không muốn phải nuôi bé Sơn, Duyên quyết định giết bé Sơn. Ngày 25/10/1998, lấy lý do đưa bé Sơn về nhà bà nội, Duyên đã đưa bé Sơn đến khúc sông vắng người rồi đẩy bé xuống sông. Về đến nhà, Duyên nói với chồng rằng bé Sơn ở lại chơi với bà nội ít hôm sẽ về. Vụ việc sớm bị phát giác, khi người chồng liên lạc với mẹ của mình hỏi thăm về bé Sơn. Hành vi giết người của Duyên đã bị Tòa án tuyên xử phạt tử hình. Bản án được tuyên vào ngày 05/3/1999.

    Hỏi: Quyết định về hình phạt tử hình của Tòa án đối với hành vi giết người của Duyên có được thay đổi khi BLHS năm 1999 có hiệu lực không? Nếu có thì hướng giải quyết như thế nào?

    Cho biết: Điều 27 BLHS năm 1985 quy định: “Không áp dụng tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Tử hình được hoãn thi hành đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

    Bài tập 25: 

    Tùng 17 tuổi là con trai của chủ cơ sở sửa chữa xe ô tô. Do việc đua xe trái phép gây tai nạn giao thông nên Tùng đã bị kết án về tội đua xe trái phép theo khoản 1 Điều 207 BLHS với mức án 03 năm tù. Hãy xác định đường lối xử lý đối với chiếc xe ô tô đó, nếu:

    1. Chiếc xe ô tô đó là của khách hàng yêu cầu sửa chữa. Xe được sủa chữa xong, chưa được giao cho khách thì Tùng lén lấy đem đua xe và bị bắt giữ.

    2. Chiếc xe ô tô đó thuộc quyền sở hữu của cha Tùng. Cha Tùng thường cho con mình sử dụng chiếc xe ô tô này để đi chơi. Trong lần đua xe này, ông cũng cho phép Tùng lấy xe đi chơi như mọi lần.

    (Gợi ý: Xem thêm Luật giao thông đường bộ).

    Bài tập 26: 

    H là một thanh niên độc thân, đã có hành vi buôn bán chất ma túy trong một thời gian dài. H bị bắt quả tang cùng với 02 không Heroin được giấu trong cốp xe ô tô hiệu BMW do chính H đứng tên. Trong quá trình điều tra xác định tài sản của H gồm có:

    – Một chiếc xe ô tô hiệu BMW trị giá 50.000 USD;

    – Một căn nhà có trị giá 300 triệu đồng là tài sản thừa kế từ cha mẹ;

    – Một nhà hàng trị giá 05 tỷ Việt Nam D do H đầu tư từ lợi nhuận thu được do buôn bán ma túy.

    Câu hỏi:

    – Dựa vào quy định của BLHS Tòa án phải áp dụng biện pháp nào để xử lý 02 không Heroin?

    – Dựa vào quy định của BLHS Tòa án phải áp dụng biện pháp nào liên quan đến tài sản của H.

    Bài tập 27: 

    A mượn xe honda của B. Sau khi mượn được xe, A đã dùng chiếc xe này làm phương tiện cướp TS. Vụ việc bị phát giác, A bị Tòa án xét xử về tội cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 136 BLHS. Tòa án phải xử lý như thế nào đối với chiếc xe của B đã cho A mượn?

    Bài tập 28: 

    Ngày 25/10/1990, A đã phạm tội giết người có tính chất man rợ (lúc phạm tội, A đã thành niên). Hành vi phạm tội của A được quy định tại khoản 01 Điều 101 BLHS năm 1985 (có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình). A bỏ trốn. Cơ quan có thẩm quyền không phát hiện ra người thực hiện tội phạm nên vụ án bế tắc. Sau khi trốn về một tỉnh Miền Tây, A đã thay đổi họ tên, đến sinh sống tại một thị trấn nhỏ. Tại đây a đã lấy vợ, chăm chỉ làm ăn nên cuộc sống trở nên khấm khá. A đã có nhiều đóng góp cho địa phương, giúp đỡ vốn cho người có khó khăn về kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương bằng cách mở rộng sản suất, thu hút nhân công. Trong đối xử với công nhân, A đã thực hiện nhiều biện pháp giúp đỡ cho họ ổn định cuộc sống.

    Một hôm, A thú nhận tội lỗi về việc giết người với vợ và kể lại những dằn vặt mà A thầm chịu đựng suốt những ngày tháng đã qua. Vợ A bàng hoàng và đã khuyên A ra trình diện. Ngày 24/11/2003, A đã ra trình diện với chính quyền địa phương, khai nhận tội lỗi. Vụ việc được đưa ra xét xử.

    Hãy xác định có những phương án xử lý như thế nào đối với A. Chỉ rõ căn cứ pháp lý. Xử lý A nhưng có tình tiết giảm nhẹ là đầu thú.

    Bài tập 29: 

    T phạm tội giết người khi 17 tuổi 6 tháng, Tòa án đưa T ra xét xử thì T đã 18 tuổi 02 tháng.

    Hỏi: Khi xét xử T có được hưởng đường lối xử lý ưu đãi đối với người chưa thành niên phạm tội không?

    Bài tập 30:

    Theo quy định của Pháp luật, hành khách khi qua cửa khẩu biên giới không phải khai báo hải quan nếu chỉ mang số ngoại tệ trong giới hạn 7.000 USD. Hà Bửu L, 25 tuổi đã mang 20.000 USD qua cửa khẩu mà không khai báo theo quy định của thủ tục của hải quan và bị bắt quả tang. Hãy xác định tộI danh.

    Bài tập 31: 

    A là một người hay la cà trên đường phố nên biết được B là người buôn bán ngoại tệ – là loại hàng mà Nhà nước cấm tư nhân kinh doanh.

    a) A yêu cầu B phải nộp cho y một số tiền 05 triệu đồng thì sẽ không tố giác việc làm của B với công an. B đành chấp nhận và giao đủ số tiền mà A đặt ra.

    b) A mặc trang phục công an, đến nơn B hay bán ngoại tệ trái phép, chờ cho B đang trao đổi ngoại tệ cho khách hàng thì bất ngờ ập đến bắt quả tang. Tưởng A là công an nên B năn nỉ xin được tha tội. A giả bộ làm căng, yêu cầu B về trụ sở để lập biên bản. B ra sức năn nỉ thì A hạ giọng nói chia đôi tiền phạm pháp cho A một nửa thì A tha cho. B chấp nhận và giao cho A 500 USD. Hãy xác định tội danh cho hành vi của A trong các trường hợp nêu trên.

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp)
    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp)

    Bài tập 32: 

    A và B bàn với nhau tìm cách chiếm đoạt xe honda của người khác. Cả 02 đều thống nhất hành động. A và B đến 01 bãi gửi xe. A đứng ngoài canh chừng để báo động cho B khi cần thiết. B vào trong bãi xe, lựa 01 chiếc xe Suzuki không khóa cổ. B dắt xe, làm nổ máy và gài số chạy nhanh qua nơi kiểm soát mặc cho những người kiểm soát vé xe truy hô. Cả 02 bị bắt giữ. Hãy xác định A và B phạm tội gì?

    Bài tập 33: 

    A 18 tuổi, A ra tiệm cho thuê đồ, thuê 01 bộ quần áo đẹp. A mặc quần áo vừa thuê và đi đến chợ Bến Thành. Giả làm 01 người sang trọng, A hỏi mua mỹ phẩm với tổng số tiền 1.200.000 đồng tại một quầy bán hàng. Sau khi yêu cầu chủ hàng đóng gói, A mượn cớ phải mua một số hàng khác nên gửi lại gói hàng và hẹn quay lại nhận hàng và sẽ trả tiền. A để ý đến vị trí gói hàng được cất và đi qua hàng đồ khô mua một số hàng và yêu cầu chủ hàng gói lại sao cho gói hàng có kích thước gần giống với gói hàng mà A đã để lại ở quầy mỹ phẩm với giá 50.000 đồng. A đến quầy mỹ phẩm, cố ý không để cho chủ hàng nhìn thấy mình. Nhân lúc chủ hàng đang tiếp 01 khách hàng khác, A liền tráo gói hàng đồ khô để lấy gói hàng mỹ phẩm. Vụ việc bị phát giác ngay sau đó. Hãy xác định A phạm tội gì?

    Bài tập 34: 

    A là một thanh niên lêu lổng, không có nghề nghiệp. Hết tiền tiêu xài, A nghĩ cách kiếm tiền. Lúc 15 giờ, a đến 01 ngã tư đường phố và đứng tại bên lề đường chờ cơ hội chiếm đoạt tài sản của người khác. Khi đèn xanh trên hệ thống đường báo giao thông bật sáng, A nhanh chóng giật chiếc dây chuyền trên cổ của 01 phụ nữ và bỏ chạy. B là người chứng kiến được sự việc, liền bỏ xe đạp của mình trên lề đường và chạy đuổi theo để bắt A. Chạy vào con hẻm cụt, A hết đường nên quay mặt đối diện với B, một tay bỏ dây chuyền vào miệng, tay kia rút dao đâm vào bụng của B và bỏ chạy. B bị thương với tỷ lệ thương tật qua giám định 27%. Hãy xác định tội danh đối với hành vi phạm tội của A.

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp theo)

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp theo)

    Bạn đang tìm kiếm bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp theo) để rèn luyện kỹ năng phân tích và vận dụng pháp luật? Bài viết này tiếp tục tổng hợp những tình huống thực tế, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý và cách áp dụng vào thực tiễn. Đây là tài liệu hữu ích dành cho sinh viên luật, học viên tư pháp và những ai quan tâm đến luật hình sự. Cùng khám phá ngay!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp theo)

    Bài tập 35: 

    Khoảng 19 giờ 30, ngày 20/6/2005 Hoàng Văn K (sinh năm 1987), đạp xẽ đi chơi cùng nhóm bạn là Bùi Văn Q (sinh năm 1988), Nguyễn Mạnh H (sinh năm 1989). Lúc 21 giờ, cả nhóm đang đạp xe đến cây xăng thuộc phường Y, thị xã U thì va chạm với 03 thanh niên khác đi xe ngược chiều. Sau khi to tiếng cãi vã, 02 bên bỏ đi. Đi 01 đoạn, K rủ cả nhóm quay trở lại đuổi đánh 03 thanh niên kia. Khi quay trở lại, họ thấy có 02 thanh niên tên là M và N đang chở nhau trên 01 chiếc xe đạp. Cho rằng đây là số thanh niên vừa mới va chạm với mình, nên cả 03 đã lao vào rượt đuổi 02 thanh niên đang đi trên xe đạp. M và N tưởng là cướp nên bỏ chạy thoát thân. Thấy M và N bỏ chạy để lại xe, K, Q và H liền lấy xe bán được 1.200.000 đồng chia nhau, mỗi người được 400.000 đồng.

    1. Về việc xác định tội danh trong vụ án này có 02 ý kiến:

    a) Hành vi trên cấu thành tội cướp tài sản (Điều 133)

    b) Hành vi trên cấu thành tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS)

    Hãy xác định hành vi do K, Q, và H thực hiện cấu thành tội phạm nào? Nêu rõ điều khoản cần áp dụng đối với trường hợp này.

    2. Hãy xác định ai là người phạm tội trong vụ án.

    Cho biết: Ngày tháng sinh của K, Q, H đều không xác định được. Chỉ xác định được năm sinh.

    Bài tập 36: 

    Q là cán bộ cửa hàng kinh doanh vàng bạc huyện K được cơ quan giao nhiệm vụ làm thủ kho, thủ quỹ kiêm công tác bảo vệ cơ quan. Đồng thời Q còn được giao chìa khóa kho, két bạc và được cơ quan cho ăn nghỉ tại phòng kho.

    Mặc dù không được sự đồng ý của cửa hàng trưởng nhưng Q tự ý chuyển chỗ nghỉ từ phòng kho đến ở tại 01 phòng trên lầu 2 cách xa phòng kho và cho 02 vợ chồng người bán nước giải khát cạnh cửa hàng gửi hàng qua đêm tại kho.

    Vào 19 giờ, sau khi ăn cơm tối, Q đi ngủ không chốt cửa buồng, không để chìa khóa ở nơi quy định mà bỏ trên bàn cạnh giường ngủ. 6 giờ sáng ngày hôm sau, Q thức giấc đi xuống nhà kho thì phát hiện cửa phòng kho bị mở và mất một số tiền trong két sắt.

    Hãy xác định Q có phạm tội không?

    Bài tập 37: 

    S và Đ đang ngồi vá lưới trên bờ biển thì nghe ngư dân truyền miệng nhau: “Ai có ghe lớn ra nhặt ti vi do bọn buôn lậu bị công an phát hiện đã vứt xuống biển”. 15 giờ chiều cùng ngày, S và Đ chạy ghe ra biển vớt đầy ghe được 200 chiếc ti vi, giấu xuống hầm ghe rồi chạy về địa điểm kín đáo để cất giấu. Ngày hôm sau việc làm của S và Đ bị công an biên phòng phát hiện và yêu cầu giao nộp số ti vi nói trên cho cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với S và Đ về tội chiếm giữ trái phép TS.

    Hãy xác định tội danh mà S và Đ bị truy tố có đúng không? Tại sao?

    Bài tập 38: 

    A là một người từ Hồng Kông đến Việt Nam. Qua thăm dò, A biết được có thể nhập ôtô vào Việt Nam bằng 02 con đường: mậu dịch và phi mậu dịch. Để nhập ôtô vào Việt Nam bằng con đường mậu dịch thì phải có phép của cơ quan có thẩm quyền. Bằng con đường phi mậu dịch, ôtô có thể được gửi cho thân nhân đang sống tại Việt Nam theo dạng quà biếu. A không có thân nhân tại Việt Nam nên nhờ B móc nối với 01 số người ở Việt Nam là C, D mạo nhận là người thân của A để nhập ôtô vào Việt Nam. C, D đồng ý và thỏa thuận nhận bồi dưỡng 10% số tiền lãi khi bán xe. Bằng cách nêu trên, A nhập được 02 chiếc xe 15 chỗ ngồi trị giá 60.000 USD, thực hiện đúng thủ tục luật định về việc nhập khẩu vào Việt Nam 02 chiếc xe ôtô bằng con đường quà biếu cho thân nhân và đã thực hiện việc đóng thuế theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm người mua 02 chiếc xe nói trên đã bất đồng giữa A và C, D nên vụ việc bị phát giác.

    Hãy xác định tội danh trong vụ này.

    Bài tập 39: 

    A, B và C là người chuyên khai thác gỗ trái phép đã bị xử phạt hành chính về hành vi này. Trên cơ sở đặt hàng của D là chủ 01 xưởng gỗ cần mua 01 số gỗ, A, B, C đã vào rừng đang nằm trong sự bảo vệ của hạt kiểm lâm X để tìm gỗ và cưa được 01 số cây gỗ. Chúng dùng 01 chiếc xe cày để đưa gỗ về phân xưởng xẻ thành tấm theo thỏa thuận với D. Trên đường đi, chúng bị kiểm lâm phát hiện và buộc chúng phải đưa xe về trạm để lập biên bản. Nhưng A, B và C đã cầm gậy (đã chuẩn bị sẵn) đánh lại kiểm lâm để xe gỗ chạy thoát. Kết quả của sự tấn công đó là làm cho 01 cán bộ kiểm lâm bị thương với tỷ lệ thương tích 5%, còn những người khác chỉ bị thương nhẹ không đáng kể.

    Hãy xác định:

    a) Hành vi của A, B và C cấu thành tội phạm gì? Tại sao? Chống người thi hành công vụ

    b) Hành vi của D có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì?

    Bài tập 40: 

    A mua được 02 ký Cocain. A đến gặp B nhờ chuyển dùm đến thị trấn X cho 01 người quen với giá tiền công là 15 triệu đồng. B đang cần tiền nên đồng ý mặc dù biết hàng được chuyển là cocain. Trên đường đi vận chuyển do thái độ lấm lét sợ bị phát hiện nên B bị đội đặc nhiệm bắt giữ cùng với gói hàng. B thành thật khai báo sự việc. Số hàng do B vận chuyển được giám định. Theo kết quả giám định số hàng đó không phải là chất ma túy. Qua điều tra A đã mua lầm hàng.

    Hãy xác định A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Cần áp dụng điều luật nào của BLHS năm 1999? Nếu cơ quan điều tra xác định được người bán chất ma túy giả cho A thì người đó có phạm tội không và nếu có thì phạm tội gì?

    Bài tập 41: 

    A là học viên của một trường dạy nghề. Vì có xích mích cá nhân với B là bạn cùng lớp nên đã đánh B bị thương tích với tỷ lệ thương tật 30%. Vì thế B phải điều trị tại bệnh viên 15 ngày và chi phí điều trị tại bệnh viên là 5.320.000 đồng. Việc A cố ý gây thương tích cho B đã làm phát sinh các quan hệ sau:

    – A bị tòa án tuyên phạt 01 năm tù về việc gây thương tích cho B.

    – A phải bồi thường cho B toàn bộ số tiền chi phí điều trị tại bệnh viện.

    – A bị trường dạy nghề buộc thôi học vì có vi phạm nghiêm trọng đến qui chế của nhà trường.

    Bằng hiểu biết về q/hệ PLHS, hãy xác định q/hệ nào là q/hệ PLHS? Tạo sao?

    Bài tập 42: 

    A 17 tuổi bị bắt quả tang đang mang trong người 03 tép heroin với trọng lượng 0,155g. Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong các tình huống sau:

    a) A là con nghiện nên mua về sử dụng cho cá nhân. sử dụng ma túy

    b) A mua dùm cho người bạn là B đang lên cơn nghiện nhờ mua.

    c) A đang mang đến cho người mua do mẹ A sai.

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp theo)
    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp (tiếp theo)

    Bài tập 43: 

    Nguyễn Hữu B đã thuê công nhân lấy xi măng Quảng Trị trộn với bột tả theo tỷ lệ 6/4 rồi đóng mác xi măng Bỉm Sơn để bán. Trong 03 tháng, với cách thức nêu trên, bọn chúng đã làm và bán ra thị trường 50 tấn xi măng.

    Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Bài tập 44: 

    Lúc 06 giờ sáng, Trần Cao T gặp cháu N 08 tuổi, đang đứng trong vườn mận. Thấy N đeo sợi dây chuyền vàng nên y chợt nảy ý định chiếm đoạt. Quan sát chung quanh không có ai, T bước qua mé mương lấy 01 khúc cây còng lớn bằng cổ tay. Cầm khúc cây trên tay, T nhanh bước đến phía sau lưng cháu N và vung tay đập mạnh vào đầu cháu N làm cháu té xuống đất. Cháu N la lên kêu cứu thì T tiếp tục đánh vào đầu cháu N cái thứ hai khiến N bất tỉnh. T lấy sợi dây chuyền trên cổ của cháu N. Kế đó, T ôm cháun dìm xuống mương, nhận xác cháu xuống bùn. Sợi dây chuyền T bán được 275.000 đồng. Vụ việc được phát hiện nhanh chóng. T bị bắt giữ.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T.

    Bài tập 45: 

    Hãy xác định tội danh đối với những hành vi sau của A:

    1. Mua 40 triệu đồng tiền Việt Nam giả với giá 15 triệu đồng đem vào Đak Lak để tiêu thụ vào thị trường. A chỉ mới tiêu được 12 triệu đồng thì bị bắt giữ.

    2. Nhận tiền trả nợ bằng tiền giả với tỷ lệ 01 triệu đồng tiền nợ nhận 02 triệu đồng tiền giả. A nhận được 06 triệu đem tiêu thụ thì bị bắt giữ.

    Bài tập 46: 

    Bà Bùi Thị H và cháu là anh Nguyễn Thanh T đưa chiếc xe honda cầm cố cho Đào Thị M để vay 5,5 triệu đồng. Sau 02 tháng bà H và anh T mang đến đưa cho M 06 triệu đồng. Nhưng số tiền gốc và lãi phải trả là 7,61 triệu đồng nên M không chịu trả xe, yêu cầu đưa nốt số tiền còn lại rồi mới giao xe. Bà H làm đơn yêu cầu cơ quan công an can thiệp. Hãy xác định hành vi của M có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì?

    Bài tập 47: 

    Công ty TNHH – TMX bán hàng cho công ty Y một lượng hàng hóa là 7,9 tỷ đồng trên 10 hóa đơn. Theo lệnh của Giám đốc Đ thuộc công ty TNHH – TMX nhân viên của công ty này đã kê khai thuế 02 hóa đơn và không kê khai thuế cho 08 hóa đơn còn lại tương đương với số thuế cần phải đóng là 786 triệu đồng. Nhờ vậy mà công ty Y lợi được khoản tiền nêu trên. Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Bài tập 48: 

    Công ty Bảo vệ thực vật A nhập từ nước ngoài về Việt Nam 32 tấn nguyên liệu SX thuốc trừ sâu BPMC hàm lượng khai báo là 97%. Qua kiểm định của trung tâm kiểm định thực vật phía Nam thì hàm lượng chỉ có 94,6%. Với cách thức như vậy, Công ty sẽ không phải đóng thuế thay vì phải nộp 10% khi áp đúng mã thuế. Do vậy, công ty A tránh được việc nộp thuế với giá trị 1,45 tỷ đồng. Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Bài tập 49: 

    17 giờ 30 ngày 02/9, A và B cùng 01 số thanh niên đang chạy xe trên đường thì bắt gặp C đi ngược chiều. A liền nói với chúng bạn cùng đi rằng cách đây mấy hôm bị C ức hiếp. Thế là đám thanh niên ép xe của C lại và vây quanh la ó, lớn tiếng hỏi tội C. B dùng tay đánh 01 cái vào mặt C. Bị đau, C ra khỏi xe và ngồi thụp xuống, B đi vòng ra phía sau lưng C và nắm cổ áo phía sau kéo đứng lên để đánh tiếp nên đã làm đứt dây chuyền vàng 24K đeo cổ của C có trọng lượng 04 chỉ vàng. B cất dây chuyền vào túi quần. C xin lại, B nói không lấy rồi bỏ đi cùng đám thanh niên. Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Bài tập 50: 

    A 30 tuổi, quốc tịch Lào. Tại sân bay Tân Sơn Nhất của Việt Nam, A bị phát hiện mang 50.000 USD tráo phép sang Lào. Qua thẩm vấn tại cơ quan điều tra, A khai nhận trước đó 03 tháng A đã bán Heroin cho B là công dân Việt Nam và cho nợ 50.000 USD hẹn một tháng sau sẽ trả lại. Việc mua bán được thực hiện tại Lào. Quá hẹn không thấy B đem tiền đến trả nên A đã qua Việt Nam để đòi nợ. Trên đường mang tiền thu nợ từ B là 50.000 USD, A đã bị Hải quan Việt Nam phát hiện.

    Hãy xác định bộ Luật hình sự Việt Nam có hiệu lực áp dụng đối với hành vi của A không? Tại sao?

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp

    Bạn đang tìm kiếm bài tập tình huống luật hình sự thường gặp để ôn tập và nâng cao kiến thức? Bài viết này sẽ cung cấp những tình huống thực tế phổ biến, giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật, cách áp dụng điều luật và phương pháp giải quyết vụ án. Đây là tài liệu hữu ích dành cho sinh viên luật, người học ôn thi tư pháp hoặc bất kỳ ai quan tâm đến lĩnh vực luật hình sự. Cùng khám phá ngay!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp

    Bài tập 1: 

    Ngày 6/9/2017, X đã thực hiện hành vi hiếp dâm chị Y. Do quá uất ức, chị Y đã treo cổ tự sát. Ngày 6/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Y. xét xử X về tội hiếp dâm theo điểm c khoản 3 Điều 111 BLHS.

    Hỏi:

    a. Cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS) là cấu thành tội phạm hình thức?
    b. Theo phân loại tội phạm tại Điều 8 BLHS, hãy xác định tội hiếp dâm mà X đã thực hiện và bi xét xử thuộc loại tội phạm gì? Giải thích rõ tại sao?

    Bài tập 2: 

    A là chủ một xe chở xăng dầu. A đã ký hợp đồng với nhà máy sản xuất bột ngọt T.H vận chuyển dầu chạy máy cho nhà máy từ công ty xăng dầu đến nhà máy. Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn bớt dầu vận chuyển cho nhà máy như sau: Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chống rút dầu ra bán cho B mỗi lần vài trăm lít. Sau đó chất lên xe mấy thùng nước có trọng lượng tương đương với số dầu đã rút ra. Đến địa điểm giao dầu, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhận dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe. Với cách thức như vậy, a đã nhiều lần lấy dầu được thuê vận chuyển của nhà máy bột ngọt T.H với tổng trị giá là 38.565.000 đồng. Sau đó thì A bị phát hiện.

    Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Bài tập 3: 

    A là người Trung Quốc thường xuyên sang Việt Nam móc nối với một số người Việt Nam để đưa phụ nữ Việt Nam qua Trung Quốc bán cho người Trung Quốc lấy làm vợ. A hứa với những người Việt Nam có nhu cầu kiếm việc rằng qua Trung Quốc có nhiều việc làm kiếm ra tiền. A đã đưa được một số cô gái người Việt Nam để bán cho người Trung Quốc. A cùng B và C đều là người Trung Quốc hãm hiếp, rồi sau đó mới bán cho một người Trung Quốc làm vợ.

    Hãy xác định:

    1. BLHS Việt Nam có hiệu lực áp dụng đối với những hành vi phạm tội nào?

    a) Tội buôn bán phụ nữ (Điều 119 BLHS)

    b) Tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS)

    2. Ai phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam?

    Bài tập 4: 

    A (25 tuổi) là công dân Việt Nam đã phạm tội giết người tại Trung Quốc, bị tòa án nước sở tại xử phạt 10 năm tù. Sau khi mãn hạn tù, A về Việt Nam.

    Anh (chị) hãy lựa chọn một trong ba phương án sau đây để giải quyết trường hợp của A và giải thích rõ lý do:

    a) Khi về Việt Nam , A không phải chịu trách nhiệm hình sự theo BLHS Việt Nam.

    b) Khi về Việt Nam, A vẫn phải chịu thêm trách nhiệm hình sự theo BLHS Việt Nam.

    c) Theo Luật hình sự Việt Nam, A vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo BLHS Việt Nam, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét cụ thể mà không buộc A chịu trách nhiệm hình sự theo BLHS Việt Nam nữa.

    Bài tập 5: 

    A mời 02 người bạn là B và C đi nhậu tại quán ông Y hết 2.300.000 đồng. A chỉ có 01 triệu đồng và chủ quán đồng ý cho trả số tiền còn lại vào ngày hôm sau. B thấy vậy sợ chủ quán không tin tưởng nên tháo chiếc đồng hồ đeo tay trị giá 6 triệu đồng đưa cho chủ quán để làm tin. A cảm thấy bị xúc phạm nên liền rút một trái lựu đạn (không có thuốc nô bên trong) đặt mạnh lên bàn và la lên “Đứa nào dám không tin?”. Hành động của A làm cho thực khách hoảng sợ và bỏ chạy. Kết quả chủ quán bị thiệt hại hơn 10 triệu đồng do không thể thanh toán được với khách hàng đã bỏ chạy.

    Hãy xác định hành vi của A xâm phạm đến khách thể nào? (Cho biết có 02 quan hệ bị thiệt hại trong trường hợp này do hành vi của A: thứ nhất là quyền sở hữu của ông Y về số tiềnbị thất thoát; thứ hai là trật tự công cộng).

    Bài tập 6: 

    Ông A là giám đốc của công ty X (là doanh nghiệp N/nước), đã chỉ đạo cho nhân viên lập 02 hệ thống sổ sách kế toán nhằm mục đích trốn thuế. Trong thời gian một năm, công ty X đã trốn thuế với tổng số tiền là 1,5 tỷ đồng, số tiền trên được dùng để mở rộng quy mô sản xuất. Hãy xác định:

    a) Công ty X có phải chịu TNHS theo Luật hình sự Việt Nam hay không? Tại sao?

    b) Ông A có phải chịu trách nhiệm HS về việc trốn thuế của công ty X theo Điều 161 BLHS? Tại sao?

    Bài tập 7: 

    A là bác sĩ đa khoa có mở phòng mạch riêng. Trong lúc khám bệnh A đã kê toa thuốc cho bé Hoài Trung (3 tuổi) theo toa của người lớn. Do sơ suất, A không kiểm tra toa thuốc trước khi trao cho người nhà của bé Trung. Người nhà của bé Trung đến tiệm thuốc do H đứng bán. H bán thuốc theo toa của A mặc dù trên toa thuốc có ghi tuổi của bệnh nhân là 3 tuổi. Bé Trung do uống thuốc quá liều mà bị tử vong.

    Hỏi A và H có phải chịu TNHS về cái chết của bé Trung không? Nếu có là do lỗi nào? Sử dụng lý luận về lỗi để lý giải.

    Bài tập 8: 

    A là nhân viên bảo vệ kho C6 cảng Tân Thuận. Trong một ca trực đêm, do một người vắng mặt nên A phải trực một mình. Vào lúc 01 giờ 30 sáng ngày hôm sau, trong khi đang làm nhiệm vụ thì bất ngờ A bị 03 tên côn đồ xông tới dùng dao kề vào cổ A, buộc A phải giao chìa khóa kho hàng nếu không sẽ giết A ngay lập tức. Trong tình trạng đóA buộc phải giao chìa khóa cho chúng. Bọn côn đồ trói A lại, nhét khăn vào miệng A. Kết quả là chúng đã chiếm đoạt một số hàng hóa trị giá 500 triệu đồng. Đến ca trực ngày hôm sau vụ việc được phát hiện.

    Hãy cho biết anh A có phải chịu TNHS về việc đã để thất thoát số tài sản nói trên không? (Dùng lý thuyết về sự cưỡng bức để giải thích).

    Bài tập 9: 

    Chi Y vừa được công ty thương mại X tuyển vào làm thủ quỹ. Biết rõ việc này, ba tên A, B, C(đã thành niên và đều là thành phần thất nghiệp, nghiện ngập) đã chặn đường chị Y đòi Y phải giao nộp cho chúng 5 triệu đồng, nếu không chúng sẽ tố cáo hành vi tham ô mà chị Y đã thực hiện trước đây ở một cơ quan N/nước. Lo sợ bị mất việc làm, chị Y đã tự ý lấy số tiền 5 triệu đồng trông công quỹ của c/ty X và giao cho bọn chúng. Vụ việc bị phát hiện.

    Theo anh (chị), chị Y có phải chịu TNHS về hành vi nói trên không? Tại sao?

    Bài tập 10: 

    A có nhiệm vụ quản lý và bảo vệ khu rừng của nông trường X. B đã nhiều lần vào khu rừng trên để chặt trộm cây bạch đàn. Một buổi A bắt quả tang B đang chặt trộm bạch đàn. A buộc B phải về trụ sở của nông trường để xử lý theo quy định. B xin tha nhưng A không chấp nhận. Trên đường tro83 về trụ sở nông trường, lợi dụng trời tối và đoạn đường khó đi, B đã dùng rìu chặt cây chém 02 nhát vào đầu A làm A té quỵ, B tiếp tục chém nhiều nhát vào vùng ngực và mặt của A. Khi thấy A nằm bất động, B xách rìu đi về phía rừng. Một lúc sau có người phát hiện và A đã được cứu sống. Giấy chứng thương ghi nhận A bị thương tật với tỷ lệ 65%. Anh (chị) hãy xác định lỗi của B trong trường hợp trên.

    Bài tập 11: 

    Do mâu thuẫn với mẹ ruột mình (bà Liêu), sau một hồi cải vã với mẹ, Trung liền mang can nhựa đi mua 03 lít xăng đem về nhà. Lúc này cháu Thảo (con gái Trung) đang ngủ trên giường, chị Xuân (vợ Trung) đang bế đứa con gái 02 tuổi là cháu Vy. Thấy Trung tay cầm can xăng với thái độ rất hung hăng, chị Xuân liền can ngăn, nhưng Trung gạt chị Xuân ra, vừa quát: “Tao đốt nhà rồi trả cho bà Liêu”, vừa tưới xăng lên nền nhà và vách nhà bằng gỗ. Chị Xuân một tay bế con, một tay giật can xăng trên tay Trung. Tức thì Trung bật quẹt, lửa bùng cháy. Sau đó hàng xóm đến can ngăn và dập lửa.

    Kết quả là cháu Vy bị bỏng nặng và chết ngay sau đó. Chị Xuân và Trung cũng bị bỏng nhưng thoát chết (chị Xuân bị bỏng nặng với tỷ lệ thương tật là 41%). Một phần vách nhà và tài sản trong nhà (gồm giường, tủ, bàn, ghế) bị cháy, thiệt hại về tài sản là 10 triệu đồng.

    Anh (chị) hãy xác định:

    1. Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của Trung là gì?

    2. Hành vi của Trung đã xâm phạm khách thể trực tiếp nào?

    3. Hậu quả do hành vi phạm tội của Trung gây ra là gì?

    4. Lỗi của Trung đối với từng loại thiệt hại trong vụ án trên.

    Bài tập 12: 

    Theo tập tục của một dân tộc ít người, khi người mẹ chết ngay sau khi sinh thì phải chôn sống đứa trẻ cùng với người mẹ. Vợ A chết sau khi sinh nên A đã chôn con mình cùng với vợ.

    Hỏi: A có phải chịu TNHS theo PLHS Việt Nam hay không? (Dùng lý thuyết về sai lầm để giải quyết).

    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp
    Bài tập tình huống luật hình sự thường gặp

    Bài tập 13:

    Vào 10 giờ đêm, A đang đi trên một đường vắng người thì phát hiện một thanh niên đang đi cùng chiều. A liền lấy dao áp sát vào người thanh niên đó (B), uy hiếp đòi B đưa tiền. B nói không có, A một tay dùng dao uy hiếp B, một tay móc vào túi sau của B lấp được chiếc bóp tay. Khi mở ra thì bóp không có tiền mà chỉ có giấy tờ tuỳ thân.

    Bằng lý thuyết về sai lầm, hãy xác định A phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình hay không? Tại sao?

    Bài tập 14: 

    Vì muốn giết người có bất đồng với mình A đả nghiên cứu lịch và nơi sinh hoạt của B. A quan sát thấy trên giường B thường nằm có người đang ngủ. A lẻn vào nhà dùng dao găm đâm nhiều nhát liên tiếp, nhưng không thấy B phản ứng. Giám định pháp y xác định B đã chết trước đó vì một cơn đau tim. Hỏi:

    1. A có phạm tội hay không?

    2. Bạn dùng lý thuyết nào sau đây để xác định về trách nhiệm đối với A:

    – Lý thuyết về quan hệ nhân quả. Hậu quả là kết quả của nguyên nhân

    – Lý thuyết về sai lầm và ảnh hưởng của sai lầm đến trách nhiệm hình sự. không chịu trách nhiệm vì không có hậu quả

    Bài tập 15: 

    Vì mâu thuẫn cá nhân, A lên kế hoạch giết B sau khi nghiên cứu lịch sinh hoạt của B. Lựa chọn địa điểm và thời gian thích hợp, A quyết định ra tay. B trên đường trở về nhà sau khi đi chơi với bạn gái về vào lúc 22 giờ thì A canh sẵn ở vị trí lựa chọn và bắn vào B. Do trời tối, ánh sáng đèn phố không đủ sáng nên B không trúng đạn. Sau phát bắn không thành đó, A mang súng về không muốn giết B nữa. Hãy xác định:

    1. Hành vi của A có đủ điều kiện về tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội giết người không? không

    2. A có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người không? (Biết rằng hành vi giết người được quy định tại điều 93 BLHS). có

    3. A có phải chịu TNHS về tội sử dụng vũ khí trái phép không? (Biết rằng hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng được quy định tại điều 230 BLHS). có

    Bài tập 16: 

    A là bạn của B đến nhà B chơi, nhưng B vừa mới qua nhà hàng xóm chơi cờ nên a không gặp B. Thấy nhà không khóa và có chiếc xe gắn máy để ngoài sân, A liền lấy chiếc xe máy đem về nhà cất. Nhà B phát hiện mất xe, tìm kiếm khắp nơi. A sợ bị phát hiện nên ngày hôm sau lén đem chiếc xe trảlại chổ cũ nhân lúc gia đình B đi vắng.

    Hãy xác định hành vi của A có phải là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không?

    Bài tập 17: 

    A (17 tuổi), B (15 tuổi) cùng thống nhất rủ nhau đi dọc phố tìm cơ hội để trộm cắp xe gắn máy. Nhânlúc ông C để xe bên lề đường vào mua báo, A và B dùng khóa vạn năng nhanh chốngmở khóa và lấy xe của ông C. Sau đó vụ việc bị phát giác. Hãy xác định A và B có đồng phạm tội hay không? xác định trách nhiệm hình sự của A và B. (Biết rằng hành vi này được quy định tại khoản 1 điều 138 BLHS).

    Bài tập 18: 

    A và B là bạn bè. Nhân lúc đang ngồi uống cà phê A rủ B cùng đi ăn trộm ở nhà bà Q. B từ chối vì bà Q là người cùng xóm. Theo yêu cầu của A, B đã vẽ sơ đồ của nhà bà Q, chỉ vị trí tài sản trong nhà. Không rủ được B cùng tham gia, A tự thực hiện lấy một mình, lấy được một chiếc xe gắn máy và một số quần áo, bán lấy tiền chi xài, không chia cho B. Hãy xác định A và B có đồng phạm tội hay không? có

    Bài tập 19: 

    A là phụ nữ đã có gia đình. Cuộc sống vợ chồng không thuận hòa, hay cãi nhau. Trong những lần như vậy, A thường bị chồng đánh đập rất tàn nhẫn. A muốn giết chồng nên đã thuê B là tên lưu manh chuyên nghiệp. Sau khi ngã giá A và B đi đến thỏa thuận B nhận lời giết chồng của A và sẽ nhận được 20 triệu đồng và sự việc xảy ra sau đó như thỏa thuận. Hãy xác định:

    1. Có đồgphạm trong việc giết người hay không? Tại sao? có

    2. Nếu có đồng phạm thì những người đó là loại người nào? Tổ chức, thực hành

    3. Mức độ trách nhiệm hình sự của từng người như thế nào? Người tổ chức bị phạt nặng hơn

    Bài tập 20: 

    A, B, C là một nhóm thanh niên có nhiều tiền án, tiền sự. Chúng đã thống nhất kế hoạch hành động là đột nhập vào nhà của một người có tài sản để trộm cắp. Theo sự phân công, A đứng ngoài cảnh giới, trong lúc gia đình chủ nhà ngủ say B và C lẻn vào tìm tài sản để lấy. B và C phát giác, cả gia đình chủ nhà hô hoán đuổi bắt. Cả hai chạy ra cửa thì bị con trai chủ nhà giữ C lại. Sẵn có dao trong người, C đâm chết anh thanh niên đó. A và B thì chạy thoát.

    Được biết, trong vụ án này có 2 tội phạm là giết người và trộm cắp TS. Hãy xác định:

    1. Có đồng phạm trong tội giết người không? Nếu có thì mỗi người thực hiện với vai trò nào, mức độ trách nhiệm ra sao? không

    2. Có đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản không? Nếu có thì mỗi người thực hiện tội phạm với vai trò nào, mức độ trách nhiệm ra sao? Có, B, C thực hành

    Mời bạn xem thêm:

  • Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    Bạn đang tìm kiếm câu hỏi nhận định môn Luật Hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế để ôn tập hiệu quả? Đây là nhóm tội phạm liên quan đến các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước. Bài viết này sẽ cung cấp hệ thống câu hỏi nhận định giúp bạn nắm vững kiến thức, phân tích đúng – sai theo quy định pháp luật, từ đó chuẩn bị tốt cho kỳ thi Luật Hình sự. Cùng khám phá ngay!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    1. hành vi khách quan của các tội phạm quy định trong Chương các tội xâm phạm sở hữu chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.

    => Nhận định này Sai.

    Trong tội Cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đọat tài sản thì ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản trong hành vi khách quan của các tội này còn có hành vi: dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, hành vi khác làm nạn nhân bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, bắt cóc con tin,…

    2. Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

    => Nhận định này Sai.

    Nếu là rừng trồng của hộ cá nhân, gia đình tổ chức thì là đói tượng tác động của tội phạm sở hữu.

    3. Không phải mọi loại tài sản bị chiếm đoạt đều là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu.

    => Nhận định này Đúng.

    Ví dụ như giấy tờ có giá mà hưu danh, vật là các vật chất trong tự nhiên, vật có tính năng đặc biệt (ma tuý, súng,…) , vật mà chủ sở hữu đã vứt bỏ,… thì sẽ không là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm sở hữu.

    4. Từ chối giao trả lại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên do ngẫu nhiên có được là hành vi chiếm đoạt tài sản.

    => Nhận định này Sai.

    Vì Tài sản ngẫu nhiên có được nếu không có yêu cầu được nhận lại tài sản của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm thì không là hành vi chiếm đoạt tài sản.

    Cơ sở pháp lý: Điều 176

    5. Mọi hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản đều cấu thành Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Nếu hành vi đe doạ dùng vũ lực nói trên không ngay tức khắc. Có nghĩa là chưa mạnh về cường lực cũng như ngay tức khắc về thời gian thì có thể là hành vi khách quan của tội Cưỡng đoạt tài sản

    Cơ sở pháp lý: Điều 170

    6. hành vi giết người nhằm chiếm đoạt tài sản thì cấu thành Tội cướp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS) được áp dụng khi một người có mục đích cướp tài sản còn tình tiết làm chết người chỉ là do vô ý – Đây là trường hợp hỗn hợp lỗi.

    Còn câu nhận định, nói rằng chủ thể đã có hành vi giết người (cố ý) rồi sau đó mới nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì khi này sẽ phạm hai tội: Tội giết người và tội cướp tài sản.

    7. hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ tác động đến người đang quản lý tài sản.

    => Nhận định này Sai.

    Hành vi dùng vũ lực trong Tội cướp tài sản phải nhằm vào con người: có thể là chủ tài sản, người đang quản lý tài sản, người bảo vệ tài sản, hoặc bất kỳ ai mà người phạm tội cho rằng họ đang hoặc sẽ cản trở việc chiếm đoạt của mình.

    8. Đối tượng tác động của Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) chỉ là tài sản.

    => Nhận định này Sai.

    9. Dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản mà dẫn đến hậu quả chết người là hành vi cấu thành cả hai tội: Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Cần xem xét lỗi đối với từng hành vi.

    Tình tiết định khung tăng nặng TNHS “dẫn đến hậu quả chết người” (khoản 4 Điều 168 BLHS) được áp dụng khi một người có mục đích cướp tài sản còn tình tiết làm chết người chỉ là do vô ý – Đây là trường hợp hỗn hợp lỗi.

    Còn câu nhận định, nói rằng chủ thể đã có hành vi giết người (cố ý) rồi sau đó mới nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì khi này sẽ phạm hai tội: Tội giết người và tội cướp tài sản.

    10. Khách thể trực tiếp của Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) chỉ là quan hệ sở hữu.

    => Nhận định này Sai.

    Câu 1.

    11. Uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản không chỉ cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) .

    => Nhận định này Đúng.

    Nếu Uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản, mà ngay tức khắc làm người đó tê liệt về ý chí, không thể chống cự được (dấu hiệu này phải nhanh chóng về thời gian và sức mạnh liệt của hành vi đe doạ) thì sẽ là hành vi khách quan của Tội cướp tài sản.

    12. Công khai chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên chỉ cấu thành Tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Công khai chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà do lợi dụng tình trạng không thể ngăn cản của người đó thì sẽ cấu thành Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

    13. hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trong Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) đòi hỏi người phạm tội phải lén lút với tất cả mọi người.

    => Nhận định này Sai.

    Thông thường, người phạm tội có tâm lý muốn che dấu hành vi phạm tội của mình đối với mọi người kể cả người không có trách nhiệm quản lý tài sản. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể người phạm tội công khai hành vi dịch chuyển tài sản của mình trước người không có trách nhiệm quản lý tài sản, nếu họ thấy việc công khai này không ảnh hưởng đến việc chiếm đoạt tài sản của họ.

    Thứ hai, hành vi khách quan của Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 là hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách lén lút, bí mật đối với người quản lý tài sản.

    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    14. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mà có biểu hiện gian dối là hành vi chỉ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Cần xem xét có biểu hiện gian dối là vào thời điểm nào. Nếu người phạm tội có được tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp trên cơ sở hợp đồng rồi sau đó mới có các biểu hiện gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ cấu thành tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đọat tài sản.

    Cơ sở pháp lý: Điều 175 BLHS.

    15. Mọi hành vi không trả lại tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Nếu người vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng mà tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên sau đó đến hạn mà họ không có khả năng chi trả cũng không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản thì đó không phải là tội phạm mà là quan hệ pháp luật kinh tế, dân sự.

    16. Chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên bằng hợp đồng vay tài sản chỉ cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Vì Nếu ngừoi thực hiện hành vi vay tài sản mà lúc nhận tài sản họ đã đưa ra có thông tin sai sự thật, hoặc bằng những thủ đoạn nào (đưa ra Hồ sơ nhà đất giả, giấy phép lái xe giả,…) làm cho nạn nhân tin và tự nguyện giao tài sản thì sẽ cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    17. Cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên bị giao nhầm là hành vi cấu thành Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Phải có yêu cầu nhận lại tài sản từ chủ sở hữu, người quản lý,…

    18. Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS) được coi là hoàn thành vào thời điểm chủ thể ngẫu nhiên chiếm hữu được tài sản.

    => Nhận định này Sai.

    Câu 17

    19. Mọi hành vi sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Vì dấu hiệu cấu thành của Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 BLHS) thì yêu cầu người phạm tội phải có mục đích cụ thể đó là “vì vụ lợi” mà thực hiện hành vi đó. Nếu không thì sẽ không cấu thành tội phạm này.

    20. Các trường hợp hủy hoại tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội hủy hoại tài sản (Điều 178 BLHS) .

    => Nhận định này Đúng.

    21. Mọi trường hợp cố ý làm hư hỏng tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Cần căn cứ ý chỉ chủ quan của người phạm tội và phương thức thực hiện hành vi phạm tội là mong muốn tài sản đó mất giá trị sử dụng, thì dù trên thực tế tài sản đó vẫn còn khả năng sử sụng thì hành vi này được coi là huỷ hoại tài sản.

    Ví dụ: A mua 1 lít xăng về tưới lên chiếc xe SH của B sau đó châm lửa đốt nhưng do được mọi người kịp thời phát hiện đã dập tắt được ngọn lửa, chiếc xe chỉ bị cháy lớp vỏ nhựa bên ngoài, thiệt hại là 2 triệu đồng, Chiếc xe chưa bị mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khẳ năng phục hồi nhưng xét hành vi của A là muốn huỷ hại chiếc xe nên A phạm Tội cố ý huỷ hoại tài sản.

    22. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên do vô ý là hành vi chỉ cấu thành Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    PLHS quy định tội xâm phạm sở hữu nhằm bảo vệ quyền sở hữu của chủ tài sản đối với tài sản của họ. Nếu chủ sở hữu, người đang quản lý, bảo vệ tài sản giá trị từ 50 trịêu đồng trở lên vô ý tự gây thiệt hại cho tài sản của mình thì sẽ không có tội phạm.

    (Vật có tính năng đặc biệt, những vật có sẳn trong tự nhiên, vật phải chưa bị chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu,…)

    23. Chủ thể phạm Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS) chỉ là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước.

    => Nhận định này Sai.

    Vì ngoài “người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước” thì Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

    Còn có các hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thì lúc này chỉ thể không còn là người có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước.

    Mà có thể là người có chức vụ quyền hạn trong quản lý tài sản, hoặc người có nhiệm vụ bảo quản bảo vệ (bảo vệ xí nghiệp,…) , người có nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn tài sản đã được giao để sử dụng (lái xe được giao ô tô,…)

    24. Dùng tiền giả để trao đổi lấy hàng hóa là hành vi cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Đối tượng của các tội xâm pham sở hữu là tài sản (vật, tiền, giấy tờ có giá vô danh) . Tiền giả không được xem là tài sản. Nên không không là đối tượng của các tội phạm về sơ hữu.

    Hành vi trên sẽ phạm Tội lưu hành tiền giả Điều 207.

    25. Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới chỉ là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Vì nếu mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới để rồi buôn bán thì sẽ cấu thành tội Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS) .

    26. Mọi hành vi buôn bán trái phép hàng hóa có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên qua biên giới đều cấu thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Nếu hàng hoá, tiền tệ, kim khí quý đá quý là đối tượng tác động của tội phạm khác thì sẽ không cấu thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS) .

    Ví dụ: vận chuyển trái phép chất ma tuý không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàn trữ trái phép sẽ cấu thành tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý Điều 250.

    27. Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa là hàng giả.

    => Nhận định này Sai.

    Hàng hoá có hàm lượng, định lượng chất chính chỉ đạt từ mức 70% trở xuống so với tiếu chuẩn chất lượng đã đăng ký công bố hoặc ghi trên bao bì hàng hoá, nhãn thì mới là hàng giả.

    VD: hàng hoá có hàm lượng chất đạt 80% so với chỉ chiêu chất lượng thì không xem là hàng giả (hàng kém chất lượng) mặc dù hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa.

    Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 4 NĐ 08/2013.

    28. Không phải mọi loại hàng cấm đều là đối tượng tác động của các Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190 BLHS) .

    => Nhận định này Đúng.

    Nếu hàng cấm thuộc trường hợp Điều 248, 251, 253,…

    Cơ sở pháp lý: Điều 190 BLHS.

    29. Hàng giả chỉ là đối tượng tác động của các tội phạm được quy định tại điều 192, 193, 194, 195 BLHS.

    => Nhận định này Sai.

    Hàng giả có hai loại là: hàng giả nội dung và hàng giả hình thức.

    Hàng giả nội dung là đối tượng tác động của các tội phạm được quy định tại điều 192, 193, 194, 195 BLHS.

    Hàng giả về hình thức sẽ là đối tượng tác động của tội phạm được quy định tại điều 226 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

    Mời bạn xem thêm:

  • Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (tiếp)

    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (tiếp)

    Bạn đang tìm kiếm bộ câu hỏi nhận định môn Luật Hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (tiếp) để ôn tập và nâng cao hiểu biết? Đây là nhóm tội phạm liên quan đến các hành vi vi phạm quy định về kinh tế, tác động đến sự ổn định của thị trường và hoạt động kinh doanh. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hệ thống hóa kiến thức, nhận diện đúng – sai trong nhận định pháp lý, từ đó củng cố nền tảng cho kỳ thi Luật Hình sự. Hãy cùng khám phá!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (tiếp)

    30. Không phải mọi trường hợp trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội trốn thuế được quy định tại điều 200 BLHS.

    => Nhận định này Đúng.

    Vì có trường hợp chủ thể buôn bán hàng hoá qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan và nội địa và ngược lại bản chất của hành vi này là trốn thuế. Nhưng do NN không quản lý được vì chủ thể đã không thực hiện các quy định khai báo và đóng góp theo đúng quy định pháp luật. Vậy đối với hành vi này thì sẽ phạm Tội Buôn lậu Điều 188.

    31. Mọi hành vi dùng thủ đoạn gian dối trong việc mua bán hàng hóa thu lợi bất chính từ 5 triệu đồng trở lên đều cấu thành Tội lừa dối khách hàng quy định tại Điều 198 BLHS.

    ? => Nhận định này Đúng.

    32. Mọi trường hợp cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất qui định trong Bộ luật dân sự đều cấu thành Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Vì trong cấu thành Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201 BLHS) . Có yêu cầu định luợng thu lợi bất chình từ 30 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

    33. Không phải mọi hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước đều cấu thành Tội in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203 BLHS) .

    => Nhận định này Đúng.

    Vì theo quy định của Bộ luật hình sự thì những hành vi in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ trên 50 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số trở lên hoặc thu lợi bất chính từ trên 30 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội in trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước.

    Cơ sở pháp lý: Điều 203 BLHS 2015.

    34. Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước qui định tại Điều 203 BLHS chỉ là hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định.

    => Nhận định này Sai.

    Ngoài hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác thì còn có các hành vi khác như:

    • Mua, bán hóa đơn đã ghi nội dung nhưng không có hàng hoá dịch vụ đi kèm
    • Mua, bán hóa đơn giả, hoá đơn chưa có giá trị sử dụng, hết hạn sử dụng, hoá đơn của cơ sơ kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hoá hành hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khác hàng khi bán hành hóa, dịch vụ
    • Mua bán hoá đơn có chênh lệch về giá trị hành hóa, dịch vụ giữa các liên của hoá đơn.

    35. hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái quy định của pháp luật là hành vi cấu thành Tội lập quỹ trái phép (Điều 205 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Phải sử dụng quỹ đó gây thiệt hại cho tài sản của NN từ 50 triệu đồng đến 200 triệu hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

    36. Mọi hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đều cấu thành Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Có thể là 226

    37. Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt Nam đều cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam đều cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

    Ngoài ra thì phải thu lợi bất chính hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

    38. Mọi hành vi cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán đều cấu thành Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Cơ sở pháp lý: điểm a, b, c Điều 209.

    39. Chủ thể của Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209 BLHS) là chủ thể thường.

    => Nhận định này Sai.

    Chủ thể đặc biệt: phải là người đai diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin.

    40. Mọi hành vi thao túng giá chứng khoán đều cấu thành Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211 BLHS) .

    ? => Nhận định này Đúng.

    41. Mọi hành vi sử dụng thông tin nội bộ để bán chứng khoán cho người khác đều cấu thành Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Thông tin này chưa công bố hoặc nếu công bố rồi phải có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoáng.

    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (tiếp)
    Câu hỏi nhận định môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (tiếp)

    42. hành vi cố ý khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để trốn thuế với số tiền từ 100 triệu đồng trở lên thì cấu thành tội buôn lậu (Điều 188 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Ví dụ: hành vi nhập khẩu xuất khẩu 100 xe ô tô đua mà khai sai thuế để áp thuế cho 100 xe ô tô chở hàng. Lúc này Nhà nước vẫn quản lý được sô lượng hàng hoá nhập khẩu, nhưng do áp sai thuế nên làm thất thoát NSNN hành vi này phạm Tội trốn thuế.

    43. Rừng chỉ là đối tượng tác động của các tội phạm về môi trường.

    => Nhận định này Sai.

    Rừng rừng sản xuất là rừng trồng, do HGĐ, cá nhân tổ chức được giao, thuê từ bỏ vốn đầu tư thì đó là thuộc sở hữu cá nhân, cho nên là tài sản và có thể là đối tượng của các tội xâm phạm về sở hữu.

    44. Mọi hành vi thải vào nguồn nước các chất gây ô nhiễm môi trường thì cấu thành Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Định lượng từ 5000 m/ngày nước thải có độ PH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12. 5 đến 14.

    Cơ sở pháp lý: điểm d khoản 1 điều 235.

    45. Mọi hành vi khai thác cây rừng trái phép gây đều cấu thành Tội hủy hoại rừng (Điều 243 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Nếu hành vi vi khai thác cây rừng trái phép không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 thì sẽ cấu thành Tội vi phạm quy định về khai khác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Điều 232)

    Cũng có thể là tội phạm về sở hữu nếu đối tượng tác động là rừng sản xuất là rừng trồng.

    Cơ sở pháp lý: tiểu mục 1. 2 mục 1 phần IV TTLT 19/2007. (tham khảo)

    “1. 2. “Hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng” là ngoài hành vi khai thác trái phép cây rừng còn có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng.

    Trường hợp khai thác trái phép rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao cho tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp mà người được giao đã bỏ vốn đầu tư trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ…thì bị xử lý như sau:

    a) Nếu chủ rừng khai thác cây rừng trái phép thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 BLHS;

    b) Nếu người khai thác cây rừng trái phép mà không phải là chủ rừng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều luật tương ứng quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS”

    46. Mọi hành vi phá rừng trồng trái phép gây hậu quả nghiêm trọng đều cấu thành Tội hủy hoại rừng (Điều 243 BLHS) .

    Tương tự câu 45. Tội sở hữu.

    47. Mọi hành vi buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đều cấu thành Tội vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Có những loài động vật cần đủ yếu tố định lượng mới cấu thành tội phạm.

    Ví dụ: Ngà voi có khối lượng từ 02 kg.

    Cơ sở pháp lý: điểm b khoản 1 Điều 244.

    48. Mọi hành vi thải ra môi trường chất thải rắn thông thường trái với quy định của pháp luật thì cấu thành tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Chất thải rắn thông thường từ 200. 000 kg.

    Cơ sở pháp lý: điểm e khoản 1 Điều 235.

    49. Mọi hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam đều cấu thành tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Vì cần có các hành vi tương ứng, đủ định lượng.

    50. Mọi trường hợp trồng cây thuốc phiện đã được giáo dục nhiều lần mà còn vi phạm đều cấu thành Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các cây khác có chứa chất ma túy theo Điều 247 BLHS.

    => Nhận định này Sai.

    Đã được giao dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống.

    Cơ sở pháp lý: điểm a khoản 1 Điều 247.

    51. hành vi làm cho chất ma túy từ loại ma túy này chuyển thành một loại ma túy khác một cách trái phép là hành vi cấu thành Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248 BLHS) .

    Đúng.

    Hành vi làm ra chất ma tuý này từ chất ma tuý khác mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền hoặc không đúng với nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép (trái phép) .

    Cơ sở pháp lý: mục 2 Phần II TTLT 17/2007 (tham khảo)

    52. Mọi trường hợp vận chuyển trái phép chất ma túy đều cấu thành Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy có thể là hành vi khách quan cấu thành một số tội phạm về ma tuý như: Tôi sản xuất trái phép chất ma tuý điều 248, Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý Điều 249,…

    Vậy rất cần thiết xem xét mục đích của chủ thể là vận chuyển trái phép chất ma túy là để làm gì.

    53. Mọi trường hợp cất giấu bất hợp pháp chất ma túy là hành vi cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Trường hợp cất giấu bất hợp pháp chất ma túy nhằm mục đích mua bán, sản xuất, vận chuyển trái phép chất ma tuý sẽ cấu thành những tội phạm tương ứng.

    54. Chiếm đoạt trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán lại chất ma túy đó cho người khác thì phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) .

    Đúng.

    55. hành vi mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới là hành vi cấu thành Tội buôn lậu. (Điều 188 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Vì ma tuý là một loại hàng hoá có tính năng đặc biệt nên dù có hành vi mua bán trái phép chất ma túy qua biên giới thì vẫn là đối tượng tác động của các tội phạm về ma tuý.

    56. Mọi hành vi chiếm đoạt chất ma túy đều cấu thành Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Mọi hành vi chiếm đoạt chất ma túy nhằm mục đích bán lại chất ma tuý đó cho ngừoi khác thì bị truy cứu TNHS với tội danh đầy đủ với hành vi đã thực hiện theo Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) .

    Cơ sở pháp lý: tiểu mục 3. 4 Mục 3 Phần II TTLT 17/2007 (tham khảo)

    57. Mọi trường hợp mua trái phép chất ma túy đều cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Theo điểm b tiểu mục 3. 3 mục II TTLT 17/2007 thì trường hợp “Mua bán trái phép chất ma tuý” phải là hành vi mua chất mà tuý nhằm bán trái phép cho người khác cho nên mọi hành vi mua trái phép chất ma tuý đơn thuần thì sẽ không cấu thành Tội mua bán trái phép chất mà tuý theo Điều 251 BLHS.

    Cơ sở pháp lý: Điều 12, Điều 251 BLHS, điểm b tiểu mục 3. 3 mục II TTLT 17/2007 ngày 24/12/2007 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma tuý” của BLHS 1999.

    58. Không phải mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 253 BLHS) .

    Đúng.

    59. Người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy biết bản thân họ đã nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người sử dụng chất ma túy thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết định khung tăng nặng “gây bệnh nguy hiểm cho người khác” (điểm g khoản 2 Điều 255 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Trường hợp này thì cùng với việc bị truy cứu TNHS Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, người này còn bị truy cứu TNHS về Tội lây truyền HIV cho người khác Điều 1483

    Cơ sở pháp lý: điểm b tiểu mục 6. 3 mục II TTLT 17/2007 ngày 24/12/2007 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma tuý” của BLHS 1999.

    60. Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ cấu thành Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS) .

    Đúng.

    61. Mọi trường hợp mua bán trái phép thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần đều cấu thành Tội vi phạm qui định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần (Điều 259 BLHS) .

    => Nhận định này Sai.

    Chủ thể đặc biệt.

    62. Chủ thể của Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần (Điều 259 BLHS) là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

    => Nhận định này Sai.

    Chủ thể đặc biệt.

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài tập tình huống môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    Bài tập tình huống môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    Bạn đang tìm kiếm bài tập tình huống môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế để rèn luyện kỹ năng phân tích và áp dụng pháp luật? Đây là nhóm tội phạm liên quan đến các hành vi vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước. Bài viết này sẽ cung cấp những tình huống thực tế, giúp bạn vận dụng kiến thức vào giải quyết vụ việc cụ thể, từ đó nâng cao khả năng lập luận và chuẩn bị tốt cho kỳ thi Luật Hình sự. Cùng khám phá ngay!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Bài tập tình huống môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    Bài tập 24

    H là chủ doanh nghiệp tư nhân HP kinh doanh trái cây nhập từ Campuchia.Theo quy định, mặt hàng trái cây được nhập khẩu không cần quota, chỉ cần doanh nghiệp nhập khẩu kê khai đúng số lượng để là cơ sở xác định thuế nhập khẩu.Trong thời gian dài, H đã nhập khẩu nhiều lần trái cây từ Campuchia về Việt Nam. H khai vào Tờ khai nhập khẩu số hàng trái cây nhập ít hơn so với lượng trái cây thực nhập. Do quen biết nên A, B là nhân viên kiểm hóa hải quan không kiểm tra hàng nhập khẩu như quy định mà cho thông quan các chuyến hàng do H nhập khẩu. T – chi cục trưởng Chi cục hải quan cửa khẩu MB đã ký thông quan cho các chuyến hàng nhập khẩu của H sau khi cán bộ kiểm hóa ký xác nhận đã kiểm tra hàng nhập khẩu. Kết quả điều tra xác định: trong thời gian nêu trên, H đã thực nhập 876.938 kg trái cây và số tiền thuế nhập khẩu cần phải đóng là 6.621.873.923 đồng; trong khi đó H chỉ kê khai trên các Tờ khai nhập khẩu số lượng trái cây nhập khẩu là 78.050 kg và số tiền thuế nhập khẩu hàng hóa mà H thực đóng là 473.006.528 đồng. Vì thế H đã hưởng lợi bất chính được 6.148.867.395 đồng.

    Hãy xác định H có phạm tội hay không? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?

    Tội Buôn lậu.

    Bài tập 25

    Công ty bảo vệ thực vật A nhập từ nước ngoài về Việt Nam 32 tấn nguyên liệu sản xuất thuốc trừ sâu BPMC hàm lượng khai báo là 97%. Qua kiểm định của Trung tâm kiểm định thực vật phía Nam thì hàm lượng chỉ có 94,6%. Với cách thức như vậy, Công ty sẽ không phải đóng thuế thay vì phải nộp 10% khi áp đúng mã thuế. Do vậy Công ty A tránh được việc nộp thuế với giá trị 1 tỷ 450 triệu đồng.

    Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Tội trốn thuế.

    Xem thêm: Bài tập định tội danh và quyết định hình phạt mẫu

    Bài tập 26

    Để kinh doanh thuốc lá ngoại từ Campuchia về Việt Nam, A thỏa thuận với B là A sẽ cho người vận chuyển thuốc lá ngoại từ Campuchia về Long An để giao cho B. Sau đó, B sẽ chuyển thuốc lá ngoại từ Long An đến TP. HCM để giao cho người nhận theo sự sắp xếp của A. B tự lo phương tiện và thuê người vận chuyển. Nếu vận chuyển trót lọt mỗi chuyến là 7000 gói thuốc lá ngoại (trị giá khoảng 40 triệu đồng) thì B sẽ được 360.000 đồng tiền công. Còn nếu khi vận chuyển bị bắt B phải bồi thường cho A. Bằng cách này, trong thời gian 3 tháng, A và B đã tổ chức vận chuyển 45 chuyến thuốc lá ngoại, tổng cộng 315.000 gói thuốc lá Hero và Jet. Vụ việc này sau đó bị phát hiện.

    Hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    A phạm tội Buôn lậu.

    B là đồng phạm.

    Bài tập 27

    B là người kinh doanh vật liệu xây dựng, đã thuê công nhân lấy xi măng Quảng Trị trộn với bột tả theo tỷ lệ 6/4 rồi đóng mác xi măng Bỉm Sơn để bán. Trong 3 tháng, với cách thức nêu trên, bọn chúng đã làm và bán ra thị trường 50 tấn xi măng.

    Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

    Bài tập 28

    Đội Quản lý thị trường số 4 thuộc Chi cục Quản lý thị trường Quảng Trị đã phát hiện và tạm giữ một xe đông lạnh chở theo 1,5 tấn mực khô đã xé sợi không nguồn gốc xuất xứ, không giấy chứng nhận kiểm định chất lượng và có dấu hiệu đàn hồi như dây thun. Xe ô tô chở mực do tài xế A điều khiển chạy từ Hải Phòng vào TP.HCM, khi đến Quảng Trị thì bị bắt giữ. Qua giám định, số mực nói trên là hàng giả, được sản xuất từ một số loại hóa chất dẻo và ướp hương liệu giống khô mực, các loại hóa chất và hương liệu này bị cấm sử dụng trong thực phẩm. A khai đã vận chuyển số hàng nói trên cho một người tên B từ cảng Hải Phòng về TP.HCM và không biết số mực trên là hàng giả.

    Hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    B phạm Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm.Điều 193 ?

    Bài tập 29

    Lực lượng trinh sát đã phát hiện A đang vận chuyển số hàng có dấu hiệu nghi vấn. Qua kiểm tra, công an phát hiện 200 gói bột ngọt nhãn hiệu Thai Fermenttiom Ind.Co;Ltd. A khai nhận số bột ngọt này có nguồn gốc từ Trung quốc nhưng được đóng gói với nhãn hiệu Thai Fermenttiom Ind.Co;Ltd. Bên cạnh đó A còn có hành vi mua bột ngọt có nguồn gốc từ Trung quốc đem về đóng gói vào bao bì mang các nhãn hiệu Ajnomoto, Miwon, A-one, Ajnomoto, Miwon, A-one, Thai Fermenttiom Ind.Co;Ltd…rồi bán ra thị trường tổng cộng 8 tấn bột ngọt tương đương với giá trị của hàng thật là 300 triệu đồng. Theo kết luận giám định thì bột ngọt Trung quốc có hàm lượng, định lượng chất chính chỉ đạt mức 60% so với tiêu chuẩn chất lượng của nhà nước.

    Anh (chị) hãy xác định tội danh trong vụ án nêu trên.

    B phạm Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm. Điều 193

    B phạm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Điều 226

    Bài tập 30

    Bà H và cháu là anh T đưa chiếc xe Honda cầm cố cho M để vay 5,5 triệu đồng. Sau hai tháng bà H và anh T mang đến đưa cho M 6 triệu đồng. Nhưng số tiền gốc và lãi phải trả là 7.610.000 đồng nên M không chịu trả xe, yêu cầu đưa nốt số tiền còn lại rồi mới giao xe. Bà H làm đơn yêu cầu cơ quan công an can thiệp.

    Hãy xác định hành vi của M có phạm tội không, nếu có thì phạm tội gì?

    Xem xét thử coi có gọi là cho vay nặng lãi không.

    5,5 triệu. Hai tháng tiền gốc và lãi là 7.61 triệu.

    Lãi = 2,11 triệu/02 tháng à 1.055 triệu/01 tháng à x 100% = 19.18 % /01 tháng. à 230,18%/ 01 năm

    Như vậy là gấp 11.5 lần lãi suất quy định trong BLDS. (20%/năm)

    Không có tội phạm.

    Bài tập tình huống môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
    Bài tập tình huống môn Luật hình sự – phần Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    Bài tập 31

    Công ty TNHH – TM X bán hàng cho công ty Y một lượng hàng hóa là 7,9 tỷ đồng trên 10 hóa đơn. Theo lệnh của giám đốc Đ thuộc công ty TNHH-TM X nhân viên của công ty này đã kê khai thuế 2 hóa đơn và không kê khai thuế cho 8 hóa đơn còn lại tương đương với số thuế cần phải đóng là 786 triệu đồng. Nhờ vậy mà công ty X lợi được khoản tiền nêu trên.

    Hãy xác định tội danh trong vụ án này.

    Tội trốn thuế.

    Bài tập 32

    A có một cửa hàng bán các phụ liệu ngành may có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do UBND Quận X cấp và được Chi cục Thuế Quận X ấn định mức thuế khoán, doanh thu nộp thuế hàng tháng. Trong 2 năm, A đã đến Chi cục Thuế Quận X mua 32 quyển hóa đơn bán hàng. Khi A đang sử dụng quyển hóa đơn cuối cùng thì bị phát hiện hành vi vi phạm. Trong quá trình kinh doanh nói trên, có nhiều khách hàng đến mua hàng với số lượng ít nhưng lại yêu cầu A ghi hóa đơn với số lượng lớn hơn hoặc họ không mua hàng của A nhưng đã đến nhờ A ghi khống hóa đơn bán hàng. A đồng ý yêu cầu của khách hàng và mỗi lần ghi khống hóa đơn như vậy, A thu của họ 5% trên tổng số tiền ghi thêm vào hóa đơn. Bằng cách này, A đã ghi khống tổng cộng 327 hóa đơn với số tiền 1,75 tỷ đồng, thu lợi bất chính 87,5 triệu đồng.

    Anh (chị) hãy xác định: hành vi trên của A có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    Tội mua bán trái phép hoá đơn thu nộp ngân sách nhà nước. Điều 203.

    Bài tập 33

    A (giám đốc Công ty TNHH X) đã ký năm bộ tờ khai xuất khẩu quần áo sang Nga, Hungary và xuất khống bốn hóa đơn giá trị gia tăng với tổng giá trị trên 30 tỷ đồng. A đem các chứng từ khống này đi xin hoàn thuế, chiếm đoạt hơn 3 tỷ đồng của nhà nước.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án này và giải thích tại sao?

    Tội trốn thuế.

    Bài tập 34

    A, B và C là người chuyên khai thác gỗ trái phép đã bị xử phạt hành chính về hành vi này. Trên cơ sở đặt hàng của D là chủ một xưởng gỗ cần mua một số gỗ, A, B, C đã vào rừng đang nằm trong sự bảo vệ của hạt kiểm lâm X để tìm gỗ và cưa được một số cây gỗ. Chúng dùng một chiếc xe cày để đưa gỗ về phân xưởng xẻ thành tấm theo thỏa thuận với D. Trên đường đi, chúng bị kiểm lâm phát hiện và buộc chúng phải đưa xe về trạm để lập biên bản. Nhưng A, B và C đã cầm gậy (đã chuẩn bị sẵn) đánh lại kiểm lâm để xe gỗ chạy thoát. Kết quả của sự tấn công đó là làm cho một cán bộ kiểm lâm bị thương với tỷ lệ thương tích 5%, còn những người khác chỉ bị thương nhẹ không đáng kể.

    Hãy xác định :

    a) Hành vi của A, B, C cấu thành tội phạm gì? Tại sao?

    Xem xét khối lượng gỗ đã khai thác trái phép là bao nhiêu, loại rừng gì để kết Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản Điều 232

    b) Hành vi của D có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì?

    Đồng phạm Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản

    Bài tập 35

    Hãy xác định tội danh đối với những hành vi sau của A:

    1. Mua 40 triệu đồng tiền Việt Nam giả với giá 15 triệu đem vào Đắc Lắc để tiêu thụ vào thị trường. A chỉ mới tiêu được 12 triệu thì bị bắt giữ.

    Tội lưu hành tiền giả Điều 207

    (Đem vào Đắc Lắc để tiêu thụ vào thị trường – hành vi này cuối cùng thì cũng là lưu hành tiền giả nên anh không xét thêm tội vận chuyển nữa)

    1. Nhận tiền trả nợ bằng tiền giả với tỉ lệ 1 triệu đồng tiền nợ nhận 2 triệu đồng tiền giả. A nhận được 6 triệu đem tiêu thụ thì bị bắt giữ.

    Xem: Nhận diện tội hủy hoại tài sản và tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 178 BLHS 2015
    Tội lưu hành tiền giả Điều 207 – hành vi khách quan của tội này là đổi chác tiền giả.

    Bài tập 36

    A đã thuê người vào chặt phá 4,6 ha rừng thuộc khu vực rừng sản xuất tự nhiên cạnh bản Khe Dây, do UBND xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh quản lý, bảo vệ để chiếm đất trồng keo lai. Theo ước tính ban đầu, hành vi của A đã gây thiệt hại cho nhà nước gần 300 triệu đồng.

    Theo anh (chị) A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    A phạm Tội huỷ hoại rừng Điều 243. B đồng phạm.

    Tội này phải có định lượng về diện tích bị phá hoại mà đề không nói?

    Bài tập 37

    Do muốn mở rộng diện tích trồng sắn nên A đã đi lên khu rừng thuộc huyện X và châm lửa đốt các búi nứa gần nương trồng sắn của mình. Vì thời tiết hanh khô nên ngọn lửa bốc cao, lan nhanh gây cháy rừng, đến cuối ngày mới dập tắt được lửa.

    Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, Hạt kiểm lâm huyện X kết luận loại rừng bị cháy do A đốt là rừng phòng hộ, diện tích rừng bị cháy là 9.000m2.

    Hãy xác định hành vi của A có phạm tội không? Nếu có thì tội gì?Tại sao?

    Tội huỷ hoại rừng Điều 243

    Bài tập 38

    A có ý định đào đắp quây bờ vùng trong khu vực rừng bần thuộc bãi bồi ven biển xã X nhằm thực hiện việc chăn thả gia cầm và phát triển kinh tế nên thuê B dùng máy xúc để phá khu rừng bần này với tiền công là 500.000 đồng/1 giờ. Theo sự chỉ đạo của A thì B đã sử dụng máy xúc đào đất, đắp bờ trên khu vực rừng bần thuộc xã X làm hủy hoại 5.082,75 m2 rừng phòng hộ chắn sóng cấp xung yếu. Vụ việc sau đó bị phát giác.

    Hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội không? Nếu có thì tội gì? Tại sao?

    A Tội huỷ hoại rừng Điều 243

    B đồng phạm

    Bài tập 39

    Cơ quan CSĐT Công an quận X đã bắt quả tang A đang bằng xe máy một bộ xương hổ đựng trong một túi nilon màu đen trên phố Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Qua giám định kết luận: bộ xương thu được là xương hổ, trọng lượng 15kg, tên khoa học Panthera, thuộc nhóm 1B, nằm trong Sách đỏ Việt Nam, bị nghiêm cấm săn bắt, buôn bán, sử dụng vào mục đích thương mại.

    Theo anh (chị) , hành vi của A phạm tội hay không? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?

    Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm Điều 244. bộ xương (bộ phận không thể tách rời sự sống)

    CSPL: Điểm b khoản 1 Điều 244.

    Bài tập 40

    Phòng Cảnh sát môi trường – CATP Hà Nội bắt quả tang A đang vận chuyển hai con hổ sống lên ôtô tại số nhà 49, đường X. Cơ quan công an đã làm rõ hai con hổ trên là của B bán cho A với giá 320 triệu đồng. B khai nhận đã mua hai con hổ con, với giá 117 triệu đồng của một người không quen biết tại thị trấn Trúc Sơn, huyện Chương Mỹ (Hà Tây) . Sau đó, B đưa hổ về nuôi tại số nhà 49, đường X.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A và B trong vụ án này và giải thích tại sao?

    A và B Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm Điều 244. (Điểm a khoản 1 )

    Bài tập 41

    Tại tiểu khu 142, Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà (huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) , Hạt kiểm lâm thuộc vườn quốc gia này đã bắt quả tang A và B vận chuyển một đầu bò tót đã sấy khô, cân nặng 18 kg, có cặp sừng dài khoảng 60 cm. Nga và Hai khai đã mua đầu bò tót này tại Vườn quốc gia Phước Bình (huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận) từ C.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A và B trong vụ án này và giải thích tại sao?

    Nga và Hai phạm Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm Điều 244. ( Điểm b khoản 1)

    Bài tập 42

    Đội quản lý nhập – Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất đã tiếp nhận tờ khai nhập cảnh của A nhập cảnh từ Nam Phi quá cảnh Singapore về Việt Nam. Trên tờ khai nhập cảnh, A khai báo không có hàng hóa mang theo, tuy nhiên khi đưa hàng hóa qua máy soi thì phát hiện trong một chiếc vali của A có 05 chiếc sừng tê giác có trọng lượng tịnh là 17,66 kg (trị giá hơn 5 tỷ đồng) .A khai mua sừng tê giác ở nước ngoài về làm thuốc cho gia đình.

    Biết rằng theo qui định của pháp luật hiện hành sừng tê giác là sản phẩm của động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quí hiếm.

    Hãy xác định hành vi của A có phạm tội không? Nếu có thì tội gì? Tại sao?

    Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm Điều 244. ( Điểm c khoản 3)

    Bài tập 43

    Trong quá trình tuần tra kiểm soát xe ô tô khách 12 chỗ do A điều khiển, tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an tỉnh X phát hiện dưới gầm ghế hàng đầu bậc lên xuống có cơi nới thêm một thùng chứa hàng dài 1m, rộng 80 cm, bên trong có chứa 26 chiếc ngà voi với trọng lượng 82,14 kg.

    A khai nhận đã vận chuyển thuê cho B số ngà voi nói trên với tiền công là 10 triệu đồng để giao cho người mua là C tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Hãy xác định tội danh trong vụ án trên.

    Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm Điều 244. ( Điểm h khoản 2)

    Bài tập 44

    Qua tuần tra sau 23 giờ đêm, lực lượng công an xã Quang Trung đã phát hiện A và B điều khiển xe máy lưu thông theo hướng Định Quán về Dầu Giây có dấu hiệu khả nghi, nên lực lượng công an xã đã cho dừng xe để kiểm tra và phát hiện trên xe có chở một bao tải chứa đầy xương, đầu động vật hoang dã nặng khoảng 24kg. A và B khai đã mua của một người dân thuộc khu vực huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng để về nấu cao bán. Qua giám định mẫu vật của vụ vi phạm, Viện Sinh thái học miền Nam (thuộc Viện khoa học và công nghệ Việt Nam) xác định có hai con vọc bạc và 3 con vọc chà vá, 5 con khỉ đuôi lợn, hai con khỉ mặt đỏ.

    Theo anh (chị) A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì?Tại sao?

    Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm Điều 244. ( Điểm c khoản 2)

    Bài tập 45

    A mua được 2 kg cocaine. A đến gặp B nhờ chuyển giùm đến thị trấn X cho một người quen với giá tiền công là 15 triệu đồng. B đang cần tiền nên đồng ý mặc dù biết hàng được chuyển là côcain. Trên đường đi vận chuyển do thái độ lấm lét sợ bị phát hiện nên B bị đội đặc nhiệm bắt giữ cùng gói hàng. B thành thật khai báo sự việc. Số hàng do B vận chuyển được giám định. Theo kết quả giám định số hàng đó không phải là chất ma túy. Qua điều tra A đã mua lầm hàng.

    Hãy xác định A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì? Cần áp dụng điều luật nào của BLHS năm 2015? Nếu cơ quan điều tra xác định được người bán chất C ma túy giả cho A thì người đó có phạm tội không và nếu có thì phạm tội gì?

    B tội mua bán trái phép chất ma tuý.(lấy công) (nhầm lẫn về đối tượng không làm nhầm lẫn đến khách thể)

    A phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý.

    C không biết là ma tuý giả mà bán cho A à mua bán trái phép ma tuý

    Biết là ma tuý giả mà bán cho A à lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Bài tập 46

    A 17 tuổi bị bắt quả tang đang mang trong người 3 tép heroin với trọng lượng 0,155g. Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong các tình huống sau:

    A là con nghiện nên mua về để sử dụng cho cá nhân.

    Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

    A mua giùm cho người bạn là B đang lên cơn nghiện nhờ mua.

    Tội mua bán trái phép chất ma tuý

    A đang mang đến cho người mua do mẹ A sai.

    A không biết là ma tuý à không phạm tội.

    A biết là ma tuý à mua bán trái phép chất ma tuý.

    Bài tập 47

    A thuê cửa hàng để bán vật liệu xây dựng. Cơ quan công an bắt quả tang B đang sử dụng trái phép chất ma túy trong cửa hàng của A.

    Hãy xác định tội danh đối trong các tình huống sau:

    1. B là bạn của A. Vì nể bạn nên thỉnh thoảngA đã đồng ý cho B vào cửa hàng của mình để hút heroin.

    Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý – hành vi của A là “bất kỳ hành vi nào khác” – địa điểm là do A quản lý, biết B là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng lại để mặc cho B sử dụng trái phép chất ma tuý từ hai lần trở lên.

    1. A mua giùm cho B 0,2 gam heroin để B sử dụng. Khi B đến cửa hàng của A để lấy heroin thì lên cơn nghiện nên A đã cho B sử dụng heroin ngay tại cửa hàng của mình.

    A mua bán trái phép chất ma tuý và Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Điểm b tiểu mục 3.7 Mục 3 Phần II TTLT 17/2007 (tham khảo

    B phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý

    Điểm c tiểu mục 3.7 Mục 3 Phần II TTLT 17/2007 (tham khảo)

    c) A và B đều nghiện ma túy. A đã mua 0,2 gam heroin và rủ B đến cửa hàng của A để cùng sử dụng

    Tàng trữ ok

    Rủ là đã chưa sử dụng đâu nhỉ.

    Nếu mà sử dụng thì A Tội mua bán trái phép chất ma tuý và Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Bài tập 48

    A là người nghiện ma túy. Một lần khi đang lên cơn nghiện, A đã nhờ B là bạn cùng lối xóm dùng xe máy chở A đi mua heroin về để sử dụng. Đang trên đường về thì A và B bị lực lượng chức năng phát hiện.

    Hãy xác định A và B có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì và tại sao khi trọng lượng heroin mà A mua là:

    0,09 gam.
    0,2 gam
    A biết B mua trái phép chất ma tuý để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện của mình chở họ bị bắt sẽ là đồng phạm nếu số lượng ma tuý đến mức phải chịu TNHS

    Điểm d tiểu mục 3.7 Mục 3 Phần II TTLT 17/2007 (tham khảo)

    Bài tập 49

    Do thiếu tiền tiêu xài, A đã nhận lời bán heroin thuê cho một phụ nữ tên là B. B đưa cả xe và điện thoại di động cho A để thuận lợi trong việc mua bán. Hằng ngày, A nhận 10 tép heroin từ B và chờ điện thoại của khách gọi đến thì giao hàng. A được B trả công 200 ngàn đồng/ngày. Hơn một tuần sau, khi đang giao hàng tại cầu Rạch Ông (quận 7) , A bị công an bắt.

    Anh (chị) hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    A tội mua bán trái phép chất ma tuý – lấy tiền công.

    B đồng phạm

    Bài tập 50

    A là nhân viên quản lý thuốc tại hiệu thuốc (thuộc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu dược phẩm X) . Sau đó, A đưa con là B vào làm nhân viên bán thuốc tại đây. A mua các loại thuốc tân dược gây nghiện (có chứa chất ma túy) trôi nổi trên thị trường rồi đem về chia liều, đóng gói bán cho các người nghiện ma túy. B cũng phụ giúp bán mỗi khi “đắt hàng”. Ngoài ra, A còn đưa xe, điện thoại di động cho B đi giao “hàng” cho những người nghiện không thể ghé hiệu thuốc.

    Anh (chị) hãy xác định hành vi của A và B có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    Thuốc tân dược gây nghiện (có chứa chất ma túy) – anh tìm trong danh mục các chất ma tuý toàn chữ tiếng anh thôi, mà đề nói là chứa chất ma tuý thì cứ coi là chất ma tuý đi nhờ.

    B chắc chắn biết đây là ma túy. ok

    A tội mua bán, B đồng phạm.

    Nếu B không biết: B tội vận chuyển

    Mời bạn xem thêm:

  • Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015 (tiếp)

    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015 (tiếp)

    Bạn đang tìm hiểu các dạng bài tập tình huống môn Luật Hình sự 2015 để rèn luyện kỹ năng phân tích và áp dụng pháp luật? Bài viết này sẽ tiếp tục giới thiệu những tình huống thực tế, đa dạng, bám sát quy định của Bộ luật Hình sự 2015, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách giải quyết từng trường hợp cụ thể. Đây là tài liệu hữu ích dành cho sinh viên luật, giảng viên và những ai quan tâm đến pháp luật hình sự. Cùng khám phá thêm trong bài viết “Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015 (tiếp)” để nâng cao kiến thức và tư duy pháp lý!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015 (tiếp)

    Tình huống 11: Anh  K vừa qua đã bị cơ quan có thẩm quyền truy tố do hành vi vi phạm pháp luật về an ninh trật tự. Quá trình luận tội, xét thấy anh K đang có nơi làm việc ổn định, cư trú rõ ràng, phạm tội ít nghiêm trọng, không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội, nên anh K đã bị Tòa án tuyên phạt cải tạo không giam giữ 1 năm. Một số ý kiến thắc mắc cho rằng Tòa án đã xét xử chưa đúng người, đúng tội. Xin hỏi trường hợp này pháp luật quy định như thế nào?

    Trả lời:

    Việc áp dụng hình phạt cải tạo không giữ giữ 1 năm đối với trường hợp anh K ở trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật vì theo Điều 36 của Bộ luật, cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

    Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

    Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.

    Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

    Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

    Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

    Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

    Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

    Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

    Tình huống 12: Chị Nguyễn Thị H sống độc thân, do thiếu hiểu biết, chị đã cho một gái bán dâm ở trong nhà chị và thực hiện hành vi mua bán dâm với nhiều người trong nhiều lần khác nhau, xin hỏi trường hợp của chị có phải là phạm tội nhiều lần không?

    Theo hướng dẫn tại mục 4, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” đối với người chứa mại dâm thuộc một trong các trường hợp sau:

    1. a) Chứa mại dâm (không phân biệt tại một địa điểm hay tại các địa điểm khác nhau) một đôi hoặc nhiều đôi mua bán dâm khác nhau từ hai lần trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau (không phân biệt thời gian dài hay ngắn);
    2. b) Chứa mại dâm hai đôi mua bán dâm trở lên độc lập với nhau trong cùng một khoảng thời gian;
    3. c) Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau.

    Trường hợp của chị Nguyễn Thị H nêu trên vi phạm điểm c “Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau” được coi là “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm c, khoản 2 điều 254 của Bộ luật hình sự.

    Tình huống 13: Trần Tiến D là kế toán trưởng của Tập đoàn chuyên kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, D đã móc nối với một số đối tác để làm chứng từ khống, thu lợi bất chính nhiều tỷ đồng và đã bị cơ quan điều tra phát hiện. Xin hỏi trong trường hợp này, việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của D có bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật, việc Trần Văn D lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội sẽ bị coi là tình tiết tăng nặng khi quyết định hình phạt. Theo đó, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 bao gồm:

    1. a) Phạm tội có tổ chức;
    2. b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
    3. c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
    4. d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

    đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

    1. e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
    2. g) Phạm tội 02 lần trở lên;
    3. h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
    4. i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;
    5. k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
    6. l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
    7. m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;
    8. n) Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
    9. o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
    10. p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.

    Các tình tiết đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015 (tiếp)
    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015 (tiếp)

    Tình huống 14: Nguyễn Văn V do bị bạn bè xấu lôi kéo, rủ rê đã cùng đồng bọn đột nhập vào nhà bà M trộm cắp. Khi bị phát hiện V đã chủ động tấn công và đâm chết cháu trai của bà M khi anh này cố tình ngăn cản không cho V chạy thoát. Sau khi V bị bắt, cơ quan điều tra đã có quyết định khởi tố V về tội giết người thì gia đình V đã có đơn kiện, cho rằng do V còn nhỏ (mới hơn 14 tuổi), nhận thức kém, chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Xin hỏi pháp luật quy định về vấn đề này như thế nào?

    Trả lời:

    Điều 12 Bộ luật quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
    2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:
    3. a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);
    4. b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
    5. c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
    6. d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

    đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

    1. e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

    Căn cứ quy định ở trên, V bị truy tố tội giết người khi V đã hơn 14 tuổi, là đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra nên việc gia đình V có đơn kiện là hoàn toàn trái quy định của pháp luật.

    Tình huống 15: Do mâu thuẫn về đất đai trong quá trình xây dựng nhà ở, Nguyễn Tiến D đã bàn bạc âm mưu cùng 2 anh trai sang nhà ông B hàng xóm gây rối và đánh người nhà ông B. Kết quả ông B và con trai ông đã bị anh em D đánh gây thương tích đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cơ quan công an còn phát hiện bố đẻ D là ông H cũng biết trước việc này. Đề nghị cho biết trường hợp này ông H có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự do không tố giác tội phạm hay không?

    Trả lời:

    Theo Điều 19 của Bộ luật, người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Điều luật cũng quy định người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định như trên, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật hình sự.

    Đối chiếu với quy định trên, ông H sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự do không tố giác tội phạm là con đẻ của mình.

    Tình huống 16: Anh Nguyễn Văn H uống rượu say nên trên đường đi làm về đã gây ra tai nạn giao thông làm trọng thương một người đi bộ sang đường; sau đó gia đình anh H đã gặp gỡ gia đình người bị nạn và đã thực hiện việc bồi thường đầy đủ các chi phí cho họ, gia đình người bị hại cũng có đơn xin không xử lý hình sự đối với anh H. Trong trường hợp này, anh H có phải chịu trách nhiệm hình sự nữa không ?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    1. a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
    2. b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
    3. c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
    4. d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    1. a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
    2. b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
    3. c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
    4. d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

    đ) Làm chết 02 người;

    1. e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
    2. g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
    3. h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

    Đối chiếu với quy định ở trên, việc anh H khi gây tai nạn trong tình trạng say rượu là tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều luật nói trên. Mặc dù người gây tai nạn đã bồi thường thiệt hại về vật chất nhưng theo quy định của pháp luật, người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra. Việc người gây án đã chủ động bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân sẽ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt khi vụ án được đưa ra xét xử.

    Tình huống 17: Anh Trần Văn D bị tòa án phạt 20 tháng tù về tội vi phạm các qui định về an toàn giao thông đường bộ. Sau khi gây án, anh Đ rất ăn năn, hối cải, khai báo thành khẩn. Trong khi chờ đi thụ hình đã có công cứu được 3 trẻ nhỏ bị nước lũ cuốn trôi. Như vậy anh D có được được miễn chấp hành hình phạt tù không?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015, người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

    Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quy định: Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Đối chiếu với quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, anh D đã có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ nhờ việc hối cải, khai báo thành khẩn và lập công chuộc tội thì có thể được xét miễn chấp hành hình phạt.

    Tình huống 18: Nguyễn Thị A phạm tội buôn bán ma túy. Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử, cơ quan có thẩm quyền phát hiện A đang có thai. Xin hỏi trong trường hợp này A có được hoãn chấp hành hình phạt tù hay không?

    Trả lời:

    Theo Điều 67 của Bộ luật, người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

    1. a) Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
    2. b) Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
    3. c) Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
    4. d) Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

    Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    Đối chiếu với quy định nêu trên, Nguyễn Thị A sẽ được hoãn chấp hành hình phạt tù đến khi đứa con được 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, trường hợp trong thời gian được hoãn, A lại tiếp tục phạm tội thì A sẽ bị Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt trước đó theo quy định nêu trên.

    Tình huống 19: Nguyễn Hữu T cùng đồng bọn phạm tội cướp giật tài sản khi T mới được 17 tuổi 5 tháng. Quá trình điều tra xác định T phạm tội với tư cách là đồng phạm giúp cho đồng bọn bỏ trốn, không trực tiếp tham gia vào vụ cướp giật tài sản. Trong trường hợp này, T có thể bị áp dụng biện pháp khiển trách hay không?

    Trả lời:

    Theo Điều 93 của Bộ luật, khiển trách được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau đây nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội và hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ:

    1. a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng;
    2. b) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

    Căn cứ quy định trên, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách đối với T. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

    Đồng thời, điều luật cũng quy định T phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

    1. a) Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc;
    2. b) Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu;
    3. c) Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

    Tuỳ từng trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các nghĩa vụ quy định tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều này từ 03 tháng đến 01 năm.

    Tình huống 20: Trần Văn D làm nghề lái xe tắc xi. Trong một lần chở khách ban đêm, H đã vô tình tông phải vợ chồng anh G làm cho anh bị thương tích nặng. Quá hoảng sợ, D đã lái xe bỏ chạy, bỏ mặc vợ chồng anh G trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Hành vi của D phạm tội gì và bị xử lý ra sao?

    Trả lời:

    Hành vi của D đã phạm vào tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng quy định tại Điều 132 của Bộ luật. Theo đó, người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    1. a) Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;
    2. b) Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

    Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

    Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Mời bạn xem thêm:

  • Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015

    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015

    Bạn đang tìm kiếm các dạng bài tập tình huống môn Luật Hình sự 2015 để ôn tập và nâng cao kỹ năng phân tích pháp lý? Bài viết này sẽ tổng hợp các dạng bài tập phổ biến theo Bộ luật Hình sự 2015, kèm hướng dẫn giải chi tiết giúp bạn hiểu rõ cách áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Đây là tài liệu hữu ích dành cho sinh viên luật, giảng viên và những ai quan tâm đến pháp luật hình sự. Cùng khám phá ngay để nắm vững kiến thức và rèn luyện tư duy pháp lý!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015

    Tình huống 1: B thấy chị H đeo hai nhẫn vàng ở ngón tay nên T dùng gậy đánh vào sau gáy của chị H làm chị H ngất, sau đó B lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H. Vậy B phạm tội gì?

    Trả lời:

    B đã có hành vi dùng vũ lực (dùng gậy đánh vào đầu chị H) để nhằm chiếm đoạt tài sản (lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H) và thực tế là B đã lấy hai chiếc nhẫn vàng của chị H, do đó B đã phạm tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực. Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi hành động dùng sức mạnh vật chất (có thể có vũ khí hoặc không có vũ khí) để tác động, tấn công vào cơ thể của người bị tấn công như: dùng chân tay đấm, đánh, bóp cổ, dùng dây trói, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, đập, dùng dao đâm, chém… Hành động tấn công này có thể làm cho người bị tấn công bị thương tích, bị tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị chết nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể cho nạn nhân. Việc dùng vũ lực là nhằm mục đích là làm cho người bị tấn công mất khả năng chống cự nhằm để cướp tài sản. Việc dùng vũ lực được thực hiện ở cả hai phương thức đó là phương thức bí mật (như: bắn lén lút, đánh vào sau gáy…) và phương thức công khai (tấn công trước mặt người bị tấn công để cho người đó biết, bất luận có người nào khác biết hay không).

    Tình huống 2: T vừa lĩnh 50 triệu đồng tiền gửi ngân hàng đi ra đến đường quốc lộ thì K dùng dao dí vào cổ T và yêu cầu T đưa tiền, nếu không đưa thì K sẽ đâm. Ngay lúc đó quần chúng nhân dân chạy tới bắt giữ K. Vậy K có phạm tội không?

    Trả lời:

    K đã có hành vi đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực (dùng dao dí vào cổ T) để buộc T là người bị tấn công phải sợ và tin tưởng nếu không đưa tiền cho K thì tính mạng của T sẽ bị nguy hại (bị đâm dao vào người), do đó K đã phạm tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự. Bởi theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì một trong các hành vi khách quan của tội cướp tài sản là hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc.

    Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc được hiểu là đe doạ dùng ngay tức thì sức mạnh vật chất (có thể có vũ khí hoặc không có vũ khí) để tác động, tấn công vào cơ thể của người bị tấn công như: dùng chân tay đấm, đánh, bóp cổ, dùng dây trói, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, đập, dùng dao đâm, chém… nếu người bị tấn công không chịu khuất phục để buộc người bị tấn công phải sợ và tin tưởng rằng nếu không để cho lấy tài sản thì tính mạng và sức khoẻ sẽ bị nguy hại. Ở đây thông thường được kết hợp giữa hành vi sẽ dùng vũ lực với những thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo, để tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin tưởng rằng người phạm tội sẽ dùng vũ lực.

    Ngay tức khắc là ngay lập tức, không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị tấn công không giao tài sản cho người phạm tội. Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

    Tình huống số 3: T lập kế hoạch và bàn bạc với M và P cướp tiền của những người mới lĩnh tiền từ Ngân hàng Đ. T phân công cho M dùng dao đe doạ người bị tấn công, còn M lao vào cướp tiền rồi lên xe máy do T đang đứng đợi sẵn. Vậy T, M và P phạm tội gì và theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 thì cướp tài sản có tổ chức được hiểu là hai hay nhiều người cố ý cùng thực hiện tội cố ý cướp tài sản mà giữa họ có sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện tội phạm (có sự bàn bạc, chuẩn bị chu đáo, vạch trương trình kế hoạch phạm tội, phân công vai trò, vị trí của từng người), trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên không phải vụ án cướp tài sản có tổ chức nào cũng đủ những người giữ vai trò như trên, mà tuỳ từng trường hợp có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục hoặc người giúp sức nhưng nhất định phải có người thực hành và người tổ chức thì mới phạm tội có tổ chức.

    Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi sướng việc phạm tội; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm…

    Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm như: trực tiếp cầm dao chém người bị tấn công, trực tiếp cầm súng đe doạ người bị tấn công hay trực tiếp chiếm đoạt tài sản của người bị tấn công…

    Như vậy, trong vụ án cướp tài sản trên thì có ba người đó là T, M và P cùng cố ý thực hiện tội cướp tài sản, trong đó T là người tổ chức vì là người vạch kế hoạch, chủ động bàn bạc với M và P thực hiện hành vi cướp tài sản và phân công trách nhiệm cho M và P, còn M và P là những người thực hành vì có hành vi trực tiếp dùng dao đe doạ và cướp tài sản của người bị tấn công. Do đó T, M và P đã phạm tội cướp tài sản với tình tiết có tổ chức được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tình huống 4: H là thợ điện dựng xe máy loại xe LEAD có giá trị 35 triệu đồng ở ria đường để trèo lên cột điện sửa chữa điện nhưng quên không rút chìa khoá. C đi qua thấy vậy liền tiến đến xe máy của H, gạt chân chống xe lên rồi nổ xe phóng đi. H ở trên cột điện nhìn thấy C lấy xe máy của mình nhưng không làm gì được. Vậy C có phạm tội không? Nếu có thì đó là tội gì?

    Trả lời:

    C có hành vi công khai, ngang nhiên, trắng trợn chiếm đoạt tài sản (lấy xe máy của H có giá trị 35 triệu đồng), H là chủ xe máy biết là C lấy xe máy của mình mà không thể giữ được. Hành vi đó của C là hành vi công nhiêm chiếm đoạt tài sản. Do đó C đã phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Theo quy định tại Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội công nhiên chiếm đoạt tài sản chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt” nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, ngang nhiên. Người phạm tội lấy tài sản ngay trước mắt chủ sở hữu tài sản mà người này không làm gì được (không có biện pháp nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội hoặc nếu có thì biện pháp đó cũng không đem lại hiệu quả, tài sản vẫn bị người phạm tội lấy đi một cách công khai).

    Tính chất công khai, trắng trợn của hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu diếm hành vi phạm tội của mình, trước, trong hoặc ngay sau khi chiếm đoạt tài sản, chủ sở hữu tài sản biết ngay người lấy tài sản của mình nhưng không thể giữ được.

    Tình huống 5: T và K đang cắt lúa ở cánh đồng thì đột nhiên K bị cảm, thấy vậy T liền bế K lên đường thì nhìn thấy xe máy của G đang để ở ria đường, xe không khoá. T đặt K ngồi lên xe máy đó và nổ máy với mục đích để đưa K vào bệnh viện cấp cứu. G đang tắm ở dưới ao nhìn thấy T lấy xe của mình nhưng cũng không làm gì được. Vậy T có phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không?

    Trả lời:

    Theo quy định tại Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 thì tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

    Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không thể có mục đích chiếm đoạt tài sản trong hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội, vì hành vi chiếm đoạt tài sản đã bao hàm mục đích của người phạm tội.

    Vì vậy, có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

    Như vậy, T lấy công khai lấy xe máy của G nhưng không có mục đích chiếm đoạt mà chỉ có mục đích đưa K đi bệnh viện cấp cứu vì K bị cảm, do đó T không phạm tội công nhiêm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 172 Bộ luật hình sự.

    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015
    Các dạng bài tập tình huống môn luật hình sự 2015

    Tình huống 6: H đang đi xe máy loại xe Jupiter vừa mới mua với giá 24 triệu đồng thì K là người quen của H vẫy tay xin đi nhờ. H dừng xe lại và đèo K đi cùng. Khi đi được một lúc thì H dừng xe trước quán nước và bảo K cùng vào quán uống nước. Lợi dụng lúc H đi rửa tay thấy xe vẫn đang mở khoá, K liền nổ máy phóng xe máy của H đi đến chợ T bán xe lấy tiền tiêu sài. Khi H rửa tay quay ra và hỏi Đ là chủ quán về xe của mình thì Đ vẫn tưởng xe đó là xe của K. Vậy K phạm tội gì?

    Trả lời:

    Lợi dụng lúc H đi rửa tay, K đã lén lút (bí mật) lấy xe máy của H và mặc dù K lấy xe máy của H ngang nhiên trước mặt Đ là chủ quán nước nhưng đó chỉ là ý thức che giấu tính hợp pháp cho hành vi của K để cho Đ tưởng đó là xe máy của K. Do đó hành vi của K chính là hành vi trộm cắp tài sản nên K đã phạm tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 thì mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản mà người này không hề hay biết tài sản của mình đang bị chiếm đoạt, chỉ sau khi mất thì thì người đó mới biết bị mất tài sản.

    Tính chất lén lút, bí mật của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội che giấu, giấu diếm hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đối với chủ sở hữu tài sản.

    Người phạm tội không những chỉ có ý thức bí mật đối với người quản lý tài sản mà còn bí mật đối với người xung quanh khu vực có tài sản nhưng có những trường hợp người phạm tội không hề che giấu hành vi trộm cắp tài sản đối với người xung quanh nhưng lại có những hành động để người xung quanh tưởng lầm đó không phải là hành vi trộm cắp tài sản. Ví dụ như: giả vờ đi nhờ xe để người xung quanh tưởng nhầm là xe của người đó và đợi cho đến khi chủ sở hữu của xe đó sơ hở, mất cảnh giác thì trộm cắp xe.

    Hậu quả của tội trộm cắp tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 500.000 đồng trở lên mới cấu thành tội trộm cắp tài sản, nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 500.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người có hành vi trộm cắp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội trộm cắp tài sản.

    Tội phạm được hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản. Để xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt trong từng trường hợp cụ thể.

    – Nếu tài sản bị chiếm đoạt nhỏ, gọn thì tội trộm cắp hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội đã giấu được tài sản đó trong người.

    Trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt to, cồng kềnh thì tội trộm cắp hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội mang tài sản đó ra khỏi nơi quản lý của chủ sở hữu.

    Tình huống 7: Sau khi Q lập kế hoạch trộm cắp xe máy của công ty K thì Q rủ rê P, T và V cùng trộm cắp xe máy. Sau khi P, T và V đồng ý Q đã chủ động bàn bạc về kế hoạch trộm cắp. Q có nhiệm vụ chuẩn bị các dụng cụ phá khoá cửa và theo dõi, chỉ huy hoạt động trộm cắp, Q phân công P thực hiện việc phá khoá, phân công T dắt xe máy ra và phân công V đưa xe máy đến nơi cất giấu mà Q đã chuẩn bị sẵn. Q, P, T và V trộm cắp đến lần thứ ba với tổng cộng là 7 chiếc xe máy thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Vậy Q, P, T và V phạm tội gì và theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự?

    Trả lời:

    Q, P, T và V đã phạm tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015. Bởi vì Q, P, T và V cố ý cùng thực hiện tội trộm cắp tài sản (trộm cắp xe máy) mà giữa họ có sự cấu kết chặt chẽ để thực hiện tội phạm (có sự bàn bạc, chuẩn bị chu đáo, vạch trương trình kế hoạch phạm tội, phân công vai trò, vị trí của từng người), trong đó Q là người tổ chức, P, T và V là những người thực hành.

    Q là người tổ chức bởi vì Q là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc trộm cắp xe máy, Q khởi sướng việc phạm tội, vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm, phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác (P, T và V) thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

    P, T và V là những người thực hành vì là những người trực tiếp lén lút trộm cắp xe máy, trực tiếp phá khoá cửa, trực tiếp đưa xe máy đến nơi cất giấu.

    Tình huống 8:  H là công nhân công ty giầy da Đ lấy trộm một đôi giầy của công ty Đ, rồi buộc từng chiếc giầy vào ống chân của H, sau đó phủ ống quần lên và đi về. Khi ra đến cổng bảo vệ của công ty Đ, thì K phát hiện H giấu đôi giầy trong ống quần, K yêu cầu H vào phòng bảo vệ thì lập tức H bỏ chạy, thấy thế K đuổi theo và túm được tay H để giữ H lại, liền lúc đó H rút dao trong người ra đâm vào tay K để cố giữ bằng được đôi giầy. Vậy H phạm tội gì và theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự?

    Trả lời:

    Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 thì tình tiết hành hung để tẩu thoát trong tội trộm cắp tài sản được hiểu là trường hợp sau khi đã trộm được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt hoặc đã bị bắt đã có hành vi dùng vũ lực đối với chủ sở hữu hoặc đối với người đã bắt giữ để người này không dám đuổi bắt hoặc không thể bắt giữ được nhằm để tẩu thoát.

    Người phạm tội hành hung đối với người đuổi bắt (có thể là chủ sở hữu tài sản bị trộm cắp hoặc là người khác) nhằm mục đích tẩu thoát. Nhưng nếu người phạm tội sau khi đã trộm cắp được tài sản mà bị đuổi bắt hoặc đã bị chủ sở hữu tài sản bị trộm cắp hay người khác bắt giữ nhưng cố tình giữ bằng được tài sản đã trộm cắp bằng cách hành hung người đuổi bắt hoặc người đang bắt giữ thì ngườiphạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản. Trong trường hợp này, khoa học luật hình sự gọi là chuyển hoá từ tội trộm cắp sang tội cướp tài sản (hay còn gọi là đầu trộm đuôi cướp).

    Như vậy, H là người trộm cắp tài sản bị K phát hiện thì đã bỏ chạy, K đuổi theo thì H đã hành hung K (rút dao trong người đâm vào tay K) nhưng H hành hung K không phải để tẩu thoát mà để giữ bằng được tài sản đã trộm cắp (đôi giầy). Do vậy H đã phạm tội cướp tài sản theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tình huống 9: Vì muốn có tiền để đánh bạc nên H đã đến nhà B giả vờ hỏi mượn xe máy loại xe Wave trị giá 15 triệu đồng để đi thăm người ốm. Khi B cho H mượn xe thì H đã đi xe máy này đến cửa hàng mua bán xe máy và bán được 5 triệu đồng và H lấy số tiền này để đánh bạc. Vậy H phạm tội gì?

    Trả lời :

    H có hành vi dùng thủ đoạn gian dối (giả vờ mượn xe máy loại xe LEAD trị giá 35 triệu đồng để đi thăm người ốm) làm cho B là chủ sở hữu chiếc xe máy tưởng là thật nên đã  tự nguyện giao xe máy cho H. Khi H nhận được xe máy của B thì H đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy (bán xe máy được 5 triệu đồng để lấy tiền đánh bạc). Hành vi đó của H là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó H đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Bởi theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 thì mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện ở hành vi duy nhất đó là hành vi chiếm đoạt nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Trong đó thủ đoạn gian dối là điều kiện để thực hiện hành vi chiếm đoạt.

    Gian dối là đưa ra thông tin hay hành động không đúng sự  thật nhằm đánh lừa người khác để người khác tin đó là sự thật. Thủ đoạn gian dối được thực hiện rất đa dạng có thể qua lời nói, sử dụng giấy tờ giả, giả danh người có chức vụ, quyền hạn… Hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm để chiếm đoạt tài sản, còn nếu có hành vi gian dối không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản mà nhằm mục đích khác, dù mục đích này có tính tư lợi cũng không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải được thể hiện bằng những hành vi cụ thể để nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản. Luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có thủ đoạn gian dối thuộc về tư tưởng, suy nghĩ mà không biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi.

    Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp có thể phạm tội khác.

    Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch tài sản của người khác thành tài sản của mình bằng thủ đoạn gian dối.

    Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 500.000 đồng trở lên mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 500.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc người có hành vi lừa đảo đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Tội phạm hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt tài sản đã xảy ra.

    Tình huống 10: C có nhu cầu xây dựng nhà ở nên đã hỏi vay của T 50 triệu đồng để xây dựng nhà ở. T đồng ý và đưa cho C vay 50 triệu đồng (việc vay mượn có làm hợp đồng và viết giấy biên nhận). Sau khi nhận tiền của T thì C lại không xây nhà vì C không muốn ở Việt Nam mà muốn sang nước Nga cư trú cùng anh ruột của C. Vì không định trả lại tiền vay cho T nên khi đi C mang theo 50 triệu đồng đã vay của T. Vậy C có phạm tội không?

    Trả lời:

    C vay được tài sản của người khác (vay được 50 triệu đồng của T) bằng hợp đồng bằng văn bản hợp pháp (việc vay mượn có làm hợp đồng và viết giấy biên nhận) nhưng sau khi vay được tiền thì C đã bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản (bỏ sang nước Nga cư trú cùng anh ruột của C để chiếm đoạt 50 triệu đồng tiền vay của T). Hành vi đó của C chính là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, do đó C đã phạm tội lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Bởi theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 thì mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm hành vi sau:

    Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng hợp pháp (hình thức của hợp đồng có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng) rồi dùng thủ đoạn gian dối (như: giả tạo bị mất tài sản; đánh tráo tài sản; rút bớt tài sản…) hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản chỉ xuất hiện sau khi đã nhận được tài sản thông qua hợp đồng hợp pháp. Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài tập tình huống môn luật hình sự về tội giết người

    Bài tập tình huống môn luật hình sự về tội giết người

    Bạn đang tìm kiếm bài tập tình huống môn Luật Hình sự về tội giết người để ôn tập và nâng cao kỹ năng phân tích pháp lý? Bài viết này sẽ cung cấp các tình huống thực tế, kèm theo hướng dẫn giải chi tiết dựa trên quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành. Đây là tài liệu hữu ích dành cho sinh viên luật, giảng viên và những ai quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự. Hãy cùng tìm hiểu để củng cố kiến thức và rèn luyện tư duy pháp lý hiệu quả!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Bài tập tình huống môn luật hình sự về tội giết người

    Bài tập 1:

    A là quốc tịch Canada. A có hành vi phạm tội giết người trên lãnh thổ Việt Nam và bị bắt tại Anh.

    Câu hỏi

    1. Hành vi phạm tội của A có bị xử theo Bộ luật Hình Sự Việt Nam không?
    2. Giả định A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A có bị coi là tội phạm không?
    3. Hãy cho biết quan điểm cá nhân về quy định tại Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam.
    4. Về nguyên tắc thì A bị xử lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam theo khoản 1 điều 5 bộ luật hình sự Việt Nam: Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Lời giải

    Tuy nhiên do A là người Canada nên việc xử lý A phải căn cứ vào khoản 2 điều 5 của bộ luật hình sự. Nếu A là đối tượng thuộc khoản 2, điều 5 bộ luật hình sự thì vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao:  Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

    Như vậy câu Lời giải chính xác là có thể.

    Dù A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A vẫn bị coi là tội phạm.

    Hành vi của A là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam vì nó thoả mãn những đặc điểm của tội phạm:

    +  Tính nguy nguy hiểm cho xã hội

    +  Tính có lỗi

    +  Tính trái pháp luật hình sự

    +  Tính chịu hình phạt

    Hành vi của A là tội phạm tuy nhiên do A ( chủ thể của tội phạm) thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao nên vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao theo quy định tại khoan 2, điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật  Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

    Bài tập 2

    A bị lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động trong nước. Khi thấy tính hình xã hội có nhiều biến động, để gây thêm thanh thế của tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, A nhận nhiệm vụ ném lựu đạn vào nhà chủ tịch huyện K (huyện giáp biên giới) nhằm giết chết ông K và làm suy yếu chính quyền. A ném lựu đạn vào nhà nhưng lựu đạn không nổ. Sau đó A bị bắt.

    Hỏi:

    1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?

    a. A phạm tội giết người?

    b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành?

    2. Phân tích sự khác nhau giữa tội khủng bố và tội giết người?

    Lời giải

    1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?

    a. A phạm tội giết người? Sai

    Nếu xét các dấu hiệu cảu mặt khách quan thì hành vi của A cũng tương tự tội giết người. Đối với tội giết người, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc, dấu hiệu định tội nhưng nếu giết người có mục đích làm suy yếu chính quyền nhân dân thì đã thỏa mãn CTTP tội khủng bố. Hành vi của A không đơn thuần chỉ là hành vi giết một con người cụ thể mà hành vi của A để gây thêm thanh thế cho tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, từ đó nhằm làm suy yếu chính quyền. Mặt khác, K là một chủ tịch huyện, với vai trò cán bộ nhà nước, lại ở giáp biên giới, nơi thường bị các lực lượng thù địch lợi dụng chống phá. Như vậy, xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội thì hành vi của A là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Chính vì thế, A không phạm tội giết người mà là phạm tội khủng bố theo điều 84 BLHS.

    Bài tập tình huống môn luật hình sự về tội giết người
    Bài tập tình huống môn luật hình sự về tội giết người

    b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành? Sai

    Về căn cứ pháp lý, CTTP tội khủng bố là CTTP vật chất, là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.

    Mặt khác, tội khủng bố có 2 loại hậu quả:

    Hậu quả trực tiếp: chết người, thương tích, tự do thân thể bị tước đoạt hoặc bị hạn chế. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của tội khủng bố, và nó hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra. Hậu quả này là phương tiện để người phạm tội đạt được kết quả suy yếu chính quyền nhân dân.

    Hậu quả gián tiếp: thông qua hậu quả trực tiếp, người phạm tội có thể làm suy yếu chính quyền. Tuy nhiên hậu quả này không phải là dáu hiệu bắt buộc của CTTP tội khủng bố.

    Xét về lý luận, CTTP vật chất hoàn thành khi hậu quả đã xảy ra, xét với tội khủng bố tức là cả 2 hậu quả đều xảy ra. Tuy nhiên, rất khó để xác định, thậm chí là không thể xác định được chính quyền đã suy yếu hay chưa, nếu suy yếu thì nó ở mức độ nào, và nhà nước cũng không thể công bố kết quả ra được vì nguyên nhân chính trị… Như vậy tội khủng bố hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra.

    Xét vào vụ án trên, A đã có hành vi ném lựu đạn vào nhà với ý muốn giết chết K, nên hành vi của A không thể là hành vi quy định tại khoản 3 điều 84: “đe dọa xâm phạm tính mạng” mà là hành vi quy đinh tại khoản 1 nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt vì hậu quả chết người chưa xảy ra.

    2. Phân tích sự khác nhau giữa tội khủng bố và tội giết người?

    Khái niệm:

    – Tội khủng bố: là hành vi xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của cán bộ, công chức hoặc công dân nhằm chống chính quyền nhân dân.

    Được quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 điều 84 BLHS.

    – Tội giết người: là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác.

    Được quy đinh tại khoản 1, 2, 3 điều 93 BLHS.

    Phân tích sự khác nhau:

     * Khách thể của tội phạm

    Tội khủng bố xâm phạm: sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, xâm phạm an ninh đối ngoại – đe dọa đến quyền cơ bản nhất của quốc gia, thông qua việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của con người.

    Đối tượng tác động của tội khủng bố thường là những cán bộ cốt cán, những thành viên tích cực trong các hoạt động xã hội, những công dân có đóng góp nhiều trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội và cũng có thể là người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ đối ngoại của Việt Nam.

    Tội giết người xâm phạm đến quyền sống – quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của con người.

    Đối tượng tác động của tội giết người có thể là bất kì ai có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, đó là những con người cụ thể, đang tồn tại trong thế giới khách quan.

    * Mặt khách quan của tội phạm

    – Hành vi:

    Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác – xâm phạm đến tính mạng của một hay những con người cụ thể.

    Đối với tội khủng bố, ngoài hành vi xâm phạm đến tính mạng còn có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tự do thân thể của con người. Đó có thể là giết người (khoản 1), cố ý gây thương tích, bắt giữ (khoản 2), dọa giết hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần như dọa đốt nhà, dọa tố cáo… (khoản 3).

    – Hậu quả:

    Tội giết người chỉ gây ra một loại hậu quả, đó là hậu quả chết người (hậu quả trực tiếp) và hậu quả đó là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP tội giết người, nói cách khác, tội giết người hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra.

    Tội khủng bố có thể gây ra 2 loại hậu quả:

    Hậu quả trực tiếp: có thể là chết người, thương tích, tự do thân thể bị tước đoạt hoặc bị hạn chế. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của tội khủng bố, và nó hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra. Hậu quả này là phương tiên để người phạm tội đạt được kết quả suy yếu chính quyền nhân dân.

    Hậu quả gián tiếp: thông qua việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể của cán bộ, công chức hay công dân, người phạm tội có thể làm suy yếu chính quyền. Tuy nhiên hậu quả này không phải là dáu hiệu bắt buộc của CTTP tội khủng bố, nguyên nhân ngoài tính chất đặc biệt nguy hiểm của tội khủng bố còn có thể là rất khó để xác định chính quyền đã suy yếu hay chưa, ở mức độ nào, và nhà nước cũng không thể công bố kết quả ra được..

    * Mặt chủ quan của tội phạm

    – Lỗi:

    Cùng là lỗi cố ý nhưng tội khủng bố được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Nguời phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện,  thấy được hậu quả (thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người khác) nhưng mong muốn hậu quả đó xảy ra (nhằm làm suy yếu chính quyền nhân dân).

    Ngoài lỗi cố ý trực tiếp, tội giết người còn được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp, tuy rằng nhận thức được và thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng người phạm tội lại để mặc cho hậu quả xảy ra, có ý thức chấp nhận hậu quả xảy ra.

    – Mục đích:

    Mục đích, không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP tội giết người, nó không có ý nghĩa trong việc định tội mà có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt hoặc định hình phạt.

    Chống chính quyền nhân dân là dấu hiệu bắt buộc trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Cụ thể đối với tội khủng bố mục đích là làm suy yếu chính quyền. Sỡ dĩ quy định như thế là vì các tội xâm phạm an ninh quốc gia có tích chất nguy hiểm đặc biệt, ý chí ngông cuồng cao độ, nhằm chống lại nhà nước, muốn thay đổi chế độ xã hội, chính vì thế phải có chính sách hình sự đặc biệt hơn các tội phạm thông thường. Hơn thế nữa, các tội xâm phạm an ninh quốc gia nói chung và tội khủng bố nói riêng, các tình tiết của vụ án rất giống các loại tội phạm khác, chính vì thế mục đích của người phạm tội mới thể hiện rõ bản chất phạm tội của họ.

    * Chủ thể của tội phạm

    Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.

    Thấy rằng “người có năng lực TNHS” và “đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể”, cả 2 tội đều giống nhau, áp dụng điều 12 BLHS, ta dễ dàng nhận thấy rằng:

    Chủ thể của tội khủng bố điều 84 BLHS, có thể là người từ 14 tuổi đối với khoản 1, khoản 2, còn đối với khoản 3 thì là 16 tuổi trở lên. Đối với tội giết người, chủ thể luôn là người từ 14 tuổi trở lên, cả khoản 1 lẫn khoản 2.

    Tóm gọn lại như sau:

    Tiêu chíTội khủng bố (Đ. 84 BLHS)Tội giết người (Đ. 93 BLHS)
    Khách thể của tội phạm– sự vững mạnh của chính quyền nhân dân– thường là những người có tầm quan trọng– quyền sống của con người.– conngười, bất kì ai, đang sống
    Mặt khách quan của tội phạm– hành vi: xâm hại ngoài tính mạng còn : sức khỏe, tự do thân thể…– hậu quả:+ trực tiếp: chết người, thương tích,…+ gián tiếp: suy yếu chính quyền– hành vi: xâm hại tính mạng.– hậu quả: chết người.
    Mặt chủ quan của tội phạm– lỗi: + lỗi cố ý trực tiếp– mục đích: làm suy yếu chính quyền nhân dân ( dấu hiệu bắt buộc )– lỗi cố ý bao gồm:+ trực tiếp+ gián tiếp– mục đích: không bắt buộc.
    Chủ thể của tội phạm– tuổi:+ 14 trở lên đối với K1, K2+ 16 tuổi trở lên đối với K3– tuổi: từ 14 tuổi trở lên.

    Bài tập 3

    Huynh (33 tuổi) vay của chị dâu là Nga 1,9 tỷ đồng để lấy vốn làm ăn. Do làm ăn thua lỗ, hạn cho vay đã hết và chị Nga ráo riết đòi nợ mà Huynh không có tiền trả, Huynh đã dùng dao giết chết chị Nga để không phải trả nợ. Tội giết người mà Huynh đã thực hiện được quy định tại khoản 1 Điều 93 BLHS.

    Câu hỏi:

    1.Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS. (2 điểm)

    2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích. (2 điểm)

    3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? – Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. (1 điểm)

    4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam không? Tại sao? (2 điểm)

    BÀI LÀM

    1.Tội phạm mà Huynh đã thực hiện thuộc loại tội gì theo phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS

    Huynh phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vìcó mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình.

    Điều 8 BLHS có nêu:

    “2. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

    Theo cách phân loại tội phạm của BLHS, tội phạm tuy có chung các dấu hiệu (tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính chịu hình phạt) nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Chính vì sự khác nhau như vậy mà vấn đề phân hóa và cụ thể hóa tôi phạm đc đặt ra như là nguyên tắc của luật Hình sự Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 8 BLHS, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đc quy định trong bộ luật, tội phạm đc chia thành 4 loại: tội phạm ít nghiệm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đăc biệt nghiêm trọng. Và mỗi loại tội phạm đc gắn với 1 khung hình phạt khác nhau đc quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS.

    Huynh phạm tội giết người vì động cơ đê hèn, điểm q, khoản 1, Điều 93 BLHS.

    Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật.Chủ thể của tội phạm là Huynh, 33 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và mặc nhiên được thừa nhận có năng lực trách nhiệm hình sự. Khách thể của tội phạm là quyền sống của chị Nga, hành vi phạm tội là dùng dao gây án  dẫn đến hậu quả là chị Nga chết.

    Ở hành vi phạm tội của Huynh, bị cáo đã giết chị dâu là Nga để không phải trả nợ khoản tiền 1,9 tỉ đồng đã quá hạn vay. Nhân dân ta có truyền thống đoàn kết thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau. Trong quan hệ vay mượn cũng là biểu hiện của tinh thần đó. Khi gặp khó khăn, túng thiếu Huynh đã được Nga cưu mang giúp đỡ, cho vay tiền. Lẽ ra Huynh phải biết ơn, ngược lại kẻ được cưu mang giúp đỡ lại giết người cưu mang, giúp đỡ mình nhằm trốn nợ.

    Từ những phân tích trên cùng với việc tổng kết kinh nghiệm xét xử nhiều năm ở nước ta thì trường hợp giết chủ nợ để trốn nợ của Huynh được kết luận là hành vi giết người vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 BLHS. Căn cứ vào khoản 1 Điều 93 BLHS “Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình…” thì tội phạm mà Huynh thực hiện có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, căn cứ tiếp vào khoản 3 Điều 8 BLHS “tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gậy nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”thì tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Giả sử hành vi Huynh giết chị Nga chỉ do mâu thuẫn và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 93 thì căn cứ theo khoản 2 Điều này, Huynh chỉ phải chịu hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, tức Huynh phạm tội rất nghiêm trọng, với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm nhẹ hơn so với tình huống của đề bài.

    2. Khách thể của tội phạm và đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp này là gì? Hãy giải thích

    Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo pháp luật hình sự Viêt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được quy định tại Điều 8 của BLHS. Hành vi bị coi là tội phạm, theo luật Hình sự Việt Nam, là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một trong những quan hệ xã hội đã được xác định đó. Nhưng như vậy không có nghĩa hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội này trong mọi trường hợp đều bị coi là tội phạm mà chỉ trong những trường hợp nhất định – những trường hợp đã được cụ thể hóa qua những quy phạm pháp luật hình sự ở phần các tội phạm của BLHS.

    Hành vi Huỳnh giết chị Nga trong trường hợp này được quy định tại Điều 93 BLHS, thuộc các tội xâm phạm tính mạng của con người. Khách thể của nhóm tội này là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng.Huynh đã trực tiếp xâm hại quyền sống của chị Nga bằng cách tước đoạt một cách trái pháp luật mạng sống của nạn nhân.

    Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, mà ta đã biết khách thể gồm có các bộ phận:

    – Chủ thể của các quan hệ xã hội.

    – Nội dung của các quan hệ xã hội: Là hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội.

    – Đối tượng của các quan hệ xã hội: Là các sự vật khác nhau của thế giới bên ngoài cũng như các lợi ích mà qua đó các quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại.

    Trong tình huống đề bài nêu chủ thể của quan hệ nhân thân là chị Nga đã bị hành vi giết người của Huynh tước đoạt mạng sống, như vậy chị Nga chính là đối tượng tác động của tội phạm.

    Hơn thế trong số những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ có những quan hệ chỉ có thể gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người. Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại này. Các tội phạm quy đinh trong Chương XII BLHS đều có đối tượng tác động là con người. Cụ thể ở trong trường hợp này là tại Điều 93 BLHS.

    3. Phát biểu sau đây về vụ án này là đúng hay sai? Tại sao? – Nếu toà án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng. (1 điểm)

    Phát biểu “Nếu tòa án tuyên phạt 15 năm tù đối với Huynh thì có nghĩa là tội phạm mà Huynh thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng” là sai.

    Điều 8 BLHS nêu rõ việc phân chia tội phạm thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi được quy định trong Bộ luật này. Việc nhận định tội phạm nào có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn cho xã hội dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó.

    Căn cứ vào Điều 44 BLHS thì khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Như vậy tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm chỉ là một trong các tiêu chí để quyết định hình phạt, vì vậy hình phạt đối với hành vi phạm tội không phải là căn cứ để xác định tội phạm thuộc loại gì.

    Việc quyết định hình phạt đối với Huynh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nhân thân của Huynh, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Dù hành vi của Huynh là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có mức hình phạt cao nhất là tử hình, nhưng có thể Tòa án chỉ quyết định phạt Huynh mười lăm năm tù, nằm trong mức “từ mười hai đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” theo khoản 1 Điều 93. Đây là mức hình phạt cao nhất mà tội phạm rất nghiêm trọng phải nhận.

    Giả thiết trường hợp của Huynh có một số tình tiết giảm nhẹ:

    1, Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả (điểm b, khoản 1, Điều 46).

    2,Người phạm tội tự thú (điểm o, khoản 1, Điều 46)

    3, Người phạm tội thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải (điểm p, khoản 1, Điều 46)

    Khi đó, áp dụng Điều 47 BLHS về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật thì hình phạt mà Huynh phải nhận có thể nhẹ hơn mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định là dưới mười hai năm.

    4. Giả sử Huynh là người có quốc tịch Trung Quốc và vụ án trên xảy ra tại Hải Phòng thì Huynh có phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam hay không? Tại sao?

    Khoản 2 Điều 5 BLHS nói về hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

    “2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.”

    Căn cứ vào khoản 2 Điều 5 BLHS thì sẽ có 2 trường hợp xảy ra với hành động phạm tội của Huynh:

    a, Trường hợp 1: Nếu Huynh không thuộc các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 5

    Huynh là người mang quốc tịch Trung Quốc, phạm tội giết người ở Hải Phòng – thuộc lãnh thổ Việt Nam; mặt khác, Huynh không thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc theo điều ước quốc tế thì Huynh bị xử lí về hành vi giết người theo BLHS Việt Nam. Như vậy Huynh vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường như theo khoản 1 Điều 5 BLHS: “Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Cụ thể theo như đã nêu ở phần 1 thì Huynh phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và có thể phải chịu mức án cao nhất là tử hình với tội danh giết người vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm q, khoản 1 Điều 93 BLHS.

    b, Trường hợp 2: Huynh thuộc các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 5

    Nếu Huynh thuộc đối tượng “được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế”, giả dụ Huynh là viên chức ngoại giao hoặc thành viên gia đình của viên chức ngoại giao… khi đó Huynh sẽ được miễn trừ xét xử hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam.

    Tuy nhiên không phải cứ thuộc đối tượng tại khoản 2 điều 5 BLDS là Huynh sẽ không phải chịu TNHS, nếu nước cử từ bỏ quyền miễn trừ đối với Huynh một cách rõ ràng, thì khi đó Huynh sẽ phải chịu TNHS một cách bình thường.

    Mời bạn xem thêm:

  • Bài tập tình huống môn Luật hình sự phần Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

    Bài tập tình huống môn Luật hình sự phần Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

    Bạn đang tìm kiếm bài tập tình huống môn Luật hình sự phần Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người? Bài viết này tổng hợp những tình huống thực tế, kèm phân tích chi tiết theo quy định pháp luật mới nhất, giúp bạn rèn luyện kỹ năng lập luận và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Cùng tham khảo ngay để nâng cao hiệu quả học tập!

    Tham khảo trọn bộ bài giảng môn học Luật Hình sự: https://study.phapche.edu.vn/khoa-hoc-tim-hieu-mon-luat-hinh-su-1?ref=lnpc

    Bài tập tình huống môn Luật hình sự phần Các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe nhân phẩm danh dự của con người

    Bài tập 1

    Khoảng 19 giờ, T ra sân kho HTX xem biểu diễn ca nhạc. Khi đi, T dắt một lưỡi lê tự tạo (lưỡi lê dài 15 cm rộng 2 cm). Chưa tới giờ biểu diễn nên một số thanh niên túm lại với nhau nói chuyện ở phía cổng vào khu vực biểu diễn, khiến một số cháu nhỏ không thể đi qua được. Thấy vậy, T liền nói: “Sao các anh đứng ngang thế?”. Hai bên va chạm, chửi nhau. A và B trong tốp thanh niên đó đã chạy gọi thêm bạn bè để gây sự. Cả bọn quay trở lại gặp T thì ngay lập tức C túm áo T và thúc gối vào bụng của T, còn A và B đấm vào mặt T làm môi T bị sưng. Các trật tự viên đã kịp thời ngăn cản và chấm dứt sự va chạm. Một lát sau, T lại đến gần chỗ đứng của A, B và C để đôi co dẫn đến tiếp tục xô xát. Trong lúc xô xát, T rút lưỡi lê ở thắt lưng đâm một nhát vào ngực C rồi bỏ chạy. Kết luận giám định pháp y xác định: “C chết do vết thương sắc gọn, thấu ngực trái, rách phổi, thấu lách, đứt động mạch, mất máu cấp tính”.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T.

     Dấu hiệuTội giết người (Điều 123)
    Khách thể– Khách thể: Xâm phạm quan hệ xã hội nào?– Đối tượng tác động: Hành vi phạm tội tác động đến đối tượng nào?– Tính mạng của người khác– Cơ người đang sống –  Anh C
    Mặt khách quan– Hành vi: dạng hành vi phạm tội nào?– Hậu quả: gây ra thiệt hại gì? (vật chất, thể chất, tinh thần)– Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả+ Dấu hiệu khác: côngcụ, thời gian, địa điểm,…– Hành động. Anh T đâm anh C với vết thương sắc gọn, thấu ngực trái (vùng chứa tim – là bộ phận trọng yếu của cơ thể)– Do vết thương sắc gọn, thấu ngực trái, rách phổi, thấu lách, đứt động mạch, mất máu cấp tính dẫn đến cái chết của anh C
    Chủ thể– Nănglực TNHS– Tuổichịu TNHS– Dấu hiệu đặc biệtĐầy đủ, không thuộc trường hợp chủ thể đặc biệt.
    Mặt chủ quan– Lỗi: cố ý hay vô ý?– Động cơ phạm tội– Mục đích phạm tội–  Cố ý trực tiếp.

    Bài tập 2

    Chị N sinh con nhưng đứa bé sinh ra bị dị tật bẩm sinh, không có chân tay. Lần đầu nhìn thấy con, chị N đã bị sốc và ngất xỉu. 10 ngày sau khi sinh, do không làm chủ được mình, chị N lấy tay chùm chăn, bịt mặt đứa bé cho đến khi không còn thấy nhịp tim đập nữa mới bỏ ra. Hậu quả đứa bé chết.

    Anh (chị) hãy xác định hành vi của N có phạm tội khôngNếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    Hành vi của chị N phạm Tội giết người Điều 123 (không phải tội giết con mới đẻ đâu nhé bởi vì đã 10 ngày sau khi sinh rồi).

    Bài tập 3

    A và B là vợ chồng. Trước khi cưới, B đã có người yêu, nhưng do gia đình ép gả nên phải lấy A. Vì thế, dù đã có chồng nhưng B vẫn gặp C – người yêu cũ của B. Biết vậy, nên gia đình B khuyên A đưa vợ lên làm ăn ở thành phố Hồ Chí Minh. A nghe lời đem vợ lên sống ở thành phố. Dù vậy, B vẫn lén lút quan hệ với C bằng cách viện lý do đi khám bệnh và lưu lại bệnh viện để điều trị ít ngày, nhưng thực chất là 2 người hẹn hò nhau tại một khách sạn và sống với nhau. Gia đình B biết được nên đã báo cho A biết mối quan hệ giữa B và C, đồng thời cho A biết số xe Honda của C.  Một hôm, vì mất điện nên A về nhà sớm hơn thường lệ thì thấy B chuẩn bị quần áo nói là đi chữa bệnh tại bệnh viện. A không tin nên chạy nhanh ra đường cái, cách nhà khoảng 200m thì thấy một thanh niên đang ngồi trên một chiếc xe Honda có biển số như gia đình B đã báo trước. Quá tức giận, A nhặt một khúc gỗ bên lề đường to bằng cổ tay, dài 60cm, phang thẳng vào đầu anh thanh niên đang ngồi trên xe gắn máy nhiều nhát cực mạnh khiến anh thanh niên nọ bị chấn thương sọ não, chết trên đường cấp cứu tới bệnh viện. Khi kiểm tra căn cước của người bị hại thì mới xác định được nạn nhân không phải là C mà chính là bạn của C. Do không biết mặt C nên A đã đánh nhầm người. Lúc đó, C đang mua thuốc lá gần đó.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A.

    A phạm Tội giết người Điều 123. (hay Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 125? – bị phải bội, dồn nén lâu nay, bựt phá dẫn đến bị kích động và giết người)

    Bài tập 4

    Hai gia đình là hàng xóm của nhau. Trong một gia đình có bà mẹ là K và cậu con trai tên là H. Gia đình bên kia có ông cụ là A cùng hai con trai tên là B và C. Ban ngày các con đều đi làm nên ông A thường hay qua nhà bà K chơi. Sau một thời gian, ông A mang gạo góp với bà K nấu cơm chung. B và C không đồng ý vì cho là cha mình bị bà K dụ dỗ, đem tài sản cho bà K nên yêu cầu cha mình chấm dứt quan hệ với bà K nhưng ông A không nghe và vẫn tiếp tục làm theo ý mình. B và C cho là sự bất đồng trong gia đình mình là do bà K gây ra nên quyết định gây án.

    Vào 3 giờ sáng, B cầm đuốc và C cầm một con dao lớn đến trước sân nhà bà K. B và C châm lửa đốt nhà, đồng thời chặn cửa đón đầu hai mẹ con bà K. Bà K và H chạy ra đến cửa thì thấy B đang quơ đuốc xông tới, C cầm dao lao vào tấn công H. H xông tới C, giành được con dao từ tay C và chém đứt bàn tay C. Ngay lúc đó, B dùng đuốc xông tới gần H. H nhanh chóng chém tiếp vào đầu C khiến C chết tại chỗ, đồng thời H quay sang đối phó với B thì bà con vừa kịp đến.

    Hãy xác định hành vi của H có phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì?

    Hành vi giết người của H là ở hành vi khách quan chém vào đầu C – đầu là bộ phận quan trọng (chứa óc) khiến C chết tại chỗ.

    Bài tập 5

    A là đối tượng không có việc làm ổn định, thường uống rượu, gây gổ, đánh nhau và bị cha mẹ rầy la.

    Khoảng 17 giờ 30 phút, sau một chầu nhậu về, A bắt đầu chửi ông Th (bố đẻ của A) với những lời lẽ hết sức hỗn láo: “Ngày trước tao còn nhỏ mày đánh tao, bây giờ tao đã lớn, thằng nào há miệng tao bóp cổ chết tươi”. Đúng lúc đó, B (anh ruột của A) đi làm về nghe A chửi cha nên rất bực tức, đã chỉ mặt A răn đe: “Nếu còn hỗn láo với cha  mẹ, có ngày tao đánh chết”.

    Dù vậy, A vẫn tiếp tục chửi ông Th. Thấy A hỗn láo quá mức, không coi lời nói của mình ra gì nên B chạy ngay vào bếp rút con dao lưỡi bầu mũi nhọn (kích thước 25 cm x 7 cm) đâm liên tiếp 4 nhát vào bụng A khiến A gục chết tại chỗ.

    Khi định tội cho vụ án có 2 quan điểm:

    B phạm tội “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (Điều 125 BLHS);

    B phạm tội “giết người” (Điều 123 BLHS).

    Theo anh (chị), B đã phạm tội gì? Tại sao?

    B phạm tội “giết người” (Điều 123 BLHS) Hành vi xúc phạm cha của A chưa đến mức là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng mà B phải dùng dao đâm chết A.

    Bài tập 6

    S là một đối tượng hay rượu chè, đã nhiều lần say rượu và gây gổ, đập phá đồ đạc của gia đình. Trong một lần say, S đến nhà anh rể (tên là N) đập phá nhiều tài sản (01 máy cassette, 01 TV, 01 tủ kính, 4 két bia…). Bố mẹ S đến can, khuyên bảo nhưng vô hiệu. S còn hùng hổ hơn, hai tay cầm hai dao xẻ thịt đuổi chém bất kỳ ai. Bà Hai là mẹ S biết H là du kích và có súng nên sang nhờ H can thiệp giúp ngăn chặn S. H nói là phải có ý kiến của chính quyền và ấp đội chứ không tự can thiệp được. Bà Hai tìm đến nhà ông M (ấp đội trưởng) và ông Đ (phó công an ấp) báo cáo đề nghị giúp đỡ. Ông M và Đ đã huy động H và một công an viên nữa tới nhà anh N để làm nhiệm vụ. Cả 2 người tới nơi đã khuyên ngăn và ra lệnh cho S bỏ dao xuống, S không chấp hành lại dùng cả 2 dao đuổi chém các cán bộ. Để tránh hậu quả xấu, anh ruột S (tên là Đ) đã lấy 1 khúc cây so đũa bất ngờ đánh vào tay S cho rớt dao ra nhưng chỉ là cây gỗ mục nên càng làm cho S hung hăng hơn. Tất cả mọi người đều bỏ chạy, chỉ còn H và anh công an viên kia đứng lại. Thấy H cầm súng thì S càng hùng hổ xông tới. H ra lệnh S bỏ dao xuống nhưng S vẫn tiếp tục chạy tới với cả 2 dao vung lên. H lùi lại sau nhưng vì phải đi giật lùi nên S đã đứng trước mặt H cách chừng 2 mét, H chúc nòng súng xuống, bắn vào chân làm S ngã xuống. S đã chết trên đường đi cấp cứu vì mất quá nhiều máu. Hãy xác định TNHS của H trong vụ án này.

    Bài tập 7

    Bà X cho các con cất nhà ở riêng trên phần đất của nhà bà, cụ thể là: A (con ruột) ở cuối hẻm, B (con rể) cất nhà ở phía trước nhà A. Tất cả sử dụng con hẻm chung rộng 1,2m để làm lối đi vào nhà. Do B thường để bếp lò trong đường hẻm nướng đồ nhậu gây vướng đường đi lại, nên bà X nhiều lần kêu B dọn bếp vào trong nhà. Ngày 14/8, bà X lại nhắc nhở B, B cho rằng A xúi bà X đến nói, B hét to: “Tao đâm chết mẹ mày rồi về ngoài quê ở, xem ai làm gì tao”. Lúc này, A ở trong nhà đang cầm con dao Thái Lan gọt cắt trái xoài ăn. B cầm khúc cây tầm vông (dài 1m, đường kính 3,5cm, một đầu vót nhọn) xông vào nhà đập A một cái từ trên xuống nhưng A đưa tay trái lên đỡ nên trúng cổ tay bị thương nhẹ phần mềm. Ngay sau đó, B cầm chiếc ấm nhôm ném trúng vào vai A rồi lao vào dùng tay chân đấm đá vào người A. A chụp được con dao trên bàn, đâm một nhát trúng vào ngực của B, rồi vứt con dao bỏ chạy. B chết trên đường đi cấp cứu.

    Anh (chị) hãy xác định hành vi của A có phạm tội hay không? Nếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    A phạm tôi Giết người

    Bài tập 8

    Một năm trước, P được tuyển vào làm bảo vệ cho nông trường X chuyên trồng thơm xuất khẩu. P đã được trang bị một khẩu súng trường và được học cách sử dụng súng trong thời gian 2 tuần.

    Một buổi sáng chủ nhật, P phát hiện có 3 em (gồm A-17 tuổi, B-15 tuổi, và C-11 tuổi) đang hái trộm thơm của nông trường. P khoác súng lên vai và lấy xe đạp chạy theo đường đá đón đầu 3 em nhỏ. Tới nơi, P bỏ xe chạy bộ đuổi bắt. Khi đó, A và B đã vứt bao tải đựng thơm và chạy thoát. C do cố mang theo bao thơm nên bị P bắt được và bị dẫn về Ban quản lý để xử lý.

    Trên đường đi, P dùng một tay giữ bao thơm (tang vật), tay kia nắm chặt tay của C. Khi vượt qua một cây cầu khỉ thì C đã vùng chạy thoát, còn đẩy làm P mất thăng bằng và té xuống nước. Khi C chạy được chừng 30m thì P kê súng lên bờ mương, nhắm về phía C lên đạn và bóp cò. Súng nổ và viên đạn xuyên qua cuống tim làm cho C chết ngay tại chỗ. P liền đến công an tự thú.

    Bài tập tình huống môn Luật hình sự phần Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
    Bài tập tình huống môn Luật hình sự phần Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

    Anh (chị) hãy cho biết quan điểm về tội danh trong vụ án này.

    P phạm tội giết người

    Bài tập 9

    Chị V sinh con đầu lòng ở trạm y tế xã. Người đỡ đẻ là bác sĩ N. Đây là ca đẻ ngược. Do có những sai sót về chuyên môn và kỹ thuật của bác sĩ N nên khi lọt lòng mẹ, cháu bé đã bị gãy xương cánh tay trái, tình trạng rất yếu, thở thoi thóp và không khóc được. Điều đó khiến cho N luống cuống nên cắt rốn của bé quá sát da, gây mất máu khá nhiều. Ngay lúc đó N dùng vải màn quấn quanh người đứa bé, để nằm trên bàn và không cho ai trong số người nhà vào nhìn mặt. N nói với người nhà chị V là đứa bé đã chết.

    Khoảng 10 phút sau bà T (mẹ của chị V) tông cửa xông vào thì thấy cháu bé hãy còn thở. Bà kêu N tới nhưng N nói: “Chỉ còn thoi thóp, cứu sao được nữa!”. Bất chấp lời N, bà T vẫn đưa cháu lên bệnh viện tuyến trên cấp cứu. Tại bệnh viện này các bác sĩ có kết luận: cháu bị gãy kín xương cánh tay do sang chấn sản khoa, cuống rốn bị cắt sát da, chỉ buộc rốn bị tuột ra, mất nhiều máu. Dù được các bác sĩ cấp cứu tận tình nhưng qua ngày thứ 5 thì bé chết.

    Hãy định tội danh đối với hành vi của N trong vụ án này?

    Tội vô ý làm chết người do vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp

    Bài tập 10

    Chị H là người mồ côi mẹ từ nhỏ. Bố chị lấy vợ khác là bà Y. Trong cuộc sống thường ngày, bà Y thường có hành vi ngược đãi, ức hiếp đối với chị H. Vì vậy, H đã sớm yêu một thanh niên. Do nhẹ dạ nên H đã có thai với anh thanh niên này. Khi biết được tình trạng trên, người yêu của H lánh mặt không gặp H nữa và tìm cách chối bỏ trách nhiệm làm cha. Quá thất vọng vì bị bội tình, H viết thư tuyệt mệnh rồi tự sát.

    Trong vụ việc này có hành vi phạm tội không? Nếu có thì phạm tội gì và ai phải chịu TNHS?

    Không có tội phạm.

    Bài tập 11

    A dùng dây điện trần giăng xung quanh luống mía ở trong vườn mía trước nhà mình để diệt chuột vì mía đã lên cao khoảng 0,80m–1m, nhưng bị chuột cắn phá rất nhiều ở phần ngọn. Xung quanh ruộng mía có tường bao quanh cao 1m 40 đến 1m 50 và không có lối đi tắt, đi qua cho hàng xóm. Thường thường, A cắm điện vào lúc 22giờ đêm và ngắt điện vào 5giờ sáng. Việc cắm điện đã được A thông báo cho bà con trong xóm biết. Những con chuột bị chết do điện giật, A thường đem cho những người trong xóm nấu cho heo ăn. Khoảng 24giờ, có một thanh niên khác xã trèo qua tường để vào vườn mía và bị điện giật chết.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi gây chết người của A.

    Mặc dù có thông báo, nhưng hành vi giăng dây điện này bản chất là nguy hiểm và có khả năg làm chết người.

    A biết được và không mong muốn xảy ra

    A phạm tội vô ý làm chết người.

    Bài tập 12

    A, B và H là ba người bạn kết thân từ thời còn học ở Đại học Cảnh sát nhân dân. Khoảng 13giờ 30 phút ngày 25/8, A, B, C và D (đã uống rượu) rủ nhau ra Nhà Bè nhậu tiếp. Trên đường đi, A và B ghé vào cơ quan để rủ H cùng đi. B và C đứng ngoài cổng trông xe, còn A và B lên phòng để tìm H. Gặp H ở hành lang, A liền đùa, rút súng K54 mang theo và cười lớn. H cũng đùa lại, vờ nấp vào cánh cửa. Anh T ở cùng phòng thấy vậy bảo: “Không được đùa với súng”. A tháo băng đạn, kéo quy lát, lấy nốt viên đạn trong nòng súng ra. B đi vào phòng H. A lắp lại băng đạn vào nòng súng rồi cũng đi vào phòng theo. A và B rủ H đi chơi nhưng H từ chối vì đã có hẹn. Nghe vậy, B bảo A: “Đưa súng đây để tao ép nó đi”.

    A lấy súng đưa cho B. Vì nghĩ rằng súng không có đạn (B đã thấy A lấy viên đạn ra ở hành lang) nên B cầm súng bằng tay trái, kéo quy lát rồi rê nòng súng về phía H, ngón tay vẫn còn đặt trong vòng cò thì bất ngờ súng nổ. Viên đạn bắn trúng vào trán H làm H chết ngay tại chỗ.

    Hãy xác định tội danh đối với hành vi của B trong vụ án.

    Quy tắc nghề nghiệp là súng không sử dụng thì phải khoá, tháo đạn, v.v.. không được đùa giõn với súng… nhưng vân chĩa vào ngừoi khác.. dẫn đến nổ súng chết người. Tội vô ý làm chết người do vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp

    Bài tập 13

    A, B, C và D chơi bài tại nhà ông T. Cả bọn chơi bài đến khoảng 12 giờ thì chị L (vợ của B) đến gọi B về. Thấy chồng đang đánh bài, chị L đã nói lời xúc phạm khiến B nổi cáu, đứng lên đá chị L. Thấy B đánh vợ, chị A vội vào can ngăn thì bị B đá 1 cái. Chị A té ngửa xuống sân nhà và ngất xỉu. Mọi người đưa chị A đi cấp cứu nhưng chị A đã chết sau đó. Biên bản giám định kết luận: A chết là do chấn thương sọ não.

    Hãy định tội danh đối với hành vi của B.

    Tội vô ý làm chết người.

    Bài tập 14

    A và B cùng đi săn. A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn. B thấy gần đó có một người đang bẻ măng nên ngăn đừng bắn và nói rằng: “Thôi đừng bắn nữa, nhỡ trúng người ta thì chết”. A tiếp tục rê súng theo con gà rừng và đáp lại: “Mày chưa biết tài bắn của tao à! Chưa bao giờ tao bắn trượt cả”. Nói xong, A bóp cò, không ngờ đạn trúng vào người bẻ măng.

    Hãy xác định A phạm tội gì nếu:

    Nạn nhân chết;

    Vô ý làm chết người. (lỗi quá tự tin)

    Nạn nhân bị thương nặng;

    Xác định thương nặng là bao nhiêu % từ 31% trở lên thì phạm tội vô ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ của người khác, dưới 31% không có tội phạm hình sự.

    Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%.

    không có tội phạm hình sự.

    Bài tập 15

    Ông M và bà H lấy nhau đã được 30 năm nhưng hai người không có con chung. Ông M thường xuyên vắng nhà, có khi nhiều ngày không hề về nhà. Quan hệ của M và H cứ như thế đã nhiều năm. Cuộc sống tẻ nhạt của bà H thật sự trở thành địa ngục khi bà biết ông M lừa dối bà: ông M đang có vợ bé và đang có một con chung với người vợ này.

    Đúng vào ngày sinh nhật thứ 53 của bà H, ông M trở về nhà chìa vào mặt bà H tờ đơn xin ly hôn. Bà H buồn rầu nói qua hai hàng nước mắt: “Ông thật tàn ác, hôm nay là sinh nhật tôi cơ mà! Tôi hận ông đã lừa dối tôi suốt bấy nhiêu năm. Không cần đơn chi hết. Tôi sẽ chết cho ông rảnh nợ mà đi lấy người ta. Ông đừng có cản tôi, tôi đã quyết vậy rồi”.

    Ông M buông lời lạnh lùng: “Bà làm gì mặc xác bà. Tôi cần một chữ ký của bà vô tờ đơn gửi tòa thôi”.

    Nghe vậy bà H leo lên thành cửa sổ (đang mở sẵn), ông M vẫn ngồi yên ở ghế salon mà không nói gì thêm. Khoảng cách giữa chỗ ông M ngồi và thành cửa sổ là 5m. Bà H nhảy xuống, đầu đập xuống nền xi măng, vỡ hộp sọ và chết. (Nhà ông M và bà H ở tầng 5 chung cư T). Theo tin báo của nhân dân, công an đã tạm giữ ông M để làm rõ cái chết của bà H.

    Hãy xác định ông M có tội không? Nếu có là tội gì?

    Ông M phạm tội bức tử. Với hành vi gọi là thường xuyên ức hiếp ngược đãi. Vợ chồng mà không có nghĩa vụ yêu thương chăm sóc, sống chung, đưa đơn ra thì kèm theo lời lạnh lùng, khiến bà H dày vò, bế tắc mà dẫn đến tự sát

    Bài tập 16

    H và B là chiến sĩ công an nghĩa vụ công tác tại đội A vệ binh thuộc Ban tham mưu Trung đoàn cảnh sát cơ động – Công an tỉnh X. Theo sự phân công của đơn vị, ngày 21/8, H và B được giao nhiệm vụ trực bảo vệ đơn vị từ 4 giờ đến 6 giờ sáng. H và B tự phân công nhau: B trực từ 4 giờ đến 5 giờ, H trực từ 5 giờ đến 6 giờ.

    Sau khi trực xong, B vào gọi H dậy để bàn giao ca trực. B giao cho H một khẩu súng ngắn loại K54 và băng đạn gồm 08 viên. Theo quy định, súng và hộp tiếp đạn được để riêng trong bao da, chung một dây thắt lưng, khi nhận bàn giao phải kiểm tra súng đạn. Khi nhận súng, H không kiểm tra theo quy định mà đeo súng vào và ra cổng trực gác.

    Đến 5 giờ 45 phút H đánh kẻng báo thức đơn vị dậy tập thể dục rồi vào gọi C (là người phụ trách ca trực tiếp theo) dậy để bàn giao việc trực. C tỉnh dậy xếp chăn màn xong nhưng không ra trực. H từ ngoài trở vào thấy C vẫn ngồi xếp bằng hai chân trên giường, bèn tiến lại đứng ngay đầu giường C và rút súng K54 ra cầm trên tay phải, kéo súng lên đạn rồi chĩa nòng súng vào nách trái của C vừa cười đùa, đồng thời bóp cò làm đạn nổ. C ôm ngực ngã ngửa xuống giường. H hoảng hốt la lên: “Ai bỏ đạn vào súng?”. Thấy máu trên người C ra nhiều, H đưa C đến bệnh viện cấp cứu, nhưng C đã chết trên đường đi.

    Kết luận giám định pháp y là: “C chết do đạn bắn ở tầm kề, xuyên ngực và hai lá phổi, từ hõm nách phía trước bên trái đến vùng lưng phải, gây choáng mất máu cấp”.

    Anh (chị) hãy xác định hành vi của H có phạm tội khôngNếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    H phạm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp.

    Bài tập 17

    M cùng vợ là N đi bộ từ nhà mẹ ruột về nhà trọ. Khi ra đến đầu đường thì N ngất xỉu. Hay tin, mẹ M từ trong nhà chạy ra chạy đến chăm sóc chị N; còn M chạy đi tìm người nhờ phụ chở vợ đi bệnh viện cấp cứu. Lúc này, M nhìn thấy anh T là người chạy xe ôm đang ngồi trong quán nhậu gần đó liền đến năn nỉ anh này chở vợ mình đi cấp cứu nhưng bị từ chối. Thấy vợ mình đang trong tình trạng nguy kịch mà anh T không thèm quan tâm nên M lớn tiếng với anh T dẫn đến cãi nhau rồi M dùng tay đánh T. Sau đó, anh T bỏ đi ra đến lề đường thì bị M chạy theo dùng tay nắm cổ áo đẩy ra đường. Lúc đó, anh K đi xe máy (không bật đèn xe) đã tông phải anh T làm T chết.

    Anh (chị) hãy xác định hành vi của M có phạm tội khôngNếu có thì phạm tội gì? Tại sao?

    ?

    K phạm tội vi phạm quy định  về tham gia giao thông đường bộ

    M – Hành vi xô T ra đường – có xe chạy, nguy hiểm – có thể nào là vô ý làm chết người không?

    Bài tập 18

    A và B là vợ chồng có một đứa con chung là C (8 tháng tuổi). Cuộc sống gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị B. Đêm 29/7, sau khi đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt quần áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc dù ngoài trời đang mưa bão. Chị B khóc van xin A mở cửa nhưng A kiên quyết không chịu. Quá tuyệt vọng, chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát. Lúc này, ông X đi ngang qua thấy vậy nhảy xuống sông cứu hai mẹ con nhưng chỉ cứu được chị B, cháu C chết do ngạt nước.

    Trong tình huống trên, ai phạm tội? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?

    Anh B phạm tội bức tử – là người lệ thuộc với A – A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị B – hành vi của anh A xác định là đối xử tàn ác – có tính chất độc ác tàn bạo đánh đập gây tổn hại sức khoẻ à Quá tuyệt vọng, chị B bế con ra bờ sông gần nhà nhảy xuống sông tự sát – Chị B tử vong hay không không phải là dấu hiệu của tội này

    Chị A phạm tội giết người.

    Mời bạn xem thêm:

.
.
.