Chia sẻ kiến thức chung trong mảng pháp chế doanh nghiệp và hành nghề luật với sinh viên, cử nhân luật tại các trường đại học do Học viện đào tạo pháp chế ICA biên soạn.
Học Viện ICA kỳ vọng rằng những kiến thức được chia sẻ trong chuyên mục này sẽ giúp sinh viên:
Hiểu biết và có thêm những kiến thức pháp lý cần thiết nhằm trao dồi, vun đắt, học hỏi những kỹ năng mới
Tạo lập kho dữ liệu phục vụ mục đích tham khảo, học tập
Tìm hiểu những kiến thức liên quan mảng pháp chế doanh nghiệp, tư vấn nội bộ doanh nghiệp
Có thêm định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Ngoài ra, Học viện pháp chế ICA cung cấp những khóa học liên quan đến kỹ năng hành nghề pháp chế doanh nghiệp, cung cấp nhân sự pháp chế và đào tạo nội bộ doanh nghiệp theo đặt hàng.
Vào mỗi mùa tuyển sinh, ngành Luật lại là một ngành học được nhiều bận phụ huynh và học sinh quan tâm đến. Ngành Luật đã trở thành một ngành nghề “hot” với cơ hội việc làm ngày càng rộng mở. Bên cạnh những thắc mắc ngành luật là ngành học như thế nào? Ngành Luật học về những nội dung, phạm trù gì? Thì vấn đề được quan tâm hơn cả khi tìm hiểu về ngành học đó là cơ hội việc làm, vậy khi Tốt nghiệp ngành luật làm nghề gì? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về vấn đề này tại nội dung sau đây.
Ngành Luật là ngành học như thế nào?
Hiểu một cách đơn giản, ngành luật là đơn vị cấu trúc bên trong của hệ thống pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một loại quan hệ xã hội có cùng tính chất, nội dung thuộc một lĩnh vực đời sống xã hội nhất định. Trong đó có các lĩnh vực chính như: thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, điều tra viên hoặc chuyên viên pháp lý.
Tại sao nên học Luật?
Học luật mang lại cơ hội phát triển các kỹ năng và khám phá nhiều khía cạnh của cuộc sống. Nó mang lại cho bạn cơ hội rèn giũa trí óc, củng cố sự hiểu biết và đào sâu trải nghiệm trong toàn bộ lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Bạn sẽ có được sự hiểu biết kể cả chiều rộng và chiều sâu ở các lĩnh vực mà bạn quan tâm.
Luật thu hút những người muốn phát triển cả tư duy trừu tượng và giải quyết vấn đề thực tế. Tại Việt Nam, đa phần mọi người thường nghĩ học luật ra trường thì sẽ mặc định là luật sư. Tuy nhiên, tính ứng dụng của ngành luật là tương đối cao, khiến nó phù hợp và là yếu tố cần thiết của nhiều ngành nghề.
Ngoài việc trở thành một luật sư, bạn còn có thể là một chuyên viên pháp lý, nhà sản xuất, chính trị gia, nhà quản lý, nhà báo, nhà ngoại giao hoặc cảnh sát. Tấm bằng cử nhân luật giúp bạn phù hợp với hầu hết mọi ngành nghề đòi hỏi sức mạnh trí tuệ kết hợp với cách tiếp cận thực tế.
Tốt nghiệp ngành luật làm nghề gì?
Sinh viên chuyên ngành Luật khi tốt nghiệp có thể làm những công việc sau:
Công chứng viên
Tốt nghiệp ngành luật bằng có thể ứng tuyển vị trí công chứng viên. Đây là người tư vấn và thẩm định công chứng cho khách hàng. Công chứng viên còn chịu trách nhiệm soạn thảo, thẩm định hợp đồng, hồ sơ theo quy định pháp luật. Trong ngành luật, công chứng viên còn là người hỗ trợ cho luật sư trong các văn bản pháp lý. Yêu cầu về kinh nghiệm của công chứng viên khá cao. Ứng viên vị trí này phải công tác pháp luật từ 5 năm trở lên sau khi tốt nghiệp ngành luật.
Luật sư
Luật sư hẳn là công việc được nhiều người nghĩ đến đầu tiên khi nhắc đến ngành luật. Bởi đây là công việc tiêu biểu và thể hiện rõ đặc thù của ngành luật.
Công việc của luật sư: Nghiên cứu, phân tích và soạn thảo các văn bản pháp lý theo phân công. Tư vấn pháp lý, đại diện pháp luật cho các cá nhân hoặc tổ chức trong giải quyết tranh chấp, tố tụng… Thu thập chứng cứ cho quá trình kiện tụng. Cung cấp hồ kiện tụng cho Tòa án, Nhà nước hoặc tổ chức trọng tài. Nghiên cứu ngành luật, cập nhật quy định pháp luật theo yêu cầu công việc. Làm việc trực tiếp với khách hàng, doanh nghiệp hay các cơ quan pháp luật trong trường hợp cần thiết. Đàm phán, thương lượng về các vấn đề pháp luật.
Yêu cầu đối với Luật sư Tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật, có chứng chỉ hành nghề luật sư. Có kinh nghiệm làm việc ở vị trí tương đương. Kỹ năng giao tiếp, phân tích và xử lý tình huống tốt. Bên cạnh đó, luật sư phải kết hợp xử lý công việc độc lập và nhóm hiệu quả. Tinh thần trách nhiệm cao, tác phong chuyên nghiệp, quyết đoán.
Kiểm sát viên – Công tố viên
Kiểm sát viên, công tố viên là một trong công việc mà cử nhân luật quan tâm. Công việc của vị trí công việc này là là điều tra, truy tố và buộc tội những kẻ vi phạm pháp luật trong các vụ án hình sự và phiên tòa xét xử. Bên cạnh đó, họ còn có thể thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát.
Thẩm phán
Thẩm phán chắc chắn là vị trí công việc được nhiều người ao ước. Chức danh này cao quý và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý, thực thi pháp luật. thuộc về những người có nhiệm vụ bảo vệ công lý và thực thi pháp luật.
Thư ký tòa án
Thư ký tòa án là vị trí công chức làm việc tại Tòa án. Thư ký tòa án có công việc cụ thể là ghi chép, tổng hợp các văn bản tố tụng, quản lý hồ sơ. Đây cũng là vị trí hỗ trợ cho thẩm phán thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Để có thể trở thành thư ký tòa án thì bạn phải có bằng cử nhân Luật, vượt qua kỳ thi tuyển công chức của Tòa Án.
Giảng viên ngành luật
Với thắc mắc sinh viên ngành luật ra trường làm gì thì giảng viên cũng là một trong những công việc dành cho bạn. Bạn có thể trở thành giảng viên ngành luật ở các trường đại học, cao đẳng đào tạo chuyên ngành này. Bên cạnh kiến thức chuyên sâu về luật, để trở thành giảng viên thì bạn cần có nghiệp vụ sư phạm và một số kỹ năng khác như : tin học, kỹ năng giao tiếp, thuyết trình…
Pháp chế doanh nghiệp
Pháp chế doanh nghiệp đang là vị trí công việc được nhiều sinh viên ra trường lựa chọn. Kinh tế phát triển kéo theo sự thành lập của nhiều doanh nghiệp. Để doanh nghiệp có thể hoạt động ổn định và hợp pháp, chắc chắn cần đến phòng ban pháp chế. Nhiệm vụ của những người làm pháp chế doanh nghiệp là tư vấn, kiểm soát các hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.
Trên đay là tư vấn của Học viện đào tạo pháp chế ICA về nội dung “Tốt nghiệp ngành luật làm nghề gì?“. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Tìm việc làm ngành luật ở đâu?
Ngành Luật mang đến nhiều cơ hội việc làm tốt nhưng đòi hỏi ứng viên phải có kỹ năng, trình độ nhất định để thể hiện bản thân trong CV xin việc. Hiện nay, ứng viên có thể dễ dàng tìm kiếm và ứng tuyển các vị trí ngành luật trên group và fanpage trên Facebook hoặc lựa chọn trang thông tin tuyển dụng uy tín
Miền Bắc có những trường Đại học nào đào tạo chuyên ngành Luật?
1. Đại học Luật Hà Nội 2. Đại học Công đoàn 3. Đại học Thương Mại 4. Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên 5. Đại học Kinh tế Quốc dân 6. Học viện Ngoại giao 7. Viện Đại học Mở Hà Nội 8. Đại học Hồng Đức 9. Đại học Thái Bình
Pháp luật đại cương được biết đến là một môn học có nội dung phong phú và đa dạng, môn học sẽ tập trung nghiên cứu các khái niệm cơ bản và các phạm trì về pháp luật và Chính phủ trên phương diện khoa học pháp lý. Đây là một môn học quan trọng và là môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục cơ bản. Sau đây là nội dung Bài tập tình huống pháp luật đại cương hữu ích cho sinh viên mà Học viện đào tạo pháp chế sưu tầm gửi đến các bạn sinh viên, mời bạn đọc tham khảo.
Bài tập 1
Do có việc phải đi công tác xa nhà, ngày 10/03/2022, anh T đã làm văn bản ủy quyền cho anh D đến nhà và trông coi, chăm sóc giúp anh T vườn cam với gần 300 gốc cam đang mùa quả, được anh D đồng ý. Trong thời gian này anh T cho phép anh D đến ở tại nhà có khu vườn, thực hiện các biện pháp để bảo vệ vườn cam thay cho mình. Thời hạn ủy quyền từ 12/3/2022 đến 12/5/2022. Đến ngày 20/5/2020 chưa thấy T trở về, nhiều lần gọi T nhưng không liên lạc được, tấy vườn cam đã đến thời gian có thể thu hoạch, anh D gọi thương lái đến để bán số cam trong vườn do sợ anh T không về kịp và cam hư hỏng. Đến khi T trở về thì anh Dũng đã bán xong số cam trong vườn.
Hỏi:
Hãy căn cứ Bộ luật Dân sự 2015 để giải quyết quyền lợi của các bên trong tình huống trên?
Căn cứ Điều 189 Bộ luật Dân sự 2015: “Điều 189. Quyền sử dụng
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, vườn cam của anh T thì hoa lợi từ tài sản (tức quả cam) sẽ thuộc quyền sử dụng của T.
Về việc anh T uỷ quyền cho anh D trông coi vườn cam, “thực hiện những biện pháp bảo vệ vườn” thì anh D không có quyền định đoạt hay chiếm hữu vườn cam này (kể cả những hoa lợi có được) căn cứ theo Điều 187 khoản 2 Bộ luật Dân sự 2015.
Bên cạnh đó, căn cứ quy định tại Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 Bộ luật Dân sự 2015 thì uỷ quyền cũng có thời hạn được các bên thoả thuận. Ngày 20/05 thì đã quá thời hạn được uỷ quyền thì anh D lại càng không có quyền bán những quả cam.
Bài tập 2
A là quốc tịch Canada. A có hành vi phạm tội giết người trên lãnh thổ Việt Nam và bị bắt tại Anh.
Câu hỏi
Hành vi phạm tội của A có bị xử theo Bộ luật Hình Sự Việt Nam không?
Giả định A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A có bị coi là tội phạm không?
Hãy cho biết quan điểm cá nhân về quy định tại Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam.
Lời giải
Do A là người Canada nên việc xử lý A phải căn cứ vào khoản 2 điều 5 của bộ luật hình sự. Nếu A là đối tượng thuộc khoản 2, điều 5 bộ luật hình sự thì vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Theo đó
Dù A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A vẫn bị coi là tội phạm.
Hành vi của A là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam vì nó thoả mãn những đặc điểm của tội phạm:
+ Tính nguy nguy hiểm cho xã hội
+ Tính có lỗi
+ Tính trái pháp luật hình sự
+ Tính chịu hình phạt
Hành vi của A là tội phạm tuy nhiên do A ( chủ thể của tội phạm) thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao nên vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao theo quy định tại khoan 2, điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Bài tập 3
Vì ghen tuông, A có ý định giết B. A rủ B đi chơi, đến chỗ vắng, A rút dao đâm B ba nhát. Tưởng rằng B đã chết, A bỏ đi. Do được phát hiện và cấp cứu kịp thời, B đã được cứu sống. Toà án xác định A phạm tội giết người theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hỏi:
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại tội phạm đối với tội giết người.
2. Hành vi phạm của A thuộc giai đoạn phạm tội nào? Giải thích tại sao.
Theo Điều 93 BLHS, tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật, do đó trực tiếp xâm phạm quyền được sống của con người. Về mặt khách quan, tội giết người được thể hiện ở hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật bằng mọi thủ đoạn và mọi phương tiện gây nên hậu quả cho xã hội.
Hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác thường được thực hiện bằng hành động và bằng phương tiện rất đa dạng không thể kể hết như bắn, chém, đâm, đầu độc…Và cũng có thể được thể hiên bằng không hành động.
Hậu quả trực tiếp của tội giết người thông thường là người chết ( trong trường hợp giết người hoàn thành), nhưng cũng có trường hợp nạn nhân chỉ bị thương hoặc cố tật ( trong trường hợp giết người chưa đạt), nạn nhân chỉ bị giật mịnh như: bị bắn lén, không trúng hoặc có người khác bắt tay súng, đạn nổ lên trời ( giết chưa đạt đã hoàn thành)
Hành vi cố ý giết người của A trong tình huống trên đặt ra những vấn đề sau:
1/ Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại tội phạm đối với tội giết người.
Theo cách phân loại tội phạm của BLHS Việt Nam, tội phạm tuy có chung các dấu hiệu ( tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính chịu hình phạt) nhưng những hành vi pphamj tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Chính vì sự khác nhau như vậy mà vấn đề phân hóa và cụ thể hóa hình phạt được đặt ra như là nguyên tắc của luât hình sự Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 8 BLHS, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được qui định trong bộ luật, tôi phạm được phân chia thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đăc biêt nghiêm trọng. Mỗi loại tội được gắn với một khung hình phạt khác nhau ( khoản 3 Điều 8).
Nguyên tắc phân loại tội phạm phải dựa trên khung hình phạt được ghi trong một điều luật của Bộ luật hình sự, mà không phải dựa trên mức án cụ thể mà tòa án tuyên phạt. Trường hợp của A đã được tòa án xác định là phạm tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS: “… bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”.
Như vậy, căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt thì tội giết người mà A đã thực hiện là loại tội phạm rất nghiêm trọng. “ Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến mười lăm năm tù”.
2/ Hành vi phạm tội của A thuộc giai đoạn phạm tội nào? Giải thích rõ tại sao?
Cũng như những hoạt động khác của con người trong xã hội, hành vi phạm tội diễn ra theo quá trình nhất định.
Người cố ý phạm tội luôn mong muốn thực hiện được trọn ven quá trình đó để đạt mục đích của mình, Nhưng trong thực tế có những trường hợp vì nguyên nhân ngoài ý muốn, người phạm tội đã không thực hiện được toàn bộ quá trình đó mà phải dừng lại ở những thời điểm khác nhau. Để đánh giá mức độ thực hiện tội phạm và qua đó có sơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm hình sự( TNHS) của người phạm tội, luật hình sự Việt Nam phân biệt ba mức độ thực hiện tội phạm : chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành ( Điều 17 và Điều 18 BLHS).
Ở đây, vì ghen tuông, A có ý định giết B. Như vậy A giết B với mục đích trả thù để thỏa mãn sự ghen tuông của mình. Ý đinh giết B của A đã được chuẩn bị từ trước ( tức là đã được lên kế hoạch từ trước), thể hiện ở một chuỗi những hành động được thực hiện rất tuần tự như sau: “ Rủ B đi chơi, đến chỗ vắng, A rút giao đâm B ba nhát”, nhưng tưởng rằng B đã chết, A bỏ đi.
Từ những chi tiết trên, ta có thể xác định rằng hành vi phạm tôi của A thuộc giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành. Vì: Về mặt lí luận thì phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là người phạm tội đã thực hiên hết những hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành, nhưng vì nguyên nhân khách quan hậu quả không xảy ra, tức là chưa đạt về hậu quả nhưng đã hoàn thành về hành vi. Người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi là dấu hiệu khách quan của cấu thành, tức là cấu thành tội phạm qui định bao nhiêu hành vi khách quan thì người phạm tội đã thực hiện hết.
Ở đây, hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm tội giết người mà A đã thực hiện đó là: rút dao và đâm B ba nhát. Hành vi này thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ở chỗ nó gây ra và đe dọa gây ra thiệt hại về tính mạng và sức khỏe cho B ( B bị chảy nhiều máu và ngất đi). Vậy là với hành động dùng dao đâm B ba nhát, A đã thực hiện hành vi tước đoat tính mạng của B ( đã đâm) là hành vi được mô tả trong cấu thành tôi phạm tội giết người theo Điều 93 BLHS. Tuy đã thực hiên được hành vi đâm B nhưng B lại không chết, tức là hậu quả chết người chưa xảy ra. Về mặt tâm lí,A mong muốn hậu quả chết người xảy ra ( mong B chết), và nghĩ rằng hậu quả đó đã xảy ra, nhưng trên thực thì B vẫn còn sống. Như vậy dựa vào dấu hiệu hành vi và dấu hiệu về tâm lí của A mà ta có thể khẳng đinh rằng hành vi phạm tội của A thuộc giai đoạn phạm tôi chưa đạt đã hoàn thành.
Trên đây là tư vấn của Học viện đào tạo pháp chế ICA về nội dung “Bài tập tình huống pháp luật đại cương hữu ích cho sinh viên“. Hi vọng bài viết mang lại nhiều thông tin hữu ích với bạn đọc.
Trong đời sống xã hội, Nhà nước và pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng. Luật pháp được sử dụng để giải quyết hầu hết các vấn đề, các quan hệ trong xã hội. Biết, hiểu về Nhà nước và pháp luật giúp con người biết cách ứng xử đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, đảm bảo trật tự xã hội.
Vai trò của pháp luật đối với công dân như thế nào?
Pháp luật là một cách giúp góp phần giáo dục và sáng tạo những con người có lòng tự tôn dân tộc mãnh liệt và khát khao giúp đất nước phát triển, giàu mạnh. Nó giúp đáp ứng nhu cầu xây dựng đất và bảo vệ nguồn cung cấp nước. Pháp luật vừa có mục đích giáo dục vừa có tính trừng phạt. Nó cung cấp phần thưởng (như điểm tốt) và hình phạt (như bị tống vào tù) cho những người và tổ chức tuân thủ luật pháp. Pháp luật là phương thức bảo vệ con người và lợi ích của xã hội. Nó giúp ngăn chặn những điều xấu xảy ra và sắp xếp mọi thứ vào trật tự để mọi người có thể chung sống trong hòa bình và thịnh vượng.
Thẩm phán là một vị trí trung tâm, quan trọng trong hệ thống Tòa án nhân dân tại nước ta, Thẩm phán đảm nhận nhiệm vụ xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của mình để thực hiện các công việc theo Hiến định. So với những công chức khác trong bộ máy nhà nước thì Thẩm phán có những điểm riêng biệt về chức năng, nhiệm vụ. Vậy chi tiết nghề Thẩm phán là gì? Đặc điểm của nghề nghiệp thẩm phán ra sao? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu tại nội dung bài viết sau:
Căn cứ pháp lý
Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014
Nghề Thẩm phán là gì?
Thẩm phán là người tiến hành tố tụng, là người thực hiện hoạt động xét xử của Tòa án. Được bổ nhiệm và giao nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật.
Tại nước ta, Thẩm phán Tòa án nhân dân bao gồm:
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trong đó bao gồm Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện (gồm các Thẩm phán nhân dân cấp quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh)
Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương; Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.
Đặc điểm của nghề nghiệp thẩm phán
Thẩm phán là vị trí trung tâm trong hệ thống Tòa án, đảm nhận nhiệm vụ xét xử các vụ án, giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ hiến định. Khác với công chức khác trong bộ máy nhà nước, nghề thẩm phán có những đặc điểm riêng biệt:
– Thứ nhất: thẩm phán luôn luôn tiếp xúc trực tiếp với con người; kết quả công việc của thẩm phán ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh chính trị cũng như tự nhiên của mỗi con người, ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng. Nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền con người, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được hiến định cũng chính là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Thẩm phán.
– Thứ hai: Thẩm phán là người áp dụng pháp luật. trên cơ sở xác định sự kiện pháp lý, sự thật khách quan của vụ án, thẩm phán áp dụng quy định của pháp luật để phán quyết về vi phạm pháp luật, tranh chấp pháp lý và phán quyết đó làm phát sinh hậu quả đối với con người, đối với xã hội. Mọi hoạt động nghề nghiệp của Thẩm phán đều được thực hiện đúng với trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật. Sự thật, pháp luật, công bằng, công lý luôn là những yếu tố song hành cùng Thẩm phán trong công việc cũng như cuộc sống thường nhật.
– Thứ ba: là người được giao thực hiện quyền lực nhà nước, phán quyết liên quan đến sinh mệnh chính trị, tự nhiên của con người, đến lợi ích xã hội, cộng đồng,… cho nên hoạt động của Thẩm phán luôn chịu sự kiểm soát của pháp luật; sự giám sát của cơ quan lập pháp, hành pháp; sự giám sát của dư luận xã hội và của nhân dân theo quy định của pháp luật.
Ngoài sự giám sát từ bên ngoài, Thẩm phán còn phải chịu sự giám sát trong nội bộ Tòa án. Cho nên, cùng với pháp luật, các quy chế hành nghề, quy phạm đạo đức của thẩm phán là những công cụ cho sự việc giám sát, kiểm soát bên trong hệ thống Tòa án nhân dân đó cũng là những tiêu chí mà Thẩm phán căn cứ vào để sống và làm việc các cơ quan có thẩm quyền và công chúng thực hiện kiểm soát, giám sát.
Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán
Thẩm phán là người có chức năng xét xử của tòa án, và xuất hiện trong tất các các hội đồng xét xử. Do đó, Thẩm phán được xem là sự hiện diện của nhà nước trong việc thực hiện chức năng xét xử.
hẩm phán được chia làm 4 ngạch bao gồm:
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Thẩm phán cao cấp
Thẩm phán trung cấp
Thẩm phán sơ cấp
Do đó, nơi làm việc của từng ngạch Thẩm phán cũng sẽ khác nhau. Nhưng thời gian làm việc đều giống nhau theo nhiệm kỳ 5 năm cho lần đầu tiên và 10 năm cho nhiệm kỳ tiếp theo – điều này đã được thể hiện rõ trong Điều 66 và 74 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014.
Ngạch Thẩm phán/nơi làm việc
TA nhân dân tối cao
TA nhân dân cấp cao
TA nhân dân cấp tỉnh
TA nhân dân cấp huyện
TA quân sự trung ương
TA QS cấp quân khu
TA QS cấp khu vực
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
x
Thẩm phán cao cấp
x
x
Thẩm phán trung cấp
x
x
x
x
Thẩm phán sơ cấp
x
x
x
x
Tiêu chuẩn để có thể trở thành Thẩm phán
Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Thẩm phán là người có đủ tiêu chuẩn và các điều kiện của Luật này thì được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.
Điều 67: Luật Tổ chức Tòa án quy định về tiêu chuẩn Thẩm phán như sau:
Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.
Có trình độ cử nhân luật trở lên.
Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử.
Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật.
Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Như vậy, một công dân muốn trở thành Thẩm phán bắt buộc phải đáp ứng đủ 5 tiêu chuẩn trên. Ngoài việc đảm bảo trình độ chuyên môn, bạn còn phải “Có thời gian làm việc công tác thực tiễn pháp luật”. Đó chính là khoảng thời gian bạn làm thư ký cho Tòa án. Sau khi bạn hiểu rõ, nắm vững được các vấn đề liên quan đến tố tụng thì sẽ được bổ nhiệm lên làm Thẩm phán
Trên đây là tư vấn của Học viện đào tạo pháp chế ICA về nội dung “Nghề Thẩm phán là gì?“. Hi vọng bài viết mang lại nhiều thông tin hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Học ngành gì để được làm Thẩm phán tòa án?
Tại Điều 67 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 có quy định về tiêu chuẩn Thẩm phán tòa án, theo đó để được trở thành Thẩm phán tòa án thì phải có trình độ cử nhân luật trở lên. Cho nên, cần theo học ngành luật để có thể trở thành thẩm phán.
Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán Việt Nam như thế nào?
Ngày 04/07/2018, Hội dồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia đã ban hành Quyết định về Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán. Bộ quy tắc quy định những chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử của Thẩm phán. Bộ quy tắc áp dụng đối với Thẩm phán công tác tại Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp; khuyến khích áp dụng đối với các thẩm phán đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác. Cùng với chuẩn mực đạo đức khác, Bộ quy tắc quy định về sự liêm chính, sự vô tư, khách quan như là chuẩn mực đạo đức hàng đầu mà Thẩm phán các Tòa án Việt Nam cần tuân thủ.
Thẩm phán tại nước ta được biết đến là một ngành nghề cao quý và là niềm mơ ước của nhiều sinh viên chuyên ngành Luật. Thẩm phán là người “cầm cân nảy mực” giúp bảo vệ công lỹ, lẽ công bằng trong xã hội. Nhiều thắc mắc rằng việc học thẩm phán bao nhiêu năm? Con được để có thể trở thành Thẩm phán hiện nay như thế nào? Để nắm được quy định về nội dung này, Học việc đào tạo pháp chế ICA mời bạn đọc tham khảo nội dung bài viết sau. Hi vọng những thông tin tại bài viết chúng tôi chia sẻ sẽ mang lại nhiều thông tin hữu ích với bạn đọc.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014
Quy định về chức danh của Thẩm phán như thế nào?
Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ượng, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thẩm phán Toà án quân sự các cấp bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.
Công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của pháp luật, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán.
Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của chánh án. Khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình.
Nhiệm vụ quyền hạn của thẩm phán theo luật tố tụng dân sự
Căn cứ theo Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định: Khi được Chánh án Tòa án phân công, Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
– Xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
– Lập hồ sơ vụ việc dân sự.
– Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
– Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
– Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự, quyết định tiếp tục đưa vụ việc dân sự ra giải quyết.
– Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.
– Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này.
– Quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử, đưa việc dân sự ra giải quyết.
– Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên họp.
– Chủ tọa hoặc tham gia xét xử vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự.
– Đề nghị Chánh án Tòa án phân công Thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
– Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Bộ luật này.
– Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật.
– Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Học thẩm phán bao nhiêu năm?
Hiện nay, tiêu chuẩn trở thành Thẩm Phán được quy định cụ thể tại Điều 67 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, cụ thể gồm có các điều kiện sau đây:
Điều 67. Tiêu chuẩn Thẩm phán
1. Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.
2. Có trình độ cử nhân luật trở lên.
3. Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử.
4. Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật.
5. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Như vậy, trước hết bạn bắt buộc phải là cử nhân luật; tiếp đó bạn phải đảm bảo điều kiện về chuyên môn, đó là “Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật”
Khái quát chung, hành trình trở thành Thẩm phán cần trải qua các bước sau:
Bước 1 : Bạn cần thi đỗ Đại học chuyên ngành Luật Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều trường có dạy ngành Luật. Mức đào tạo thường rơi vào khoảng 4 năm học.
Bước 2 : Trở thành cử nhân chuyên ngành Luật Sau khi tốt nghiệp cơ sở đào tạo ngành Luật, mỗi người sẽ được cấp bằng Cử nhân Luật. Thông thường chúng ta sẽ mất bốn năm để tốt nghiệp chuyên ngành Luật và có tấm bằng cử nhân.
Bước 3: Tham gia kỳ thi tuyển công chức ngành Toà án
Trước khi trở thành Thư ký Toà án – công việc tiền đề giúp bạn chinh phục chức danh Thẩm phán thì bạn bắt buộc phải tham gia kỳ thi tuyển công chức ngành Toà Án.
Bước 4 : Được cử đi học nghiệp vụ Thư ký Toà án
Sau một thời gian công tác pháp luật nhất định, bạn sẽ được cử đi học nghiệp vụ Thư ký Toà (một trong các điều kiện cần để trở thành Thư ký Toà án). Việc đi học nghiệp vụ là một điều bắt buộc trước khi bạn được bổ nhiệm làm Thư ký Toà Án.
Bước 5 : Được bổ nhiệm làm Thư ký Toà án
Khi bạn học xong nghiệp vụ Thư Ký Toà và đáp ứng các điều kiện tại Quyết định 1718/QĐ-TANDTC (từng ngạch thư ký sẽ có điều kiện khác nhau), bạn sẽ được bổ nhiệm trở thành Thư ký Toà Án, giúp việc cho Phó Chánh Án, Chánh Án, Thẩm Phán tuỳ thuộc vào nhu cầu của từng cơ quan, đơn vị. Khi trở thành một Thư ký Toà Án, bạn sẽ được tiếp xúc liên tục với các phiên toà và thu thập thêm cho mình nhiều kinh nghiệm.
Bước 6: Hoàn thành khoá học đào tạo nghiệp vụ xét xử
Sau khi đã trở thành một Thư ký Toà án, bạn cần phấn đấu để được cử đi học lớp nghiệp vụ xét xử. Đồng thời, bạn cũng phải là đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam.
Bước 7: Trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp
Sau khi đã hoàn thành khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử, bạn cần vượt qua kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp, tình hình tuyển chọn phụ thuộc vào từng đơn vị Tòa án. Tuy nhiên, quy chế hoạt động của Hội đồng thi tuyển chọn Thẩm phán sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định.
Bước 8: Được bổ nhiệm trở thành Thẩm Phán
Sau khi đã trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp, Chánh án toà án nhân dân tối cao sẽ ra quyết định bổ nhiệm Thẩm Phán, lúc đó bạn mới chính thức trở thành Thẩm Phán và bắt đầu với ngạch thấp nhất là Thẩm Phán sơ cấp.
Nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm.
Khi muốn nâng ngạch, bạn cần phải nỗ lực rèn luyện để có thể vượt qua các kỳ thi nâng ngạch. Với mỗi ngạch lại đi kèm với một thời gian công tác khác nhau.
Như vậy, trên đây là con đường trở thành Thẩm phán tại Việt Nam. Thời gian trung bình để trở thành Thẩm phán sơ cấp là 10 năm bao gồm 04 năm là sinh viên Luật, thời gian công tác pháp luật 05 năm và thời gian tham gia khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử (06 tháng).
Trên đây là tư vấn của Học viện đào tạo pháp chế ICA về nội dung “Học thẩm phán bao nhiêu năm?“. Hi vọng bài viết mang lại nhiều thông tin hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Tiêu chuẩn đối với Thẩm phán sơ cấp là gì?
Đối với thẩm phán sơ cấp phải có thâm niên công tác pháp luật từ 5 năm trở lên, có năng lực xét xử, đã trúng tuyển kì thi tuyển chọn thẩm phán sơ cấp.
Tiêu chuẩn đối với Thẩm phán trung cấp là gì?
Đối với thẩm phán trung cấp phải có thâm niên thẩm phán sơ cấp từ đủ 5 năm trở lên hoặc kinh nghiệm công tác pháp luật từ 13 năm trở lên, có năng lực xét xử, đã trúng tuyển kì thi tuyển chọn vào ngạch thẩm phán trung cấp.
Tiêu chuẩn đối với Thẩm phán cao cấp là gì?
Đối với thẩm phán cao cấp phải có thâm niên thẩm phán trung cấp từ đủ 5 năm trở lên hoặc thời gian làm công tác pháp luật từ 18 năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án dân dân các cấp hoặc tòa án quân sự trung ương, đã trúng tuyển kì thi tuyển chọn vào ngạch thẩm phán cao cấp
Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành trong văn bản quy phạm pháp luật và được đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng của Nhà nước. Vậy, quy phạm pháp luật có đặc điểm gì? Cấu trúc của quy phạm pháp luật bao gồm những yếu tố nào? Để tìm hiểu về vấn đề này, kính mời bạn đọc tham khảo bài viết “Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật” của Học viện đào tạo pháp chế ICA, hi vọng bài viết sẽ hữu ích với bạn đọc.
Khái niệm quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành trong văn bản quy phạm pháp luật và được đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng của Nhà nước.
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đặc điểm của quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, vì vậy, nó mang đầy đủ những đặc tính chung vốn có của một quy phạm xã hội như: là quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu để mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người.
Thông qua quy phạm pháp luật ta biết được hoạt động nào có ý nghĩa pháp lý, hoạt động nào không có ý nghĩa pháp lý và hoạt động nào phù hợp với pháp luật, hoạt động nào trái quy định pháp luật.
Ngoài những đặc tính chung của quy phạm xã hội thì quy phạm pháp luật có những đặc điểm riêng cơ bản sau:
– Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung luôn gắn liền với Nhà nước. Chúng do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng nhiều biện pháp.
– Quy phạm pháp luật được thể hiện bằng hình thức xác định.
– Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước
– Quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
– Nội dung của quy phạm pháp luật thường thể hiện hai mặt: cho phép và bắt buộc. Quy phạm pháp luật vừa mang tính xã hội, vừa mang tính giai cấp. Giữa các quy phạm pháp luật luôn có sự liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau tạo nên một hệ thống pháp luật thống nhất cùng điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật
Một quy phạm pháp luật được hợp thành từ ba bộ phận: giả định, quy định và chế tài. Những bộ phận này có liên quan mật thiết với nhau và xét về ý nghĩa cũng như nội dung. Tuy nhiên, không phải mọi quy phạm pháp luật luôn có đủ 3 bộ phận này.
Bộ phận giả định
Bộ phận giả định là một bộ phận quy phạm quy định địa điểm, thời gian, chủ thể, hoàn cảnh, tình huống mà khi xảy ra trong thực tế cuộc sống thì cần phải thực hiện quy phạm pháp luật, tức là xác định môi trường – phạm vi tác động của quy phạm pháp luật.
Bộ phận giả định có nhiệm vụ xác định phạm vi tác động của pháp luật tới các quan hệ xã hội. Phạm vi tác động dựa trên hai yếu tố là điều kiện, hoàn cảnh, tình huống…và chủ thể hoặc trong nhiều trường hợp phải xác định dựa trên cả hai yếu tố này.
Về nội dung những hoàn cảnh, điều kiện, tình huống…nêu trong giả định phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác, sát với thực tế.
Ví dụ về giả định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.” (khoản 1, Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Bộ phận giả định của quy phạm là: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân”
Bộ phận quy định
Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật xác định những cách xử sự mà các chủ thể phải tuân theo khi gặp hoàn cảnh đã nêu trong giả định của quy phạm pháp luật đó. Quy định là bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật bởi đây chính là quy tắc hành vi thể hiện ý chí – mệnh lệnh của nhà nước mà các chủ thể phải thực hiện khi gặp những tình huống dự liệu trong bộ phận giả định. Về cơ bản, quy định nêu những hành vi phải làm hay hành vi được phép làm, hành vi bị cấm đối với các chủ thể khi gặp các trường hợp đã nêu ở phần giả định.
Bộ phận quy định chứa đựng mệnh lệnh của nhà nước, là sự mô hình hóa ý chí của nhà nước, cụ thể hóa cách thức xử sự của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Quy định có các loại như: quy định mang tính dứt khoát, quy định cho phép các chủ thể có quyền lựa chọn.
Bộ phận quy định của quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Được làm gì? Không được làm gì? Làm như thế nào?
Ví dụ về quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” (Điều 33 Hiến pháp năm 2013). Bộ phận quy định của quy phạm là “có quyền tự do kinh doanh” (được làm gì)
Bộ phận chế tài
Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật, nêu lên các biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức nào không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu ở bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.
Bộ phận chế tài là một trong những biện pháp quan trọng nhằm để đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế đời sống.
Biện pháp tác động phải tương xứng với mức độ, tính chất của hành vi vi phạm để bảo đảm tính hiệu quả của các biện pháp
Ví dụ về chế tài: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.” (khoản 1, Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Bộ phận chế tài của quy phạm là “phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Các loại quy phạm pháp luật
Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, quy phạm pháp luật có thể được phân chia theo các ngành luật:
– Quy phạm pháp luật hình sự;
– Quy phạm pháp luật dân sự;
– Quy phạm pháp luật hành chính;…
Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật có thể chia thành:
– Quy phạm pháp luật định nghĩa;
– Quy phạm pháp luật điều chỉnh;
– Quy phạm pháp luật bảo vệ;…
Căn cứ vào hình thức mệnh lệnh nêu trong quy phạm pháp luật có thể chia thành:
– Quy phạm pháp luật dứt khoát;
– Quy phạm pháp luật không dứt khoát;
– Quy phạm pháp luật tùy nghi;
– Quy phạm pháp luật hướng dẫn.
Căn cứ vào cách thức trình bày quy phạm pháp luật có thể chia thành:
– Quy phạm pháp luật bắt buộc;
– Quy phạm pháp luật cấm đoán;
– Quy phạm pháp luật cho phép.
Trên đây là nội dung tư vấn về vấn đề: “Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật”. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Xác định bổ phận giả định, quy định, chế tài trong Điều 155 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm“.
– Bộ phận giả định: Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác; – Bộ phận quy định: Phần này không được nêu rõ trong quy phạm pháp luật nhưng được xác định là một quy định ngầm; – Bộ phận chế tài: Bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Tại sao nói, pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất trong quản lý nhà nước?
Pháp luật là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong xã hội. Đồng thời pháp luật được xem như một loại chuẩn mực công cộng được thừa nhận rộng rãi trong toàn xã hội. Do đó, pháp luật được coi là chuẩn mực chung, là công cụ hiệu quả nhất để các cá nhân, tổ chức trong xã hội tự giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống.
Nghề luật sư được xem là một trong những nghề cao quý ở Việt Nam, sứ mệnh và hoạt động nghề nghiệp của luật sư là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các cá nhân, tổ chức, cơ quan. Luật sư góp phần xây dựng, bảo vệ sự độc lập của tư pháp và bảo vệ công lý, công bằng. Tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp là nền tảng cơ bản của nghề luật sư. Luật sư phải có bổn phận tự mình nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn; nêu gương trong việc tôn trọng, chấp hành pháp luật; tự giác tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề, trong lối sống và giao tiếp xã hội. Học viện đào tạo pháp chế ICA cung cấp Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư để bạn đọc và sinh viên tham khảo, làm tài liệu học tập.
Tải xuống Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư
Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư quy định những chuẩn mực về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, là thước đo phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư. Mỗi luật sư phải lấy Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư làm khuôn mẫu cho sự ứng xử và tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn uy tín nghề nghiệp, thanh danh của luật sư, xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội.
Tóm lược Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư
Để thực hiện được chức năng của nghề luật sư, đạo đức nghề luật sư chính là nguồn gốc, là nền tảng cơ bản của nghề Luật sư. Không có đạo đức nghề nghiệp, nghề Luật sư không thể tồn tại và phát triển. Ý thức được tầm quan trọng về đạo đức của một người Luật sư trong hoạt động hành nghề, Hội đồng Luật sư toàn quốc đã ban hành Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam vào năm 2011 (sau được ban hành mới vào năm 2019) để điều chỉnh hành vi của các Luật sư trong quan hệ với các chủ thể có liên quan khi hoạt động nghề nghiệp và trong giao tiếp xã hội. Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử hành nghề Luật sư Việt Nam năm 2019 được ban hành gồm 06 chương với 32 quy tắc quy định về: Các quy tắc chung của Luật sư khi hành nghề; các quy tắc trong quan hệ giữa Luật sư với khách hàng; các quy tắc của Luật sư trong mối quan hệ với đồng nghiệp; các quy tắc khi Luật sư tiếp xúc, làm việc với các cơ quan tiến hành tố tụng; cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác; các quy tắc khi Luật sư cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí hay thực hiện quảng cáo cho hoạt động hành nghề của mình.
Các quy tắc chung của Luật sư
Các quy tắc chung của Luật sư khi hành nghề được quy định tại chương I của Bộ quy tắc đã nêu lên các chức năng xã hội của Luật sư với sứ mệnh cao cả là bảo vệ công lý, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tuân thủ và trung thành với Hiến pháp, pháp luật; độc lập, ngay thẳng, tôn trọng sự thật và góp phần vào việc phát triển hệ thống pháp luật, tích cực tham gia các hoạt động công ích.
Các quy tắc đạo đức của Luật sư trong quan hệ với khách hàng
Chương II là các quy tắc đạo đức của Luật sư trong quan hệ với khách hàng. Khách hàng là một trong những chủ thể quan trọng nhất hình thành nên nghề Luật sư, đó có thể là các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật sư. Uy tín, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp Luật sư đều xuất phát từ nền tảng quan hệ này và tác dụng của nó có ý nghĩa chi phối các hành vi ứng xử khác trong các quan hệ xã hội của Luật sư. Các tiêu chuẩn này liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Luật sư đối với khách hàng, bao gồm việc tận tâm thực hiện hết khả năng và trách nhiệm với khách hàng trong khuôn khổ pháp luật cho phép và phạm trù đạo đức nghề nghiệp; tuân thủ bí mật quốc gia và bí mật của khách hàng; ngăn ngừa các thủ đoạn hành nghề không lương thiện, tự giác thực hiện các nghĩa vụ trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích, việc nhận thù lao,…
Quy tắc trong quan hệ với đồng nghiệp
Quy tắc trong quan hệ với đồng nghiệp được quy định tại chương III của Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử hành nghề Luật sư Việt Nam. Trong cùng một môi trường việc làm không thể tránh khỏi những trường hợp, thời điểm, tình huống xảy ra va chạm hay các mối liên hệ qua lại giữa những Luật sư với nhau. Nhằm củng cố vị trí, vai trò của nghề luật trong xã hội và giữ gìn hình ảnh của người Luật sư, cần thiết phải có những quy tắc được đặt ra trong mối quan hệ giữa Luật sư với đồng nghiệp. Theo đó, mỗi Luật sư cần có nghĩa vụ “tôn trọng, hợp tác với đồng nghiệp”, bảo vệ uy tín, danh dự của đồng nghiệp mình cũng như chính bản thân. Đồng nghiệp ở đây được hiểu là những Luật sư có thể đang hoạt động trong tổ chức hành nghề Luật sư, hành nghề với tư cách cá nhân, đang tập sự hoặc các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Luật sư.
Các nguyên tắc trong mối quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng
Chương IV quy định các nguyên tắc trong mối quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng. Mối quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng là mối quan hệ có tính chất đặc thù vừa đấu tranh vừa hợp tác. Hợp tác ở chỗ Luật sư và cơ quan, người tiến hành tố tụng cùng chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, tôn trọng lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu tìm ra sự thật, bản chất của vấn đề vì một phán quyết cuối cùng hợp tình hợp lý. Mặt khác, tính đấu tranh lại thể hiện trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể, Luật sư và cơ quan, người tiến hành tố tụng luôn có sự giám sát qua lại lẫn nhau. Như vậy, với Luật sư, không chỉ đặt ra yêu cầu phải có kiến thức pháp lý vững chắc, có thể áp dụng pháp luật đúng mà còn đòi hỏi phải có lòng tự trọng, sự độc lập nhất định và tôn trọng chủ thể còn lại trong quan hệ trên tinh thần thượng tôn pháp luật.
Các nguyên tắc trong mối quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác
Ngoài cơ quan tiến hành tố tụng, khi hành nghề Luật sư cũng thường xuyên tiếp xúc với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân khác. Mối quan hệ này xuất phát từ sự uỷ quyền của khách hàng cho Luật sư nhằm giao tiếp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó để thực hiện nhu cầu pháp lý của khách hàng, do vậy thường phát sinh đối với những Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý đại diện ngoài tố tụng. Bộ Quy tắc quy định những chuẩn mực trong mối quan hệ này tại Chương V.
Các quy tắc khác
Mặt khác, tại Chương VI của Bộ Quy tắc cũng đưa ra hai Quy tắc liên quan đến hoạt động của Luật sư gồm: “Thông tin, truyền thông và Quảng cáo”. Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, Luật sư phối hợp với các tổ chức thông tin đại chúng để cung cấp thông tin về những vấn đề dư luận đang quan tâm, tuyên truyền pháp luật và phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, với sự bùng nổ thông tin truyền thông hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn xuất hiện rất nhiều ý kiến trái chiều, những thông tin không được kiểm chứng và với tư cách là một Luật sư – người am hiểu pháp luật, các Luật sư cần thận trọng với những phát ngôn của mình trước truyền thông. Bộ Quy tắc đã dành chương cuối để quy định những chuẩn mực của Luật sư khi cung cấp thông tin cho báo chí, truyền thông, đây như một thước đo, một giới hạn đạo đức mà mỗi Luật sư cần biết để có cách ứng xử phù hợp thể hiện đúng trách nhiệm của mình.
Trên đây là nội dung tư vấn về chủ đề: “Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam”. Hi vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Câu hỏi thường gặp:
Trong Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư, những việc luật sư không được làm trong quan hệ với đồng nghiệp được quy định tại Quy tắc nào?
Quy tắc 21: Những việc luật sư không được làm trong quan hệ với đồng nghiệp.
Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư quy định về thù lao luật sư như thế nào?
Quy tắc 8 của Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật quy định: Luật sư phải giải thích cho khách hàng những quy định của pháp luật về căn cứ tính thù lao, phương thức thanh toán thù lao; thông báo rõ ràng mức thù lao, chi phí cho khách hàng và mức thù lao, chi phí này phải được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Luật Hành chính Việt Nam là ngành luật điều chỉnh những quan hệ xã hội chủ yếu phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước không thể tách rời những quan hệ xã hội mà nó hướng tới nhằm ổn định hay thay đổi, cho nên đối tượng điều chỉnh của Luật Hành chính Việt Nam không phải là bản thân quản lý hành chính nhà nước mà là những quan hệ xã hội hình thành trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Sau đây là nội dung Bài tập tình huống môn luật hành chính Việt Nam mà Học viện đào tạo pháp chế ICA sưu tầm gửi đến các bạn sinh viên, mời bạn đọc tham khảo.
Tình huống 1:
Chiến sỹ cảnh sát giao thông A đang thi hành công vụ, khi phát hiện B có hành vi vi phạm giao thông đã ra quyết định xử phạt người vi phạm 250.000 đồng và không lập biên bản.
Hỏi: Thủ tục xử phạt đó có hợp pháp không? Tại sao?
Trả lời:
Chiến sỹ cảnh sát giao thông A xử phạt B là đúng quy định pháp luật.
Vì theo điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020 quy định:
“Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:
b) Phạt tiền đến1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 củaLuật này nhưng không quá 500.000 đồng”
Tình huống 2:
Ngày 11/7/2022, các cơ quan chức năng phát hiện và lập biên bản về hành vi tàng trữ, lưu hành văn hóa phẩm độc hại của M. Đến ngày 25/10/2022 Chủ tịch ủy ban nhân dân Quận H ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của M, bao gồm các biện pháp sau: phạt tiền và buộc tiêu hủy toàn bộ số văn hóa phẩm độc hại đó.
Hỏi: Đánh giá tính hợp pháp của Quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân Quận H.
Trả lời:
Quyết định xử phạt của Chủ tịch UBND quận H là hợp pháp.
Vì, thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện được quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020 như sau:
“Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứngchỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
d) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiềnphạt được quy định tại điểm b khoản này;
đ) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, h, I và k khoản 1 Điều 28 của Luật này”.
Tình huống 3:
Ông M có hành vi xây nhà trái phép từ năm 2019. Đến năm 2021, UBND Quận H mới lập biên bản xử lý vụ việc, sau đó ban hành Quyết định buộc tháo dỡ phần căn nhà xây dựng trái phép của ông M.
Hỏi: Quyết định của UBND quận H có hợp pháp không? Tại sao?
Trả lời:
Quyết định của UBND quận H hợp pháp.
Mặc dù, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020 thì thời hiệu xử phạt hành chính đối với vi phạm hành chính về xây dựng là 2 năm. Trong tình huống, hành vi xây nhà trái phép đã diễn ra từ năm 2019, đến năm 2021 đã là 3 năm, quá thời hiệu áp dụng xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, quyết định của UBND quận H là quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của vi phạm hành chính quy định tại khoản b Điều28, Điều 30 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020. Đối với các biện pháp khắc phục hậu quả pháp luật không quy định về thời hiệu áp dụng.
Tình huống 4:
Anh C đã trúng tuyển kỳ thi tuyển công chức và được nhận vào tập sự tại UBND huyện N. Trong thời gian tập sự, do có hành vi vi phạm pháp luật, anh C bị Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định kỷ luật với hình thức cảnh cáo. Sau đó, Chủ tịch UBND huyện N đã ra Quyết định hủy bỏ quyết định tuyển dụng đối với anh C.
Hỏi: Quyết định hủy bỏ quyết định tuyển dụng đối với anh C đúng hay sai? Tạisao?
Trả lời:
Quyết định hủy bỏ quyết định tuyển dụng đối với C là đúng.
– Theo khoản 1 Điều 24 Nghị định 138/2020/NĐ-CP Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức:
“Điều 24. Huỷ bỏ quyết định tuyển dụng đối với người tập sự 1. Quyết định tuyển dụng bị hủy bỏ trong trường hợp người tập sự không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự hoặc có hành vi vi phạm đến mức phải xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.”
Trong tình huống, anh C bị xử phạt kỷ luật với hình thức cảnh cảo thì sẽ bị hủy bỏ quyết định tuyển dụng.
Tình huống 5:
Ông A là người nước ngoài, vi phạm hành chính nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Hỏi: Đây là biện pháp xử phạt chính hay bổ sung? Tại sao?
Trả lời:
Là hình thức xử phạt chính.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2020: “Hình thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính. Hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính”.
Theo nguyên tắc áp dụng hình thử xử phạt hành chính, hình thức xử phạt bổ sung phải được áp dụng kèm theo với hình thức xử phạt chính mà không thể được áp dụng độc lập. Nên trong trường hợp trên là hình thức xử phạt chính.
Trên đây là nội dung tư vấn về chủ đề: “Bài tập tình huống môn luật hành chính Việt Nam”. Hy vọng bài viết hữu ích với bạn đọc.
Các hình thức xử phạt hành chính gồm những loại nào?
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền; c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); đ) Trục xuất.
Các biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt hành chính gồm những loại nào?
Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm: a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; b) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; c) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; d) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện; đ) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại; e) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; g) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; h) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng; i) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật; k) Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.
Cập nhật nội dung, quy định, thông tin trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là một trong những yêu cầu bắt buộc. Điều này là do sở hữu trí tuệ là kết quả của quá trình sáng tạo, đầu tư trí tuệ, quỹ và nỗ lực của các cá nhân và tổ chức. Trong hoạt động sáng tạo trí tuệ, chúng ta mong muốn đạt được những kết quả nhất định trong nghiên cứu. Bài viết dưới đây Học viện đào tạo pháp chế ICA cung cấp cho người đọc thông tin tổng quan bài tập tình huống môn luật sở hữu trí tuệ có đáp án
Bài tập 1: Tình huống Luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền tác giả
Anh B là chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm F không may bị qua đời đột ngột, vì tác phẩm được rất nhiều khán giả yêu thích nên anh D đã viết tiếp theo cốt truyện của anh B. Người thừa kế quyền tác giả của anh B không đồng ý vì nghĩ rằng như thế là vi phạm quyền tác giả. Còn anh D cho rằng quyền tác giả đối với phần viết mới này thuộc về mình, phần này độc lập với phần của anh B và không có liên quan. Vì thế tranh chấp xảy ra.
Theo anh (chị) anh D có vi phạm quyền tác giả của anh B không? Tranh chấp này sẽ được giải quyết thế nào, vì sao?
Bài làm
Về luật điều chỉnh
Anh D là cá nhân người Việt Nam, đáp ứng các điều kiện về năng lực theo Luật Dân sự; anh B cũng là cá nhân người Việt Nam, là tác giả tác phẩm F và cũng thỏa mãn điều kiện về năng lực dân sự. Đối tượng tranh chấp là quyền tác giả đối với tác phẩm F. Do đó tranh chấp này thuộc điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 1, Điều 2.
Về đồng tác giả
Điều kiện để là đồng tác giả khi cả 2 cùng sáng tạo ra tác phẩm, đã cùng bỏ công sức sáng tác, tài chính, chất sám để tạo ra tác phẩm.
Trong trường hợp này, có thể thấy không hề có sự cùng hợp tác giữa B và D, cả 2 đã không cùng sáng tác ra tác phẩm F trong cùng một thời gian, giữa 2 bên cũng không hề có sự tương hỗ về tài chính hoặc cơ sở vật chất để tạo ra tác phẩm.
Do đó có thể thấy rằng anh B và anh D không phải là đồng tác giả cho tác phẩm F
Về tính độc lập của tác phẩm
Tác phẩm của anh B và anh D, có thể có sự liên quan về nội dung vì tác phẩm của anh D được viết tiếp theo nội dung tác phẩm của anh B; tuy nhiên đây là vẫn là 2 tác phẩm hoàn toàn riêng biệt, bởi nếu tách biệt hai tác phẩm thì vẫn có giá trị nghệ thuật và giữ được bản chất của tác phẩm. Ngoài ra, tác phẩm của anh B không phải là tác phẩm dịch hay phóng tác, cải biên… từ chính tác phẩm của anh B nên cũng không được xem là tác phẩm phải sinh. Anh B là người trực tiếp sáng tạo và là tác giả của tác phẩm một cách độc lập.
Do đó có thể nói rằng đây là 2 tác phẩm hoàn toàn độc lập và anh B có quyền tác giả đối với tác phẩm của minh .
Anh D có vi phạm quyền tác giả không?
Trước hết phải xác định D có sử dụng tác phẩm của B hay không? Sử dụng là khai thác bất kỳ bản quyền nào của tác phẩm như sao chép, trình diễn, truyền tải, v.v. Tuy nhiên, như đã phân tích, tác phẩm D được sáng tạo độc lập, không tạo thành tác phẩm thể loại. Anh D hoàn toàn không sử dụng tác phẩm của B.
Cần xác định hành vi của D có xâm phạm quyền tác giả của B hay không? Các hành vi xâm phạm được pháp luật quy định như chiếm đoạt, sử dụng, xuất bản, làm tác phẩm phái sinh… tuy nhiên, tác phẩm của D hoàn toàn độc lập và không thuộc bất kỳ điểm nào của điều này.
Do đó, có thể kết luận hành vi của D không xâm phạm quyền tác giả của B.
Tính mới lạ là điểm khác biệt lớn so với các tác phẩm hiện có. Tính mới của tác phẩm không được coi là điều kiện để tác phẩm được chấp nhận bảo hộ vì:
Hãy bắt đầu với khả năng ứng dụng. Đối với các sáng tạo khác như phát minh. Khả năng ứng dụng của sáng chế là rất cao khi giải quyết các vấn đề kỹ thuật. Mặt khác, nếu nhìn vào bản chất của các tác phẩm được bảo hộ, chúng ta thấy chúng mang tính nghệ thuật nhiều hơn hoặc mang tính lý luận nhiều hơn. Tính ứng dụng càng cao thì đòi hỏi sự sáng tạo, mới lạ nhưng tác phẩm không còn mang tính ứng dụng mà là giải trí nên tính mới của tác phẩm không quá quan trọng.
Bài tập 2: Tình huống môn luật sở hữu trí tuệ có đáp án về phát minh và sáng chế
Trong xây dựng hiện nay người ta vẫn dùng phương pháp trộn bê tông ướt giữa xi măng, sỏi và cát. Độ đông cứng của bê tông được tăng cường bởi chất phụ gia K theo tỷ lệ k%. Một hôm anh Minh đã pha quá nhiều phụ gia K, và lại quên cho sỏi vào trước khi cho phụ gia và phát hiện ra cho sỏi vào sau với tỷ lệ phụ gia K như thế nên bê tông đông nhanh hơn bình thường rất thích hợp cho công trình hầm hay trụ cầu. Anh Minh xin đăng ký bảo hộ phát minh sáng chế, song mọi người cho rằng trường hợp này là chuyện hiển nhiên, trong nghề xây dựng ai cũng biết, vì thế sẽ không đủ tiêu chuẩn để được bảo hộ. Điều này liệu có đúng không?
Bài làm
Việc làm hỗn hợp bê tông mau đông của anh Minh không thuộc đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế
Căn cứ Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ về đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế thì những đối tượng sau không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế:
Phát minh, lý thuyết khoa học và phương pháp toán học.
Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp tiến hành các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, tiến hành trò chơi và tiến hành kinh doanh. chương trình máy tính.
Thông tin được trình bày như thế nào.
Giải pháp này hoàn toàn mang tính thẩm mỹ.
Thực vật, động vật.
Các quy trình sản xuất ở thực vật và động vật chủ yếu mang tính chất sinh học, không phải vi sinh vật.
Phương pháp phòng bệnh, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.
Giải pháp của anh Minh có khả năng áp dụng công nghiệp
Tuân thủ Điều 62 Luật Sở hữu trí tuệ về khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế. Một sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu nó tạo ra một sản phẩm, sản xuất hàng loạt hoặc nếu quy trình theo sáng chế có thể được áp dụng nhiều lần với kết quả nhất quán.
Giải pháp của anh Bình không đáp ứng điều kiện có trình độ sáng tạo nên không đủ tiêu chuẩn để được bảo hộ độc quyền sáng chế
Theo quy định tại Điều 61 Luật Sở hữu trí tuệ, sáng chế không thể được tạo ra một cách đơn giản bởi một người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng. Tạo kẽ hở để trộn bê tông nhanh là điều hiển nhiên. Điều này ai làm trong ngành xây dựng cũng biết nên giải pháp của Minh không đảm bảo mức độ sáng tạo.
Một phát minh được coi là có tính sáng tạo nếu nó dựa trên một giải pháp kỹ thuật được sử dụng, mô tả hoặc công bố ở trong nước hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đăng ký bằng sáng chế mà đơn đăng ký bằng sáng chế được ưu tiên, sáng chế có trình độ sáng tạo không thể dễ dàng tạo ra bởi một người có kỹ năng thông thường trong lĩnh vực này.
Bình luận của bạn Minh là đúng, anh ấy sẽ không đủ điều kiện để được bảo hộ sáng chế vì giải pháp của bạn ấy không đảm bảo mức độ sáng tạo (theo khoản 1, điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ). Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau: Có tính mới; Có trình độ sáng tạo; Có khả năng ứng dụng công nghiệp.
Xét tính mới của giải pháp anh Minh đưa ra
Trong trường hợp giải pháp kỹ thuật đó chưa được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, bản mô tả hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ hoặc trước ngày ưu tiên thì quyền ưu tiên trong trường hợp đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên. Giải pháp của anh Bình được coi là mới (khoản 1 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ). Mặc dù nó không được cấp bằng sáng chế, nhưng nó có được bằng độc quyền giải pháp hữu ích. (Khoản 2 Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ).
Trường hợp có một số lượng hạn chế người biết và buộc phải giữ bí mật giải pháp này.
Sáng chế được coi là mới nếu nó chưa được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, bản mô tả hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.
Theo khoản 1, 2 điều 60 Luật Sở hữu trí tuệ thì việc tạo kẽ hở làm hỗn hợp bê tông mau đông vẫn được coi là có tính mới. Tương tự như ý trên, anh Bình sẽ được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích.
Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên. Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
Giải pháp của ông Bình được công bố trước ngày nộp đơn bảo hộ.
Nếu đơn đăng ký được nộp trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày công bố và việc công bố được thực hiện theo các hình thức quy định tại điểm a, b, c khoản 3 Điều 60 của Luật Sở hữu trí tuệ thì giải pháp được bảo đảm về tính mới và tính tương tự vẫn được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích.
Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu nó được công bố trong các trường hợp sau đây, với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố: Sáng chế được người khác công bố mà không được phép của người có quyền đăng ký; sáng chế được chủ sở hữu quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sở hữu trí tuệ trưng bày tại triển lãm quốc gia của Việt Nam, triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận chính thức.
Ngoài các trường hợp trên, giải pháp tạo khe hở để bê tông hóa nhanh của ông Bình sẽ không đảm bảo tính mới và sẽ không được bảo hộ độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích
Bài tập 3: Tình huống môn luật sở hữu trí tuệ có đáp án về nhãn hiệu
Đài truyền hình Việt Nam (VTV) là chủ sở hữu tại Việt Nam nắm giữ nhãn hiệu dịch vụ “ Đường lên đỉnh Olympia. Bộ giáo dục và Đào tạo có tổ chức cuộc thi Olympic Mac-LeNin. Vì vậy mà VTV yêu cầu Bộ giáo dục và Đào tạo phải đổi tên để tránh nhầm lẫn với nhãn hiệu “Olympia” của mình. Bộ GD&ĐT cho rằng hai tên gọi hai cuộc thi là khác nhau, trong khi Olympic là tên gọi phổ biến nên không thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu. Anh ( chị) đồng ý với ý kiến của ai?
Bài làm
Trong tình huống này tác giả đồng ý với ý kiến của Bộ GD- ĐT
Tên gọi của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và “ Olympic Mac- Lenin” là khác nhau và không dễ bị gây nhầm lẫn.
Olympia là tên một thành phố thuộc Hy Lạp ngày nay, Olympia từng là nơi diễn ra thế vận hội Olympic cổ đại. Tên gọi Olympic là phiên âm tiếng Việt của từ Ô-lim-pích (cách đây gần 3000 năm) bắt nguồn từ hoạt động thi đấu thể thao giữa các quốc gia trên thế giới và dần được phổ biến, mở rộng thành các cuộc thi khoa học phi thể thao có quy mô quốc tế (với sự tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới). chẳng hạn như: IMO (Olympic Toán học Quốc tế), IPhO (Olympic Vật lý Quốc tế), IChO (Olympic Hóa học Quốc tế),…. Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo dùng từ Olympic trong tên cuộc thi nhằm thể hiện tinh thần của cuộc thi và cũng để thông báo đây là cuộc thi tìm hiểu kiến thức về triết học Mac-Lênin. Còn chương trình truyền hình “Đường lên đỉnh Olympia” thể hiện vinh quang bằng việc vượt qua muôn vàn khó khăn để thu phục người chơi, mượn ý nghĩa đỉnh Olympia trong thần thoại Hy Lạp trước khi chỉ rõ nơi chạm tới vinh quang. Hơn nữa, tính chất của hai cuộc thi là khác nhau và tên gọi cũng khác nhau.
Olympic là tên gọi phổ biến
Cái tên Olympic đã có từ rất lâu (gần 3000 năm), được nhiều người biết đến nên biểu tượng cũng như tên gọi Olympic đều thuộc về mọi người và được sử dụng rộng rãi, thường xuyên. Hiện tại, tất cả các môn thi đấu đều mở rộng, có thể dùng từ Olympic với tên sân làm tên môn thi đấu.
Theo điểm b, khoản 2, điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ, tên gọi Olympic đã quá phổ biến nên được coi là nhãn hiệu không thể phân biệt.
Dấu hiệu được coi là không thể phân biệt nếu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau: Dấu hiệu, biểu tượng, kiểu dáng hoặc tên gọi thông thường quy ước của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được phổ biến rộng rãi, thường xuyên và được nhiều người biết đến;
Theo Khoản 2, Điều 72 của Luật Sở hữu Trí tuệ, tên Olympic không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu vì nó không thể phân biệt được.
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau: Một dấu hiệu nhìn thấy được ở dạng chữ cái, từ ngữ, thiết kế, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp của chúng, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Mặt khác, theo khoản 2 Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ, dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu là “dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên viết tắt hoặc tên đầy đủ của quốc tế, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép”. tổ chức đó Từ Olympic trùng với tên Ủy ban thể thao quốc tế nên sẽ không được bảo hộ nhãn hiệu.
Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu: dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ hiệu, dấu hiệu, chữ viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức lớn, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội. các tổ chức. tổ chức, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, trừ trường hợp được các cơ quan, tổ chức này chấp thuận.
Tên cuộc thi “Olympic Mac- Lê nin” không phải là nhãn hiệu được bảo hộ mà bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào cũng có thể sử dụng trong Thế vận hội và tên của các cuộc đua là khác nhau như trên. Vì vậy, việc VTV đề nghị Bộ GD-ĐT đổi tên cuộc thi để tránh nhầm lẫn với thương hiệu Olympia của mình là không hợp lý và không thể chấp nhận được về mặt pháp lý.
Trên đây là tổng hợp bài tập tình huống môn luật sở hữu trí tuệ có đáp án. Mong rằng sẽ giải đáp một phần nào đó thắc mắc của bạn đọc về lĩnh vực này nhé!
Bạn đang chuẩn bị cho kỳ thi môn Luật Sở hữu trí tuệ và cần một nguồn tài liệu ôn tập hiệu quả? Khóa học online tìm hiểu môn Luật sở hữu trí tuệ của Học viện đào tạo pháp chế ICA là giải pháp lý tưởng giúp bạn ôn thi dễ dàng và đạt kết quả cao!
Hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có được trưng bày triển lãm thương mại không?
Ngay cả sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng được phép trưng bày tại triển lãm để so sánh với sản phẩm thực tế, khi làm thủ tục giấy tờ cần ghi rõ sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong phần chi tiết đăng ký. Nội dung của hội chợ thương mại.
Quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của pháp nhân thương mại có bị kê biên không?
Quyền sở hữu trí tuệ do pháp nhân thương mại nắm giữ vẫn có thể bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền ra lệnh thu giữ.
Hiện có nhiều hãng quan tâm đến mỹ phẩm Việt Nam. Bởi vì người tiêu dùng ngày càng coi trọng các sản phẩm địa phương với sự trợ giúp của công nghệ, các trang truyền thông xã hội và khả năng tiếp cận dễ dàng để mua hàng, thị trường mỹ phẩm tại Việt Nam có tiềm năng rất lớn. Tuy nhiên, vì mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người nên quy trình sản xuất được quy định chặt chẽ bởi luật pháp và các quy định, chẳng hạn như năng lực sản xuất và công bố chất lượng mỹ phẩm. Bài viết dưới đây Học viện đào tạo pháp chế ICA sẽ giới thiệu đến bạn đọc giấy phép sản xuất mỹ phẩm, bạn đọc tham khảo nhé!
Tải xuống đơn đề nghị cấp giấy phép sản xuất mỹ phẩm
Để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm, công ty sản xuất mỹ phẩm phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 Nghị định 93/2016/NĐ-CP, bao gồm:
Điều kiện làm việc:
Để xin giấy phép sản xuất mỹ phẩm, người phụ trách sản xuất của nhà máy phải có kiến thức chuyên môn về một trong các lĩnh vực chuyên biệt sau: hóa học, sinh học, dược học hoặc lĩnh vực khác đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Điều kiện về cơ sở vật chất:
Công ty có địa điểm, diện tích, nhà xưởng và trang thiết bị phù hợp với dây chuyền sản xuất, loại mỹ phẩm mà công ty dự định sản xuất theo yêu cầu được cấp Giấy chứng nhận đạt yêu cầu. điều kiện sản xuất mỹ phẩm
Tại kho nguyên vật liệu, bao bì, thành phẩm phải đảm bảo chênh lệch giữa nguyên vật liệu, bao bì, thành phẩm; có khu vực riêng bảo quản chất dễ cháy nổ, chất có độc tính cao, loại bỏ, thu hồi, trả lại nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm.
Hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng các yêu cầu sau:
Nguyên liệu, phụ liệu dùng trong sản xuất mỹ phẩm phải đạt tiêu chuẩn chất lượng của nhà sản xuất
Nước dùng trong sản xuất mỹ phẩm tối thiểu phải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước ăn uống do Bộ Y tế quy định.
Bán thành phẩm đưa vào sản xuất phải đạt tiêu chuẩn chất lượng và đạt tiêu chuẩn chất lượng của nhà sản xuất
Mỗi sản phẩm đều có quy trình sản xuất riêng
Có bộ phận quản lý chất lượng theo dõi chất lượng nguyên vật liệu, bán thành phẩm, sản phẩm chờ đóng gói và thành phẩm.
Một hệ thống nộp hồ sơ được sử dụng.
Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm
Theo Điều 7 Nghị định 93/2016/NĐ-CP quy định về hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận hợp quy sản xuất mỹ phẩm bao gồm:
Đơn đề nghị cấp Giấy phép sản xuất mỹ phẩm theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 93/2016/NĐ-CP.
Sơ đồ mặt bằng và thiết kế của cơ sở sản xuất.
Danh sách các thiết bị hiện có trong nhà máy sản xuất.
Việc tiếp nhận hồ sơ phải tuân thủ quy định tại Điều 8 Nghị định 93/2016/NĐ-CP, cụ thể:
Các tài liệu phải được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến Bộ Y tế của tỉnh nơi đặt nhà máy.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại Giấy chứng nhận công bố hợp quy sản xuất mỹ phẩm, Bộ Y tế có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện một trong các hoạt động sau:
Nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định, chúng tôi sẽ cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị định 93/2016/NĐ-CP.
Vui lòng báo cáo nội dung không đầy đủ hoặc không hợp lệ bằng văn bản.
Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm
Cơ sở sản xuất mỹ phẩm phải nộp hồ sơ xin phép sản xuất mỹ phẩm tới Bộ Y tế trước khi tiến hành sản xuất.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ và phí thẩm định theo quy định, Bộ Y tế có trách nhiệm kiểm tra cơ sở sản xuất và cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm. Mọi sự từ chối cấp giấy chứng nhận hoặc yêu cầu cơ sở thay đổi hoặc chỉnh sửa phải được thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối.
Nếu bạn tìm kiếm sự thay đổi hoặc biện pháp khắc phục từ tổ chức của mình:
Cơ sở sản xuất mỹ phẩm thực hiện thay đổi, khắc phục và gửi báo cáo về Bộ Y tế.
Bộ Y tế có trách nhiệm xem xét báo cáo, rà soát hồ sơ hoặc (nếu cần) thanh tra lại cơ sở sản xuất mỹ phẩm. Cơ quan kiểm tra phải báo cáo kết quả kiểm tra bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo khắc phục.
Nếu Bộ Y tế không nhận được báo cáo khắc phục của cơ sở sản xuất mỹ phẩm trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có văn bản yêu cầu cơ sở sản xuất mỹ phẩm đính chính, khắc phục thì hồ sơ cấp giấy ủy quyền của cơ sở sản xuất mỹ phẩm sẽ bị vô hiệu.
Đối với cơ sở sản xuất mỹ phẩm đã đạt Giấy chứng nhận Thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm của Bộ Y tế (CGMP-ASEAN):
Bộ Y tế sẽ gửi văn bản về việc cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm đến Bộ Y tế nơi đặt nhà máy sản xuất mỹ phẩm.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Y tế, Bộ Y tế có trách nhiệm cấp Giấy phép sản xuất mỹ phẩm cho các cơ sở sản xuất mỹ phẩm này.
Câu hỏi thường gặp
Khi nào bị thu hồi giấy phép đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm?
Cơ quan cấp phép sản xuất mỹ phẩm sẽ thu hồi Giấy phép sản xuất mỹ phẩm trong các trường hợp sau: Cơ sở sản xuất mỹ phẩm không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định. Giấy phép sản xuất mỹ phẩm cấp không đúng quy định hoặc có nội dung trái pháp luật. Cơ sở sản xuất mỹ phẩm không đúng địa chỉ ghi trong giấy phép đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm. Giả mạo hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh Giấy phép sản xuất mỹ phẩm. Cơ sở sản xuất mỹ phẩm làm đơn tự nguyện thu hồi Giấy phép sản xuất mỹ phẩm.
Điều chỉnh giấy phép đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm cần có gì?
Điều chỉnh Giấy phép đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm áp dụng trong trường hợp cơ sở sản xuất đã được cấp Giấy phép đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm nhưng tên, địa chỉ cơ sở sản xuất có thay đổi. Do điều chỉnh địa giới hành chính (không thay đổi cơ sở sản xuất). Hồ sơ điều chỉnh Giấy chứng nhận hợp quy sản xuất mỹ phẩm được lập tại câu 01 và bao gồm các giấy tờ sau: Đơn đề nghị cấp đổi Giấy xác nhận công bố hợp quy sản xuất mỹ phẩm theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định này; Tài liệu hỗ trợ thay đổi. Việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép phù hợp với điều kiện sản xuất mỹ phẩm được thực hiện theo quy định. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ sở sản xuất mỹ phẩm, Bộ Y tế cấp Giấy phép sản xuất mỹ phẩm đáp ứng các điều kiện quy định đồng thời giữ nguyên số Giấy phép sản xuất mỹ phẩm gia tăng. Giấy xác nhận lần đầu ghi số lần điều chỉnh, ngày tháng năm điều chỉnh và lý do điều chỉnh.
Thẩm phán là ngành nghề mà rất nhiều sinh viên trường luật ra trường muốn được làm. Để làm được thẩm phán không phải điều dễ dàng. Muốn làm thẩm phán điều kiện tiên quyết là phải có bằng luật, phải nắm chăc kiến thức pháp lý áp dụng thực tiễn. Quá trình để trở thành thẩm phán không phải dễ dàng sẽ mất rất nhiều thời gian. Hãy cùng tham khảo bài viết “Muốn làm Thẩm phán thì học ngành gì?” sau đây của Học viện đào tạo pháp chế ICA nếu như bạn đang ấp ủ muốn theo đuổi nghề thẩm phán nhé!
Thẩm phán là ai?
Thẩm phán là người giải quyết các vụ án và giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của tòa án một cách vô tư, khách quan và tôn trọng lẫn nhau, là biểu tượng của đạo đức và sự trung thực.
Hầu hết sinh viên chọn chuyên ngành luật để trở thành thẩm phán. Ngoài ra, người ta phải biết các tiêu chí khác để trở thành giám khảo.
Tiêu chuẩn để có thể trở thành Thẩm phán
Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Chủ tịch nước bổ nhiệm Thẩm phán có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của luật này để thực hiện nhiệm vụ xét xử.
Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần dũng cảm, kiên quyết ủng hộ công lý, trung thực và liêm chính.
Bạn đã có bằng cử nhân luật.
Được đào tạo nghiệp vụ xét xử.
Thực hiện công tác thực tiễn pháp luật.
Đảm bảo sức khoẻ thực hiện công việc
Như vậy, công dân muốn trở thành thẩm phán phải đáp ứng đủ 5 tiêu chuẩn nêu trên. Ngoài việc đảm bảo về trình độ chuyên môn, còn phải có “thời gian để làm công việc pháp lý”. Sau đó bạn làm thư ký tòa án. Khi đã hiểu và nắm vững các vấn đề tố tụng, bạn sẽ được bổ nhiệm làm thẩm phán
Muốn làm Thẩm phán thì học ngành gì theo quy định?
Để trở thành thẩm phán cần có một quy trình nhất định, vậy quy trình để trở thành thẩm phán như thế nào?
Bước 1: Bạn phải vượt qua kỳ thi tuyển sinh luật của trường đại học
Cũng như các chuyên ngành khác, đào tạo luật mất 4-5 năm.
Trong quá trình học tập tại trường, giáo viên có đầy đủ kiến thức chuyên môn về pháp luật, đồng thời cũng cần có những kỹ năng mềm cần thiết để xử lý linh hoạt các tình huống.
Bước 2: Lấy bằng luật
Sau khi hoàn thành, bạn sẽ được cấp bằng Cử nhân Luật. Đây cũng là một trong những tiêu chí bắt buộc đối với giám khảo. Nếu sau này bạn muốn học thêm về lĩnh vực này, bạn có thể lấy bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Điều này sẽ giúp tôi rất nhiều trong công việc sau này.
Bước 3: Tham gia kỳ thi tư pháp
Thẩm phán là chức năng của bộ máy nhà nước và được trả lương theo hệ thống công vụ. Do đó, trước khi bắt đầu công việc này, bạn phải vượt qua Bài kiểm tra Tuyển dụng Thư ký. Thông tin đánh giá chấm thi được cập nhật nhanh chóng, chính xác trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân. Mỗi bài thi được “chơi” như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa lý, số lượng người tham gia… nên cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để tránh những sai sót không đáng có.
Bước 4: Phát triển học tập nghiệp vụ thư ký tòa án
Để được bổ nhiệm làm thư ký tòa án, trước tiên bạn phải trải qua khóa đào tạo làm thư ký tòa án. Đây là một yêu cầu bắt buộc.
Bước 5: Bổ nhiệm làm Thư ký
Sau khi học xong chương trình thư ký tòa án và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 thì bạn có thể làm việc với chức danh Thư ký tòa án.
Là thư ký tòa án, thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng
Thực hiện các nhiệm vụ hành chính, tư pháp và các nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của Chánh án Tòa án tối cao
Bước 6: Hoàn thành khóa đào tạo pháp lý
Điều kiện để cư thư ký tòa án đi học được quy định tại Quyết định 636/QĐ-TANDTC, cụ thể:
Có ít nhất 4 năm kinh nghiệm pháp lý.
Có bằng cử nhân luật hệ chính quy (miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo phải báo cáo chỉ huy đơn vị trong những điều kiện nhất định). Tòa án nhân dân tối cao sẽ xem xét và quyết định việc này.)
Sau khi được cử đi học ở nước ngoài, thời gian công tác còn lại ít nhất là 7 năm.
Đã học tập và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ít nhất ba năm liên tục.
Bảo đảm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và là nguồn để tham gia kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán.
Quá trình đào tạo này diễn tra trong vòng 6 tháng.
Bước 7: Vượt qua Kỳ thi thẩm phán cấp sơ thẩm
Sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử, bạn phải vượt qua kỳ thi thẩm phán sơ cấp. Các lựa chọn khác nhau tùy theo thẩm quyền. Có hai hình thức thi: thi viết và thi trắc nghiệm do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định. Sau khi nhận được kết quả thi, thí sinh được nộp đơn phúc khảo kết quả thi cho Hội đồng thi trong vòng 5 ngày.
Bước 8: Bổ nhiệm làm Thẩm phán
Thẩm phán được chia thành 4 ngạch: Thẩm Phán sơ cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm Phán cao cấp và Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Các thẩm phán có nhiệm kỳ đầu là 5 năm và các nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm. Để tăng thứ hạng của bạn, bạn phải vượt qua kỳ thi thăng hạng.
Thẩm Phán sơ cấp: Tối thiểu 10 năm bao gồm bằng đại học (4 năm), nghề luật (5 năm) và tập sự (1 năm)
Thẩm phán trung cấp: 15 năm trở lên, bao gồm cả thời gian làm trọng tài (10 năm) và thời gian làm trọng tài (5 năm)
Thẩm Phán cao cấp: Ít nhất 20 năm, kể cả thời hạn Thẩm phán trung cấp (15 năm) và Thẩm phán trung cấp (5 năm)
Thẩm phán TAND tối cao: Ít nhất 25 năm, kể cả làm thẩm phán cao cấp (20 năm) và làm thẩm phán cao cấp (5 năm)
Để trở thành thẩm phán, bạn phải nắm rõ tất cả các tiêu chuẩn và quy trình trên. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu của việc học đại học, bạn cần phải có kiến thức nền tảng để giúp bạn trở thành một thẩm phán.
Trên đầy là câu trả lời cho câu “Muốn làm Thẩm phán thì học ngành gì?”. Hy vọng sẽ giúp ích cho bạn đọc trong quá trình theo đuỏi đam mê làm thẩm phán nhé!
Câu hỏi thường gặp
Thẩm phán tòa án có những ngạch nào?
Hiện nay pháp luật quy định có các ngạch Thẩm phán tòa án như sau: Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp.
Công việc chính của thẩm phán là gì?
Thẩm phán xét xử các vụ án: Hình sự, Dân sự, Hôn nhân và gia đình, Kinh doanh, Thương mại, Lao động, Hành chính Giải quyết các vấn đề khác theo yêu cầu của pháp luật.